Blog

  • Hoàng thành Huế – nét kiến trúc và lịch sử

    Hoàng thành Huế – nét kiến trúc và lịch sử

    Hoàng thành Huế

    Hoàng thành Huế là tòa thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805( Vua Gia Long) đến 1945( Vua Bảo Đại).

    Xây dựng Hoàng Thành Huế

    Sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh chọn Phú Xuân làm kinh đô, lập đàn tế trời đất rồi thiết triều để lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long. Năm 1804, vua Gia Long đổi quốc hiệu là Việt Nam.

    Hoàng Thành Huế được vua Gia Long khảo sát 1803 và bắt đầu khởi công xây dựng năm 1805, nhưng mãi đến năm 1833 đời vua Minh Mạng mới hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình.

    Tháng 4 năm Ất Sửu (1805), triều Nguyễn khởi công xây dựng Kinh thành. Hơn 3 vạn lính và dân phu từ Quảng Bình đến Quy Nhơn đã được huy động đến Huế thi công. Ðến năm 1807 thêm 80.000 binh lính ở Thanh Nghệ và Bắc Thành được đưa vào tăng cường lao dịch ngày đêm. Ban đầu thành đắp bằng đất, gỗ ván bọc mặt ngoài. Năm Gia Long 17 (1818) mới cho xây gạch 2 mặt Tây và Nam. Hai mặt Đông và Bắc xây gạch năm 1822. Ðến năm 1832, đời Minh Mạng, việc thi công mới hoàn tất và sau đó còn được tu bổ nhiều lần.

    Hoàng Thành Huế có chu vi gần 10.000m, diện tích 520 ha. Thành cao 6,6m, 10 cửa ra vào, trên thành có 24 pháo đài, ngoài thành có hệ thống hào và sông đào bảo vệ. Về phía Ðông bắc còn có một thành phụ gọi là Trấn Bình Ðài hay còn gọi là Mang Cá. Bên trong và bên ngoài kinh thành là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ, chính phụ khác nhau.

    Hiện nay Hoàng Thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

    Nguồn tư liệu: http://vi.wikipedia.org/

    Một số hình ảnh của Hoàng thành Huế xưa và nay

    1396446828_f9ae6057ca_o Cửu Đỉnh Hiển Lâm Các Hưng Tổ Miếu namgiaoxagiaroicungdien Điện Phụng Tiên Kinh đô huế Cung đình Huế Đại Nội Kinh thành huế xưa Một góc trong khuôn viên đại nội Ben trong dai noi cổng ngọ môn cổng ngọ môn xưa Cong kinh thành huế Lính tùy tùng Một góc cung Diên Thọ namgiaoxagiaroicungdien Diên Thọ Chính điện

     

  • Bộ ảnh hiếm về nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn

    Bộ ảnh hiếm về nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn

    Loạt hình rất xưa về nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Saigon 1880-1903.

    Năm 1881, một nhà máy sản xuất thuốc phiện lớn đã được người Pháp xây dựng ở trung tâm Sài Gòn, vị trí nhà máy ngày nay thuộc khu phố 4 phường Bến Nghé, Q1, TP HCM,

    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1)
    Cổng chính dẫn vào nhà máy. Toàn bộ nhà máy sản xuất thuốc phiện này chiếm diện tích khoảng 1ha trên một khu đất hình chữ nhật, được bao quanh bởi 4 đường phố ,Công nhân bắt đầu làm việc từ 6 giờ sáng, chia làm 2 ca sáng và chiều. Mỗi ngày nhà máy tiêu thụ khoảng 350kg nguyên liệu, gồm thuốc phiện sống, vỏ cây khô và các hóa chất khác nhau.

    Đôi dòng về nhà máy
    Ít ai biết rằng thời Đông Dương toàn quyền thuộc pháp, mảnh đất Sài Gòn chúng ta từng có một nhà máy chế biến thuốc phiện rất lớn mà sau này thuốc phiện còn được biết tới với cái tên “nàng tiên nâu”, là nhựa được trích ra và chế biến từ quả của cây thuốc phiện (hay cây anh túc).

    Vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia Châu Á và Châu Âu chìm ngập trong làn khói thuốc phiện. Mặc dù biết tác hại của thứ chất gây nghiện này là rất khủng khiếp, song vì lợi nhuận mà chính quyền Pháp vẫn cho phép buôn bán và chế biến thuốc phiện ngay tại mảnh đất Sài Gòn.

    Vào những năm 1880, khi lần đầu tiên người Pháp xuất hiện tại Sài Gòn cho tới năm 1861, khi miền Nam nước ta còn nằm dưới quyền bảo hộ của Pháp. Thuốc phiện được sử dụng rất ít ở Sài Gòn, tuy nhiên theo làn sóng Hoa Kiều nhập cư, thuốc phiện dần lan rộng, được sử dụng nhiều hơn, lúc này, những nhà máy chế biến cũng dần xuất hiện ngay giữa trung tâm Sài Gòn. Trong tình cảnh đó, chính quyền thuộc địa Pháp đã quyết định cho phép buôn bán ma túy công khai nhằm thu một khoản thuế khổng lồ, lên tới hàng triệu đồng piastres (đơn vị tiền tệ khi đó ở Đông Dương).

