Author: Hình ảnh Việt Nam

  • Vietnamese Betel Chewing

    Vietnamese Betel Chewing

    Betel Chewing 

    Tục ăn trầu, nét văn hoá giản dị lâu đời của người Việt - Betel Chewing

    Features
    Chewing betel has been a traditional custom of Vietnamese since Hung Vuong dynasty. A piece of betel is a reminder of the famous Vietnamese folk tale “Trau Cau,” which contains a meaningful lesson of brotherhood and marital loyalty. Betel is commonly used in traditional occasions such as weddings, guest visiting, and commemorating. There is an old saying in Vietnam which says, “Every conversation starts with a piece of betel.” That came from a tradition when Vietnamese people used to offer betel to guests who visit their house. Betel is also indispensable in a com-memorial feast to show respect to ancestors and in a wedding gift of a groom’s family to a bride’s family. Betel is considered as a symbol of the affinity between a husband and a wife. Moreover, Vietnamese chew betel to protect and strengthen their teeth. They believe that the astringent taste of betel bring health benefits to teeth and gums. Betel is also a traditional medicine to cure malaria.
    Betel Chewing
    Offering guests betel and areca According to the authentic custom, a bowl of clean water along with a spoon should be offered to guests so they can wash their mouth before chewing betel. The host will then serve a tray of betels including a dish of betels, a dish of arecas, a pot of lime water, black powder (for blackening teeth), a knife, paper, a pipe to spit out a chewed betel quid and infusion of betel leaves. Middle-aged people may chew the raw betel to enjoy the astringent taste. Old people may put the betel in the water pipe to soften it before chewing. The tools used to display betel and areca are made from different materials, from copper, silver to pottery, platter, lime-pot, a spatula to spread lime on a betel leaf, spittoon, and a knife. Decorative patterns on these tools are usually the carving arts of homeland scenery, flowers and leaves or animals.
    The art of preparing betel quid In order to prepare a fine, elegant betel quid, it requires the artist to be skillful in folding the betel leaves into a elegant shape. Phoenix Wing Betel Quid – The art of preparing betel quid of Hanoian “Little areca goes with green betel leaves,” is the common description of betel in Vietnamese literature. Hanoian specifically and the Vietnamese in general used to consider preparing betel quid as a form of art. The betel quid of the North Capital needs to be mentioned when speaking of the special betel quid – the Phoenix Wing Betel quid. With the same materials used to make betel quid along with the advanced skills of the women of the North Capital, a piece of Phoenix Wing betel has its own unique attractiveness. The Vietnamese believe that a look of a betel quid can reveal much about the personality of the person who prepares it. For instance, a not so neat and nice betel implies that the person is clumsy; betel quids with unequal size reveal the person’s poor evaluating skill; or too much lime on a betel leaf suggests the person is extravagant. Hanoian have their gracial way of chewing betel. Instead of chewing both the betel and the root together, they chew each separately. The areca will be crushed and the betel root will be dipped in lime before being chewed. The old Hanoian chew betel to create a reddish shade for their lips, blacken their teeth and create a line on their lips that so-called ‘the pencilled lips with betel juice’.
    Today, in Hanoi, only people above 60 years old maintain the custom of betel chewing. Therefore, it is rare to see people offering each other a beautiful piece of betel like the one that A.de Rovides, a French, has talked about in 12th century “Hanoian have a habit of carrying a bag filled with betel and areca around their bellies. They left it opened so they can offer some betels to their friends when greeting.”
    Ending Nowadays, despite the fact that this tradition has become less popular, the symbol of betel still remain its deep meaning and important role in many fields like medication, sociology and culture. Its simplicity, on the other hand, still plays an indispensable role in major occasions and celebration of Vietnamese. Betel brings out the elegance and simplicity of Vietnamese cultural heritage.
    Source: The Pavonis Organization Fanpage
  • Từ vựng về văn hóa – thắng cảnh – du lịch Việt Nam

    Từ vựng về văn hóa – thắng cảnh – du lịch Việt Nam

    1. Danh lam thắng cảnh

    The Hung Kings: Các vua Hùng

    The Lenin park: Công viên Lênin

    The Saigon port: Cảng Sài Gòn

    The portico of the pagoda; Cổng chùa

    The ancient capital of the Nguyen Dynasty; Cố đô triều Nguyễn

    The Ben Thanh market: Chợ Bến Thành

    The Huong Pagoda: Chùa Hương

    The One Pillar pagoda; Chùa Một Cột

    The Quan Su Pagoda; Chùa Quán Sứ

    The Thien Mu Pagoda: Chùa Thiên Mụ

    The Reunification Railway: Đường sắt Thống Nhất

    Ngoc Son (Jade Hill) temple: Đền Ngọc Sơn

    The Temple of the Kneeling Elephant: Đền Voi Phục

    The Royal City: Đại nội

    Chùa Một Cột năm 1898, trông khá tàn tạ so với bức ảnh chụp 2 năm trước đó.
    Chùa Một Cột năm 1898, trông khá tàn tạ …

    2. Di tích lịch sử, văn hóa

    Runner-up (second in a beauty contest): Á hậu

    The Museum of the Revolution: Bảo tàng cách mạng

    The Museum of History: Bảo tàng lịch sử

    The Museum of Fine Arts: Bảo tàng mỹ thuật

    The Museum of the Army: Bảo tàng quân đội

    The thirty-six streets of old Hanoi : Ba mươi sáu phố phường Hà Nội cổ

    Stone stelae: Bia đá

    Ornament fish: Cá cảnh

    Dwarf tree: Cây cảnh

    Tet pole: Cây nêu ngày tết

    Tangerine trees: Cây quít, quất

    Traditional opera: Chèo

    Artworks shop: Cửa hàng mỹ nghệ

    The Royal Palace: Cung điện

    Appearance: Dung mạo

    Wooden carvings: Đồ gỗ chạm trổ gỗ

    Offering(n), sustenance: Đồ cúng

    Rattanwares: Đồ làm bằng mây tre

    Garments: Đồ may mặc

    Fine art handicraft articles: Đồ thủ công mỹ nghệ

    The Vietnamese speciality: Đặc sản Việt Nam

    New Year’s Eve: Đêm giao thừa

    Song and dance troupe: Đội ca múa

    To be strewn with bricks: Đường lát gạch

    A good/ bad omen: Điềm lành/ xấu

    To cast a bell: Đúc chuông

    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành
    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành

    3. Du lịch

    Cuisine: ẩm thực

    Full satisfaction guaranteed: Bảo đảm hoàn toàn thỏa mãn

    To pick buds: Hái lộc

    Art show: Buổi biểu diễn văn nghệ

    One-thousand-year-old Hanoi: Hà Nội 1000 năm

    Organizing tourism trips in and out of the province: Du lịch trong ngoài tỉnh
    International and domestic tours: Các tua du lịch quốc tế và nội địa
    Bánh bao Cả Cần- ngon nhất Sì Gòn
    Bánh bao Cả Cần – ngon nhất Sì Gòn
  • Phim hiếm: Lễ cưới của người Việt ở Miền Bắc thời Pháp thuộc

    https://www.youtube.com/watch?v=LSevb6vOaYU&feature=youtu.be

    Trong đời sống hôn nhân của người Việt Nam, khi trai gái lấy nhau, người Việt gọi là đám cưới, đám cưới là một trong bốn nghi lễ quan trọng (quan, hôn, tang, tế).

    Đúng ngày cưới, người ta chọn giờ “hoàng đạo” mới đi, thường là về chiều, có nơi đi vào chập tối. Dẫn đầu đám rước đàng trai là một người già nhiều tuổi.
    Tại nhà trai, người ta chờ đợi đám rước dâu về. Lễ tơ hồng được cử hành rất đơn giản. Bàn thờ thiết lập ngoài trời, bày lư hương và nến hay đèn, tế vật dùng xôi, gà, trầu, rượu…

    Nhà nước quân chủ Việt Nam cũng can thiệp vào việc giá thú của người dân bởi những điều lệ hay luật. Điều lệ hương đảng do vua Gia Long ban hành năm 1804, khoản về giá thú nêu rõ: “Hôn lễ là mối đầu của đạo người”, “Giá thú mà bàn của cải là thói quen mọi rợ” và quy định: “Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cặp đôi mà thôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tuỳ nhà có hay không, chứ không được viết khế cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì người giàu 1 quan 2 tiền, người vừa 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác thì gấp đôi…”.
    Năm 1864, vua Tự Đức cũng sai định rõ lại lễ cưới xin của dân gian: “Từ lúc vấn danh đến khi xin cưới, cho kỳ hạn là 6 tháng, đều theo tiết kiệm, không được quá xa xỉ”

     

  • Xe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe lôi là đặc sản riêng của người miền Tây. Từ những chiếc xe lôi bộ vốn đã lùi vào quá khứ, phát triển thành xe lôi đạp, rồi cải tiến lên xe lôi máy. Giờ thì xe lôi máy cũng chẳng còn do nghị định cấm xe ba gác, xe tự chế. Nên nhiều du khách khi đến miền Tây cũng hụt hẫng vì rất hiếm thấy hình ảnh xe lôi bon bon trên đường.

