Blog

  • KHẢO LUẬN VỀ KIẾM

    KHẢO LUẬN VỀ KIẾM

            Kiếm (劍) thuộc về Binh-Khí Sắc Bén mà con người lưu-tâm nghiên-cứu nhiều nhất về việc đúc rèn. Và cũng là binh-khí lừng-danh của Ngô-Việt từ Thời-Đại Xuân-Thu (722-481 trước CN).

    Trong sách Khảo Công Ký (考 工 記) có ghi rằng : « Ngô-Việt chi Kiếm, biến hồ kỳ địa, nhi phi năng lương» (Kiếm của Ngô Việt, đất nào cũng có, vừa đẹp lại tốt).

    Auto Draft

    Kiếm Việt Nam

     

           Ngoài việc sử-dụng trong Chiến-tranh, Kiếm còn được sử-dụng về Biểu-tượng như :

           1) – Biểu-tượng Quyền-hành trong Quốc-gia ; đó là Phương Thượng Bảo Kiếm ( 芳 上 寶 劍 ) mà Vua ban cho Quan Đại-Thần được phép « Tiền Trảm Hậu Tấu ».

           2) – Biểu-tượng Tước-vị trong Triều-đình ; đó là tùy theo Phẩm-bậc, mà Kiếm và Võ Kiếm đuợc cẩn nạm khác nhau về đá quí và bạc vàng.

           3) – Biểu-tượng Giai-cấp trong Xả-hội ; đó là Kiếm của thế-gia Hoc-sĩ.

           4) – Biểu-tượng Huyền-năng trong Pháp-thuật ; đó là những thanh Kiếm của Đạo-Gia có khả năng trừ Ma giết Quỉ, tàng-hình, cách-không trảm-thủ.

           Đến thời Nhà HẬU-LÊ(1428~1527) bên Đại-Việt và thời Nhà MINH (MING 1368~1644) bên Trung-Hoa, thì Kiếm gồm có hai loại là 1. Loại Kiếm Thẳng và 2. Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm) :

    1. – Loại Kiếm Thẳng được chia làm hai thứ tùy theo Cạnh Bén :
    – Loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén, cũng được chia ra làm hai thứ tùy theo hình-dáng của Mũi Kiếm, gọi là Kiếm-Phong :
    a) Văn Kiếm-Phong Kiếm : Mũi Kiếm hình bầu-dục ;
    b) Võ Kiếm-Phong Kiếm : Mũi Kiếm hình Tam-Giác.
    Ngoài ra, loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén còn dược chia ra làm hai thứ tùy theo chiều dài của Tuệ Kiếm (彗 劍) gắn sau đốc chuôi Kiếm :
    a) Đoản-Tuệ Kiếm ;
    b) Trường-Tuệ Kiếm.
    B – Loại Kiếm Thẳng một cạnh bén, cũng được chia ra làm hai thứ tùy theo hình-dáng của Mũi Kiếm, gọi là Kiếm-Phong :
    a) Kiếm-Phong Thẳng ;
    b) Kiếm-Phong Vếch lên (Người Nhật gọi là Ikari no KIssaki). Đây là loại Kiếm đặc-thù của Đại-Việt.

    2. – Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm) được chia làm hai thứ tùy theo phần cong của lưỡi Kiếm :
      A – Loại Kiếm Cong từ Giữa Thân Kiếm tới Mũi Kiếm ; đây là loại Kiếm Cong của đại đa-số các nước ;
    B – Loại Kiếm Cong từ Giữa Thân Kiếm tới Chắn Kiếm ; đây là loại Kiếm Cong đặc-thù của Nhật-Bản, gọi là « Katana ».

    Auto Draft

    Thanh Gươm « Talwar » nổi tiếng của Ấn-Độ.
    (Loại Gươm Cong từ Giữa Thân Gươm tới Mũi Gươm)

    (Tín-dụng Ảnh : India Netzone)

    Auto Draft

    Thanh Gươm « Katana » lừng danh của Nhật-Bản.
    (Loại Gươm Cong từ Giữa Thân Gươm tới Chắn Gươm)

    Khái-Quát Tiến-Trình của Loại Kiếm Thẳng :

           Loại Kiếm Thẳng là loại xuất-hiện đầu tiên từ thời Đông-Châu – 東周 (771~246 TCL), dùng làm binh-khí tùy-thân và để cận-chiến trên chiến-xa, phôi-thai từ lưỡi Mâu bằng đồng và Dao ngắn bằng đồng .

    Auto Draft

    « Mâu Đồng » thời cổ xưa

    Auto Draft

    « Dao Đồng » thời cổ xưa

     

           Thời ĐÔNG-CHÂU – 東周 (771~246 TCL) là giai-đoạn về Kiếm đúc bằng đồng, lưỡi thẳng có hai bề bén và chiều dài chỉ khoảng 40 cm.

    Auto Draft

    Kiếm đồng hai bề bén thời Nhà ĐÔNG-CHÂU (771~246 TCL)

           Đến « Xuân-Thu Thời-Đại – 春 秋 時 代 » (722-481 trước CN) thì Kiếm được đúc bằng Đồng phức-hợp, lưỡi thẳng, bản rộng có hai bề bén và dài gần 60 cm, chủ yếu dùng để chém nhiều hơn đâm. Đây là giai-đoạn xuất-hiện những thanh Bảo-Kiếm đầu tiên trong Lịch-Sử Viễn-Đông, do Âu-Dã-Tử ( 歐 冶 子 Ouye Zu) và Can-Tương (干 將 Ganjiang), người đất NGÔ-VIỆT đúc rèn.

    Auto Draft

    « Kiếm Đồng thời Xuân-Thu »
    (722-481 trước CN)

    Auto Draft

    « Kiếm Đồng thời Xuân-Thu »
    của Việt-Vương Câu-Tiễn
    (722-481 trước CN)

    Auto Draft

    Kiếm Đồng (dài 0,60 m) với hai cạnh bén, khai-quật tại Đông-Sơn (Thanh-Hóa – Việt-Nam)
    Định-thì bởi Karlgren : 450~230 Av. J.C.

    (A et A’ : Cán Kiếm và của hai mặt của Chắn Kiếm ; B : Tiết-diện của lưỡi Kiếm ; C : Chuôi ; D : Trắc-diện của Chắn Kiếm)
    – Hình vẻ của Louis Pageot, 1924. Manuel d’Archéologie d’Extrême-Orient, L. Bezacier-

           Sang đến Thời Chiến-Quốc, đời Nhà TẦN (221~206 TCL) thì Kiếm được đúc theo dạng Trường-Kiếm, lưỡi thẳng có hai bề bén, nhưng bản Kiếm hẹp hơn bản KIếm thời Xuân-Thu, tiện-lợi để chém cũng như để đâm. Thân Kiếm có tiết-diện hình quả trám có tám cạnh, rồi bớt còn Sáu cạnh, và dài đến 1,40 m. Đây là một giai-đoạn lịch-sử của loại Trường-Kếm sử-dụng bằng hai tay, gọi là « Song-Thủ Kiếm ».

    Auto Draft

    Giản-đồ « Trường-Kiếm với tiết-diện Bát-Giác » có hai cạnh bén.
    Thời Nhà HÁN (206 TCL~220 CL)

    Auto Draft

    « Trường-Kiếm » hai cạnh bén rèn đúc bằng hợp-chất Đồng pha Kẽm và Crom.
    Thời Nhà TẦN (221~206 tr CL)

    Giai-thoại TẦN-Thủy Hoàng-Đế đã phải nhờ có người chỉ cho cách xoay bao Kiếm ra sau lưng mới rút được Kiếm để chém Tráng-Sĩ Kinh-Kha, chính là vì lý-do chiều dài của thanh Kiếm này.

           Qua thời Nhà Tiền-HÁN còn được gọi là Nhà Tây-HÁN (206~9 tr. CL), người ta bắt đầu cải-tiến nghệ-thuật đúc Kiếm Hai Cạnh Bén bằng Hợp-Kim Đồng pha Kẽm và Crom thời Nhà TẦN, và cùng sáng chế loại Kiếm Một Cạnh Bén có Chuôi Hình Khoen.

    Auto Draft

    Kiếm bằng Hợp-Kim Đồng-Thiếc-Crom, một cạnh bén, có Chuôi hình Khoen,
    Thời Nhà Tiền-HÁN (206 tr.CL~9 tr.CL),
    thủy-tổ đầu tiên của Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT, lưỡi thẳng, một cạnh bén
    và của Cổ-Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Hira Zukuri Chokuto x ».

           Đến thời Nhà Hậu-HÁN còn được gọi là Nhà Đông-HÁN (23~220 CL), người ta bắt đầu đúc Kiếm bằng Sắt Thép, thân Kiếm có tiết-diện hình quả trám có Tám cạnh, rồi bớt còn Sáu cạnh, xong đến tiết-diện hình quả trám có Bốn Cạnh : hai cạnh bén gọi là Nhận (刃) và hai sống hai bên gọi là Tích (脊), người Nhật gọi nó là Shinogi.

    Auto Draft

    « Trường-Kiếm » hai bề bén bằng Sắt Thép
    Thời Nhà Hậu-HÁN (23~220 CL)

           Vào thời Nhà TÙY (SUY 581~618 CL), thì nghệ-thuật rèn đúc Kiếm bằng Thép Quán-Cương của Trung-Hoa đã bắt đầu lên đến tuyệt-đỉnh, chỉ thua nghệ thuật đúc Kiếm của thời Nhà Mérovingiens (500~751 CL) bên Tây-phương mà thôi.

    Auto Draft

    « Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, hai Cạnh Bén
    của thời Triều-Đại Nhà MEROVINGIENS (500~751 CL) bên Pfasp-Quốc
    (Phục-dựng bởi Gaël Fabre theo tài-liệu lịch-sử của Thư-Viện Quốc-Gia Pháp)

    Đặc-điểm thanh Kiếm thời Nhà TÙY là thân Kiếm thẳng có một bề bén với hai sống dọc ngang (một sống mỗi bên) gọi là Tích ((脊) – tiếng Nhật gọi là Shinogi – nằm gần phía cạnh bén, nghĩa là nằm xa phía sống lưng Kiếm (người Nhật gọi đó là “Kihira Zukuri“) ; cho nên loại Kiếm Nhà TÙY này rất nặng.

    « Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, một Cạnh Bén,
    rèn đúc năm 616 CL, thời Nhà TÙY (SUY 581~618 CL),
    thủy-tổ của Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Kihira Zukuri Chokuto ».
    (bão-tồn tại Đền Shitenno, tại Quận Osaka, Japan)

           Đến thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL), nghệ-thuật rèn đúc Kiếm đã đến mức vô-tiền khoáng-hậu ở Đông-phương và tỏa rộng sự chi-phối đến tất-cả những nước lân-cận đồng văn-hóa, nghĩa là Nhật-Bản, Việt-Nam, Đại-Hàn và Tây-Tạng.

    Phải chờ đến thời-đại YOSHINO (thế-kỷ 14) bên Nhật-Bản, người ta mới đúc lại được những thanh Bảo-Kiếm tương-đương nhưng thuộc về loại Kiếm Cong, tức là Gươm, dễ rèn trui hơn loại Kiếm Thẳng một bề bén.

    Đặc-điểm thanh Kiếm thời Nhà ĐƯỜNG là thân Kiếm thẳng có một bề bén với hai sống dọc ngang (một sống mỗi bên) gọi là Tích ((脊), nằm xa phía cạnh bén, nghĩa là nằm gần phía sống lưng Kiếm (người Nhật gọi đó là “Shinogi Zukuri“) ; cho nên loại Kiếm thời Nhà ĐƯỜNG này không nặng bằng loại Kiếm thời Nhà TÙY và trở nên dễ-dàng huy-động hơn.

    Auto Draft

    « Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, một Cạnh Bén,
    thời Nhà ĐƯỜNG » (618~907 CL),
    thủy-tổ của Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Shinogi Zukuri Tachi »
    và « Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT », một bề bén, mũi vếch (Ikari o Kissaki Tsurugi).

    Về sau, thời Nhà ĐƯỜNG còn sáng chế thêm một loại Kiếm thẳng có hai cạnh bén, một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃) và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃).

    Auto Draft

    « Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, hai cạnh bén (Hạ-Nhận và Thượng-Nhận),
    Thời Nhà ĐƯỜNG (618~907 CL),
    thủy-tổ của hai loại Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Moroha Zukuri Tsurugi »
    và « Kissaki Moroha Zukuri Tachi – “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” ».

    Auto Draft

    « Trường Kiếm Song-Thủ và Đơn-Thủ của ĐẠI-VIỆT » gắn Lưỡi bằng Thép
    có Cán bằng Đồng đúc liền với Chắn kiếm và Chuôi kiếm chạm-trổ.
    (Thế-Kỷ 13)

    (Tín-dụng ảnh : Nguyễn Ngọc Phương Đông)

    Auto Draft

    « Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT » một cạnh bén, mũi vếch 
    (Thế-Kỷ 15~19). 

    (Phục-dựng bởi Michel Souquet theo tài-liệu lịch-sử của Thư-Viện Quốc-Gia Pháp)

    Auto Draft

    « Bảo-Kiếm MÃN-THANH » hai cạnh bén của Hoàng-Đế Càn-Long (1735-1796)
    Triều Nhà THANH (QING 1644–1911).

    Auto Draft

    «  Kiếm ĐẠI-VIỆT » hai cạnh bén 
    (Thế-Kỷ 18~19).

    Khái-Quát Tiến-Trình của Loại Kiếm Cong :

                Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm hoặc Đao), có một cạnh bén là loại xuất-hiện sau loại Kiếm Thẳng.

                Thanh Kiếm Lưỡi Cong « Kissaki Moroha Zukuri Tachi – “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” » của Nhật-Bản với một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃) và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃) là một chứng-cớ hùng-hồn sự thọ-hưởng chi-phối của loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén từ thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL).

    Auto Draft

    Giản-đồ Lưỡi Kiếm Cong Nhật-Bản « Kissaki Moroha Zukuri Tachi »
    – mang biệt-danh “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” –
    (Thanh Gươm này đã từng là sỡ-hữu của Hoàng-Đế Kammu 781~ 806 JC).

    Auto Draft

    Kiếm Lưỡi Cong Nhật-Bản « Kissaki Moroha Zukuri Tachi »
    – mang biệt-danh “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” –
    (Phục-dựng bởi Yao Yilin theo tài-liệu lịch-sử của Hoàng-Gia Nhật-Bản ).

                Về sau, Loại Kiếm Cong tiến-hóa thành Loại GươmĐao, có một cạnh bén. Nó dẫn-chứng hiển-nhiên sự thọ-hưởng chi-phối của loại Kiếm Thẳng một cạnh bén từ thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL), và gồm có hai thứ, một thứ dùng theo Song-Thủ Kiếm và một thứ dùng theo Đơn-Thủ Kiếm :

           1) Thứ Gươm dùng theo « Song-Thủ Kiếm » :

    Đây là loại Kiếm Cong đã được người Nhật-Bản đưa lên mức tuyệt-đỉnh của nghệ thuật đúc rèn Kiếm, tương-đương với thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL).

    Auto Draft

    « Gươm-Katana » của NHẬT-BẢN dùng theo Song-Thủ Kiếm
    Thời-Đại YOSHINO – Thế Kỷ 14

    Auto Draft

    Chi-tiết Kiếm-Phong của « Gươm-Katana » NHẬT-BẢN dùng theo Song-Thủ Kiếm.
    Thời-Đại YOSHINO – Thế Kỷ 14

    Auto Draft

    « Trường-Đao TRUNG-HOA », thường gọi là Miêu-Đao (Miao-Dao) một cạnh bén, mũi vếch, dùng theo Song-Thủ-Kiếm
    do Tướng Thích-Kế-Quang (1528-1587) sáng-chế cùng với Kiếm-Phổ « Tri Tân Dậu Đao-Pháp Thập-Ngũ Thức »
    đặng khắc-phục Quân Mông-Cổ và Giặc Biển Đông (Ronin Nhật).
    Triều Nhà MINH (1364~1644)

    .

    Auto Draft

    « Gươm Đồng » một cạnh bén, dùng theo Song-Thủ Kiếm, của Đất GIAO-CHÂU.

    (Tín-dụng ảnh : Nguyễn Ngọc Phương Đông)

    Auto Draft

    « Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Song-Thủ Kiếm
    Thế-Kỷ 18~19.

    (Tín-dụng Ảnh : Nguyễn Ngọc Phưong-Đông)

     

    Auto Draft

    « Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Song-Thủ Kiếm
    Thế-Kỷ 18~19.

    Auto Draft

    Ngự-Lâm Quân cầm Trường Gươm (dùng theo Song-Thủ Kiếm)
    Triều Nhà NGUYỄN (1802-1945)

    Auto Draft

    Trường Gươm (dùng theo Song-Thủ Kiếm) trong ngày Lễ Hội
    hàng năm vào ngày mồng 10 tháng 03 ở Đền Đỏ
    (Đền thờ Thánh-Mẫu Đạm Đồng Lương)
    Thôn Sơn-Thọ, Xả Thái-Dương, Huyện Thái-Thụy, Tỉnh Nghệ-An.

