Tag: cổ vật

  • Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Các hình khắc trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn được coi là một cuộc triển lãm những tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời, mang tính biểu tượng cho sự giàu đẹp của nước Việt. Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1/3/1837, gồm 9 chiếc đỉnh bằng đồng, lấy ý tưởng từ Cửu đỉnh của nhà Hạ ở Trung Hoa.

    Đỉnh hay vạc vốn là đồ để nấu ăn thời xưa, được đúc bằng kim loại, thường có hai quai và ba chân, nhưng được các bậc vua chúa tôn lên là tượng pháp để tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ. Trước khi có Cửu Đỉnh, các vua chúa nhà Nguyễn từng cho đúc nhiều đỉnh đồng để xác định quyền uy của triều đại.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Cửu Đỉnh được đặt ở trước Hiển Lâm Các theo một hàng ngang, đối diện với Thế Miếu, ứng với án thờ của các vua nhà Nguyễn trong Thế Miếu. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn, lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.

    Nhìn chung, cả chín chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là “Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi” tức là năm 1835. Nhưng mỗi đỉnh cũng có nét riêng, thể hiện ở kiểu dáng quai, vành miệng, vai, chân và đáy.

    Đặc biệt, mỗi đỉnh được chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí… Các bức chạm này tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.

    1. Cao đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Cao đỉnh nặng 2.603kg, được đặt ở vị trí trung tâm, ứng với khám thờ vua Gia Long trong Thế Miếu ở hoàng thành Huế. So với 8 đỉnh còn lại, Cao đỉnh được đặt nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập triều đại.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Cao đỉnh là chữ “Cao đỉnh”, chính là thụy hiệu của vua Gia Long.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Cao đỉnh là hình tượng “Long”, nghĩa là con rồng, biểu tượng cho quyền lực của hoàng đế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế đến là hình tượng “Ba la mật”, nghĩa là cây mít, loài cây ăn quả quen thuộc ở các làng quê Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Canh” là cây lúa tẻ, nông sản gắn liền với nền sản xuất của người Việt từ xa xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

     Hình tượng “Thông” nghĩa là cây hành, loại rau gia vị quen thuộc của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử vi hoa” là hoa tường vi, một loài hoa mọc thành chùm màu tím rất đẹp.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trĩ” là chim trĩ, loài chim rừng có họ với gà, sở hữu bộ lông màu sắc rực rỡ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Đông Hải”, nghĩa là Biển Đông, vùng biển gắn với chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Tế hà” là kênh Vĩnh Tế, con kênh đào vĩ đại ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được vua Gia Long cho khởi công vào năm 1819.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhật” nghĩa là mặt trời.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngưu Chữ giang” là kênh Bến Nghé, một huyết mạch giao thông đường thủy ở Sài Gòn – Gia Định.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thiên Tôn Sơn” là núi Thiên Tôn ở thôn Gia Miêu, Thanh Hóa, nơi phát tích của vương triều Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Cao đỉnh” là “Thiết mộc”, tức cây gỗ lim, loại cây cho gỗ rất cứng và bền, thường được dùng làm cột đình, chùa, cung điện.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hổ” là con hổ, loài vật biểu tượng cho sức mạnh, phân bố trong hầu khắp các khu rừng rậm ở Việt Nam xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đa tác thuyền” là tên nhà Nguyễn gọi thuyền buồm, loại thuyền đi biển đường dài có xuất xứ phương Tây.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại bác” là sùng đại bác, hỏa khí chủ lực trong quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trầm hương”: Cây trầm hương, một loài cây cho gỗ có mùi thơm rất quý hiếm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Miết” là con ba ba, một thủy sản có giá trị được khai thác tại nhiều sông hồ của Việt Nam.