    Nếu cấm xe lôi, sẽ thật buồn. Còn đâu cái tình người lái xe. Còn đâu cảm giác thú vị khi ngồi chồm hổm trên xe lôi với những câu chuyện khám phá tính cách hào sảng của anh hai, anh ba miền sông nước….

    Xe lôi - xe đạp kéo - xe thồ

    Xe lôi ở miền Nam Việt NamXe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe đạp lôi - đồng hành với người nghèo - Ảnh: Nguyễn Công Thành
    Xe đạp lôi – đồng hành với người nghèo – Ảnh: Nguyễn Công Thành
    Nhưng có một nơi mà xe lôi vẫn hiện diện khắp nơi. Trước cửa khách sạn, bên quán ăn, ở chợ, rìa các quán cóc vỉa hè… đâu đâu cũng có xe lôi. Nơi ấy là nơi sản sinh ra chiếc xe lôi và cũng là nơi đang cố níu kéo sản phẩm đặc trưng vùng miền của mình. Đó là Châu Đốc – An Giang, quê hương của những câu chuyện ly kỳ về bà chúa Xứ ở núi Sam hay  lăng mộ Thoại Ngọc Hầu và phu nhân. Đây là nơi có nhiều xe lôi nhất miền Tây Nam Bộ.
    Cơn lốc đô thị hóa, hiện đại hóa, cơn lũ xe máy giá rẻ “made in china” hầu như không ảnh hưởng đến những con người vốn mưu sinh trên 3 bánh xe lôi nơi này. “Chạy xe lôi vất vả thật, nhưng gắn bó với nghề rồi, không làm sao bỏ được. Mà bỏ rồi mần gì mà ăn”, bác tài vui tính sún răng làm nghề lái xe lôi tâm sự.
    Nhà bác 5 miệng ăn đều trông chờ vào chiếc xe cà tàng này. Mỗi ngày cố gắng lắm bác cũng chỉ kiếm chừng 150.000, cơm mắm muối hết phần ba, còn dành dụm cho bọn nhỏ vào năm học mới. Vậy mà một khi thích, bác có thể đưa bạn đi chơi khắp Châu Đốc mà nhất định không chịu lấy tiền. Con người nơi đây là thế.
    Xa miền Tây rồi, lại nhớ em gái miệt vườn, nhớ tiếng bành bạch của ghe thuyền, tiếng nước vỗ bờ ì oạc ì oạc và nhớ lắm hình ảnh bác tài và chiếc xe lôi.
    Vài hình ảnh về xe lôi trước năm 1975 tại Sài Gòn và các tỉnh Miền Tây:
    Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam
  • Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa

    Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa

    3 Ngày Tết hay đi coi hát cải lương ở đây! Nhưng Bạn có biết :
    Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai không?

    Năm 1940 tại góc đường Général Marchand và Gallieni (Nguyễn Cư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 – 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.

    Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.

    Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.

    Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão.

    Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại….”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm.

    Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.

    Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.

    Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…

    Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa
    Thượng Hồng
    Theo Dân Sài Gòn xưa.

  • Trung tâm điện toán IBM Sài Gòn (trước 1975)

    Trung tâm điện toán IBM Sài Gòn (trước 1975)

    Đây là một trung tâm IBM ( International Business Machines), tức là tập đoàn máy tính điện tử quốc tế. Tập đoàn này đã thiết lập trong nền đệ nhị Cộng Hoà tại Sài Gòn 2 trung tâm điện toán lớn trong vùng Đông Nam Á vào thời đó.
    Một được đặt trong Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và một đặt tại Bộ Giáo Dục, dùng trong việc chấm thi Tú Tài. Do đó các Tú Tài sau năm 1973 ở miền Nam VN, được mệnh danh là Tú Tài IBM. Cùng thời gian này tại Singapore chỉ có được một trung tâm IBM mà thôi!

    Trung tâm điện toán IBM Sài Gòn (trước 1975)
    Đây là hệ thống máy tính hiện đại nhất Đông Nam Á, nó quản lý tất cả nhân sự, quân trang, khí tài và vật liệu của 1,2 triệu quân Sài Gòn và bộ máy phục vụ chiến tranh.

    Trong biến cố 30.4.1975, thì các dữ kiện quan trọng của trung tâm này được tháo gở và đem đi.

    Cận kề ngày 30-4-1975, ông Chu Văn Hồ, lúc đó là đại tá làm việc ở Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn được lệnh đặt mìn để phá hủy Trung tâm Điện toán nhưng ông bất tuân và lệnh cho cấp dưới phải bảo vệ nó để chuyển giao cho chính quyền mới.

    Nhóm biệt động vào tiếp quản Trung tâm Điện toán của BTTM quân đội Việt Nam Cộng hòa sáng 30-4-1975. Ảnh: http://phapluattp.vn/
    Nhóm biệt động vào tiếp quản Trung tâm Điện toán của BTTM quân đội Việt Nam Cộng hòa sáng 30-4-1975. Ảnh: http://phapluattp.vn

    Đến năm 1996, Tập Đoàn IBM mới chánh thức trở lại VN và thiết lập một trung tâm mới ngày 5.2.2007 tại TP.HCM.

  • Trường Quốc Học Huế

    Trường Quốc Học Huế

    Trường Quốc Học (thường gọi là Quốc Học hay Quốc Học-Huế; tên chính thức hiện nay: Trường Trung học Phổ thông Chuyên Quốc Học) là một ngôi trường nổi tiếng ở cố đô Huế, Việt Nam.
    Trường được thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái giao cho ông Ngô Đình Khả làm trưởng giáo (Hiệu trưởng).
    Quốc Học Huế là ngôi trường trung học phổ thông lâu đời thứ ba tại Việt Nam.

    Quốc Học được xây dựng trên nền của Dinh Thủy sư (nơi huấn luyện binh lính đường thủy của quân đội triều Nguyễn), ban đầu trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, tổng cộng có ba tòa nhà. Địa điểm của trường nằm xoay ra đường Jules Ferry (sau năm 1955 là đường Lê Lợi).
    Công trình kiến trúc được xây dựng theo kiểu Pháp vào đầu thế kỷ 20.
    Quốc Học Huế còn nổi tiếng bởi những lãnh đạo chính trị của Việt Nam đã từng theo học tại đây, trong đó có Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.
    Hiện nay, trường được chính phủ Việt Nam chọn để xây dựng thành một trong ba trường phổ thông trung học chất lượng cao của Việt Nam.

    Thời kỳ mới thành lập, ông Ngô Đình Khả làm trưởng giáo, trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất.
    Thời kỳ mới thành lập, ông Ngô Đình Khả làm trưởng giáo, trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất.
    Thời kỳ mới thành lập, trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, quanh trường nhiều cây cối, cỏ mọc rậm rạp.
    Thời kỳ mới thành lập, trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, quanh trường nhiều cây cối, cỏ mọc rậm rạp.
    Trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, so với ảnh trước cây đã lớn hơn, phía trước lớp học có đường đi sạch sẽ.
    Trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, so với ảnh trước cây đã lớn hơn, phía trước lớp học có đường đi sạch sẽ.
    Vào đầu thế kỷ 20 trường được xây mới, công trình kiến trúc được xây dựng theo kiểu Pháp.
    Vào đầu thế kỷ 20 trường được xây mới, công trình kiến trúc được xây dựng theo kiểu Pháp.

    Vào đầu thế kỷ 20 trường được xây mới, công trình kiến trúc được xây dựng theo kiểu Pháp.