           2) Thứ Gươm dùng theo « Đơn-Thủ Kiếm » :

    Đây là loại Kiếm Cong được thông-dụng nhất trên thế-giới. Loại Gươm này còn được gọi là « Đao » bên Trung-Hoa và được gọi là « Sabre » bên Âu-châu.

    Auto Draft

    « Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Đơn-Thủ Kiếm
    Đại-Việt – Thế-Kỷ 18~19.

    Auto Draft

    « Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Đơn-Thủ Kiếm
    với một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃)
    và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃). 

    Đại-Việt – Thế-Kỷ 18~19.

    Thanh Bảo Kiếm

    Gươm thiêng mài sắc tự bao giờ :
    Ngắm lại lòng càng thấy ngẫn-ngơ !
    Lưỡi Kiếm vẫn ngời màu nước biếc ;
    Chuôi Gươm còn đượm nét bài Thơ.
    Bao năm Kiếm báu hờn thư-án ;
    Mấy thủa Gươm thiêng hận đợi chờ.
    Ánh thép lung-linh như vẻ đón
    Bóng người Kiếm-Khách thủa nào xưa…

                                                                              Kính bút,
    Trịnh-Quang-Thắng.

  • Vẻ đẹp bề thế, cổ kính của lăng Minh Mạng

    Nằm trên núi Cẩm Khê ở cố đô Huế, lăng Minh Mạng gây ấn tượng mạnh với những công trình kiến trúc tráng lệ hòa hợp tuyệt vời với khung cảnh thiên nhiên.

    Lăng Minh Mạng còn được gọi là Hiếu Lăng, có bố cục kiến trúc đối xứng với các công trình nằm dọc theo trục đường thần đạo. Cổng chính của lăng là Đại Hồng Môn, chỉ mở một lần để đưa quan tài của vua vào trong lăng. Sau đó, việc ra vào phải qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.

    Sau Đại Hồng Môn là Bái Đình, một khoảng sân rộng 45m x 45m lát gạch Bát Tràng, hai bên có hai hàng tượng quan văn võ, voi ngựa bằng đá đứng chầu

    Cuối sân là Bi Đình tọa lạc trên Phụng Thần Sơn.

    Bên trong Bi Đình có bia “Thánh đức thần công” bằng đá ghi bài văn bia của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha Minh Mạng.

    Sau Bi Đình là khoảng sân triều lễ được chia làm bốn bậc lớn nhằm giảm bớt cảm giác choáng ngợp của con người trước sự mênh mông của kiến trúc.

    Cuối sân triều lễ là Hiển Đức Môn, cánh cổng mở đầu cho khu vực tẩm điện, được giới hạn trong một lớp thành hình vuông biểu trưng cho mặt đất.

    Điện Sùng Ân nằm ở trung tâm khu vực tẩm điện.

    Trong điện thờ bài vị của vua Minh Mạng và bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, chính thất của vua.

    Ở phía trước, đối xứng hai bên bên trái và bên phải điện Sùng Ân có Tả, Hữu Phối Điện, phía sau có Tả, Hữu Tùng Phòng.

    Khu tẩm điện kết thúc với Hoằng Trạch Môn.

    Bước qua Hoằng Trạch Môn là bắt đầu một không gian đầy thi vị với hồ Trừng Minh và và những hàng cây xanh tốt xung quanh.

    Ba chiếc cầu Tả Phù (trái), Trung Đạo (giữa), Hữu Bật (phải) bắc qua hồ Trừng Minh đưa du khách đến Minh Lâu, một tòa lầu nằm trên quả đồi có tên là Tam Tài Sơn.

    Minh Lâu nghĩa là lầu sáng, nơi nhà vua suy tư vào những đêm hè trăng thanh gió mát. Đây là công trình mang giá trị kiến trúc nổi bật của khu lăng.

    Tòa nhà này hình vuông, hai tầng, tám mái, là một biểu trưng của triết học phương Đông, thể hiện cách lý giải về vũ trụ và nhân sinh quan của người xưa..

    Hai bên Minh Lâu, về phía sau là hai trụ biểu uy nghi dựng trên Bình Sơn và Thành Sơn mang ý nghĩa nhà vua đã “bình thành công đức” trước khi về cõi vĩnh hằng.

    Từ Minh Lâu đi xuống sẽ gặp cầu Thông Minh Chính Trực bắc ngang hồ Tân Nguyệt để dẫn vào Bửu Thành, tòa thành bảo vệ nơi yên nghỉ của nhà vua.

    Hồ Tân Nguyệt là hồ nước được tạo hình như trăng non, là yếu tố “Âm” bao bọc, che chở cho yếu tố “Dương” là Bửu Thành – biểu tượng của mặt trời. Kết cấu kiến trúc này thể hiện quan niệm của cổ nhân về sự biến hóa ra muôn vật.

    Mộ vua nằm giữa tâm một quả đồi mang tên Khải Trạch Sơn, được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn.

    Hình tròn của Bửu Thành nằm giữa những vòng tròn đồng tâm biểu trưng, được tạo nên từ hồ Tân Nguyệt, La Thành, núi non và đường chân trời như muốn thể hiện khát vọng ôm choàng Trái Đất và ước muốn làm bá chủ vũ trụ của vị vua quá cố

    Từ chân Khải Trạch Sơn có 33 bậc cấp dẫn lên cổng của Bửu Thành, cánh cổng dẫn vào thế giới vĩnh hằng của người đã khuất.

    Ngoài các công trình chính nằm dọc đường thần đạo, lăng Minh Mạng còn có nhiều công trình phụ đối xứng nhau từng cặp một như Tả Tùng Phòng trên Tịnh Sơn, Hữu Tùng Phòng trên Ý Sơn, Tuần Lộc Hiên trên Đức Hóa Sơn, Linh Phượng Các trên Đạo Thống Sơn, Truy Tư Trai trên Phúc Ấm Sơn, Hư Hoài Tạ trên đảo Trấn…

    Tiếc rằng do sự tàn phá của thời gian, các công trình này chỉ còn là phế tích.

    Theo đánh giá của giới nghiên cứu, các công trình cao thấp theo một nhịp điệu vần luật nhất quán, âm dương xen kẽ, đã tạo nên nét đẹp riêng cho lăng Minh Mạng.

    Bố cục kiến trúc đăng đối hoàn hảo của các hạng mục chính đã đem lại vẻ uy nghiêm cần có của công trình lăng mộ vua chúa.

    Bên cạnh đó, sự hài hòa giữa các công trình nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên cũng đem lại giá trị kiến trúc đặc sắc cho lăng Minh Mạng.

    Điều này thể hiện qua những con đường đi dạo quanh co vòng quanh các hồ nước lớn và viền xung quanh lăng, xen lẫn với cây cối có các công trình kiến trúc nhỏ dùng để nghỉ chân ngắm cảnh

    Điều này làm cho toàn bộ quần thể lăng dù uy nghiêm tột bậc nhưng vẫn gợi lên cảm giác thư thái do sự mềm mại của thiên nhiên.

    Ngoài ra, lăng Minh Mạng còn sở hữu một giá trị văn hóa nổi bật là gần 600 ô chữ chạm khắc các bài thơ trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân và Minh Lâu. Đây là những tuyệt tác vô giá, một “bảo tàng thơ” chọn lọc của nền thi ca Việt Nam đầu thế kỷ 19.

     

    Ngược dòng lịch sử. Tháng 2/1820, vua Gia Long băng hà. Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh. Làm vua được 7 năm, Minh Mạng cho người đi tìm đất để xây dựng Sơn lăng cho mình.

    Quan Địa lý Lê Văn Đức đã chọn được một cuộc đất tốt ở địa phận núi Cẩm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành sông Hương. Phát mất 14 năm cân nhắc, đến năm 1840, nhà vua mới quyết định cho xây dựng lăng tẩm của mình ở nơi này.

    Vua Minh Mạng đã cho đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn và gọi tên lăng là Hiếu Lăng. Đích thân nhà vua xem xét, phê chuẩn họa đồ thiết kế do các quan Bùi Công Huyên, Trương Đăng Quế và Giám thành vệ dâng lên. Tháng 4/1840, công cuộc kiến thiết Hiếu Lăng bắt đầu.

    Không lâu sau đó, vua Minh Mạng lâm bệnh qua đời vào tháng 1/1841. Vua Thiệu Trị lên nối ngôi, chỉ một tháng sau đã sai các quan đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Nguyễn Tri Phương chỉ huy gần 10.000 lính và thợ thi công tiếp công trình theo đúng họa đồ của vua cha để lại.

    Tháng 8/1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành, nhưng công việc xây lăng mãi đến đầu năm 1843 mới hoàn tất.

    Vậy là, từ một vùng núi đồi hoang vu, qua bàn tay lao động và óc sáng tạo của con người, một tuyệt tác kiến trúc đã hình thành, trở thành di sản vô giá để lại cho hậu thế…

    Theo KIẾN THỨC

  • Bản đồ phân bố dân cư Việt Nam năm 1970

    Tấm bản đồ phân bố dân cư của Việt Nam năm 1970 với chất lượng và độ phân giải rất cao. Xin chia sẻ cùng các bạn!

    Bản đồ phân bố dân cư Việt Nam năm 1970

  • Chiến dịch Babylift – cuộc di tản trẻ em quy mô lớn năm 1975

    Chiến dịch Babylift – cuộc di tản trẻ em quy mô lớn năm 1975

    Chiến dịch Babylift là tên gọi một chiến dịch nhân đạo di tản quy mô lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam diễn ra từ 3-26/4/1975, ngay trước khi Sài Gòn thất thủ.

    Chiến dịch này nhằm mục tiêu đưa trẻ em từ Nam Việt Nam sang Hoa Kỳ và các quốc gia khác, trong đó bao gồm Pháp, Úc,Canada.

    Tính đến khi chuyến bay cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam, đã có trên 3.300 trẻ sơ sinh và trẻ em được di tản, mặc dù con số báo cáo thực tế rất khác biệt. Hàng ngàn đứa trẻ đã rời khỏi Việt Nam bằng đường hàng không và được nhận nuôi bởi các gia đình trên khắp thế giới.

    Chiến dịch Babylift – cuộc di tản trẻ em quy mô lớn năm 1975
    Trẻ sơ sinh trong chiến dịch

    Mục đích chính của Chiến dịch Babylift là giúp đỡ trẻ mồ côi; nhưng thực tế nó đã bị lợi dụng để di tản trẻ em trước, bố mẹ chúng đã bỏ con lại với hy vọng chúng được an toàn, còn họ sẽ tìm cách di tản đường khác và hội tụ ở Mỹ.

    Ngày 4/4/1975, chuyến bay đầu tiên của chiến dịch Babylift đã diễn ra – nhưng trẻ em cũng không phải là mục đích chính. Bởi sân bay bị bắn phá, máy bay thương mại không thể cất cánh, chỉ còn máy bay quân sự cũng đang di tản cả Sài Gòn. Trẻ em được đưa lên những chiếc máy bay quân sự C-5 Galaxy và C-141 chở hàng hóa.

    Chiến dịch Babylift – cuộc di tản trẻ em quy mô lớn năm 1975
    Trẻ em trong chiến dịch

    Cuộc di tản đầu tiên với máy bay vận tải quân sự C5-Galaxy đã gặp tai nạn. Cách 64 km từ Sài Gòn, trên độ cao 7000 m, những chốt khóa cửa đưa hàng hóa ở đằng sau bị hư, làm cho cửa mở và văng mất. Máy bay do đó bị giảm áp, không còn điều khiển được nữa, và phải bay trở lại phi trường Tân Sơn Nhất. Khi phải đáp khẩn cấp xuống một cánh đồng cách phi trường 3 km, bụng dưới của máy bay bị xé nát, khiến 155 người đã chết. Đa số là trẻ em, ngoài ra còn có 5 trong số 17 phi hành đoàn. Những người sống sót đa số ngồi ở tầng trên của máy bay, trong khi những người ở tầng dưới hầu như đã chết hết.

    Tai nạn dẫn đến Chiến dịch trở thành đề tài cho công luận Mỹ. Các tờ báo trên khắp Hoa Kỳ đã chạy các tiêu đề cảm xúc về phương thức vận hành Babylift là tuyệt vọng và tàn nhẫn.

    Các luật sư, thành viên của Quốc hội, và các nhà báo đều tuyên bố rằng các cuộc di tản đã được lên kế hoạch tồi. Một số người tin rằng toàn bộ nỗ lực di tản chỉ là một phương tiện để có được sự thông cảm cho cuộc chiến tranh Việt Nam, không mang tính chất nhân đạo. Chiến dịch đã tách những em bé sơ sinh còn non nớt ra khỏi cha mẹ, quê hương và văn hóa của chính mình.

    Chiến dịch Babylift – cuộc di tản trẻ em quy mô lớn năm 1975
    Các gia đình nhận con nuôi

    Nhiều người ở Mỹ hoài nghi về các động cơ chính trị đằng sau hoạt động – tại sao chính phủ Hoa Kỳ lại tin rằng trẻ em Việt Nam sẽ tốt hơn ở một quốc gia mới, bị chia rẽ từ quê hương và cha mẹ của họ? Một trong những điểm tranh cãi lớn nhất là thực tế là rất nhiều trẻ em được đưa ra khỏi miền Nam không phải là trẻ mồ côi. Những người phản đối hoạt động này cảm thấy sai lầm về đạo đức khi đưa những đứa trẻ này đến nhà mới, với gia đình mới.

    Người ta cho rằng chính phủ Mỹ đã hành động vì sợ hãi; Bởi vì Tổng thống Ford và các cố vấn của ông sợ rằng trẻ em miền Nam Việt Nam sẽ bị Bắc Việt đối xử tàn nhẫn và rằng họ đang cố cứu mạng sống của những người vô tội này.

    Chuyến bay Chiến dịch Babylift cuối cùng đã kết thúc vào ngày 26/4/1975. Trong suốt 3 tuần lễ di tản, đã có hơn 3.300 trẻ sơ sinh và trẻ em được đưa ra khỏi nước.

    Khi đến nước ngoài, trẻ em được các gia đình mới nhận làm con nuôi nhưng nhiều người không bao giờ quên gốc rễ Việt Nam của mình khi lớn lên. Thực tế, họ đã tìm mọi cách để liên lạc với bố mẹ, những người đã thất lạc khắp mọi nơi và cuối cùng cũng vẫn tìm cách trở về thăm lại quê hương.

  • Những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam

    Những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam

    1.Nhà thờ lớn Hà Nội

    Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ châu Âu, rất thịnh hành trong thế kỷ 12 và thời Phục Hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên trời.

    Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Phía sảnh trong nhà thờ, có một cửa đi lớn, hai cửa nhỏ hai bên tháp. Các cửa đi và toàn bộ các cửa sổ đều cuốn nhọn theo nghệ thuật Gothique, kết hợp với các cửa cuốn nhọn là những bức tranh Thánh bằng kính màu rất đẹp và hài hòa tạo ra nguồn ánh sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Khu cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống, chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh vi độc đáo.

    2.Nhà thờ Bùi Chu

    Nhà thờ Bùi Chu là nhà thờ Công giáo Rôma, tọa lạc ở xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Bùi Chu là nhà thờ chính tòa của giáo phận Bùi Chu. Đây còn là nơi an nghỉ của 5 giám mục đã từng cai quản giáo phận.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Nhà thờ Bùi Chu được xây dựng dưới thời Pháp thuộc bởi giám mục Wenceslao Onate Thuận (1884) với chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m. Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ vẫn đứng vững với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn mang dấu ấn kiến trúc phương Tây. Hàng năm vào ngày 8 tháng 8, ngày lễ quan thầy của giáo phận, có nhiều giáo dân tập trung về dâng lễ.

    3.Nhà thờ Phú Nhai

    Nhà thờ Phú Nhai là nhà thờ Công giáo Rôma thuộc Giáo phận Bùi Chu, Việt Nam. Nhà thờ Phú Nhai nằm ở trung tâm của xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, cách thị trấn Xuân Trường hơn 1 km. Đây là một trong những ngôi nhà thờ có diện tích rộng lớn nhất Việt Nam.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Nhà thờ gốc có phong cách kiến trúc Gothic đậm dấu ấn Tây Ban Nha, sau được xây lại theo phong cách kiến trúc Gothic kiểu Pháp. Nhà thờ có kích thước: dài 80 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg – 1.200 kg – 600 kg và 100 kg.

    Mặt tiền nhà thờ từ ngoài vào, bên phải có tượng đài Thánh Đaminh cao 17m, riêng phần tượng cao 2,3m. Bên trái có Lăng lưu trữ hài cốt của 83 người tử đạo thuộc họ đạo xứ Phú Nhai cao 15m. Xung quanh nhà thờ có các phù điêu thể hiện 14 Đàng Thánh Giá. Khi khách tham quan đứng trên ngọn tháp cao của nhà thờ Phú Nhai sẽ được chiêm ngưỡng được toàn cảnh của Huyện Xuân Trường. Năm 2008 Đền thánh Phú Nhai được nâng lên thành Tiểu Vương cung Thánh đường

    4.Nhà thờ Bác Trạch

    Nhà thờ Bác Trạch ở huyện Tiền Hải, Thái Bình. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 2006, khánh thành năm 2013, chi phí xây dựng lên tới 60 tỷ VNĐ, cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 25km. Nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Gothic với nhiều ô cửa, nhiều tháp nhọn, vòm cung nhọn.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Đây được coi là nhà thờ vào loại đẹp nhất Việt Nam, là tuyệt tác kiến trúc của Thái Bình, một kỳ công về kiến trúc Gothic ở Việt Nam, vốn được thấy nhiều dấu ấn nhất trong các nhà thờ lớn, các vương cung thánh đường.