    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1)
    Vị trí của nhà máy chế biến thuốc phiện trên bản đồ Sài Gòn cách đây hơn 100 năm do người Pháp vẽ, theo đó quý vị nhìn trong hình sẽ thấy xí nghiệp sản xuất “Thuốc Phiện” này nằm ở số 74 Rue Paul Blanchy, nay là nhà hàng The Refinery số 74 đường Hai Bà Trưng, gần phía sau Nhà hát Thành phố.

     

    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1)
    Công xưởng chính, nơi diễn ra các công đoạn quan trọng nhất của việc chế biến thuốc phiện.
    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1)
    Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua.
    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1)
    Ngoài ra, các công trình trong khuôn viên nhà máy gồm có công xưởng, văn phòng quản lý, nhà kho, bốt bảo vệ, phòng đóng gói, phòng động cơ hơi nước, phòng thí nghiệm hóa học…,những tòa nhà chính vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay!

    nhà máy sản xuất thuốc phiện đầu tiên tại Sài Gòn,anh xua sai gon - anh san xuat thuoc phien - nha may thoi phap tai viet nam (1).
    Nguyên liệu đầu vào của nhà máy này là thuốc phiện thô nhập từ Vân Nam (Trung Quốc) hoặc thuốc phiện Benares (từ Ấn Độ). Phương pháp sản xuất tại đây giống cách chế biến thuốc phiện của người Quảng Đông nhưng có thêm sự trợ giúp của dây chuyền Tây Âu nhằm tăng năng suất, theo đó, một mẻ thuốc phiện sẽ ra lò sau 3 ngày chế biến trong xưởng. Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua.  Trên nắp các hộp thuốc đều có ghi chữ B (Benares) hoặc chữ Y (Vân Nam) tượng trưng cho nguồn gốc xuất xứ của thuốc.

    Thời Pháp thuộc, việc sử dụng thuốc phiện rất phố biến trong dân cư người Hoa. Một bộ phận có điều kiện thường hút thuốc phiện ở nhà, trong khi giới bình dân hút tại các “động” nha phiến, có rất nhiều ở Sài Gòn và Chợ Lớn.

    Hình Ảnh Việt Nam sưu tầm và chỉnh sửa lại từ trang Fb/ Sài Gòn xưa 

  • Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu

    Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu

    THỬ KIỂM KÊ MỨC SỐNG CỦA NGƯỜI ĐÀNG TRONG QUA SỬ LIỆU

    Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu
    Chúng ta cùng xem thử triều đình Đàng Trong mỗi năm chi xài bao nhiêu tiền nhé!

    “Phủ biên tạp lục” cho biết, mỗi năm triều đình Nam Hà chi tiêu khoảng từ 364.400 quan tới khoảng 369.400 quan, nếu thiếu khoảng 2-3 vạn thì lấy bạc bù vào. Trong đó, tiền chi cho quân lực (cả chưởng quản lẫn binh sĩ) là 260.000 quan, chi cho việc tế lễ của hai xứ Thuận – Quảng là 1.400 quan, chưa kể lễ tiết yến ẩm, thưởng lạo, tôn tạo công trình. So với tiền thu vào khoảng từ 338.100 quan tới 423.300 quan, vàng thu vào trên dưới 85 hốt, bạc tốt 24-29 hốt, bạc lá 224-228 hốt, bạc con gà khoảng 10.000 đồng ; có năm bạc tốt thu đến 251 hốt, bạc lá 223 hốt. Trong ba năm gần đó, đúc tiền kẽm khoảng 72.396 quan. Như vậy, số tiền chi cho triều đình khoảng chừng 100.000 quan. Mỗi hốt vàng luyện được 9 vạn lá, triều đình dùng để sắm trang sức, có năm ngốn đến 45 hốt, trong khi giá vàng mỗi hốt là 180 quan.

    Trước chiến tranh, giá gạo 10 thưng (đủ ăn một tháng) chỉ có 3 tiền, giá một con trâu không quá 10 quan, một con voi giá khoảng 2 hốt bạc. Cau 3 quan 1 tạ, tiêu 12 quan/tạ, các loại thảo mộc trên dưới 10 quan, tê giác 500 quan, yến sào 50 quan, vi cá 40 quan, tôm khô 6 quan, đồi mồi 180 quan, kỳ nam 120 quan/lạng, tơ lụa 3 quan 5 tiền/tấm. Thuế tàu Chiết Giang, Quảng Đông là 3000 quan đến và 300 quan về, tàu Ma Cao (thực ra là Hà Lan), Nhật Bản là 4000 quan đến và 400 quan về, Phi Luật Tân và Xiêm La 2000-200, Đông Ấn Hà Lan (Indonesia) 500-50, Hà Tiên 300-30.

    Từ bảng giá này có thể thấy… khoảng cách của xa xỉ phẩm với nhu yếu phẩm. Gạo cho 1 người ăn 1 năm chỉ khoảng gần 4 quan, ngang giá 1 tấm lụa. Đấy là do giá gạo ở Đàng Trong rẻ như cho, “tiền như đất bạc như bùn” nên không thể (và không nên) đem so sánh với nơi khác. Nhưng mà nhìn lại quân số xứ này ước khoảng 2-3 vạn người, trung bình mỗi người cao nhất khoảng 12-13 quan, thấp thì mỗi người 7-8 quan. Kể ra cũng chỉ trên mức sống trung bình tí thôi.

    【Trường An】VIETNAMESE HISTORICAL FILM