    Vào đầu thế kỷ 20 trường được xây mới, công trình kiến trúc được xây dựng theo kiểu Pháp. truong quoc hoc

    truong quoc hoc truong quoc hoc truong quoc hoc truong quoc hoc truong quoc hoc truong quoc hoc

    truong quoc hoc
    Trường Quốc Học ngày nay

    Nguồn: Faceboo

  • Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Cùng chiêm ngưỡng một số hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam, biết đâu trong những hình ảnh này bạn lại bắt gặp một hình dáng quen thuộc nào đó. Hãy cùng chúng tôi chiêm ngưỡng một nửa thế giới của chúng ta nhé!

    Thời xưa

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Chiến tranh…

    Nhân vật trong ảnh là nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Cần, người Nghệ An. Cô là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh năm 1967. Thời đó, các nữ thanh niên xung phong gánh vác những nhiệm vụ như vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, cứu trợ thương binh và lấp hố bom mở đường.
    Nhân vật trong ảnh là nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Cần, người Nghệ An. Cô là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh năm 1967. Thời đó, các nữ thanh niên xung phong gánh vác những nhiệm vụ như vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, cứu trợ thương binh và lấp hố bom mở đường.
    Bức ảnh chụp “O du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai áp giải một phi công Mỹ bị bắt vào năm 1965. Hình ảnh một nữ dân quân nhỏ bé áp giải viên phi công cao lớn đã trở thành biểu tượng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giữa một dân tộc nhỏ bé với kẻ thù lớn hơn gấp nhiều lần
    Bức ảnh chụp “O du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai áp giải một phi công Mỹ bị bắt vào năm 1965. Hình ảnh một nữ dân quân nhỏ bé áp giải viên phi công cao lớn đã trở thành biểu tượng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giữa một dân tộc nhỏ bé với kẻ thù lớn hơn gấp nhiều lần
    Tấm ảnh chụp năm 1969 của nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam - La Thị Tám. Cô đã đếm và cắm tiêu 1.205 quả bom do địch trút xuống để lực lượng công binh của ta đến phá bom, đảm bảo thông suốt cho tuyến đường tiếp viện vào Nam. Cô được phong anh hùng khi mới 20 tuổi.
    Tấm ảnh chụp năm 1969 của nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam – La Thị Tám. Cô đã đếm và cắm tiêu 1.205 quả bom do địch trút xuống để lực lượng công binh của ta đến phá bom, đảm bảo thông suốt cho tuyến đường tiếp viện vào Nam. Cô được phong anh hùng khi mới 20 tuổi.
    Sự kiên cường toát lên trong ánh mắt của người nữ chiến sĩ trong bức ảnh. Thời đó, những cô gái xung phong ra chiến trường với khát khao bảo vệ cuộc sống hòa bình của quê hương, thành quả mà ngày nay mỗi chúng ta đang được thừa hưởng.
    Sự kiên cường toát lên trong ánh mắt của người nữ chiến sĩ trong bức ảnh. Thời đó, những cô gái xung phong ra chiến trường với khát khao bảo vệ cuộc sống hòa bình của quê hương, thành quả mà ngày nay mỗi chúng ta đang được thừa hưởng.
    Người nữ giải phóng quân nở một nụ cười tươi rói trong đợt tiến công cuối cùng vào giải phóng Sài Gòn. Công cuộc thống nhất đất nước có sự đóng góp không nhỏ của những người phụ nữ cầm súng, mà trong số họ có nhiều người đã nằm lại chiến trường.
    Người nữ giải phóng quân nở một nụ cười tươi rói trong đợt tiến công cuối cùng vào giải phóng Sài Gòn. Công cuộc thống nhất đất nước có sự đóng góp không nhỏ của những người phụ nữ cầm súng, mà trong số họ có nhiều người đã nằm lại chiến trường.

    Trong lao động sản xuất

    Trong cuộc sống hiện đại

    16PhuNu_VietNam 12PhuNu_VietNam480 10PhuNu_VietNam480 9PhuNu_VietNam480 6PhuNu_VietNam480… và Nghệ thuật

    20PhuNu_VietNam-size-0x0-znd 21PhuNu_VietNam480-size-0x0-znd 23PhuNu_VietNam500-size-0x0-znd 25PhuNu_VietNam500-size-0x0-znd

    Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam in đậm dấu ấn trong thơ ca, nhạc, họa, điêu khắc… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc.

    Phụ nữ Việt Nam (PNVN) từ xưa tới nay vốn mang vẻ đẹp thầm lặng thoang thoảng như hương quế giữa rừng xa:

    Em như cây quế giữa rừng

                                    Ngát thơm ai biết, lẫy lừng ai hay.

     

    Đó là vẻ đẹp chân quê, giản dị và đáng yêu. Ở họ không phải lúc nào cũng là liễu yếu đào tơ, là cái bóng của người đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức mạnh chẳng kém gì nam giới. Họ làmột nửa của cuộc sống nhân loại. Nhà văn M. Gôrky (người Nga) đã nói: Không có mặt trời thì hoa không nở/ Không có mẹ hiền, anh hùng, thi sĩ hỏi còn đâu?.

     

    Từ xưa, phụ nữ ta đã có truyền thống chống ngoại xâm: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Trong cuộc dựng nước và giữ nước đã có nhiều phụ nữ nổi tiếng như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan… đã làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn. Hai Bà Trưng đã từng:

    Hồng quần nhẹ bước chinh yên

                                   Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thùy.

    Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu hy sinh anh dũng của các chị: Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Võ Thị Thắng, chị Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Trương Mỹ Hoa v.v. Quyết tâm đánh giặc đến cùng của các mẹ, các chị là Còn cái lai quần cũng đánh (Người mẹ cầm súng – Nguyến Thi)

     

    Trên lĩnh vực Văn học Nghệ thuật, Giáo dục, Khoa học… nhiều phụ nữ là những nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ  nhạc sĩ, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ  tài năng như: Diệu Nhân (người Phú Thọ)- một thiền sư, nữ sĩ thời Lý; Nguyễn Thị Duệ (người Chí Linh- Hải Dương, bà Huyện Thanh Quan (tức Nguyễn Thị Hinh), người Hà Nội- một nhà thơ tài hoa ở thế kỷ thứ XIX; bà Bảng Nhãn (tức Lê Thị Liễu)- nữ sĩ nổi tiếng ở đất Quảng Nam; và các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… cho tới Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Cầm, Sương Nguyệt Ánh, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Thuý Bắc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dương Thị Xuân Qúy v.v.

     

    Trên bất kỳ lĩnh vực nào, ở giai đoạn lịch sử nào ta cũng đều bắt gặp tên tuổi của những phụ nữ nổi tiếng, làm vẻ vang dân tộc. Cả thế giới đều tôn vinh phụ nữ. Chúng ta hãy nhìn lại những quan niệm về vẻ đẹp của người PNVN xưa và nay. Vẻ đẹp ấy biểu hiện qua hình thể, lý tưởng và lẽ sống, trí tuệ và tâm hồn. Hay nói một cách khác đó là vẻ đẹp về hài hoà giữa hình thức và nội dung

     

    Trước CMT8 phần lớn PNVN nhuộm răng đen, búi tóc đuôi gà, mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao… Ca dao-dân ca, thơ văn, nhạc hoạ đã ghi lại:

     Một yêu tóc bỏ đuôi gà

                                        Hai yêu ăn nói mặn mà có duyên

                                                Ba yêu má lúm đồng tiền

                                        Bốn yêu răng nhuộm hạt huyền thêm xinh

                                               Năm yêu con mắt hữu tình…

    Hay như những câu:

    “Những người con mắt lá dăm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”

    “Ai làm cái nón quai thao/ Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”.

    “Ngó lên đầu tóc em bao/ Chéo khăn em bịt dạ nào chẳng xiêu”.

              “Cô kia bới tóc đuôi gà/ Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?”

              “Bước lên xe đầu đội khăn rằn/ Dáng đi yểu điệu, ngồi gần say mê”

              “Răng đen ai nhuộm cho mình/ Để duyên mình đẹp, để tình mình ưa”

              “Những người thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”.v.v…

     

    Hoặc trong thơ Nguyễn Bính:

     Nào đâu cái yếm lụa sồi

                                           Cái dây lưng đủi nhuộm hồi sang xuân

                                                 Nào đâu cái áo tứ thân

                                          Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?  (Chân quê).