    Nhà thờ có chiều dài 92,5m, rộng 32m, tháp chuông cao 61m. Để xây dựng nên thánh đường nguy nga, tráng lệ này, các thợ xây đã phải sử dụng tới 46 vạn gạch, khoảng 350 tấn sắt, hơn 500 tấn vôi, gần 3000 tấn xi măng, 1000 m2 đá các loại, hơn 120 tấm kính tranh; gần 100 tượng tròn, phù điêu các loại cùng nhiều vật dụng, nguyên liệu khác.

    5.Nhà thờ gỗ Kon Tum

    Nhà thờ chính tòa Kon Tum hay còn được gọi là nhà thờ Gỗ, là nhà thờ Giáo hội Công giáo nằm ở thành phố Kon Tum, Việt Nam. Nhà thờ được xây dựng vào năm 1913 do các linh mục người Pháp khởi xướng, hiện nay dùng làm nhà thờ chính tòa, nơi đặt ngai tòa của vị giám mục giáo phận Kon Tum.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Roman kết hợp với kiến trúc nhà sàn của người Ba Na, một sự kết hợp giữa phong cách châu Âu và nét văn hóa của Tây Nguyên Việt Nam.

    Nhà thờ được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công với chất liệu hoàn toàn bằng gỗ, trong đó chiếm số lượng nhiều nhất là gỗ cà chít. Các bức tường của nhà thờ đều được xây bằng kiểu vữa trộn rơm, một kiểu làm nhà truyền thống ở miền Trung Việt Nam.

    6.Nhà thờ Đức Bà

    Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn (gọi tắt là Nhà thờ Đức Bà) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những công trình kiến trúc độc đáo của Sài Gòn, điểm đến của du khách trong và ngoài nước, nét đặc trưng của du lịch Việt Nam. Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Toàn bộ chiều dài thánh đường là 93m. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của vòm mái thánh đường là 21 m. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người. Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích.

    7.Nhà thờ Sở Kiện

    Auto Draft

    Vương cung thánh đường Sở Kiện, còn được gọi là Nhà thờ Kẻ Sở (Dôme de Sở Kiện) là một nhà thờ Công giáo Rôma thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội, tọa lạc ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Việt Nam.

    Ngày 24 tháng 6 năm 2010, Tòa Thánh với sắc lệnh của Thánh Bộ Phụng Tự đã nâng nhà thờ Sở Kiện thành tiểu vương cung thánh đường tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tên “Sở Kiện” là ghép từ tên của làng Sở (hay Ninh Phú) phía đông chuyên làm ruộng và làng Kiện (hay Kiện Khê) chuyên nghề buôn bán, nung vôi.

    Quần thể Sở Kiện gồm có nhà thờ chính, tòa Giám mục và chủng viện. Nhà thờ Sở Kiện theo kiến trúc Gothic, được Giám mục Tông tòa Tây Đàng Ngoài Puginier Phước cho khởi công xây dựng vào ngày 23 tháng 10 năm 1877 và hoàn tất vào năm 1882.

    Đây là công trình khá đồ sộ, toàn bộ nền được lót gỗ lim để chống sụt lún. Nhà thờ dài 67,2 mét, rộng 31,2 mét và cao đỉnh 23,2 mét, mang tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Với 4 hàng cột, chia làm 5 gian dọc, nhà thờ có thể chứa từ 4 đến 5 nghìn người.

    Theo Thethaovanhoa.vn

  • Ảnh hiếm về vua Tự Đức

    Ảnh hiếm về vua Tự Đức

    Lâu nay trong các tài liệu lịch sử, chúng ta chỉ biết vua Tự Đức qua tấm chân dung bán thân nhưng nhìn nghiêng, không rõ mặt. Do quy định ngày xưa không ai được nhìn thẳng vào mặt Thiên tử. Ảnh nhìn nghiêng đó lâu nay cũng được thờ trong Thế Miếu.

    Thời của ông chưa có kỹ thuật nhiếp ảnh. Vì vậy đây là tấm chân dung được vẽ truyền thần, là tấm hình đặc biệt hiếm hoi của vị vua có 36 năm ngồi trên ngai vàng Nhà Nguyễn. Ảnh nầy do một tờ báo đương thời  của Pháp đăng lúc bấy giờ.

    Vua Tự Đức
    Vua Tự Đức

    Vua Tự Đức – người ta biết đến ông là vị vua thông minh, lãng mạn, có tâm hồn thi sĩ và đặc biệt rất có hiếu với cha mẹ. Trái với ông nội ông, là vua Minh Mạng có 146 người con nhưng vua Tự Đức lại không có người con nào! Ông phải chọn người cháu để kế vị và sau đó đất nước gặp nhiều rối ren như ta đã biết.

    “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
    Xếp tàn y lại để dành hơi”

    Tự Đức khóc Vương Phi

    Theo Blogger Ngô Bá Dũng

    Xem đầy đủ bộ ảnh chân dung vua chúa nhà Nguyễn tại : https://www.facebook.com/1463994257218590/photos/?tab=album&album_id=1959261287691882

     

  • Ai là người Việt Nam đầu tiên đi xe đạp?

    Ai là người Việt Nam đầu tiên đi xe đạp?

    Xe đạp ra đời từ giữa thế kỷ 19 nhưng chiếc xe đạp có hai bánh bằng có đường kính bằng nhau như ta thấy hiện nay mới chính thức ra đời ở Pháp vào năm 1885.

    Bức tranh được họa vào những năm 1895 -1897 cho thấy Hoàng đế An Nam, tức vua Thành Thái bấy giờ (1887- 1907) là người Việt Nam đầu tiên sở hữu xe đạp. 
    Bức tranh được họa vào những năm 1895 -1897 cho thấy Hoàng đế An Nam, tức vua Thành Thái bấy giờ (1887- 1907) là người Việt Nam đầu tiên sở hữu xe đạp.

    Sự kiện trên được báo L’Illustration đương thời đã đăng bài kèm theo bức họa.
    Vua Thành Thái sử dụng xe đạp chỉ để đi dạo trong hoàng thành trong lúc rãnh rỗi.
    Quan sát xe đạp lúc nầy chưa có “gạc đờ bu” (chắn bùn), xe không sử dụng xích kéo mà dùng hai cây ” lắp” để truyền lực. Đèn xe lúc ấy chưa có dynamo và dường như được thắp sáng bằng dầu …mù u !

                                Theo Blogger  Ngô Bá Dũng
     Tuy vậy, vua Thành Thái không phải người Việt đầu tiên …đi xe đạp

    Ai là người Việt Nam đi xe đạp đầu tiên? Cái này chưa ai biết chính xác!

    tấm hình xưa nhứt chụp vua Thành Thái đi xe đạp lóng chừng 1900 tới 1907
    Tấm hình xưa nhứt chụp vua Thành Thái đi xe đạp

    Thành Thái không phải là người đi xe đạp đầu tiên, vì lúc đó ông ở Huế, mà chiếc xe đạp đầu tiên là nhập vô Sài Gòn và dân Sài Gòn đạp xe đạp đầu tiên.

    Nam Kỳ đạp xe

    Chiếc xe mà Pháp kêu là Bicyclette, Anh kêu là Bicycle,Tàu kêu自行车 Tư hành xa. Dân Nam Kỳ hay lấy hành động đặt tên: thấy ngồi đạp bằng hai cái chân nên đặt là “xe đạp”.
    Những bộ phận của chiếc xe đạp được dân Nam Kỳ Vệt hóa hết. Đàng trước có cái tay lái kêu là guy-đông (guidon), dưới chân có bàn đạp pê-đan (pedale), ngồi trên yên là selle de vélo…

    Rồi có cái vỏ xe les pneumatiques bằng cao su, ruột xe les chambres a air , phía sau có cái yên để chở người kêu là pọc-ba-ga (porte-bagages). Lại có sợi dây sên -gạc-đờ-sên (garde-chaine), hai cái vè chắn bùn bánh xe kêu là gạc-đờ-bu (garde-boue), căm xe là les rayons, líp xe (roue libre), rồi thắng xe là frein (phanh)….
    Xe đạp xưa nhập nguyên chiếc từ Pháp qua ,nhãn của các hãng Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling…,mỗi xe đều có một cái ống bơm tay (pompe), một cái dynamo quay điện để sáng đèn đi ban đêm.

    Xe đạp sau đó ra Bắc Kỳ

    Nói xe đạp phải nhắc tới ông Nguyễn An Ninh hồi những năm 1926 làm báo La Cloche fêlée (Cái chuông rè). Ông thường mặc áo trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhật trình, miệng rao bán khắp Sài Gòn.
    Sau khi Pháp đóng cửa tờ báo, ông đạp xe đi bán dầu cù là, vừa bán vừa tuyên truyền chánh trị.
    Đô thành Sài Gòn (tên gọi Sài Gòn thời trước năm 1975) mỗi sáng sớm có nhiều công chức đi làm bằng xe đạp, học trò đạp tới trường, tà áo dài trắng và chiếc xe đạp thành biểu tượng của học trò thời bấy giờ.
    Xin đọc lại một đoạn văn của ông Hồ Biểu Chánh tả đô thành Sài Gòn hồi năm 1954 trong “Bức thơ hối hận”:

    “ Buổi sớm mai, trong thủ đô Sài Gòn, cũng như trong vùng ngoại ô Bà Chiểu Ngã Năm, sự hoạt động của dân cư tạo thành một quang cảnh náo nhiệt cực điểm.

    Theo FB/ Nguyễn Gia Việt

     

     

     

  • Bảng tra niên đại các triều Vua trong sử Việt

    BẢNG TRA NIÊN ĐẠI CÁC TRIỀU VUA VIÊT NAM

    (Xếp theo thứ tự Tây lịch, chú ý triều Lê và Mạc có đan xen )

    Niên hiệu Chữ Hán Tây lịch Tên vua
    Đại Đức (Thiên Đức) 大德 544-548 Lý Nam Đế
    Thiên Đức (Đại Đức) 天德 544-548 Lý Nam Đế
    Thái Bình 太平 970-980 Đinh Tiên Hoàng
    Thiên Phúc 天福 980 Đinh Toàn (Đinh Phế Đế)
    Thiên Phúc 天福 980-988 Lê Hoàn
    Hưng Thống 興統 989-993 Lê Hoàn
    Ứng Thiên 應天 994-1005 Lê Hoàn
    Ứng Thiên 應天 1005-1007 Lê Ngọa Triều
    Cảnh Thụy 景瑞 1008-1009 Lê Ngọa Triều
    Thuận Thiên 順天 1010-1028 Lý Thái Tổ
    Thiên Thành 天成 1028-1034 Lý Thái Tông
    Thông Thụy 通瑞 1034-1039 Lý Thái Tông
    Càn Phù Hữu Đạo 乾符有道 1039-1042 Lý Thái Tông
    Minh Đạo 明道 1042-1044 Lý Thái Tông
    Thiên Cảm Thánh Vũ 天感聖武 1044-1049 Lý Thái Tông
    Sùng Hưng Đại Bảo 崇興大寶 1049-1054 Lý Thái Tông
    Long Thụy Thái Bình 龍瑞太平 1054-1058 Lý Thánh Tông
    Chương Thánh Gia Khánh 彰聖嘉慶 1059-1065 Lý Thánh Tông
    Long Chương Thiên Tự 龍彰天嗣 1066-1068 Lý Thánh Tông
    Thiên Huống Bảo Tượng 天貺寶象 1068-1069 Lý Thánh Tông
    Thần Vũ 神武 1069-1072 Lý Thánh Tông
    Thái Ninh 太寧 1072-1076 Lý Nhân Tông
    Anh Vũ Chiêu Thắng 英武昭勝 1076-1084 Lý Nhân Tông
    Quảng Hựu 廣祐 1085-1092 Lý Nhân Tông
    Hội Phong 會豐 1092-1100 Lý Nhân Tông
    Long Phù 龍符 1101-1109 Lý Nhân Tông
    Hội Tường Đại Khánh 會祥大慶 1110-1119 Lý Nhân Tông
    Thiên Phù Duệ Vũ 天符睿武 1120-1126 Lý Nhân Tông
    Thiên Phù Khánh Thọ 天符慶壽 1127 Lý Nhân Tông
    Thiên Thuận 天順 1128-1132 Lý Thần Tông
    Thiên Chương Bảo Tự 天彰寶嗣 1133-1138 Lý Thần Tông
    Thiệu Minh 紹明 1138-1140 Lý Anh Tông
    Đại Định 大定 1140-1162 Lý Anh Tông
    Chính Long Bảo Ứng 政龍寶應 1163-1174 Lý Anh Tông
    Thiên Cảm Chí Bảo 天感至寶 1174-1175 Lý Anh Tông
    Trinh Phù 貞符 1176-1186 Lý Cao Tông
    Thiên Tư Gia Thụy 天資嘉瑞 1186-1202 Lý Cao Tông
    Thiên Gia Bảo Hựu 天嘉寶祐 1202-1205 Lý Cao Tông
    Trị Bình Long Ứng 治平龍應 1205-1210 Lý Cao Tông
    Kiến Gia 建嘉 1211-1224 Lý Huệ Tông
    Thiên Chương Hữu Đạo 天彰有道 1224-1225 Lý Chiêu Hoàng
    Kiến Trung 建中 1225-1232 Trần Thái tông
    Thiên Ứng Chính Bình 天應政平 1232-1251 Trần Thái Tông
    Nguyên Phong 元豐 1251-1258 Trần Thái Tông
    Thiệu Long 紹隆 1258-1272 Trần Thánh Tông
    Bảo Phù 寶符 1273-1278 Trần Thánh Tông
    Thiệu Bảo 紹寶 1279-1285 Trần Nhân Tông
    Trùng Hưng 重興 1285-1293 Trần Nhân Tông
    Hưng Long 興隆 1293-1314 Trần Anh Tông
    Đại Khánh 大慶 1314-1323 Trần Minh Tông
    Khai Thái 開泰 1324-1329 Trần Minh Tông
    Khai Hựu 開祐 1329-1341 Trần Hiến Tông
    Thiệu Phong 紹豐 1341-1357 Trần Dụ Tông
    Đại Trị 大治 1358-1369 Trần Dụ Tông
    Đại Định 大定 1369-1370 Dương Nhật Lễ
    Thiệu Khánh 紹慶 1370-1372 Trần Nghệ Tông
    Long Khánh 隆慶 1372-1377 Trần Duệ Tông
    Xương Phù 昌符 1377-1388 Trần Phế Đế
    Quang Thái 光泰 1388-1398 Trần Thuận Tông
    Kiến Tân 建新 1398-1400 Trần Thiếu Đế
    Thánh Nguyên 聖元 1400 Hồ Quý Ly
    Thiệu Thành 紹成 1401-1402 Hồ Hán Thương
    Khai Đại 開大 1403-1407 Hồ Hán Thương
    Hưng Khánh 興慶 1407-1409 Giản Định Đế (Trần Ngỗi)
    Trùng Quang 重光 1409-1413 Trần Quý Khoáng
    Thuận Thiên 順天 1428-1433 Lê Thái Tổ
    Thiệu Bình 紹平 1434-1439 Lê Thái Tông
    Đại Bảo(Thái Bảo) 大寶 1440-1442 Lê Thái Tông
    Thái Hòa (Đại Hòa) 太 (大) 和 1443-1453 Lê Nhân Tông
    Diên Ninh 延寧 1454-1459 Lê Nhân Tông
    Thiên Hưng 天興 1459-1460 Lê Nghi Dân
    Quang Thuận 光順 1460-1469 Lê Thánh Tông
    Hồng Đức 洪德 1470-1497 Lê Thánh Tông
    Cảnh Thống 景統 1498-1504 Lê Hiến Tông
    Thái Trinh 太貞 1504 Lê Túc Tông
    Đoan Khánh 端慶 1505-1509 Lê Uy Mục
    Hồng Thuận 洪順 1509-1516 Lê Tương Dực
    Quang Thiệu 光紹 1516-1522 Lê Chiêu Tông
    Thống Nguyên 統元 1522-1527 Lê Cung Hoàng
    Minh Đức 明德 1527-1529 Mạc Thái Tổ
    Đại Chính 大正 1530-1540 Mạc Thái tông
    Nguyên Hòa 元和 1533-1548 Lê Trang Tông
    Quảng Hòa 廣和 1541-1546 Mạc Hiến Tông
    Vĩnh Định 永定 1547 Mạc Tuyên Tông
    Cảnh Lịch 景曆 1548-1553 Mạc Tuyên Tông
    Thuận Bình 順平 1548-1556 Lê Trung Tông
    Quang Bảo 光寶 1554-1561 Mạc Tuyên Tông
    Thiên Hựu 天祐 1556-1557 Lê Anh Tông
    Chính Trị 正治 1558-1571 Lê Anh Tông
    Thuần Phúc 淳福 1562-1565 Mạc Mậu Hợp
    Sùng Khang 崇康 1566-1577 Mạc Mậu Hợp
    Hồng Phúc 洪福 1572-1573 Lê Anh Tông
    Gia Thái 嘉泰 1573-1577 Lê Thế Tông
    Diên Thành 延成 1578-1585 Mạc Mậu Hợp
    Quang Hưng 光興 1578-1599 Lê Thế Tông
    Đoan Thái 端泰 1586-1587 Mạc Mậu Hợp
    Hưng Trị 興治 1588-1590 Mạc Mậu Hợp
    Hồng Ninh 洪寧 1591-1592 Mạc Mậu Hợp
    Bảo Định 寶定 1592 Mạc Kính Chỉ
    Vũ An 武安 1592-1593 Mạc Kính Toàn
    Khang Hựu 康佑 1593 Mạc Kính Chỉ
    Càn Thống 乾統 1593-1625 Mạc Kính Cung
    Thận Đức 慎德 1600-1600 Lê Kính Tông
    Hoằng Định 弘定 1600-1619 Lê Kính Tông
    Vĩnh Tộ 永祚 1619-1629 Lê Thần Tông
    Đức Long 德隆 1629-1635 Lê Thần Tông
    Long Thái 隆泰 1618-1625 Mạc Kính Khoan
    Dương Hòa 陽和 1635-1643 Lê Thần Tông
    Thuận Đức 順德 1638-1677 Mạc Kính Vũ
    Phúc Thái 福泰 1643-1649 Lê Chân Tông
    Khánh Đức 慶德 1649-1653 Lê Thần Tông
    Thịnh Đức 盛德 1653-1658 Lê Thần Tông
    Vĩnh Thọ 永壽 1658-1662 Lê Thần Tông
    Vạn Khánh 萬慶 1662 Lê Thần Tông
    Cảnh Trị 景治 1663-1671 Lê Huyền Tông
    Dương Đức 陽德 1672-1674 Lê Gia Tông
    Đức Nguyên 德元 1674-1675 Lê Gia Tông
    Vĩnh Trị 永治 1676-1680 Lê Hy Tông
    Chính Hòa 正和 1680-1705 Lê Hy Tông
    Vĩnh Thịnh 永盛 1705-1720 Lê Dụ Tông
    Bảo Thái 保泰 1720-1729 Lê Dụ Tông
    Vĩnh Khánh 永慶 1729-1732 Lê Đế Duy Phường
    Long Đức 龍德 1732-1735 Lê Thuần Tông
    Vĩnh Hựu 永佑 1735-1740 Lê Ý Tông
    Cảnh Hưng 景興 1740-1786 Lê Hiển Tông
    Thái Đức 泰德 1778-1793 Nguyễn Nhạc
    Chiêu Thống 昭統 1787-1789 Lê Chiêu Thống (Mẫn Đế)
    Quang Trung 光中 1788-1792 Nguyễn Huệ
    Cảnh Thịnh 景盛 1793-1801 Nguyễn Quang Toản
    Bảo Hưng 寶興 1801-1802 Nguyễn Quang Toản
    Gia Long 嘉隆 1802-1819 Nguyễn Thế Tổ
    Minh Mạng 明命 1820-1840 Nguyễn Thánh Tổ
    Thiệu Trị 紹治 1841-1847 Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông)
    Tự Đức 嗣德 1848-1883 Nguyễn Dực Tông
    Dục Đức 育德 1883 Nguyễn Dục Đức
    Hiệp Hòa 協和 1883 Nguyễn Hiệp Hòa
    Kiến Phúc 建福 1883-1884 Nguyễn Giản Tông
    Hàm Nghi 咸宜 1885-1888 Nguyễn Hàm Nghi
    Đồng Khánh 同慶 1886-1888 Nguyễn Cảnh Tông
    Thành Thái 成泰 1889-1907 Nguyễn Thành Thái
    Duy Tân 維新 1907-1916 Nguyễn Duy Tân (Vĩnh San)
    Khải Định 啟定 1916-1925 Nguyễn Hoằng Tông (Bửu Đảo)
    Bảo Đại 保大 1926-1945 Nguyễn Bảo Đại (Vĩnh Thụy)

    BẢNG TRA NIÊN HIỆU CÁC TRIỀU VUA VIỆT NAM

    (Xếp theo vần ABC)

    Niên hiệu Chữ Hán Tây lịch Tên vua
    Anh Vũ Chiêu Thắng 英武昭勝 1076-1084 Lý Nhân Tông
    Bảo Đại 保大 1926-1945 Nguyễn Bảo Đại (Vĩnh Thụy)
    Bảo Định 寶定 1592 Mạc Kính Chỉ
    Bảo Hưng 寶興 1801-1802 Nguyễn Quang Toản
    Bảo Phù 寶符 1273-1278 Trần Thánh Tông
    Bảo Thái 保泰 1720-1729 Lê Dụ Tông
    Càn Phù Hữu Đạo 乾符有道 1039-1042 Lý Thái Tông
    Càn Thống 乾統 1593-1625 Mạc Kính Cung
    Cảnh Hưng 景興 1740-1786 Lê Hiển Tông
    Cảnh Lịch 景曆 1548-1553 Mạc Tuyên Tông
    Cảnh Thịnh 景盛 1793-1801 Nguyễn Quang Toản
    Cảnh Thống 景統 1498-1504 Lê Hiến Tông
    Cảnh Thụy 景瑞 1008-1009 Lê Ngọa Triều
    Cảnh Trị 景治 1663-1671 Lê Huyền Tông
    Chiêu Thống 昭統 1787-1789 Lê Chiêu Thống (Mẫn Đế)
    Chính Hòa 正和 1680-1705 Lê Hy Tông
    Chính Long Bảo Ứng 政龍寶應 1163-1174 Lý Anh Tông
    Chính Trị 正治 1558-1571 Lê Anh Tông
    Chương Thánh Gia Khánh 彰聖嘉慶 1059-1065 Lý Thánh Tông
    Diên Ninh 延寧 1454-1459 Lê Nhân Tông
    Diên Thành 延成 1578-1585 Mạc Mậu Hợp
    Dục Đức 育德 1883 Nguyễn Dục Đức
    Duy Tân 維新 1907-1916 Nguyễn Duy Tân (Vĩnh San)
    Dương Đức 陽德 1672-1674 Lê Gia Tông
    Dương Hòa 陽和 1635-1643 Lê Thần Tông
    Đại Bảo(Thái Bảo) 大寶 1440-1442 Lê Thái Tông
    Đại Chính 大正 1530-1540 Mạc Thái tông
    Đại Định 大定 1140-1162 Lý Anh Tông
    Đại Định 大定 1369-1370 Dương Nhật Lễ
    Đại Đức (Thiên Đức) 大德 544-548 Lý Nam Đế
    Đại Khánh 大慶 1314-1323 Trần Minh Tông
    Đại Trị 大治 1358-1369 Trần Dụ Tông
    Đoan Khánh 端慶 1505-1509 Lê Uy Mục
    Đoan Thái 端泰 1586-1587 Mạc Mậu Hợp
    Đồng Khánh 同慶 1886-1888 Nguyễn Cảnh Tông
    Đức Long 德隆 1629-1635 Lê Thần Tông
    Đức Nguyên 德元 1674-1675 Lê Gia Tông
    Gia Long 嘉隆 1802-1819 Nguyễn Thế Tổ
    Gia Thái 嘉泰 1573-1577 Lê Thế Tông
    Hàm Nghi 咸宜 1885-1888 Nguyễn Hàm Nghi
    Hiệp Hòa 協和 1883 Nguyễn Hiệp Hòa
    Hoằng Định 弘定 1600-1619 Lê Kính Tông
    Hội Phong 會豐 1092-1100 Lý Nhân Tông
    Hội Tường Đại Khánh 會祥大慶 1110-1119 Lý Nhân Tông
    Hồng Đức 洪德 1470-1497 Lê Thánh Tông
    Hồng Ninh 洪寧 1591-1592 Mạc Mậu Hợp
    Hồng Phúc 洪福 1572-1573 Lê Anh Tông
    Hồng Thuận 洪順 1509-1516 Lê Tương Dực
    Hưng Khánh 興慶 1407-1409 Giản Định Đế
    Hưng Long 興隆 1293-1314 Trần Anh Tông
    Hưng Thống 興統 989-993 Lê Hoàn
    Hưng Trị 興治 1588-1590 Mạc Mậu Hợp
    Khai Đại 開大 1403-1407 Hồ Hán Thương
    Khai Hựu 開祐 1329-1341 Trần Hiến Tông
    Khai Thái 開泰 1324-1329 Trần Minh Tông
    Khang Hựu 康佑 1593 Mạc Kính Chỉ
    Khải Định 啟定 1916-1925 Nguyễn Hoằng Tông
    Khánh Đức 慶德 1649-1653 Lê Thần Tông
    Kiến Gia 建嘉 1211-1224 Lý Huệ Tông
    Kiến Phúc 建福 1883-1884 Nguyễn Giản Tông
    Kiến Tân 建新 1398-1400 Trần Thiếu Đế
    Kiến Trung 建中 1225-1232 Trần Thái tông
    Long Chương Thiên Tự 龍彰天嗣 1066-1068 Lý Thánh Tông
    Long Đức 龍德 1732-1735 Lê Thuần Tông
    Long Khánh 隆慶 1372-1377 Trần Duệ Tông
    Long Phù 龍符 1101-1109 Lý Nhân Tông
    Long Thái 隆泰 1618-1625 Mạc Kính Khoan
    Long Thụy Thái Bình 龍瑞太平 1054-1058 Lý Thánh Tông
    Minh Đạo 明道 1042-1044 Lý Thái Tông
    Minh Đức 明德 1527-1529 Mạc Thái Tổ
    Minh Mạng 明命 1820-1840 Nguyễn Thánh Tổ
    Nguyên Hòa 元和 1533-1548 Lê Trang Tông
    Nguyên Phong 元豐 1251-1258 Trần Thái Tông
    Phúc Thái 福泰 1643-1649 Lê Chân Tông
    Quang Bảo 光寶 1554-1561 Mạc Tuyên Tông
    Quang Hưng 光興 1578-1599 Lê Thế Tông
    Quảng Hòa 廣和 1541-1546 Mạc Hiến Tông
    Quảng Hựu 廣祐 1085-1092 Lý Nhân Tông
    Quang Thái 光泰 1388-1398 Trần Thuận Tông
    Quang Thiệu 光紹 1516-1522 Lê Chiêu Tông
    Quang Thuận 光順 1460-1469 Lê Thánh Tông
    Quang Trung 光中 1788-1792 Nguyễn Huệ
    Sùng Hưng Đại Bảo 崇興大寶 1049-1054 Lý Thái Tông
    Sùng Khang 崇康 1566-1577 Mạc Mậu Hợp
    Tự Đức 嗣德 1848-1883 Nguyễn Dực Tông
    Thái Đức 泰德 1778-1793 Nguyễn Nhạc
    Thái Bình 太平 970-980 Đinh Tiên Hoàng
    Thái Hòa (đúng:Đại Hòa) 太 (大) 和 1443-1453 Lê Nhân Tông
    Thái Ninh 太寧 1072-1076 Lý Nhân Tông
    Thái Trinh 太貞 1504 Lê Túc Tông
    Thánh Nguyên 聖元 1400 Hồ Quý Ly
    Thành Thái 成泰 1889-1907 Nguyễn Thành Thái
    Thận Đức 慎德 1600-1600 Lê Kính Tông
    Thần Vũ 神武 1069-1072 Lý Thánh Tông
    Trị Bình Long Ứng 治平龍應 1205-1210 Lý Cao Tông
    Thiên Cảm Chí Bảo 天感至寶 1174-1175 Lý Anh Tông
    Thiên Cảm Thánh Vũ 天感聖武 1044-1049 Lý Thái Tông
    Thiên Chương Bảo Tự 天彰寶嗣 1133-1138 Lý Thần Tông
    Thiên Chương Hữu Đạo 天彰有道 1224-1225 Lý Chiêu Hoàng
    Thiên Đức (Đại Đức) 天德 544-548 Lý Nam Đế
    Thiên Gia Bảo Hựu 天嘉寶祐 1202-1205 Lý Cao Tông
    Thiên Huống Bảo Tượng 天貺寶象 1068-1069 Lý Thánh Tông
    Thiên Hưng 天興 1459-1460 Lê Nghi Dân
    Thiên Hựu 天祐 1557-1557 Lê Anh Tông
    Thiên Phù Duệ Vũ 天符睿武 1120-1126 Lý Nhân Tông
    Thiên Phù Khánh Thọ 天符慶壽 1127 Lý Nhân Tông
    Thiên Phúc 天福 980-988 Lê Hoàn
    Thiên Phúc 天福 980 Đinh Toàn
    Thiên Tư Gia Thụy 天資嘉瑞 1186-1202 Lý Cao Tông
    Thiên Thành 天成 1028-1034 Lý Thái Tông
    Thiên Thuận 天順 1128-1132 Lý Thần Tông
    Thiên Ứng Chính Bình 天應政平 1232-1251 Trần Thái Tông
    Thịnh Đức 盛德 1653-1658 Lê Thần Tông
    Thiệu Bảo 紹寶 1279-1285 Trần Nhân Tông
    Thiệu Bình 紹平 1434-1439 Lê Thái Tông
    Thiệu Khánh 紹慶 1370-1372 Trần Nghệ Tông
    Thiệu Long 紹隆 1258-1272 Trần Thánh Tông
    Thiệu Minh 紹明 1138-1140 Lý Anh Tông
    Thiệu Phong 紹豐 1341-1357 Trần Dụ Tông
    Thiệu Thành 紹成 1401-1402 Hồ Hán Thương
    Thiệu Trị 紹治 1841-1847 Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông)
    Thông Thụy 通瑞 1034-1039 Lý Thái Tông
    Thống Nguyên 統元 1522-1527 Lê Cung Hoàng
    Thuận Bình 順平 1548-1556 Lê Trung Tông
    Thuận Đức 順德 1638-1677 Mạc Kính Vũ
    Thuận Thiên 順天 1010-1028 Lý Thái Tổ
    Thuận Thiên 順天 1428-1433 Lê Thái Tổ
    Thuần Phúc 淳福 1562-1565 Mạc Mậu Hợp
    Trinh Phù 貞符 1176-1186 Lý Cao Tông
    Trùng Hưng 重興 1285-1293 Trần Nhân Tông
    Trùng Quang 重光 1409-1413 Trần Quý Khoáng
    Ứng Thiên 應天 994-1005 Lê Hoàn
    Ứng Thiên 應天 1005-1007 Lê Ngọa Triều
    Vạn Khánh 萬慶 1662 Lê Thần Tông
    Vĩnh Định 永定 1547 Mạc Tuyên Tông
    Vĩnh Hựu 永佑 1735-1740 Lê Ý Tông
    Vĩnh Khánh 永慶 1729-1732 Lê Đế Duy Phường
    Vĩnh Tộ 永祚 1619-1629 Lê Thần Tông
    Vĩnh Thịnh 永盛 1705-1720 Lê Dụ Tông
    Vĩnh Thọ 永壽 1658-1662 Lê Thần Tông
    Vĩnh Trị 永治 1676-1680 Lê Hy Tông
    Vũ An 武安 1592-1593 Mạc Kính Toàn
    Xương Phù 昌符 1377-1388 Trần Phế Đế

    Ghi chú thêm về giai đoạn chưa có niên hiệu khi mới khôi phục độc lập:

    – 905-930: Họ Khúc (chưa xưng vương)

    – 931-937: Dương Đình Nghệ

    – 938-944: Ngô Quyền

    – 945-950: Dương Tam Kha

    – 951-965: Ngô Xương Văn (Nam Tấn Vương)

    – 966-969: 12 Sứ quân

    (Theo Phan Anh Dũng – VietHanNom 2005)

    *** 

    Chúng tôi đã sửa lại một số niên hiệu (màu xanh)
    theo đính chính của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Nguyên trong
    bài “Nói chuyện quy đổi dương lịch cho các niên hiệu”
    đăng trên 
    Tạp chí Hán Nômsố 3 (112) 2012 (tr.60 – 73)

    Nguồn: http://www.hannom.org.vn

  • 12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    Nhiều vị vua chúa đã được lịch sử Việt Nam ghi danh vởi những chiến công quân sự xuất sắc, trước hoặc sau khi lên nắm quyền.

    12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    An Dương Vương

    An Dương Vương, tên thật là Thục Phán, là vị vua đầu tiên và duy nhất của nhà nước Âu Lạc – nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Theo sử cũ, ông làm vua trong khoảng thời gian từ 257 TCN đến 208 TCN.

    Vào thời kỳ đó, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất Trung Hoa và tiếp tục tham vọng xâm chiếm vùng đất phía Nam của các bộ tộc người Việt. Quân Tần do Đồ Thư chỉ huy đã đánh chiếm nhiều vùng đất của Bách Việt, nhập vào lãnh thổ Trung Hoa.