     

    Một thời cha ông ta lại quan niệm người phụ nữ có khuôn mặt chữ điền mới đẹp Mặt chữ điền lắm tiền nhiều ruộng. Đó là vẻ đẹp phúc hậu, đã từng đi vào thơ Hàn Mặc Tử: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ). Đến thời hiện đại vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ thật lắm màu nhiều sắc. Cái áo tứ thân của mẹ ta xưa đã được cách điệu thành áo dài với nhiều kiểu dáng. Tà áo em bay bay, bay bay trong nắng dịu dàng/ Aó bay trên đường như mây xuống phố/ Áo trên sân trường tựa cánh chim câu. Đẹp biết bao quê hương cho em chiếc áo nhiệm màu! (Một thoáng quê hương – Từ Huy và Thanh Tùng).

    Vẻ đẹp của người Phụ nữ Việt Nam xưa và nay trong văn học

    Nhà thơ Nguyễn Duy đã đã nhớ lại một thời áo trắng sân trường:

    Thướt tha áo trắng nói cười

                                          Để ta thương nhớ một thời áo nâu  (Áo trắng má hồng).

    Nhà thơ Lê Đình Cánh thì:

    Ở đâu tôi cũng phải lòng

                                       Những cô thôn nữ nâu sồng áo quê   (Cảnh nghèo)

    Còn nhà thơ Phạm Đình Ân lại bị hút hồn bởi chiếc áo nâu của cô gái:

    Anh yêu áo trắng, áo hồng

                                         Lại càng yêu đến vô cùng: áo nâu!   (Áo nâu)

    Hoặc anh cảm nhận được vẻ đẹp nền nã của chiếc áo đen mà em đã mặc trong cái thuở ban đầu:

    Aó đen ai mặc tình cờ

                                       Để cho ai nhớ bây giờ ai quên?

                                         … Thanh tao nào phải kén màu

                                       Sắc đen ngậm ánh sáng vào bên trong…  (Áo  đen).

     

    Nhà thơ Bùi Văn Bồng trong một buổi chiều tà bên bờ sông Hậu khi nhìn thấy cô gái Nam Bộ mặc áo bà ba, chèo xuồng ba lá đã quên cả lối về, vì đã quá đam mê trước vẻ đẹp của tà áo diệu kỳ này:

    … Dòng sông thì rộng mênh mông

                                       Aó em lại thắt eo hông làm gì

                                             Khen ai khéo chít đường ly

                                      Để cho tà áo thầm thì lời quê.

    (Aó bà ba)

     

    Vẻ đẹp của chiếc áo bà ba ấy cũng đã hơn một lần được nhạc sĩ Nhật Trường- Trần Thiện Thanh ngợi ca: Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm/ Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon.

    Nhưng có lẽ vẻ đẹp lâu bền nhất của người con gái và có sức quyến rũ lạ kỳ là cái duyên ngầm. Chẳng thế mà khi chồng giận, cô gái đã khéo nhỏ nhẹ:

    Chồng giận thì vợ làm lành

                                        Miệng cười tủm tỉm: rằng anh giận gì?

     

    chứ không như cô gái khác quá vội vàng và dứt khoát để chia tay:

    Đất xấu vắt chẳng nên nồi

                                        Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng.

    Hoặc có cô thẳng thừng tuyên bố:

    Chồng gì anh, vợ gì tôi

                                         Chẳng qua là cái nợ đời cầm tay.

     

    Hạnh phúc của vợ chồng, của gia đình đôi khi chỉ vì một sự tự ái, một chút nghi ngờ thiếu cảm thông là có thể đổ vỡ. Nhưng đa số PNVN rất giàu lòng vị tha và có đức hy sinh. Có người đã tự hạ mình xuống tận cùng để giữ gìn hạnh phúc:

    Chàng ơi phụ thiếp làm chi

                                         Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.

    Hoặc có khi hạnh phúc đã tan vỡ,  người vợ đã chia tay anh chồng phụ bạc rồi nhưng vẫn còn khuyên và lo cho anh:

    Anh về lấy vợ bên sông

                                        Còn tôi tơ tưởng lấy con ông lái đò

                                               Phòng khi sóng cả, gió to

                                         Để tôi còn kịp chở đò đưa anh.

     

    Anh đã có vợ khác, tôi đã có chồng, nhưng tôi vẫn độ lượng cứu giúp anh những lúc thất cơ lỡ vận,  khi anh gặp phải cảnh cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Thế mới biết tấm lòng vị tha của PNVN đẹp biết chừng nào!

     

    Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đã làm một cuộc đổi đời cho dân tộc. Những cô yếm thắm răng đen, sột soạt quần nâu, mặc áo tứ thân đã cầm súng, cầm cuốc đi phá đường, cản bước tiến của thực dân Pháp, gác lại mọi chuyện gia đình:

     

    Nhà em phơi lúa chưa khô

                                      Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong

                                           Nhà em con bế con bồng

                                     Em cũng theo chồng đi phá đường quan.  (Tố Hữu)

     

    Họ là những phụ nữ ba đảm đang, ba sẵn sàng việc nước, việc nhà để chồng con yên tâm đánh giặc. Đã có biết bao bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về, mình mẹ lặng im (Tạ Hữu Yên). Có mẹ ở Hà Bắc đã vá hơn hai trăm chiếc áo cho bộ đội, chiến sĩ: …Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc, áo con rách thêm/ Nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo/ Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo/ Đời mẹ nghèo thương áo rách/ Áo rách nên thương/ (Nguyễn Văn Tý). Người mẹ trong bài thơ Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly đã Ðào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc/ Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác/ Bao đêm ròng tiếng cuốc vọng năm canh. Tấm lòng mẹ rộng mênh mông như luỹ như thành, có thể dấu cả sư đoàn dưới đất. Chính những việc làm tưởng như nhỏ nhoi của các mẹ, các chị đã góp phần làm nên một Dáng đứng Việt Nam, một sức mạnh Việt Nam tạc vào thế kỷ. Những bà má ở Hậu Giang, bà Bầm ở Trung du, bà Bủ ở Việt Bắc, mẹ Tơm ở Thanh Hoá, mẹ Suốt ở Quảng Bình, chị Út Tịch ở Cầu Kè, Trà Vinh… và biết bao các mẹ, các chị đã đi vào thơ ca, nhạc, hoạ. Chị Út Tịch với quyết tâm đánh Mỹ đến cùngCòn cái lai quần cũng đánh. Những cô gái người Pa cô, Vân Kiều đi tải đạn, và tay vót chông miệng hát không nghỉ. Những cô gái Châu Yên ở Tây Bắc với bàn tay vén khéo Đụng vào khung cửi vải thành hoa/ Vung nắm tấm hoá ra đàn gà, thế mà các cô đã dùng súng trường hạ thần sấm, con ma của không lực Huê kỳ. Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), tuổi đẹp như trăng rằm từ 18 đến 20 đã ngã xuống để làm xanh một khoảng trời con gái (Lâm Thị Mỹ Dạ). Nhiều cô gái Em ở nông trường hay ra biên giới miệng vẫn hát vang lời ca Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao! Những cô giáo ở Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay ở vùng sâu, vùng xa hy sinh cả tuổi xuân để đem chữ Cụ Hồ tới đàn em thơ ở các bản làng dân tộc xa xôi, hẻo lánh. Cô giáo người Tày Tô Thị Rĩnh đã dùng tiếng đàn để thu hút các em học sinh người Hmông tới lớp, lấy đồng lương ít ỏi của mình để mua tập vở cho các em. Ta hãy nghe lời tự hát, tự ru lòng mình đến rơi nước mắt của các cô giáo ở một bản làng heo hút vùng cao:

     

    Ở rừng tự hát ru nhau

                                         Lá trầu chị héo, quả cau em già

                                               Ước ao có một gian nhà

                                         Có trưa đưa võng đón bà lên chơi…   (Em đi – Lê Đình Cánh).