    Trước tình hình này An Dương Vương đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tần của quân dân Âu Lạc. Khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, Nhân dân Việt làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần dần lâm vào tình trạng suy yếu do thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã kiệt sức thì quân Âu Lạc xuất trận. Đồ Thư mất mạng, quân Tần thua to, phải bỏ chạy về phương Bắc.

    Sau chiến thắng, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự. Tòa thành này có cấu trúc độc đáo, theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, được củng cố bởi mạng lưới hào nước liên kết với nhau chạy dưới chân thành. An Dương Vương cũng phát triển thuỷ binh và cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho Cổ Loa.

    Ít lâu sau, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc. Nhờ sự chuẩn bị quân sự tốt và ưu thế của thành Cổ Loa, An Dương Vương đã chống cự hiệu quả cuộc xâm lược này.

    Triệu Đà buộc phải dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai mình, Trọng Thủy, và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm được bí mật quân sự của An Dương Vương thông qua con trai, Triệu Đà đã thành công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và tự tử, kết thúc thời kỳ An Dương Vương.

    Lý Nam Đế

    Lý Nam Đế (503–548) tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, sinh ra trong hoàn cảnh nước Việt bị nhà Lương đô hộ. Có tư chất thông minh, thể chất mạnh khỏe từ nhỏ, khi lớn lên Lý Bí trở thành một người văn võ song toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.

    Ông được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác nên bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ.

    Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh và thu phục được nhiều nhân vật xuất chúng như tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, Tinh Thiều, lão tướng Phạm Tu…

    Lý Bí đã liên kết với các châu lân cận và cuối năm 541 chính thức khởi binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh. Tiêu Tư liệu không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được tha chạy thoát về Quảng Châu để quân của Lý Bí chiếm thành Long Biên.

    Tháng 4/542, vua Lương Vũ Đế sai quân từ phường Bắc kết hợp với quân của các châu còn kiểm soát ở phía Nam tạo thành gọng kìm đánh Lý Bí. Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía Nam đánh lui cuộc phản công của nhà Lương, làm chủ toàn bộ Giao Châu.

    Cuối năm 542, quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh khiến quân xâm lược thảm bại, 10 phần chết đến 6-7 phần. Sau chiến thắng này, Lý Bí kiểm soát thêm quận Hợp Phố (thuộc Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay).

    Trong khi Lý Bí bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía Nam, vua nước Lâm Ấp “đục nước béo cò”, đem quân đánh Giao Châu vào tháng 5/543. Lý Bí sai Phạm Tu cầm quân đánh Lâm Ấp và thắng lớn.

    Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội).

    Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục.

    Triệu Việt Vương

    Triệu Quang Phục (?-571) là con Triệu Túc, tù trưởng huyện Chu Diên. Ông cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.

    Năm 546, sau khi Lý Nam Đế thua trận phải lui về động Khuất Lạo, Triệu Quang Phục được ủy thác việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương.

    Tháng 1/547, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết.

    Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, và dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp lương thực vũ khí làm kế cầm cự lâu dài.

    Năm 550, nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về. Triệu Quang phục tận dụng thời cơ tung quân ra đánh. Quân Lương tan vỡ chạy về nước. Triệu Quang Phục vào thành Long Biên và xưng làm Triệu Việt Vương.

    Đến năm 571, một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30 năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602.

    Ngô Quyền

    Ngô Quyền (898 – 944) sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm. Ông lớn lên khi chính quyền đô hộ của nhà Đường đang suy yếu và tan rã, khó lòng khống chế các thế lực hào trưởng người Việt ở địa phương, do đó dẫn tới sự xác lập quyền lực của họ Khúc ở phủ thành Đại La vào năm 905 và họ Dương vào năm 931.

    Sau khi trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được tin cậy giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ để chiếm quyền, nhưng lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc nên đã cầu cứu nhà Nam Hán để bảo vệ quyền lực của mình.

    Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy.

    Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp.

    Khi cuộc chiến diễn ra, Ngô Quyền đã nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Kết quả, quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lược.

    Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, kết thúc hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam. Ông không có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô Vương. Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một nghìn năm trước.

    Đinh Tiên Hoàng

    Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình) vào thời kỳ đất nước bị nhà Ngô đô hộ. Ông là con của Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ. Từ bé ông đã mê đánh trận giả và tỏ ra là người có khả năng chỉ huy.

    Sau các biến động chính trị dồn dập, tình hình đất nước trở nên rối loạn và từ năm 966 hình thành 12 sứ quân cát cứ nhiều vùng, sử gọi là loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư, cùng con trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình).

    Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác. Chỉ trong vài năm, ông lần lượt đánh thắng 11 sứ quân khác, được xưng tụng là Vạn Thắng Vương.

    Sau khi xóa bỏ tình trạng cát cứ, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, niên hiệu Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Ông là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì thế mà ông còn được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử.

    Đinh Tiên Hoàng ở ngôi đến năm 979 thì mất. Theo chính sử, một viên quan là Đỗ Thích mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.

    Lê Đại Hành

    Lê Hoàn sinh năm 941, quê quán chưa được xác định rõ ràng. Mồ côi từ nhỏ, ông được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi, lớn lên đi theo đội quân của Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn, lập được nhiều chiến công.

    Sau khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm 968, Lê Hoàn được giao chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc đó ông mới 27 tuổi.

    Năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính cho Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua. Tranh chấp quyền lực đã xảy ra giữa phe của Lê Hoàn và một số đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng. Lê Hoàn đã giết chết các đối thủ và củng cố sự kiểm soát triều đình.

    Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt, nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng.

    Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga cùng các tướng lĩnh và triều thần đã tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn lên ngôi (sử thường gọi là Lê Đại Hành), lấy niên hiệu là Thiên Phúc.

    Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân sang đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành đã lãnh đạo quân dân đánh bại quân Tống ở các trận Bạch Đằng, Tây Kết, giết và bắt sống nhiều tướng giặc chủ chốt, khiến quân Tống phải tháo chạy về nước.

    Trong vòng 26 năm trị vì, Lê Đại Hành là người đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía Nam. Ông đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự lớn, đích thân cầm quân đánh dẹp sự nổi dậy của các thế lực cát cứ và xâm lấn, không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới, mà còn trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt. Lê Đại Hành mất năm 1005, thọ 65 tuổi.

    Lý Thánh Tông

    Lý Thánh Tông (1023 – 1072) là vị vua thứ ba của nhà Lý. Ông tên thật là Lý Nhật Tôn, là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai Thị. Không chỉ nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam, ông còn là một nhà quân sự lỗi lạc.

    Trong thời kỳ trị vì của vua cha Lý Thái Tông, Lý Nhật Tôn đã nhiều lần cầm quân đi dẹp loạn, bảo vệ biên cương và lập nhiều chiến công, được sử sách ghi nhận như dẹp bạo loạn ở Lâm Tây năm 1037, khi mới 15 tuổi, đánh châu Văn năm 1042, châu Ái năm 1043.

    Sau khi Lý Thái Tông băng hà năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi, tiếp tục ổn định tình hình trong nước và chú trọng mở rộng cương thổ. Quân đội dưới thời gian ông trị vì được tổ chức rất chặt chẽ và quy củ, có tiếng thiện chiến, nhiều lần đánh đuổi quân Tống ở biên cương phía Bắc vào các năm 1059-1060, khiến nhà Tống phải nể sợ.

    Do nước Chiêm Thành phía Nam hay sang quấy nhiễu, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, ông đem quân trở về. Đi nửa đường vua nghe thấy nhân dân khen bà Nguyên phi Ỷ Lan (vợ thứ của vua) ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, liền nghĩ bụng: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm sao?”. Vua lại đem quân trở lại đánh và bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ.

    Chế Củ đã phải dâng đất ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (ngày nay thuộc các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị) cho Đại Việt để chuộc tội.

    Trần Nhân Tông

    Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần. Ông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần Thị Thiều, được vua cha nhường ngôi vào năm 1278.

    Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và có vai trò lãnh đạo quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2 và 3.

    Trong cả 2 lần kháng chiến vào các năm 1285 và 1288, vua Trần Nhân Tông đã đóng vai trò của một ngọn cờ đoàn kết dân tộc, lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt nhiều thời khắc khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi cuối cùng. Trong các cuộc chiến này, nhà vua đã nhiều lần trực tiếp cầm quân đánh trận như một vị tướng dũng cảm, vừa đưa ra được những quyết sách đúng đắn trong vai trò của một nhà chiến lược tài giỏi.

    Ngoài cuộc đối đầu với người Mông Cổ, vào năm 1290, nhà vua cũng thân chinh đi đánh dẹp quân Ai Lao, những kẻ thường hay quấy nhiễu biên giới, bảo vệ vững chắc bờ cõi phía Tây.

    Vua Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.

    Lê Thái Tổ

    Lê Lợi sinh năm 1385 ở vùng đất Lam Sơn, Thanh Hóa, vào cuối đời nhà Trần – giai đoạn lịch sử rối ren của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế Truất nhà Trần, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ. Năm 1407 nhà Hồ sụp đổ trước sự xâm lược của quân Minh, nước Việt một lần nữa nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc.

    Năm 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng chính thức phất ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn, kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước.

    Trong những năm đầu tiên, cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, Lê Lợi và nghĩa quân thường phải lẩn trốn trong rừng núi. Năm 1424, khi quân lực được củng cố, Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Sau nhiều trận thắng, đến cuối năm 1425, ông làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.

    Từ tháng 8/1426, Lê Lợi cho quân tiến ra Bắc. Đội quân của ông thắng lớn ở Tốt Động, Chúc Động và vây hãm thành Đông Quan.

    Cuối năm 1427, vua Minh điều một lực lượng viện binh lớn sang nước Việt. Lê Lợi chủ động đánh chặn các đạo quân này và giành thắng lợi lớn trong trận Chi Lăng – Xương Giang. Các cánh viện binh còn lại nghe tin, hoảng hốt rút về phương Bắc.

    Sau thất bại này, quân Minh xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi muốn giữ hòa khí nên đồng ý để quân xâm lược về nước và sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáođể báo cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh.

    Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên vương triều nhà Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh vào năm 1430. Lê Thái Tổ băng hà năm 1433, hưởng thọ 49 tuổi.

    Lê Thánh Tông

    Lê Thánh Tông (1442 – 1497) tên thật là Lê Tư Thành, là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê. Tư Thành là con thứ 4 của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Ông lên ngôi năm 1460, sau cuộc đảo chính do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu, giết chết vua Lê Nghi Dân.

    Trong thời gian trị vì, Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị minh quân, người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông đã để lại nhiều dấu ấn trên phương diện quân sự trong lịch sử Việt Nam.

    Sau khi lên ngôi, vua ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Ông thường thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi, trở thành tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị.

    Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ, kết hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh.

    Đó là cơ sở để vua Lê Thánh Tông giành những thắng lợi quan trọng trong các hoạt động quân sự của mình. Đó là công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi Đại Việt bằng cách đánh chiếm kinh đô của vương quốc Chiêm Thành năm 1471, sáp nhập một phần lãnh thổ Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt; đồng thời có cuộc hành quân toàn thắng về phía Tây đất nước vào năm 1479.

    Năm 1497 vua Lê Thánh Tông băng hà vì lâm bệnh nặng.

    Chúa Nguyễn Hoàng

    Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) là con trai thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim, sinh ra ở Thanh Hóa. Ông là vị chúa đầu tiên trong số 9 chúa Nguyễn trước khi nhà Nguyễn hình thành.

    Dưới triều Lê trung hưng, Nguyễn Hoàng là một tướng tài lập nhiều công lớn. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm. Sau này, anh ruột của ông là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết.

    Do lo sợ bị sát hại, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Năm 1558, ông cùng gia quyến và một số người dân Thanh – Nghệ đi vào Nam. Ông xưng chúa, lập thủ phủ ban đầu là xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.

    Từ đó cho đến đầu những năm 1600, Nguyễn Hoàng lo phát triển và củng cố lực lượng, từng bước trở thành một thế lực độc lập với họ Trịnh.

    Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 ông đã thực hiện cuộc Nam tiến, chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa đang suy yếu, lập thành phủ Phú Yên. Trong thời gian Nguyễn Hoàng tiến hành Nam tiến, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), bây giờ là vùng cực Nam Phú Yên.

    Các sử gia đời sau coi Nguyễn Hoàng là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương Nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập vương triều nhà Nguyễn.

    Năm 1613, ông lâm bệnh nặng và qua đời. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

    Hoàng đế Quang Trung

    Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 – 1792) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn. Ông cùng hai người anh Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ là con của Nguyễn Phi Phúc một người chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt.

    Năm 1771, lấy lý do chống lại sự áp bức của quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ cất binh khởi nghĩa, xây dựng căn cứ chống chính quyền chúa Nguyễn tại Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã chứng tỏ được tài quân sự xuất chúng của mình trong cuộc chiến này, giúp quân Tây Sơn đánh bại Chúa Nguyễn đầu những năm 1780.

    Dưới danh nghĩa “Phù lê diệt Trịnh”, quân của Nguyễn Huệ cũng tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn họ Trịnh, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía Nam.

    Sau các thất bại lớn, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm dẫn đến Trận Rạch Gầm – Xoài Mút đầu năm 1785. Đây là một trận đánh lớn trên sông giữa liên quân Xiêm-Nguyễn và quân Tây Sơn tại khúc sông Rạch Gầm-Xoài Mút (Tiền Giang) với kết quả toàn thắng thuộc về quân Tây Sơn.

    Sau khi Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, đưa quân Thanh về cướp nước, ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và ngay hôm sau thực hiện một cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc để đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn tiến như vũ bão và đánh bại kẻ thù trong trận quyết chiến ở Ngọc Hồi – Đống Đa vào đầu xuân Ký Dậu 1789.

    Sau khi đẩy lùi quân xâm lược phương Bắc, hoàng đế Quang Trung dốc sức cho cuộc chiến cuối cùng với Nguyễn Ánh để thống nhất đất nước. Kế hoạch này đã không bao giờ được hoàn thành do ông đột ngột qua đời năm 1792 ở tuổi 40. Sau cái chết của hoàng đế Quang Trung, nhà Tây Sơn suy yếu và nhanh chóng sụp đổ

    Chưa từng biết đến thất bại trên chiến trận, hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi nhận như một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất của lịch sử Việt Nam.

    Theo KIẾN THỨC

  • Cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng của cựu hoàng Bảo Đại

    Cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng của cựu hoàng Bảo Đại

    Trước khi Bảo Đại qua đời (1997), nhà sử học trẻ Fédéric Mitterand – cháu của Tổng thống Mitterand đã có cuộc phỏng vấn trực tiếp cựu hoàng tại nhà riêng (tầng trệt cao ốc 29 Presnel, quận 16 – Paris).

    Cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng của cựu hoàng Bảo Đại

    Trong cuộc phỏng vấn này, lần đầu tiên cựu hoàng nói về những kỷ niệm và thổ lộ ước vọng của ông về đất nước Việt Nam, trong đó có việc ông thành lập chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật và trong trường hợp nào ông đã thoái vị làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Cuộc phỏng vấn này đã được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần, hoàng nữ Phương Thảo (con của bà Bùi Mộng Điệp và cựu hoàng Bảo Đại) đã thu được và cung cấp cho tôi, kỹ sư Bùi Hữu Lân (cựu sinh viên Đại học Bách khoa Pháp) và ông Nguyễn Đắc Xuân chuyển qua Việt ngữ. Xin trích một số đoạn để bạn đọc tham khảo về những sự kiện cách nay 70 năm.

     

    Về nền độc lập của Việt Nam

    – Frédéric Mitterand: Đây là một thời kỳ (1944-1946) lạ lùng: có một chủ quyền của nước Pháp Vichy, có đông đảo người Nhật, có vua Bảo Đại im lặng đứng nhìn tình thế, bên cạnh nhân dân Việt Nam. Nước Pháp được giải phóng, thay đổi chế độ chính trị, với tướng De Gaulle lên cầm quyền. Lúc ấy ở Việt Nam tình hình ra thế nào?

    – Bảo Đại: Người Việt chúng tôi mù tịt. Chúng tôi hoàn toàn không biết việc gì đã xảy ra. Chúng tôi có biết nước Pháp được giải phóng, chấm hết.

     Và người Nhật? Lúc ấy một thời gian sau họ làm đảo chánh?

    – Người Nhật làm đảo chánh vì người Pháp cho rằng, sau khi quân Nhật đã thua nhiều trận ở mặt trận Thái Bình Dương, nước Nhật đã đến thời tận số. Cho nên người Pháp mới bắt đầu tổ chức một loạt kháng chiến. Người Nhật, thấy đã hết thời, không muốn như vậy và đó cũng là một vấn đề thể diện. Họ đã làm đảo chánh và gạt bỏ chủ quyền của Pháp.

     Lúc ấy, ngài bất đắc dĩ cũng bị lôi cuốn phần nào trong cuộc ẩu đả đó?

    – Đó là một câu chuyện khá đầy kịch tính. Hôm người Nhật làm đảo chánh tôi không có mặt trong cung. Tôi đi săn. Đến khi trở về cung các cửa cung đều mở. Có tiếng súng nổ. Một sĩ quan Nhật đến trình diện với tôi, xin tôi chịu khó chờ một chút: “Chúng tôi đang giải quyết vài vấn đề”, và sau đó ông sĩ quan này dẫn tôi vào cung. Một thời gian sau, tôi vào trong cung, cũng ông sĩ quan ấy nói với tôi: “Ngày mai, có một nhân vật quan trọng, một đại sứ, đến trình diện với ngài”. Ngày hôm sau tôi tiếp đại sứ Yokoyama. Đại sứ trình uỷ nhiệm thư và nói với tôi rằng: “Thiên Hoàng cho tôi đến bên cạnh Ngài”. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với người Nhật.

     Trước đó ngài đã có suy nghĩ về hoàng đế Nhật Bản?

    – Chúng tôi biết hoàng đế Nhật, nhất là Minh Trị Thiên Hoàng, đã mở cửa nước Nhật cho thế giới hiện đại.

     Và ngài có quan tâm đến kinh nghiệm này?

    – Có, tôi có theo dõi khá sát lịch sử nước Nhật.

     Người Nhật tỏ ra rất kính trọng ngài, và ngay sau đó, đề nghị ngài tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Một tình trạng gay cấn vì thực sự không còn chủ quyền của Pháp lúc đó nữa. Chính tướng De Gaulle cũng đã nó: “Tôi thấy Đông Dương đã rời xa như một con tàu lớn”. Không có vấn đề duy trì chính quyền Vichy, còn người Nhật thì yêu cầu ngài tuyên bố độc lập. Và ngài lưỡng lự?

    – Trước hết, tôi nghi ngờ vì không biết nền độc lập này có giá trị đến mức nào.

     Đó là một cái bẫy?

    – Không phải là cái bẫy nhưng hai chữ ấy vô cùng kỳ diệu, đó là hai chữ thiêng liêng, hai chữ Độc Lập. Đối với thần dân tôi, tôi không thể từ chối Độc Lập, nếu tôi từ chối, thần dân tôi sẽ trách tôi. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để chứng tỏ rằng chúng tôi độc lập, dù cái độc lập ấy có hình thức thế nào. Điều kỳ lạ là khi tôi ký tuyên ngôn độc lập, tôi hỏi Đại sứ Nhật: “Có vấn đề trao đổi gì không?”. Ông trả lời: “Không, chúng tôi không đòi hỏi ngài bất cứ một điều gì; chúng tôi giải phóng quý quốc; có thế thôi”.

     Nhưng dầu sao, ngài không ngại trở nên một con bài trong tay người Nhật, và ngài không ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

    – Không, hoàn toàn không. Tôi không muốn tôi là con bài trong tay người Nhật. Một hôm ông tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Nhật ở Đông Dương xin tôi tham gia vào chiến cuộc để giúp nước Nhật, vì lúc đó Nhật đang ở trong một giai đoạn khó khăn, tôi trả lời: “Nay chúng tôi độc lập, không thể sai khiến chúng tôi điều gì nếu chúng tôi đã độc lập. Chúng tôi tự do làm điều gì chúng tôi muốn, các Ngài không có quyền can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Và người Nhật đã hiểu.

     Có cái ngại kia, ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

    – Không những tôi đã nghĩ đến việc này, mà nhiều người Pháp đã cho rằng tôi đã phản bội họ. Khi tôi trở qua Pháp năm 1948, có một chiến dịch báo chí chống tôi, nói rằng: “Đó là một con người phản bội, ông ấy đã bỏ rơi chúng ta, ông ấy đi với bọn Nhật”. Tôi phải đưa Hiệp ước Bảo hộ ra. Nó đây, theo điều 11 hay 13, nước Pháp có trách nhiệm giữ an ninh cho nhà vua, chống lại kẻ địch bên ngoài cũng như nội loạn bên trong. Ai đã phá bỏ hiệp ước này? Không phải tôi. Ngày 9-3-1945, chủ quyền Pháp đã không còn nữa.

     Người Nhật có ngược đãi người Pháp không?

    – Không, quân đội của Thiên Hoàng không làm cái việc tàn ác. Thủ phạm là đội Kempetai, là một loại Lê Dương của Nhật. Đội Kempetai này đã làm các việc tàn ác đối với người Pháp.

     Bỗng nhiên ta lâm vào cái thế phức tạp. Vì ngài có nhiều quyến luyến với người Pháp. Ngài không thể bình thản mãi?

    – Đó là tình cảm cá nhân, nhưng tôi phải nghĩ trước hết đến quốc gia dân tộc. Người Nhật đã đem độc lập đến cho chúng tôi, tôi phải cụ thể hoá nền độc lập đó. Cho nên tôi đã lập một chính phủ. Các quan đại thần lúc ấy đã xin rút lui để chúng tôi có một chính phủ tân tiến.

    – Lúc đầu tiên ngài thực hiện quyền lực của một ông vua lập hiến, của một ông vua thời hiện đại. Vậy chính phủ ấy có những ai.

    – Đó là những trí thức trẻ, nhiều người ở Pháp, những kỹ sư trường bách khoa, những tiến sĩ luật, những bác sĩ y khoa, họ thông hiểu cả Đông và Tây. Về chức Thủ tướng, tôi đã chọn một học giả thông hiểu cả Đông và Tây.

     Trước tình hình mới ấy, tâm trạng của dân chúng thế nào?

    – Có thể nói rằng dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm.

     Nước Nhật sụp đổ. Bom nguyên tử nổ. Đế quốc Nhật Bản không còn. Vào khoảng đó, những người Cộng sản gây nên một áp lực ngày càng lớn?

    – Thật ra, lúc đầu không phải là những người Cộng sản, mà là những người quốc gia. Đồng bào tôi, nhất là giới trí thức, nghĩ rằng cần có một cuộc cách mạng. Đối với họ, nếu không có cách mạng thì không có tiến hoá. Tôi sợ họ làm một cuộc cách mạng. Nếu ông nhớ lại cái hiệp ước Yalta và Postdam, mặc dầu Nhật thua trận, nhưng Nhật có trách nhiệm phải giữ trật tự, tức là quân đội Nhật không bị giải giáp. Tôi sợ quân Nhật bắn vào dân. Tôi mới nói rằng: “Thần dân đã muốn một cuộc cách mạng, thì chính tôi đã làm một cuộc cách mạng đó rồi. Tôi sẽ ra đi như thế”.

     Và ngài thoái vị. Việc này đối với chúng tôi, quả là hơi khó hiểu?

    – Không, có thể khó hiểu đối với ông, nhưng không khó hiểu đối với người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam đã hiểu. Chỉ có điều người dân Việt Nam không thấy một việc, đó chính là những người trong chính phủ mới là những người Cộng sản. Nhưng họ có biết một việc, là trong chính phủ ấy, nghĩa là người đứng ra lập chính phủ ấy, tức ông Hồ Chí Minh đã được người Mỹ vũ trang. Dân Việt Nam nghĩ rằng đã có người Mỹ đứng sau lưng họ, họ sẽ có nhiều thế lực hơn để giành độc lập từ tay người Pháp. Đến giờ, người Mỹ tự xem là những người chống Cộng.

    Tâm trạng của ngài lúc ấy thế nào?

    – Tôi hoàn toàn không bị bối rối với những vấn đề ấy. Tôi cảm thấy sự trỗi dậy ấy, trước hết là các người quốc gia muốn có thể cụ thể hoá nền độc lập, họ không muốn tôi ở vị trí lãnh đạo vì tôi không có đủ phương tiện để tranh thủ độc lập từ người Pháp; nhưng vì có một chính phủ được người Mỹ ủng hộ, nên dân Việt Nam cho rằng chính phủ ấy có nhiều phương tiện hơn tôi để tranh thủ từ người Pháp một nền độc lập thực sự.

    *     *

    *

    Về Chủ tịch Hồ Chí Minh

     Và ngài đã thoái vị. Từ đây bắt đầu một giai đoạn thật ly kỳ trong cuộc đời ngài. Đó là giai đoạn quan hệ với Cụ Hồ Chí Minh và người cấp dưới của ông ấy. Ngài đã tiếp xúc với Cụ Hồ Chí Minh hay ai tiếp xúc?

    – Trước tiên các bộ trưởng của Cụ Hồ tiếp xúc với tôi, để tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực.

     Luôn luôn đi theo nguyên tắc một sự kế tục hợp pháp. Nền Cộng hoà là cô gái do nhà vua sinh ra?

    – Có thể là như vậy.

     Và ngài đã chuyển giao quyền lực?

    – Chính tôi đã khai sinh ra cái nền Cộng hoà đó. Lúc đó đại diện Cụ Hồ Chí Minh nói với tôi: “Mời ngài đi Hà Nội, Cụ Hồ có thể quen biết ngài”. Rồi tôi đi Hà Nội.

     Ngài trở thành Vĩnh Thuỵ?

    – Vâng, tôi trở thành một công dân thường.

     Ngài không quá hối tiếc nền quân chủ đã chấm dứt, nền quân chủ ấy dầu sao cũng là một thể chế đã được tổ tiên ngài lập nên?

    – Có chứ, dĩ nhiên tôi còn cảm thấy nhiều hơn. Và hối tiếc nữa, nhưng nó là một trang sử đã được lật qua. Đó là định luật của nước tôi.

     Và ngài đã muốn để mình lật trang sử đó?

    – Tôi muốn để chính tôi lật, thay vì để cho một vũng máu lật trang sử.

    – Và ngài đã đi Hà Nội để gặp cụ Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là cụ Hồ Chí Minh đối xử với ngài với một sự cung kính đặc biệt?

    – Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng.

    – Cụ Hồ Chí Minh mời ngài làm cố vấn tối cao của Chính phủ?

    – Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo Cụ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thật sự.

    – Ngài đã ở gần cụ Hồ Chí Minh, cụ ấy đã cho ngài cảm tưởng thế nào của cụ ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

    – Không, không thay đổi. Ông hãy nhớ đại hội Tours, cụ Hồ ở Pháp lúc ấy. Rồi cụ đi Moscou để lập đảng Cộng sản Việt Nam.

    – Đối với ngài, cụ Hồ cũng là một nhà ái quốc?

    – Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Cụ là một người yêu nước.

    – Trong cuốn sách của ngài, không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với cụ Hồ. Ngài quý trọng cụ Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy cụ Hồ không bao giờ công kích ngài?

    – Không, không có lý do gì để tôi công kích Cụ ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ Cụ ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng tôi đã khổ vì chiến tranh.

     Một sự kiện lạ lùng. Có lúc cụ Hồ đã nghỉ đến việc trao lại quyền hành cho ngài?

    – Nhưng việc này chính tự tay cụ Hồ. Một hôm cụ Hồ đến gặp tôi. Trước đó, cụ đã gọi điện thoại, Cụ nói sẽ đến gặp tôi. Tôi tưởng Cụ ấy ốm. Cụ nói với tôi: “Không có, tôi muốn ngài nắm lại chính quyền”. Tôi hỏi : “Tại sao?”. Cụ nói : “Tôi bị để ý quá, tôi quá đỏ, tôi cảm thấy không được Đồng minh tín nhiệm”. Tôi tưởng Cụ đùa. Cụ nói : ‘Không có, ngài hãy trình diện một chính phủ vào cuối ngày hôm nay”. Trong ngày tôi đã có nhiều cuộc tiếp xúc, cho đến chiều thì cụ Hồ gọi lại cho tôi. Cụ nói : “sau khi đã suy nghỉ kỷ lại, xin ngài bỏ qua cho tôi chuyện vừa qua. Trước cái khó khăn của hoàn cảnh này, tôi không có quyền đào nhiệm”. Tôi nói : “Vậy thì xin Cụ hãy tiếp tục”.

    – Quả là quá ngạc nhiên, rất xúc động khi thấy có sự đoàn kết cao như vậy. Tại sao cuộc thương thuyết với nước Pháp bị bế tắc? Phải chăng lỗi hoàn toàn về phía Pháp?

    – Hãy bắt đầu với Hiệp ước ngày 6-3. Ký giữa Sainteny và cụ Hồ. Tôi biết rõ hiệp ước ấy vì tôi đã soạn thảo với cụ Hồ. Hiệp ước ký xong thì tôi đi Trung Quốc. Sau đó là Hội nghị Fontainebleau. Khi cụ Hồ sang Pháp. Hội nghị không đạt kết quả gì, vì mỗi bên đều giữ vững lập trường của mình. Không ai muốn thương lượng thật sự, phía Pháp cũng như phía Việt Nam.

    – Tôi tưởng tượng có những trang “tít” trên các báo. Ngài đã trở nên một ông vua “đỏ”?

    – Hoàn toàn không như vậy. Mọi người gọi tôi là công dân Vĩnh Thụy. Chỉ có thế.

    – Lúc ấy ngài biết gì về chủ nghĩa cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa cộng sản?

    – Không, tôi biết rất ít.

    – Trong khoảng thời gian hai năm ấy, ngài đã ở bên cụ Hồ, và ngài đã giúp cho cụ Hồ nhiều việc quan trọng. Nếu phải lặp lại việc này hôm nay, ngài cũng sẽ lặp lại chăng? Ngày nay ngài đánh giá việc này thế nào?

    – Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của thần dân tôi, tôi cũng sẽ làm.

    *     *

    *

    Về quan hệ với người Pháp

    – Chiến tranh thực sự bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh, một cuộc chiến ác liệt, gian khổ. Ngài là một người lưu vong. Ngài không còn gì trong tay cả. Tuy vậy, lần hồi, ngài lại được công luận chú ý, nhất là các người Pháp đã biết ngài, và đông đảo người Việt Nam muốn độc lập?

    – Để nói cho rõ hơn, sau khi đô đốc d’Argenlieu mãn nhiệm kỳ. Ông Bollaert sang Đông Dương với chỉ thị của Paris là gắng khôi phục hòa bình. Dưới hình thức nào? Kêu gọi tất cả những người đang chiến đấu chống Pháp, và những người quốc gia đang đứng ngoài cuộc chiến lúc ấy, có nhiều người Việt Nam đã nghỉ đến tôi. Ông Bollaert đã đứng ra kêu gọi qua bài diễn văn nổi tiếng đọc ở Hà Đông, trong bài diễn văn này ông đã nói đến hai chữ Độc lập, nhưng không nói bằng tiếng Pháp, mà bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi có tiếp một ông sứ giả của ông Bollaert, người này nói với tôi như sau : “Ngài phải đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert. Nếu ngài không trả lời, cụ Hồ Chí Minh sẽ trả lời và sẽ qua mặt ngài”. Tôi đáp :” Tôi rất muốn thế, tôi chờ cụ Hồ trả lời vì quý ông đã nhắm vào cụ Hồ mà kêu gọi”. Sau một thời gian, vì không ai đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert và vì đã có nhiều người quốc gia muốn tập hợp lại và khẩn khoản xin tôi tiếp xúc với đại diện nước Pháp, trong bối cảnh đó, tôi đã chấp thuận gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên.

    – Thời gian tiếp xúc có lâu không?

    – Thời gian tiếp xúc là một ngày. Ông Bollaert muốn tuyên bố Thống nhất – Độc lập. Nhưng ngược lại, ông đưa ra nhiều tu chính án hoàn toàn không phù hợp với tôi.

     Và ngài đã bác bỏ?

    – Do đó tôi đã từ giã ông ta. Tôi nói với ông ta rằng, tôi chỉ gặp ông với tư cách cá nhân. Nước tôi và nhân dân tôi không cho tôi một ủy nhiệm gì, để ký bất cứ điều gì cả. Ông Bollaert đáp : “Đây là lần tiếp xúc đầu tiên”.

     Điều gì đã khiến cho ngài trở về nước?

    – Đối với tôi, đây là một cơ hội mà tôi có thể nói là lịch sử. Bởi vì có một điều mà ít người Việt Nam biết đến, đó là tôi phải chuộc lại lỗi lầm của tổ tiên tôi: để mất sáu tỉnh Nam Kỳ.

    – Đất Nam Kỳ, đó là các vùng Alsace-Lorraine của nước Việt Nam?

    – Đúng vậy.

     Sau cùng, ngài đã chấp thuận trở về nước. Kỳ này đã tranh thủ được Độc lập và Thống Nhất?

    – Không, không phải ở vịnh Hạ Long mà tôi tranh thủ được Độc lập, mà chính là sau khi ông Bollaert ra đi, kể từ năm 1949, tôi đạt được các thỏa hiệp đầu tiên với Tổng thống Pháp Auriol. Không phải giống như các thỏa hiệp ngày nay, mà là trao đổi văn thư.

    – Một tình trạng thật lạ lùng. Ngài đã là vua, ngài đã là ông Vĩnh Thụy, đại biểu quốc hội thời Hồ Chí Minh, và ngài đã trở về với tư cách đứng đầu một nhà nước. Nhà nước đó có hình thức thế nào? Ngài là Đức Bảo Đại – Tổng thống nước cộng hòa?