     

    Những người PNVN đẹp trong lao động, đẹp trong chiến đấu, và trong đời thường họ càng đẹp hơn. Người vợ đã nén nỗi đau, tiễn chồng ra trận và hứa với anh: Lúa tốt lắm anh ơi/ Giải thi đua em giật (Trần Hữu Thung), vẫn luôn xoè bàn tay bấm đốt , nhìn hoa bưởi, hoa chanh mà mong ngày anh về. Chị không mang nỗi buồn bi luỵ như người chinh phụ xưa trong buổi tiễn đưa:

     

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

                                      Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

                                            Ngàn dâu xanh ngắt một màu

                                     Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?      (Chinh phụ ngâm)

     

    Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã cảm nhận được vẻ đẹp kín đáo của một cô gái nông thôn gói bông bưởi vào chiếc khăn tay tặng người yêu ngày mai ra trận: Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu…/Hai người chia tay sao chẳng nói điều chi/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi. Nhiều cuộc chia tay đẹp như cánh nhạn lai bồng dưới một trời phượng đỏ.

     

    Những người mẹ, người vợ ở hậu phương luôn làm yên lòng người đi chiến đấu. Nàng dâu và mẹ chồng càng thương nhau hơn: Phải đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi/ Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong… (Xuân Quỳnh). Người mẹ nào mà chẳng thấy mát lòng hả dạ khi nghe những lời tâm tình của nàng dâu như thế! Người phụ nữ hôm nay không còn là những cô gái xưa trong thơ Nguyễn Bính: Em là con gái trong khung cửi/ Dệt lụa quanh năm với mẹ già. Họ cũng không hoá đá như nàng Tô Thị xưa. Họ là một nửa của vẻ đẹp cuộc sống, và chiếm hơn 50% dân số nhân loại.

     

    Vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của người PNVN ngày nay đã được nâng lên một bước phù hợp với thời đại trong xu thế hội nhập toàn cầu, nhưng vẫn giữ được tính dân tộc đậm đà. Họ vẫn phát huy vẻ đẹp của một thời anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang và còn mang vẻ đẹp về trí tuệ. Nhiều chị em là những giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ … ngang hàng hoặc vượt nam giới. Những hoa hậu, á hậu, hoa khôi, người đẹp thời trang hôm nay là những sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, biết hát hay, múa giỏi, trả lời ứng xử tinh thông. Họ không còn là những người đẹp trong cung cấm xưa để điểm tô cho ngai vàng phong kiến. Họ đang viết tiếp trang sử oanh liệt của Bà Triệu, Bà Trưng dưới thời đại mới, và họ có mặt khắp nơi trên mọi nẻo đường của Tổ quốc.

     

    Vẻ đẹp của người PNVN in dấu ấn đậm trong thơ ca, nhạc, họa, điêu khắc… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc.  Chúng ta hãy cùng chia sớt nỗi đau của các mẹ, các chị trong quá khứ, và cùng vui, cùng tự hào với những gì mà các mẹ, các chị đã góp phần làm nên vẻ đẹp của phụ nữ trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

    Nguồn: chiasesuckhoe.com, Facebook, Khoahoc.TV

  • Nam Phương Hoàng Hậu

    NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT DUY NHẤT MẶC ÁO VÀNG TRONG TRIỀU ĐÌNH

    Năm 1932 vua Bảo Đại về nước sau mười năm học tập ở Pháp. Bảo Đại (sinh 1913) là một ông vua đẹp trai, có Tây học, ham thích thể thao, săn bắn và âm nhạc, là hình ảnh lý tưởng của con gái Việt Nam, đặc biệt là con gái Huế thời bấy giờ và mãi nhiều năm về sau. Nhiều nhà quyền quý, có con gái đều nhắm đến vị Hoàng đế trẻ tuổi này.

    Sau ngày Bảo Đại về nước, bà Từ Cung – mẹ đẻ của vua Bảo Đại, đã chọn cô Bạch Yến con ông Phó bảng Nguyễn Đình Tiến quê ở làng Chí Long (Phong Điền, Thừa Thiên) để chuẩn bị tiến cung. Cô Bạch Yến được dạy đàn ca, thơ phú, dạy ăn nói, đi lại cho đúng với lễ nghi trong cung cấm. Hằng ngày cô được tắm gội bằng sữa dê để giữ làn da đẹp. Nhưng rồi thật bẽ bàng, cuối cùng cô Bạch Yến đã không được Bảo Đại lưu ý.

    Bởi vì Bảo Đại đã yêu cô Nguyễn Hữu Thị Lan (sinh 1914), con một nhà hào phú Nam bộ là ông Nguyễn Hữu Hào (gốc Gò Công). Bà còn là cháu ngoại ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ – người giàu nhất Nam bộ đầu thế kỷ XX, Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương.
    Tuy nhiên, với quyết định này của nhà vua, đã khiến Thái Hậu Từ Cung vô cùng phiền lòng, còn triều đình như phải đối mặt với một cơn sóng dữ.
    Bà Từ Cung bày tỏ không đồng tình việc Bảo Đại đòi lấy cô Nguyễn Hữu Thị Lan, vì tuy là con nhà giàu nhưng cha mẹ không có chức tước gì trong triều đình. Huống chi lại theo đạo Công giáo!.

    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934
    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934


    Bảo Đại còn cứng rắn thưa với mẹ rằng, nếu không lấy được Nguyễn Hữu Thị Lan thì thà ở vậy suốt đời. Vua cũng cam kết Hoàng hậu sẽ thắp nhang cúng vái tổ tiên theo đúng phong tục tập quán của người Việt.

    Người đứng đầu Tôn Nhân Phủ là Tôn Thất Hân lại càng phản đối kịch liệt. Tôn Thất Hân nêu lý do: “Thị Lan chỉ đậu tú tài toàn phần Pháp không thể so ra với Trạng Nguyên xứ ta, lại đòi làm Hoàng Hậu nữa thì không thể chấp nhận được”.
    Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại thẳng thắn trả lời Tôn Nhân Phủ như sau: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình đâu”.

    Tôn Thất Đàn, cựu thượng thư bộ Hình định thảo một kiến nghị có chữ ký của các đại thần đứng đầu các Bộ và các nha phủ quan trọng trong triều yêu cầu Nhà vua nên từ hôn với Nam Phương. Bản thân ông và bạn bè còn nghĩ đến buộc Nam Phương bỏ Công giáo theo đạo Phật pha trộn với đạo Lão đang thịnh hành ở Việt Nam nếu cứ lấy Bảo Đại. Vị cựu thượng thư còn nói thêm có một vài vị quan quyền cao đức trọng tỏ ý thà chết còn hơn được thấy việc hôn nhân này vi phạm những nguyên tắc của nhà nước quân chủ.

    Nhưng cuối cùng do sự quả quyết của Bảo Đại, bà Từ Cung và các quan đình đành phải nghe theo vua.

    Ngày 20/3/1934, hôn lễ được tổ chức tại Huế. Khi đó, Bảo Đại 21 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan 19. Bốn ngày sau, lễ Tấn Phong Hoàng Hậu rất trọng thể ở Điện Dưỡng Tâm. Nhà vua phong Hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Lan tước Nam Phương Hoàng Hậu.

    Việc phong hoàng hậu này cũng lại là một biệt lệ, vì bà cùng với Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, chính thất của Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế, là 2 vị Hoàng hậu duy nhất trong hoàng tộc nhà Nguyễn mang tước vị Hoàng hậu khi còn sống.

    Bảo Đại giải thích hai chữ Nam Phương như sau: “Tôi đã chọn tên trị vì của hoàng hậu mới là Nam Phương, có nghĩa là “Hương thơm của miền Nam” và tôi đã ra một chỉ dụ, đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng, là màu dành riêng cho Hoàng đế”.

    Với tư cách hoàng hậu, Nam Phương đã giúp cho vua Bảo Đại trong các hoạt động ngoại giao, đón tiếp các quốc khách, giao thiệp với Pháp. Nam Phương là vị Đệ nhất phu nhân Việt Nam đầu tiên được giao phụ trách các công việc xã hội, làm khuyến học, khen thưởng học sinh giỏi, giúp đỡ người nghèo, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội.
    Hoàng hậu Nam Phương có với Bảo Đại 5 người con. Hai hoàng tử và ba công chúa.

    Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam năm 1947. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng các con tại Perche, một làng cổ ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin nước Pháp. Bà mất ngày 14 tháng 9 năm 1963, đám tang được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ, thưa thớt, vắng vẻ. Bên ngôi mộ đơn sơ có tấm bia khắc chữ Pháp:

    CI REPOSE L’IMPÉRATRICE D’ANNAM NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN
    (Đây là nơi an nghỉ của Hoàng hậu nước An Nam, nhũ danh Maria Têrêsa Nguyễn Hữu Thị Lan)

    Loạt Ảnh Nam Phương Hoàng Hậu ở cuối bài viết này!
    Vatican (July 20, 1939) – Hoàng hậu Nam Phương
    Vatican (July 20, 1939) – Hoàng hậu Nam Phương
    VATICAN – The Empress of Annam received at Vatican – July 20, 1939
    VATICAN – The Empress of Annam received at Vatican – July 20, 1939
    Tràng An báo, Số 226, 4 Tháng Sáu 1937 — Yết kiến Nam Phương Hoàng hậu
    Tràng An báo, Số 226, 4 Tháng Sáu 1937 — Yết kiến Nam Phương Hoàng hậu
    Tem Nam Phương Hoàng Hậu
    Tem Nam Phương Hoàng Hậu
    Souverains et notabilites d’Indochine (8) – THÁI TỬ BẢO LONG
    Souverains et notabilites d’Indochine (8) – THÁI TỬ BẢO LONG
    Souverains et notabilites d’Indochine (5) NAM-PHƯƠNG HOÀNG-HẬU
    Souverains et notabilites d’Indochine (5) NAM-PHƯƠNG HOÀNG-HẬU
    Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    S.M. Nam-Phương Impératrice d’Annam
    S.M. Nam-Phương Impératrice d’Annam

    Souverains et notabilites d’Indochine (2)Portraits de Nam Phuong, impératrice d’Annam

    Pope Pius XII, Bao Dai king of Annam, his wife and his retinue on September 9, 1950 in the Vatican
    Pope Pius XII, Bao Dai king of Annam, his wife and his retinue on September 9, 1950 in the Vatican.
    September 09, 1950| Credit: Keystone-France
    Pope Pius XII
    https://en.wikipedia.org/wiki/Pope_Pius_XII
    Paris, France Ca. 1933 – Nam Phương Hoàng Hậu cùng các con viếng thăm trường Couvent des Oiseaux nơi bà từng theo học
    Nam Phuong HH cùng các con vi?ng tham tru?ng Couvent des Oiseaux noi bà t?ng theo h?c
    FRANCE – CIRCA 1933: Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the “couvent des Oiseaux”. 62, Ponthieu’s street where she was educated. (Photo by Roger Viollet Collection/Getty Images)
    Emperor Bao Dai And Wife Of South Vietna
    Paris, France — 10/23/1955-Paris, France: Emperor Bao Dai of South Vietnam and his wife appear before newsmen for an interview in their Paris apartment the day before the election in his country deciding between him and premier Ngo Dinnh Diem. Voters in South Vietnam were apparently voting overwhelmingly voting in favor of the primier Oct. 23. The Primier was United States supported, and the emperor Payboy hasn’t been in his native land form two years. — Image by © Bettmann/CORBIS
    Nam Phương Hoàng hậu với Thái tử Bảo Long và công chúa Phương Liên dạo chơi trong công viên
    Nam Phương Hoàng hậu với Thái tử Bảo Long và công chúa Phương Liên dạo chơi trong công viên
    Nam Phương Hoàng Hậu viếng thăm La Mã 21-7
    Nam Phương Hoàng Hậu viếng thăm La Mã 21-7
    Nam Phương và hoàng tử Bảo Thắng
    Nam Phương và hoàng tử Bảo Thắng
    Nam Phương ngày Lễ tấn phong Hoàng hậu
    Nam Phương ngày Lễ tấn phong Hoàng hậu
    Nam Phương Hoàng Hậu và Vua Bảo Đại chụp tại Hôtel Westminster ở Le Touquet France năm 1938
    Nam Phương Hoàng Hậu và Vua Bảo Đại chụp tại Hôtel Westminster ở Le Touquet France năm 1938
    Nam Phương Hoàng hậu thời còn là nữ sinh du học tại Pháp
    Nam Phương Hoàng hậu thời còn là nữ sinh du học tại Pháp

    Nam Phương Hoàng hậu

    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, have just receiv
    UNSPECIFIED – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, have just received the cross of commander of the public health. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)
    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in a Parisian pr
    FRANCE – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in a Parisian private school. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)

    Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (4) Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (3) Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (2)

    Lăng Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu) tại Đà Lạt
    Lăng Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu) tại Đà Lạt
    KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU (1963)
    KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU (1963)
    Indochine 1934 – LE MARIAGE DE L’EMPEREUR D’ANNAM
    Indochine 1934 – LE MARIAGE DE L’EMPEREUR D’ANNAM
    INDOCHINE (2 Jan 1941) – PRINCE ANNAM
    INDOCHINE (2 Jan 1941) – PRINCE ANNAM
    Indochine – Carte-Photo – Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Indochine – Carte-Photo – Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Huế 1936 – lễ giới thiệu Thái Tử Bảo Long, con trưởng nam vua Bảo Đại
    Huế 1936 – lễ giới thiệu Thái Tử Bảo Long, con trưởng nam vua Bảo Đại
    Hoàng hậu Nam Phương với Hoàng tử Bảo Long và Công chúa Phương Mai
    Hoàng hậu Nam Phương với Hoàng tử Bảo Long và Công chúa Phương Mai
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc, TP Cannes, Pháp
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc, TP Cannes, Pháp
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc (thành phố Cannes, Pháp), khoảng 1950
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc (thành phố Cannes, Pháp), khoảng 1950
    Hoàng hậu Nam Phương (1914) – hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ tại VN
    Hoàng hậu Nam Phương (1914) – hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ tại VN
    Hoàng gia Annam viếng thăm Điện Elysee trong thập niên 1930
    Hoàng gia Annam viếng thăm Điện Elysee trong thập niên 1930
    Gia đình vua Bảo Đại với Đức Từ Cung, mẹ của vua
    Gia đình vua Bảo Đại với Đức Từ Cung, mẹ của vua

    LA DERNIÈRE IMPÉRATRICE D’ANNAM – Nam Phuong la sacrifiée – Récit romancé de la première reine vietnamienne INDOCHINE – CIRCA 1943 – S.M. NAM-PHUONG, Impératrice d’Annam – Tem Nam Phương Hoàng Hậu do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ Impératrice d’Annam – Nam Phương Hoàng Hậu Hoàng hậu Nam Phương Hoàng hậu Nam Phương trước 1945 Hoàng hậu Nam Phương ngồi xe kéo đi trong Đại nội Hoàng hậu Nam Phương mặc âu phục, đầu những năm 1950 Hoàng hậu Nam Phương (2)

    The Imperial Family Of A Nice Annam 1950
    FRANCE – JUNE 21: The Imperial Family Of A Nice Annam 1950 (Photo by Keystone-France/Gamma-Keystone via Getty Images)
    FRANCE 1939_ Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the _Couvent des Oiseaux_ where she was educated
    Nam Phuong HH cùng các con vi?ng tham tru?ng Couvent des Oiseaux noi bà t?ng theo h?c
    FRANCE – CIRCA 1933: Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the “couvent des Oiseaux”. 62, Ponthieu’s street where she was educated. (Photo by Roger Viollet Collection/Getty Images)
    En avion au-dessus de VERNEUIL sur SEINE – Le couvent des oiseaux, le parc noir
    En avion au-dessus de VERNEUIL sur SEINE – Le couvent des oiseaux, le parc noir
    EN AVION AU DESSUS DU COUVENT DES OISEAUX
    EN AVION AU DESSUS DU COUVENT DES OISEAUX
    Empress Nam Phuong, wife of Emperor Bao Dai of Vietnam, waiting to be received by the Pope during a visit to the Vatican, Italy, July 28th 1954
    Empress Nam Phuong, wife of Emperor Bao Dai of Vietnam, waiting to be received by the Pope during a visit to the Vatican, Italy, July 28th 1954. (Photo by Keystone/Hulton Archive/Getty Images)
    ĐÁM CƯỚI VUA BẢO ĐẠI 16_4_1934
    ĐÁM CƯỚI VUA BẢO ĐẠI 16_4_1934
    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in her father’s
    VIETNAM – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in her father’s property, near Saigon. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)
    Dalat – Le Tombeau du Duc Long-My – Lăng mộ Long Mỹ Quận công (thân phụ của Nam Phương Hoàng hậu)
    Dalat – Le Tombeau du Duc Long-My – Lăng mộ Long Mỹ Quận công (thân phụ của Nam Phương Hoàng hậu)
    Chân dung Hoàng hậu Nam Phương
    Chân dung Hoàng hậu Nam Phương
    Cha bề trên Eugène Larouche (1892) cùng Nam Phương Hoàng hậu và các con tại dòng Chúa Cứu Thế – Huế 1947
    Cha bề trên Eugène Larouche (1892) cùng Nam Phương Hoàng hậu và các con tại dòng Chúa Cứu Thế – Huế 1947
    Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương
    Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương
    Annam’s Empress and Children
    Annam’s Empress and Children — Image by © Bettmann/CORBIS
    Annam Emperor Bao Dai’s Marriage 1934
    Annam Emperor Bao Dai’s Marriage 1934
    Annam Dissatisfied With Young Emperor’s Fiance – The Lewiston Daily Sun – Mar 20, 1934
    Annam Dissatisfied With Young Emperor’s Fiance – The Lewiston Daily Sun – Mar 20, 1934
    ANNAM – TRUNG KỲ – Voi của vua – Hoàng hậu Annam trong lễ phục – Hoàng đế Annam Bảo Đại
    ANNAM – TRUNG KỲ – Voi của vua – Hoàng hậu Annam trong lễ phục – Hoàng đế Annam Bảo Đại
    ANNAM – S.M. BAO DAI, EMPEREUR D’ANNAM
    ANNAM – S.M. BAO DAI, EMPEREUR D’ANNAM