    – Không, không phải tổng thống vì lúc ấy chưa xác định được thể chế. Tôi tự phong tôi là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng : Khi tôi đã làm xong nhiệm vụ của tôi, tức là cụ thể hóa nền độc lập, xây dựng lại đất nước, đến lúc đó, chính nhân dân sẽ chọn lấy chế độ mình muốn. Tôi không chủ trương một chế độ nào cả. Tôi chỉ tự phong một cách đơn giản là Quốc trưởng thôi.

    – Nền độc lập đầu tiên, có người đã trách ngài rằng đó là nền độc lập của Nhật; còn lần này ngài sẽ không bị mang tiếng rằng đó là độc lập của Pháp?

    – Hoàn toàn không. Người Pháp đã thương lượng thực sự với tôi. Độc lập. Thành lập quân đội Quốc gia. Tôi đã có đại diện ngoại giao ở nhiều nước khác. Rất nhiều nước đã thừa nhận chúng tôi.

     Ngài có nhiều bạn trong chính phủ Pháp. Ngài có những bạn trung thành với ngài không?

    – Tổng thống Auriol là một người rất thông cảm với tôi và đã giúp tôi rất nhiều. Bộ trưởng ngoại giao, ông Bidault.

    – Tổng thống Auriol, một đảng viên Đảng Xã hội, cựu Bộ trưởng trong mặt trận bình dân. Ngài có mâu thuẫn với những ai đã nắm được lịch sử?

    – Ông ấy là đảng viên đảng Xã hội, việc này không có gì quan trọng với tôi cả, miễn là qua ông ấy, tôi đạt được các nguyện vọng của nhân dân tôi. Đó là điểm chính yếu.

     Ngài trở về Việt Nam, và trong vai trò của ngài, ngài đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt. Ngài rất được lòng dân vào thời đó. Việc này diễn tiến ra sao?

    – Tôi chưa bao giờ cần mưu sự đắc nhân tâm. Tôi trở về nước để làm một nhiệm vụ với đất nước và nhân dân Việt Nam.

    *     *

    *

    Về chế độ Ngô Đình Diệm

     Ông Diệm trước đó đã luôn luôn bày tỏ lòng trung thành đối với ngài? Nay đã có một bước ngoặt, điều gì đã xảy ra?

    – Ông ta bị giật giây bởi toàn bộ gia đình ông ta, và cũng bởi các quan thầy Mỹ. Khi tôi yêu cầu ông Diệm cầm quyền, tôi có nói việc này cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Foster Dulles. Lúc ấy ông ta không muốn ông Diệm. Một thời gian sau, tôi mới hiểu vì sao. Bởi vì người Mỹ chưa sẵn sàng nắm nước Việt Nam, họ muốn giữ lại vai trò ông Diệm làm dự phòng, để tung ra khi thuận tiện.

     Mục đích của ông Diệm? Một chế độ gia đình trị?

    – Ông không có mục đích chính xác. Dẫu sao ông ta cũng không có tham vọng dựng lên một triều đại. Ông ta muốn cai trị theo một loại độc tài con, nói đúng hơn, đó là một chế độ độc tài gia đình trị.

    – Ở Triều Tiên thời đó có Lý Thừa Vãn?

    – Và có Magsaysay ở Phi Luật Tân.

    – Ngài có thấy người Mỹ chú ý đến Việt Nam? Ngài có thấy bóng dáng người Mỹ sau các sự kiện này?

    – Tôi thấy rất rõ là người Mỹ muốn có mặt ở Thái Bình Dương. Chiến tranh Algerie đã bắt đầu. Người Mỹ đã làm một loại trao đổi: để cho nước Pháp giải quyết vấn đề Algerie, và nước Pháp rút chân ra khỏi Việt Nam, nhường chỗ cho nước Mỹ.

     Khi Hiệp ước Geneve được ký kết, và ông Diệm lần lần cũng có quyền lực ở Việt Nam, thì ngài ở Pháp. Ngài có nghỉ chuyện trở về Việt Nam?

    – Không, hoàn toàn không. Đối với tôi, thế là hết. Tôi đã nói với các đồng minh của tôi và các nước ủng hộ tôi: Vai trò của tôi đã chấm dứt, hoặc tôi là chủ từ bắc chí nam, hoặc tôi là không gì hết. Vì quý vị đã cắt đất nước của tôi làm hai, tôi sẽ cử một người đứng ra, coi phần còn lại, do đó có ông Diệm.

     Ngài thấy thế nào khi ông Diệm tuyên bố nền cộng hòa sau một cuộc trưng cầu dân ý? Cảm tưởng của ngài thế nào?

    – Tôi biết trước chuyện này sẽ xảy ra. Tôi hoàn toàn không bị bất ngờ, bởi vì mọi thứ đã được xếp đặt trước. Tôi không muốn nhảy xuống vũ đài để bảo vệ cái thế của tôi.

     Năm 1955, ngài có nghỉ rằng chắc chắn chiến tranh sẽ tái tục, hay có thể giữ nguyên trạng trong một thời gian dài?

    – Tôi đã hy vọng giữ nguyên trạng như nước Đức : Tây Đức và Đông Đức. Tôi đã nghỉ rằng miền Nam giàu hơn miền Bắc, sẽ thu hút người miền Bắc. Xui thay, sự việc xảy ra đã không phải như thế. Tôi cũng biết người Mỹ có mặt trong vụ này.

    *     *

    *

    Về cuộc sống ở Pháp

    – Người con bình thản trong cung điện Huế ngày xưa, bây giờ chịu đựng các phán xét tiêu cực hay sự im lặng, hay ngài đã đau khổ?

    – Không, hoàn toàn không. Tôi đã trở lại thời thơ ấu, đây là một thái độ đúng. Chính nhờ cái giáo dục ấy mà tôi đã giữ được mọi sự thanh thản trong lòng.

     Bây giờ, ngài đã sống tại Pháp hơn 35 năm nay, một cuộc sống giản dị, rất đứng đắn nhưng không có nhiều phương tiện. Dẫu sao cũng có nhiều người biết ngài, và rõ ràng rất thích quan hệ với ngài. Ngài đã thích nghi với đời sống ở đây như thế nào?

    – Tôi đã thích nghi rất tốt với đời sống ở Pháp. Tôi đã đến đất nước này khi còn rất trẻ. Tôi cũng có thể trở về nước tôi nhưng tôi thích ở Pháp hơn bởi vì tôi biết rõ tính tình người Pháp. Tôi cảm thấy ở đây, ở Pháp, hoàn toàn như ở quê tôi.

     Nhưng đồng thời hình ảnh nước Việt Nam luôn luôn hiện ra trong đời sống của ngài?

    – Tôi luôn luôn nhớ đến thần dân khốn khổ của tôi.

     “Tôi xa quê cha đất tổ thế là 25 năm” – Ngài đã viết như thế cách đây 10 năm- “25 năm trên đất Pháp, trên mảnh đất đã đón nhận tôi, với bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu- Từ khi hoàng hậu Nam Phương qua đời, tình thương đã bị cướp mất quá sớm, và từ khi các con tôi bay xa, tôi thường là một người đơn chiếc. Tôi đã nếm qua và tôi đã sống qua những gì mà nhân dân tôi đang nếm qua và đang sống trong lúc này – nơi thì lòng bao dung, tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, ác ý; sự đầm ấm khi gặp lại bạn cũ, sự lạnh lẽo của cảnh cô đơn. Trong thời gian đó, tôi luôn luôn sống theo nhịp tim của những người sống trong lo âu, bối rối. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ, lòng tôi luôn luôn ôm ấp cùng một nguồn hy vọng”. Rồi một ngày kia, khi vua Bảo Đại không còn nữa, ông Vĩnh Thụy không còn nữa, ở Việt Nam còn có những người tưởng nhớ đến công đức của ngài không?

    – Không phải tôi là người nói đến việc này. Xin để cho nhân dân tôi phán xét, xin để cho lịch sử phán xét tôi.

    Theo TẠP CHÍ XƯA & NAY

  • Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Các hình khắc trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn được coi là một cuộc triển lãm những tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời, mang tính biểu tượng cho sự giàu đẹp của nước Việt. 

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1/3/1837, gồm 9 chiếc đỉnh bằng đồng, lấy ý tưởng từ Cửu đỉnh của nhà Hạ ở Trung Hoa.

    Đỉnh hay vạc vốn là đồ để nấu ăn thời xưa, được đúc bằng kim loại, thường có hai quai và ba chân, nhưng được các bậc vua chúa tôn lên là tượng pháp để tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ. Trước khi có Cửu Đỉnh, các vua chúa nhà Nguyễn từng cho đúc nhiều đỉnh đồng để xác định quyền uy của triều đại.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Cửu Đỉnh được đặt ở trước Hiển Lâm Các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, ứng với án thờ của các vua nhà Nguyễn trong Thế Miếu. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn, lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.

    Nhìn chung, cả chín chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là “Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi” tức là năm 1835. Nhưng mỗi đỉnh cũng có nét riêng, thể hiện ở kiểu dáng quai, vành miệng, vai, chân và đáy.

    Đặc biệt, mỗi đỉnh được chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí… Các bức chạm này tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.

    1. Cao đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Cao đỉnh nặng 2.603kg, được đặt ở vị trí trung tâm, ứng với khám thờ vua Gia Long trong Thế Miếu ở hoàng thành Huế. So với 8 đỉnh còn lại, Cao đỉnh được đặt nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Cao đỉnh là chữ “Cao đỉnh”, chính là thụy hiệu của vua Gia Long.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Cao đỉnh là hình tượng “Long”, nghĩa là con rồng, biểu tượng cho quyền lực của hoàng đế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế đến là hình tượng “Ba la mật”, nghĩa là cây mít, loài cây ăn quả quen thuộc ở các làng quê Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Canh” là cây lúa tẻ, nông sản gắn liền với nền sản xuất của người Việt từ xa xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

     Hình tượng “Thông” nghĩa là cây hành, loại rau gia vị quen thuộc của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử vi hoa” là hoa tường vi, một loài hoa mọc thành chùm màu tím rất đẹp.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trĩ” là chim trĩ, loài chim rừng có họ với gà, sở hữu bộ lông màu sắc rực rỡ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Đông Hải”, nghĩa là Biển Đông, vùng biển gắn với chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Tế hà” là kênh Vĩnh Tế, con kênh đào vĩ đại ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được vua Gia Long cho khởi công vào năm 1819.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhật” nghĩa là mặt trời.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngưu Chữ giang” là kênh Bến Nghé, một huyết mạch giao thông đường thủy ở Sài Gòn – Gia Định.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thiên Tôn Sơn” là núi Thiên Tôn ở thôn Gia Miêu, Thanh Hóa, nơi phát tích của vương triều Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Thiết mộc”, tức cây gỗ lim, loại cây cho gỗ rất cứng và bền, thường được dùng làm cột đình, chùa, cung điện.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hổ” là con hổ, loài vật biểu tượng cho sức mạnh, phân bố trong hầu khắp các khu rừng rậm ở Việt Nam xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đa tác thuyền” là tên nhà Nguyễn gọi thuyền buồm, loại thuyền đi biển đường dài có xuất xứ phương Tây.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại bác” là sùng đại bác, hỏa khí chủ lực trong quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trầm hương”: Cây trầm hương, một loài cây cho gỗ có mùi thơm rất quý hiếm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Miết” là con ba ba, một thủy sản có giá trị được khai thác tại nhiều sông hồ của Việt Nam.

    2. Nhân đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Nhân đỉnh nặng 2.515kg, được đặt bên trái Cao đỉnh, ứng với khám thờ vua Minh Mạng trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Nhân đỉnh là chữ “Nhân đỉnh”, thụy hiệu của vua Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Nhân đỉnh là hình tượng “Ngô đồng”, nghĩa là cây ngô đồng, loài cây thân gỗ được trồng khá nhiều ở kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Kỳ nam” là gỗ kỳ nam, loại trầm hương phẩm chất cao nhất, hết sức quý hiếm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nọa” là cây lúa nếp, giống lúa dẻo và thơm song hành cùng lúa tẻ trên các ruộng lúa Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam trân” là cây bòn bon, loài cây cho quả từng trở thành nguồn thực phẩm cứu sống chúa Nguyễn Ánh khi phải ẩn náu trong rừng để tránh sự truy lùng của quân Tây Sơn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Liên hoa” là hoa sen, loài hoa tượng trưng cho sự cao quý bất chấp nghịch cảnh, đồng thời cũng là một loài hoa của đạo Phật.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khổng tước” là chim công, loài chim có bộ lông rực rỡ được mệnh danh là nữ hoàng của các loài chim.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Nhân đỉnh” là “Nam Hải”, nghĩa là vùng biển phía Nam nước Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phổ Lợi hà” là sông Phổ Lợi, con sông do vua Minh Mạng cho đào năm 1835, nối sông Hương với cửa biển Thuận An, có vai trò giao thông và thủy lợi quan trọng với kinh thành Huế xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nguyệt” là mặt trăng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hương giang” là sông Hương, dòng sông biểu tượng chảy qua kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngự Bình sơn” là núi Ngự Bình, có hình dáng như bức bình phong, cùng với sông Hương tạo thành cảnh quan đặc trưng của Huế: Sông Hương núi Ngự.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Nhân đỉnh” là “Nhân ngư”, một cách gọi cá voi, loài cá thiêng phù trợ người đi biển theo quan niệm của người dân miền biển Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cửu” là cây hẹ, một loài cây gia vị gần gũi với hành.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lâu thuyền” là thuyền lầu, loại thuyền nhiều tầng thường được dùng cho nhà vua, người hoàng tộc và các quan đại thần, binh sĩ hộ giá đi lại trên sông Hương.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Luân xa pháo” là súng đại bác đặt trên xe, phiên bản cơ động, thường có kích thước nhỏ của súng đại bác.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Báo” là con báo, loài vật họ mèo chỉ đứng dưới con hổ về độ “hổ báo” trong rừng rậm Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại mạo” là con đồi mồi, loài rùa biển có mai đẹp, thịt ngon, là sản vật quý thường được dùng tiến vua.

    3. Chương đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chương đỉnh là chiếc đỉnh thứ ba trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, nặng 2.099kg, được đặt bên phải Cao đỉnh, ứng với khám thờ vua Thiệu Trị trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Chương đỉnh là chữ “Chương đỉnh”, thụy hiệu của vua Thiệu Trị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Chương đỉnh là hình tượng “Mạt lị”, nghĩa là hoa nhài, loài hoa thơm được trồng phổ biến trong các khu vườn của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Am la” là cây xoài, một loài cây ăn trái quen thuộc của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đậu khấu” là cây đậu khấu, loại cây có quả được sử dụng làm vị thuốc quý trong Đông dược.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lục đậu” là cây đậu xanh, loại ngũ cốc có vai trò quan trọng trong nền ẩm thực Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Giới” là cây kiệu, loại rau gia vị có họ với hành, hẹ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Kê” là con gà, loài gia cầm gắn liền với mọi xóm làng của người Việt.
    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Chương đỉnh” là hình tượng “Thượng sơn”, nghĩa là núi Thượng, tức núi Kim Phụng, một danh thắng nằm ở Hương Trà, Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lợi Nông hà” là sông Lợi Nông, tức sông An Cựu, chi lưu của sông Hương ở phía Nam kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mộc tinh, Hỏa tinh, Thổ tinh, Kim tinh, Thủy tinh” là sao Mộc, sao Hỏa, sao Thổ, sao Kim, sao Thủy, các tinh tú có vai trò quan trọng trong thiên văn cổ phương Đông.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Linh Giang” là sông Gianh, dòng sông ở Quảng Bình từng là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tây Hải” là vùng biển phía Tây nước Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Chương đỉnh” là hình tượng “Thuận mộc”, nghĩa là cây gỗ huỳnh, hay gỗ sưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngạc ngư” là con cá sấu, loài bò sát khổng lồ sinh sống tại nhiều vùng ngập nước ở Nam Bộ thời xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mông đồng thuyền” là mẫu thuyền chiến cơ động có đáy nông, nhiều tay chèo, trang bị nỏ mạnh, có mái gỗ để che tên đạn của nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Điểu thương” là loại súng hỏa mai được sử dụng phổ biến trong quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tê” là con tê giác, loài động vật quý hiếm ngày nay đã tuyệt chủng ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Linh quy” là rùa thiêng, một linh vật trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

    4. Anh đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ tư trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Anh đỉnh, nặng 2.576kg, được đặt bên trái Nhân đỉnh, ứng với khám thờ vua Tự Đức trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Anh đỉnh là chữ “Anh đỉnh”, thụy hiệu của vua Tự Đức.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Thiền”, nghĩa là con ve, loài côn trùng gắn liền với mùa hạ ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tô hợp” là cây tô hợp, loài cây thuốc quý trong Đông y.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Uất kim” là cây nghệ, loài cây cho củ vừa dùng làm gia vị, vừa là dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tân lang” là cây cau, loài cây thường được trồng làm cảnh và thu hoạch quả ở vùng quê Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khôi hạc” là chim hạc, một loài chim được coi là có tính cách của người quân tử theo quan niệm truyền thống.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mai khôi hoa” là cây hoa hồng, loài cây cho hoa thơm và đẹp, được trồng phổ biển trong các khu vườn xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa: Bên trái chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Ngân hán”, nghĩa là dải ngân hà.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mã giang” là sông Mã, một con sông lớn ở miền Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bắc Đẩu” là sao Bắc Đẩu, chòm sao gồm 7 ngôi sao nằm ở phương Bắc, được người xưa dùng làm dấu mốc xác định phương hướng vào ban đêm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lô hà” là sông Lô, phụ lưu tả ngạn của sông Hồng ở khu vực miền núi phía Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồng sơn” là núi Hồng Lĩnh, dãy núi nổi tiếng được coi là hồn thiêng của xứ Nghệ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Mã”, nghĩa là con ngựa, loài gia súc được sử dụng làm phương tiện vận chuyển thời xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tang” là cây dâu tằm, loài cây gắn liền với nghề dệt của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Kỳ” là lá cờ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồ điệp tử” là đạn bươm bướm, loại đạn đại pháo khi nổ bung ra tứ phía trông như tổ kén của con bướm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhiêm xà” là con trăn, loài bò sát dạng rắn khổng lồ sinh sống trong nhiều vùng rừng rậm của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử mộc” là cây gỗ kiến, loài cây được sử dụng để sản xuất sơn cánh kiến, một nguyên liệu quý dùng để quét lên gỗ nhằm tạo độ bóng và tăng độ bền.