    ANNAM – L’ IMPÉRATRICE EN COSTUME DE CÉRÉMONIE – Hoàng hậu Annam trong lễ phục

    Tháng Tám 1933
    Ái tình và tôn giáo: Chung quanh chuyen cô Mariette Jeanne Nguyen- Huu-Hào làm Hoàng hâu nuoc Nam
    http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19330817.2.4&e=——-vi-20–1–img-txIN——#
    1954 President Coty’s WIfe Talks with Empress Nam-Phuong – Press Photo
    1954 President Coty’s WIfe Talks with Empress Nam-Phuong – Press Photo

    nam phuong hoang hau

    1945 ĐẾ QUỐC VIỆT NAM – Hoàng đế Bảo Đại & Nam Phương Hoàng Hậu (mẫu tem in thử)
    1945 ĐẾ QUỐC VIỆT NAM – Hoàng đế Bảo Đại & Nam Phương Hoàng Hậu (mẫu tem in thử)
    1942 Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đứng xem cuộc diễn hành của xứ Chùa Tháp chào mừng Hoàng gia Việt
    1942 Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đứng xem cuộc diễn hành của xứ Chùa Tháp chào mừng Hoàng gia Việt
    The Empress Of Received At Vatican Annam 1939
    The Empress Of Received At Vatican Annam 1939
    1939 – Đức Từ Cung, Hoàng Đế Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long và các quan chức Nam triều
    1939 – Đức Từ Cung, Hoàng Đế Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long và các quan chức Nam triều
    1934 Arrivo di NAM PHUONG, Imperatrice consorte dell’ANNAM
    1934 Arrivo di NAM PHUONG, Imperatrice consorte dell’ANNAM
    22 luglio 1939 – Roma – S.M. L’IMPERATRICE DELL’ANNAM
    22 luglio 1939 – Roma – S.M. L’IMPERATRICE DELL’ANNAM
    12 Empire of Vietnam 1945 Unissued Empress Nam Phuong Stamp Set
    Bộ tem “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” hình Nam Phương Hoàng Hậu gồm 12 con tem, mẫu in thử năm 1945, chưa phát hành.

    Hình ảnh Việt Nam Tổng hợp

  • Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm

    Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm

    Chắc quý vị ai cũng biết ngày 1.11.1963, anh em nhà Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu bị đảo chính, phải chạy vào Nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn tá túc, sau đó bị giết chết, và từ đây một sự kiện phát lộ một công trình đường hầm quy mô lớn dưới lòng đất ở Dinh Gia Long, có nhiều thông tin cho rằng đã nối thông tới Đại Thế Giới tại Chợ Lớn nay là Quận 5

    1.Hầm bí mật gia đình

    Dinh Gia Long rộng khoảng 2ha, ở trung tâm thành phố Sài Gòn, nằm giữa 4 con đường: Gia Long (trước), Lê Thánh Tôn (sau), Pasteur (bên phải) và Công Lý (bên trái), do Kiến trúc sư Pháp Alfres Foulhoux thiết kế, xây dựng từ năm 1885 đến năm 1890, kiến trúc đồ sộ và rất đẹp thời Pháp thuộc này lúc đầu dùng làm Bảo tàng Thương Mại, nhưng sau dành làm nhà ở cho Thống Đốc Nam Kỳ Hoefel ,khi dinh Độc Lập bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại nặng ngày 27.2.1962 … Ngô Đình Diệm và vợ chồng Ngô Đình Nhu dọn sang Dinh Gia Long ở tá túc, sao khi sửa xong Dinh Gia Long trở thành Dinh Tổng thống và dinh thất của gia đình họ Ngô tại Sài Gòn thời điểm đó ,năm 1962, trước đó nữa anh em nhà họ Ngô có biết rằng trước đó 17 năm, trong cuộc đảo chính 9/3/1945, quân đội Nhật đã vào dinh này bắt sống Thống đốc Nam kỳ Hoefel, theo sử sách trước đây của cụ Vương Hồng Sển thì thời đó dân Sài Gòn biết rất rõ, và cho rằng anh em nhà họ Ngô đem nhau vô Dinh Gia Long ở đã là một dấu hiệu không lành, theo tài liệu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II, KTS Ngô Viết Thụ là người đã thiết kế xây dựng. Sau khi KTS Ngô Viết Thụ sang Mỹ, Kỹ sư Phan Đình Tăng- Giám đốc Nha Kiều lộ là người duy nhất được giao nhiệm vụ thi công, kiểm soát nghiên cứu lại đồ án và hoàn tất bản vẽ, hầm được nhà thầu Trương Đăng Khoa khởi công từ tháng 5.1962 và đến 30.10.1963 thì hoàn thiện với tổng kinh phí hơn 12 triệu đồng. Chi phí thi công cao hơn dự toán, do tường dày đến 1m hơn dự kiến 0,4 m, làm thêm cầu thang B, một hầm để máy phát điện, phòng truyền tin và một hầm nhỏ đựng các vật có mùi hôi hoặc cần được cất kín.