    5. Nghị đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ năm trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Nghị đỉnh, nặng 2.542kg, được đặt bên phải Chương đỉnh, ứng với khám thờ vua Kiến Phúc trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Nghị đỉnh là chữ “Nghị đỉnh”, thụy hiệu của vua Kiến Phúc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Mai”, nghĩa là cây hoa mai, loài cây nằm trong bộ Tứ quý Tùng, Cúc, Trúc, Mai theo quan niệm truyền thống của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Tiếp theo là hình tượng “Đàn mộc”, nghĩa là cây hoàng đàn, loài cây cho gỗ có mùi thơm đặc biệt quý hiếm, thường được dùng làm tượng thần, phật hoặc các đồ dùng sang trọng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quế” là cây quế, loài cây được trồng để khai thác vỏ và gỗ với nhiều công dụng như làm gia vị, dược liệu, đồ mỹ nghệ…

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Biển đậu” là cây đậu ván, loài cây ngũ cốc họ đậu được trồng phổ biến ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hải đường hoa” là hoa hải đường, loài hoa tượng trưng cho phú quý, thường được trưng trong nhà vào dịp Tết theo văn hóa truyền thống của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồ da tử” là con đuông dừa, loài côn trùng đặc sản của Nam Bộ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Quảng Bình quan”, nghĩa là cửa ải Quảng Bình, một cửa ải án ngữ đường thiên lý Bắc Nam thuộc hệ thống lũy Thầy, có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cửu An hà” là sông Cửu An, một con sông có vai trò quan trọng với nông nghiệp ở khu vực Hài Dương, Hưng Yên.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam Đẩu” là sao Nam Đẩu, một mảng sao gồm sáu ngôi nằm ở hướng Nam, ngược hướng với chòm sao Bắc Đẩu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạch Đằng giang” là sông Bạch Đằng, dòng sông gắn với những chiến thắng huyền thoại của người Việt trước quân xâm lược phương Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thuận An hải khẩu” là cửa biển Thuận An, cửa biển có vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng với kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Lục hoa ngư”, nghĩa là cá lóc, loài cá nước ngọt kích cỡ trung bình, cho thịt ngon, được đánh bắt tại nhiều vùng miền của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Giới” là cây rau cải, loài rau được trồng phổ biến, dùng để chế biến nhiều món ăn khác nhau hoặc muối dưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trường thương” là giáo dài, một loại vũ khí cơ bản của quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hải đạo” là loại thuyền chèo rất linh hoạt phục vụ hoạt động chiến đấu trên biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Uyên ương” là chim uyên ương, loài chim nước nổi tiếng với bộ lông đẹp và sự thủy chung.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tượng” là con voi, loài vật khổng lồ có vai trò quan trọng trong biên chế quân đội nhà Nguyễn.

    6. Thuần đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Thuần đỉnh nặng 1.952kg, được đặt bên trái Anh đỉnh, ứng với khám thờ vua Đồng Khánh trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Thuần đỉnh là chữ “Thuần đỉnh”, thụy hiệu của vua Đồng Khánh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Thuần đỉnh” là hình tượng “Đào”, nghĩa là cây đào, loài cây vừa cho hoa đẹp vào mùa xuân, vừa cho quả ngon.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế đến là “Súc sa mật”, nghĩa là cây sa nhân, loài cây có hạt dùng làm gia vị, là, hạt và quả dùng làm dược liệu trong y học cổ truyền.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hương nhu” là cây hương nhu, cũng là một dược liệu quen thuộc của người Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng đậu” là cây đậu nành, một loài cây ngũ cốc họ đậu khác xuất hiện trên Cửu đỉnh bên cạnh đậu xanh (Chương đỉnh) và đậu ván (Nghị đỉnh).

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quỳ hoa” là cây hoa hướng dương, được trồng để lấy hoa làm cảnh và lấy hạt làm thực phẩm, dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng anh” là chim vàng anh, một loài chim đẹp có bộ lông màu vàng rực rỡ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa. bên trái chữ “Thuần đỉnh” là hình tượng “Tản Viên sơn”, là núi Tản Viên hay núi Ba Vì, ngọn núi thiêng gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Định hà” là sông Vĩnh Định, con sông đào vua Minh Mạng cho khởi công ở Quảng Trị năm 1824.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phong” là gió.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thạch Hãn giang” là sông Thạch Hãn, con sông có vai trò quan trọng về giao thông và thủy lợi ở Quảng Trị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cần Giờ hải khẩu” là cửa biển Cần Giờ, cửa ngõ đường biển trọng yếu của thành Gia Định (Sài Gòn).

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, về phía trái chữ Thuần đỉnh là hình tượng “Đăng sơn ngư”, nghĩa là cá rô ta, loài cá sống nhiều ở ruộng đồng, có biệt tài vượt cạn, là món ăn dân dã quen thuộc của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạng” là con ngao, một hải sản được khai thác ở hầu khắp các vùng ven biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

     “Bài đao” là giá gác đao, vật dụng thể hiện tinh thần võ học của người Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đỉnh” là loại thuyền thon nhỏ, nhiều tay chèo, vừa dùng để đua trong các lễ cầu mưa, các ngày lễ hội, vừa dùng trong chiến đấu được trang bị cho quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam mộc” là cây gỗ chò, loại gỗ có độ bền cao được người Việt ưa chuộng trong xây dựng, làm đồ nội thất.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ly ngưu” là con bò tót, loài bò hoang dã có hình thể lớn và sức khỏe địch được cả hổ báo.

    7. Tuyên đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Tuyên đỉnh nặng 2.068kg, được đặt bên phải Nghị đỉnh, ứng với khám thờ vua Khải Định trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Tuyên đỉnh là chữ “Tuyên đỉnh”, thụy hiệu của vua Khải Định.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Tần cát liễu”, nghĩa là chim yểng, loài chim cảnh nổi tiếng với khả năng nhại tiếng người.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Yến oa” là tổ yến, một sản vật tiến vua quý giá thường được khai thác ở các vách đá cheo leo bên bờ biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Long nhãn” là cây/quả long nhãn, cũng là một sản vật tiến vua thời xưa.
    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trân châu hoa” là hoa sói trắng, loài hoa nhỏ mọc thành chùm như chuỗi hạt trân châu, mùi thơm dịu, thường được dùng để ướp trà.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Địa đậu” là cây lạc hay đậu phộng, một loại ngũ cốc quen thuộc ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bá” là cây trắc bá diệp, loài cây vừa được trồng làm cảnh, vừa là loại dược liệu đa dụng trong Đông y.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Duệ sơn”, tức núi Duệ hay núi Lễ, là một danh thắng của đất Hương Trà ở xứ Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhĩ hà” là sông Nhĩ, tức sông Hồng, hệ thống sông lớn nhất của miền Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vân” nghĩa là mây.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại Lãnh” là mũi Đại Lãnh, một mỏm núi đâm ra biển, danh thắng của đất Phú Yên.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lam giang” là sông Lam, dòng sông cùng với núi Hồng Lĩnh được coi là biểu tượng của xứ Nghệ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Hậu ngư”, tức là con sam, một hải sản quý được khai thác ở một số vùng biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khương” là cây gừng, loài cây được trồng lấy củ làm gia vị hoặc dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nỗ” là cái nỏ, một loại vũ khí tầm xa được quân đội nhà Nguyễn sử dụng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lê thuyền” là một loại thuyền có 12 tay chèo, được đóng khá nhiều dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thỉ” là con lợn, một gia súc được nuôi lấy thịt rất quen thuộc ở vùng nông thôn Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngoan” là con vích, loài rùa biển cỡ nhò thường được khai thác để lấy thịt làm thực phẩm và lấy mai làm đổ mỹ nghệ.

    8. Dụ đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ tám trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Dụ đỉnh, nặng 2.020kg, được đặt bên trái Thuần Đỉnh, đối diện khám thờ vua Hàm Nghi trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Dụ đỉnh là chữ “Dụ đỉnh”. Khám với các đỉnh trước, tên của Dụ đỉnh không phải là thụy hiệu của bất kì vị vua nào triều Nguyễn, do các vị vua sau thời Khải Định đều không có thụy hiệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Anh vũ”, nghĩa là chim vẹt, cũng là loài chim rất giỏi nhại tiếng người như chim yểng trên Tuyên đỉnh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phù lưu” là cây trầu, loài cây được trồng lấy lá, gắn bó mật thiết với tục ăn trầu của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạch đậu” là cây đậu trắng, loài ngũ cốc họ đậu thứ năm xuất hiện ở Cửu đỉnh, bên cạnh đậu ván, đậu xanh, đậu nành và lạc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thuần hoa” là cây hoa dâm bụt, loài cây có hoa đỏ rất đẹp thường được trồng làm hàng rào ở nông thôn Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tùng” là cây tùng, loài cây lá kim tượng trưng cho sự trường tồn, vỉnh cửu theo quan niệm Á Đông.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Hải Vân quan”, nghĩa là cửa ải Hải Vân, một cửa ải quan trọng trấn giữ đường thiên lý Bắc – Nam, có từ thời Lê, được củng cố và mở rộng dưới thời vua Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Điện hà” là sông Vĩnh Điện, con sông chảy qua đất Quảng Nam – Đà Nẵng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lôi” là sấm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vệ giang” là sông Vệ, một con sông nằm ở Quảng Ngãi.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đà Nẵng hải khẩu” là cửa biển Đà Nẵng, chính là cửa Hàn, cửa biển có vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng của Đà Nẵng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Thạch thủ ngư”, tức cá mú, một loài cá biển có thịt ngon được khai thác tại nhiều vùng biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử tô” là cây tía tô, loài cây bụi có lá màu tím, được dùng làm gia vị và dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ô thuyền” là loại thuyền đi biển sơn màu đen, cánh buồm cũng đen, có 12 tay chèo, thường trang bị cho quân tuần tiễu dọc bờ biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phác đạo” là loại đao có cán dài, thường được trang bị cho binh lính trận mạc và lực lượng hộ giá vòng ngoài của triều đình nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cáp” là con sò, loài hải sản có họ với con ngao (trên Thuần đỉnh), được khai thác ở các vùng ven biển Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Dương” là con dê, loài gia súc được nuôi nhiều tại một số vùng núi đá của Việt Nam.

    9. Huyền đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Là chiếc đỉnh cuối cùng trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Huyền đỉnh nặng 1.935kg, được đặt bên phải Tuyên đỉnh, đối diện khám thờ vua Duy Tân trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Huyền đỉnh là chữ “Huyền đỉnh”. Cũng giống như Dụ đỉnh, tên của Huyền đỉnh không phải là thụy hiệu của bất kì vị vua nào trong triều Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Ngũ diệp lan”, nghĩa là cây ngọc lan, một loài cây thân gỗ thường được trồng trong vườn lấy bóng mát, có hoa rất thơm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế tiếp là hình tượng “Lệ chi”, nghĩa là cây vải, loài cây trồng lấy quả làm đặc sản tiến vua của một số địa phương ở đồng bằng sông Hồng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Toán” là cây tỏi, cây gia vị có họ với cây hành, hẹ, kiệu từng xuất hiện trên ba chiếc đỉnh khác của Cửu đỉnh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam sâm” là cây sâm ta, một dược liệu quý của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Miên” là cây bông, loài cây trồng lấy sợi phục vụ nghề dệt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thốc thu” là chim phù lão hay chim già đẫy, một loài chim trọc đầu trông giống như ông già, sinh sống tại các vùng ngập nước Nam Bộ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Hồng”, nghĩa là cầu vồng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hậu giang, Tiền giang” là sông Tiền và sông Hậu, hai dòng sông chính của đồng bằng sông Cửu Long.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vũ” là mưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng sơn” là đèo Ngang, con đèo nằm ở ranh giới Hà Tĩnh và Quảng Bình, một thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung Việt Nam. Trên đèo có một cửa ải gọi là Hoành Sơn Quan án ngữ đường qua đèo.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Thao hà”, tức sông Thao, dòng sông lớn có vai trò quan trọng với giao thông và thủy lợi ở đất tổ Phú Thọ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quế đố” là con cà cuống, loài côn trùng lớn sống dưới nước, được khai thác lấy tinh dầu làm gia vị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Xa” nghĩa là xe.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mãng xà” là con mãng xà, theo quan niệm dân gian là loài rắn lớn nhất, vua của các loài rắn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hỏa phún đồng” là ống phun lửa, một loại hỏa khí của quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tất mộc” là cây sơn, nguyên liệu làm sơn ta, một vật liệu quý thường được dùng để sơn phủ đồ gỗ, có khả năng chống thấm nước, chịu nhiệt, ngăn ngừa chuột bọ…

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Sơn mã” là con mang, một loài hươu nhỏ sinh sống trong nhiều khu rừng ở Việt Nam.

    Theo KIẾN THỨC

  • Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Quan Tượng Đài – đài thiên văn của triều Nguyễn – là một điểm tham quan thú vị dành cho những người muốn khám phá kiến trúc, lịch sử của kinh thành Huế xưa.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt NamVào năm 1827, dưới triều vua Minh Mạng, Quan Tượng Đài đã được xây dựng ở kinh thành Huế để làm nơi quan sát thiên văn, khí tượng, khí hậu, thời tiết của triều đình nhà Nguyễn.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Đài thiên văn này thuộc sự quản lý của Khâm Thiên Giám, là cơ quan có chức năng xem thiên văn, dự báo khí hậu thời tiết, làm lịch, coi đất, chọn ngày tốt… cho các hoạt động của triều đình cũng như dân chúng.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Vị trí của Quan Tượng Đài nằm ở thượng thành (mặt trên thành) góc Tây Nam Hoàng thành, thuộc phạm vi pháo đài Nam Minh (hiện thuộc địa phận phường Thuận Hoà, thành phố Huế).

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Công trình có hai phần chính: phần nền đài và kiến trúc bên trên có tên là đình Bát Phong.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Nền đài gồm hai phần, phần trước là khối kiến trúc hình tứ giác có dạng tương tự như một pháo đài, phần sau là dãy bậc cấp thoai thoải dẫn lên trên mặt nền.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Đình Bát Phong nằm trên nền đài, là một tòa đình có 8 cạnh, hai tầng mái, được chống đỡ bằng 12 cột gỗ.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Từ nơi đây, các nhà chiêm tinh của cơ quan Khâm Thiên Giám sẽ dùng kính thiên văn để quan sát mặt trời, trăng và các tinh tú.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Các hiện tượng thời tiết thông thường như mưa, nắng, gió và bất thường như hạn hán, lũ lụt cũng được ghi nhận từ đây rồi báo cáo về cho vua nhằm có kế hoạch ứng phó trong triều đình và dân chúng.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Quan Tượng Đài là công trình dạng đài thiên văn thứ hai được ghi nhận trong lịch sử phong kiến Việt Nam, và là công trình duy nhất còn lại dấu tích.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Trước đó, vào thời Hậu Lê, ở Kinh đô Thăng Long đã có một đài thiên văn và cơ quan Khâm Thiên Giám, nhưng đã mất hoàn toàn dấu vết. Những gì còn lưu lại chỉ là một tên phố Khâm Thiên.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Cho tới những năm 1960, Quan Tượng Đài ở Huế vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Sau đó, vì bị bỏ hoang và chịu tác động từ chiến tranh, công trình đã xuống cấp, hư hại nặng nề.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Từ tháng 10/2012 – 9/2013, Quan Tượng Đài đã được tu bổ phục hồi, trong đó, đình Bát Phong được phục dựng mới hoàn toàn theo kiến trúc cũ.

    Đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam

    Ngày nay, nơi đây là một điểm tham quan thú vị dành cho những người muốn khám phá kiến trúc, lịch sử của kinh thành Huế xưa.

    Theo KIẾN THỨC