    2.Bản vẽ

    Bản vẽ thiết kế xây dựng đường hầm ,căn hầm này được xây dựng từ tháng 5/1962, hầm được đào sâu xuống mặt đất 4m, đúc bằng xi măng cốt sắt (170kg sắt/m3 bê tông), có tường dày đến 1m, từ trên xuống hầm theo 2 đường cầu thang A (hướng đường Nam Kỳ khởi nghĩa) và cầu thang B (hướng đường Pasteur), theo đường cầu thang A xuống gặp 2 phòng liền nhau: Phòng khách và phòng vệ sinh, theo đường cầu thang B xuống gặp phòng máy đèn. Từ phòng này đi xuống gặp ngay phòng của Ngô Đình Nhu và kế bên là phòng Ngô Đình Diệm với diện tích 17m2.
    Theo ước tính, căn hầm bí mật của Ngô Đình Diệm được xây dựng với tổng kinh phí là 12.514.114 đồng, một khoản tiền khổng lồ thời đó, nóc hầm được ngụy trang bằng nhiều chậu cây cảnh cùng hệ thống điện thắp sáng, nước sạch và cống dẫn thải đầy đủ để cho hầm được hoạt động thông suốt, theo thiết kế, hầm có thể chịu được cuộc oanh tạc của các loại trọng pháo và bom 500kg, tổng diện tích mặt bằng hầm là 1.392,3 m2 (30,6m x 45,5m), ở hai đầu tòa nhà chính của dinh là hai cầu thang dẫn theo bậc tam cấp xuống tầng hầm, hầm được chia làm 6 phòng và thông với nhau qua một hành lang thông thoáng, bên dưới tùy từng đoạn được tráng xi măng hoặc lót gạch bình thường như trên sàn nhà, và lối thoát ra đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Pasteur bằng hai lô cốt nhỏ, toàn bộ hầm có 6 cửa ra vào phòng được làm bằng sắt tấm đúc nguyên khối, đóng mở bằng cách xoay một bánh lái như cửa tàu thủy, phía trong còn có chốt sắt thật lớn để cài khi có sự cố, để bảo đảm bí mật, các giấy tờ liên quan đến việc xây dựng hầm đều không dùng từ “hầm” mà chỉ ghi là “công tác xây cất ở Dinh Gia Long”, hầm có cầu thang thông lên ngay phòng làm việc và tiếp khách, nên khi đang ngủ hay đang ăn, chỉ sau 5 phút là Tổng thống đã xuống được hầm với đầy đủ hệ thống thông tin liên lạc kết nối với bên ngoài để nắm bắt tình hình, trong những tấm ảnh ad vừa up lên quý vị thấy phòng tiếp khách ở khu vực trung tâm đường hầm của Tổng thống Ngô Đình Diệm gồm 1 bộ trường kỷ, 1 chiếc bàn nhỏ và 1 chiếc ghế mây dành cho khách, cho đến khi thời Đệ Nhứt Cộng Hòa của ông Diệm – Nhu sụp đổ, các vật dụng tiện nghi trong hầm vẫn chưa được trang bị đầy đủ, một hệ thống quan trọng là máy điều hoà không khí khi đó chưa được lắp, dù máy móc đã được nhập về Sở Nội dịch, đã có rất nhiều giai thoại ly kỳ xung quanh căn hầm bí mật dưới Dinh Gia Long, có lời đồn rằng căn hầm có nhiều đường thoát hiểm thông ra các địa điểm khác nhau trong thành phố, trên thực tế, phạm vi đường hầm mà ông Ngô Đình Diệm cho xây dựng chỉ là hầm cố thủ, giới hạn trong khuôn viên Dinh Gia Long, đề phòng những trường hợp bất trắc, đảo chính, chứ không phải đường thoát, có tư liệu còn khẳng định, công việc đào hầm được giao cho 200 tù binh chia thành 10 toán luân phiên đào, số tù binh này được đưa tới bằng xe bịt kín, bị bịt mắt cho tới khi vào điểm thi công, công việc đào hầm được thực hiện từ 12 giờ khuya để giữ bí mật tuyệt đối, rong bảng chiết tính chi phí xây dựng hầm, còn có số tiền trả nhân công là 150.000 $, cho thấy việc mô tả dùng tù binh xây hầm như các tài liệu nói trên là không có cơ sở.

    3.Cuộc chạy trốn bất thành

    Trong cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, anh em Diệm – Nhu đã trú ẩn trong căn hầm này, 6h45 ngày 2/11/1963, Dinh Gia Long thất thủ, quân đảo chính đã tấn công vào hầm. Tại đây còn một lá cờ trắng, một số tài liệu viết tay ghi lại những cuộc điện đàm tại phòng của Ngô Đình Diệm, có thể trước khi đi ra vùng Chợ Lớn, Ngô Đình Diệm đã xuống hầm sử dụng hệ thống thông tin này để gọi các binh chủng và lực lượng bán quân sự đến tiếp cứu, vào thời điểm này, hai anh em họ Ngô đang ẩn náu tại nhà thờ Cha Tam, do có mật báo nên vài phút sau đó, quân đảo chính đã cho chiếc M.113 đến nhà thờ Cha Tam, Diệm – Nhu bị trói đưa lên xe và bị bắn chết.

    St: Facebook

    Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm
    Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm

    Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm Chuyện về hầm trú ẩn của Ngô Đình Diệm

  • Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp

    Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp

    Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.
    Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

    Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.
    Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).
    Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).
    Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

    Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

    Xe lửa ngày xưa
    Xe lửa ngày xưa

    Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum), bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…
    Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.
    Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…
    Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.
    Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

    Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
    Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.
    Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.
    Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) dưới thì có xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).
    Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).


    Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc. Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

    Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

    Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

    Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

    Cũng vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì phải mắc tiền nhất chớ!”.

    Các ông lại giải thích một cách hóm hỉnh khi các bà thắc mắc Con Chim làm gì có sữa: “Tại mấy bà không để ý đấy thôi, con chim khi hứng chí cũng tiết ra một thứ sữa màu trắng đục, đó không phải là sữa thì là gì?”.

    Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

    Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

    Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

    Sữa Bột Rau – Guigoz
    Sửa Bột Rau – Guigoz

    Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

    Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

    Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

    Tình cờ tôi bắt gặp trang web

    (http://www.teslogos.com/ancienne_boite_de_lait_guigoz_collector_collection .html) của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

    Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

    Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

    Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

    Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

    Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa

    Nguyễn Ngọc Chính

  • Người Việt ăn uống như thế nào và Cách Nấu Nướng khác với Người Trung Hoa ra sao ?

    Người Việt ăn uống như thế nào và Cách Nấu Nướng khác với Người Trung Hoa ra sao ?

    GS. Trần Văn Khê
    GS. Trần Văn Khê

    Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi : Người Việt Nam ăn uống thế nào ? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng ? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận sét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Ban, đánh trống trước cửa nhà Sấm.

    Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi: – Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nàỏ – Tôi rất ngại so sánh . . . tôi trả lời . . . vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh. Thỉnh thoảng tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôị Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng ? Người chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ.

    1- Ăn toàn diện: Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan. Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa chúng tôi chẳng hạn: có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu v. v. . . Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cưới. Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống. Răng và nứu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác. Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay v. v. Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện.

    2- Ăn khoa học : Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo “âm” và “dương” Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm. Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng. Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống. Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học. Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn.

     

    Bát cháo hành
    Bát cháo hành

    Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: cảm lạnh (bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh (âm) vào người phải đem gừng (dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng (bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành (âm) . Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua (âm) hoặc hải sâm (âm) ; mùa đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu : “mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển” Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc lào, thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổi. Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: thịt vịt hay thịt cá trê – hàn – thì chấm với nước mắm gừng – nhiệt. Cách ăn của người Việt Nam khoa học vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hành nhiệt điều hòa. Ngoài ra trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.

    3- Ăn dân chủ : Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổi. Như vậy cách của người Việt Nam rất dân chủ. Anh bạn người Pháp thích chí cười to : ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calory mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam. Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm :

    4- Ăn cộng đồng : Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơi.

    5- Ăn lễ phép : Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.

    6- Ăn tế nhị : Ăn ớt cử cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm nhứt là ở miền Trung rất tinh tế ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt : bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.

    7- Ăn đa vị : Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay), chuối sống (chát), khế (chua), tương (ngọt, mặn cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay (béo). Ăn có năm vị chánh : ngọt, mặn, chua, cay, béo, có cả ngũ sắc đen (tương), đỏ (ớt), xanh (rau), vàng (khế chín), trắng (bánh tráng, bún). Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữa.

    Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nàỏ Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấy. Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báo. Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.

    1/- Cách dùng bột: Người Việt Nam thường dùng bột gạo trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì, cho nên Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh bao. Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.

    2/- Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm là bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.

    3/- Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt. Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấy. Ông giám đốc tạp chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nào. Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút. Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đây.

    • Về rau : người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.
    • Về cá : Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc có cá mặn không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm v. v. . . Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.
    • Về thịt : Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế v. v. . .
    • Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: lạt lạt của bánh tráng, bún, hơi mát mát ngọt ngọt như dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, và có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú. Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng ta.

    Khi dạy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người ta. Ra đường phải biết “ăn bận” hay “ăn mặc” cho phải cách phải thế. Đối với mọi người không nên “ăn thua” làm chi cho bận lòng. Làm việc gì phải cẩn thận “ăn cây nào, rào cây nấy”. Trong việc tiêu tiền phải biết “liệu cơm, gắp mắm” và dẫu cho nghèo đi nữa “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Không nên ham ăn quá độ vì ” no mất ngon, giận mất khôn”. Ra làm ăn phải quyết tâm đừng ” cà lơ xích xụi” chạy theo ” ăn có” người khác. Phải biết ” ăn chịu” với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị “ăn trớt”. Không nên “ăn gian, ăn lận” hay bỏ lỡ cơ hội thì “ăn năn” cũng muộn. Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng “ăn hại” “ăn bám” người khác. Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho” ăn” với giọng ca, hòa đàn cũng phải “ăn” với nhau, “ăn ý” , “ăn rơ” thì mới haỵ

    Các bạn thấy chăng ? Cái “ăn” cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam. Tuy chúng ta không như người Trung Quốc ” dĩ thực vi tiên” nhưng phải có ăn mới làm nên việc vì có “thực mới vực được đạo”.

    GS. Trần Văn Khê