    2. Nhân đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Nhân đỉnh nặng 2.515kg, được đặt bên trái Cao đỉnh, ứng với khám thờ vua Minh Mạng trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Nhân đỉnh là chữ “Nhân đỉnh”, thụy hiệu của vua Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Nhân đỉnh là hình tượng “Ngô đồng”, nghĩa là cây ngô đồng, loài cây thân gỗ được trồng khá nhiều ở kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Kỳ nam” là gỗ kỳ nam, loại trầm hương phẩm chất cao nhất, hết sức quý hiếm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nọa” là cây lúa nếp, giống lúa dẻo và thơm song hành cùng lúa tẻ trên các ruộng lúa Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam trân” là cây bòn bon, loài cây cho quả từng trở thành nguồn thực phẩm cứu sống chúa Nguyễn Ánh khi phải ẩn náu trong rừng để tránh sự truy lùng của quân Tây Sơn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Liên hoa” là hoa sen, loài hoa tượng trưng cho sự cao quý bất chấp nghịch cảnh, đồng thời cũng là một loài hoa của đạo Phật.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khổng tước” là chim công, loài chim có bộ lông rực rỡ được mệnh danh là nữ hoàng của các loài chim.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Nhân đỉnh” là “Nam Hải”, nghĩa là vùng biển phía Nam nước Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phổ Lợi hà” là sông Phổ Lợi, con sông do vua Minh Mạng cho đào năm 1835, nối sông Hương với cửa biển Thuận An, có vai trò giao thông và thủy lợi quan trọng với kinh thành Huế xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nguyệt” là mặt trăng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hương giang” là sông Hương, dòng sông biểu tượng chảy qua kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngự Bình sơn” là núi Ngự Bình, có hình dáng như bức bình phong, cùng với sông Hương tạo thành cảnh quan đặc trưng của Huế: Sông Hương núi Ngự.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Nhân đỉnh” là “Nhân ngư”, một cách gọi cá voi, loài cá thiêng phù trợ người đi biển theo quan niệm của người dân miền biển Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cửu” là cây hẹ, một loài cây gia vị gần gũi với hành.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lâu thuyền” là thuyền lầu, loại thuyền nhiều tầng thường được dùng cho nhà vua, người hoàng tộc và các quan đại thần, binh sĩ hộ giá đi lại trên sông Hương.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Luân xa pháo” là súng đại bác đặt trên xe, phiên bản cơ động, thường có kích thước nhỏ của súng đại bác.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Báo” là con báo, loài vật họ mèo chỉ đứng dưới con hổ về độ “hổ báo” trong rừng rậm Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại mạo” là con đồi mồi, loài rùa biển có mai đẹp, thịt ngon, là sản vật quý thường được dùng tiến vua.

    3. Chương đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chương đỉnh là chiếc đỉnh thứ ba trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, nặng 2.099kg, được đặt bên phải Cao đỉnh, ứng với khám thờ vua Thiệu Trị trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Chương đỉnh là chữ “Chương đỉnh”, thụy hiệu của vua Thiệu Trị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, phía trái của chữ Chương đỉnh là hình tượng “Mạt lị”, nghĩa là hoa nhài, loài hoa thơm được trồng phổ biến trong các khu vườn của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hình tượng “Am la” là cây xoài, một loài cây ăn trái quen thuộc của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đậu khấu” là cây đậu khấu, loại cây có quả được sử dụng làm vị thuốc quý trong Đông dược.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lục đậu” là cây đậu xanh, loại ngũ cốc có vai trò quan trọng trong nền ẩm thực Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Giới” là cây kiệu, loại rau gia vị có họ với hành, hẹ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Kê” là con gà, loài gia cầm gắn liền với mọi xóm làng của người Việt.
    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Chương đỉnh” là hình tượng “Thượng sơn”, nghĩa là núi Thượng, tức núi Kim Phụng, một danh thắng nằm ở Hương Trà, Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lợi Nông hà” là sông Lợi Nông, tức sông An Cựu, chi lưu của sông Hương ở phía Nam kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mộc tinh, Hỏa tinh, Thổ tinh, Kim tinh, Thủy tinh” là sao Mộc, sao Hỏa, sao Thổ, sao Kim, sao Thủy, các tinh tú có vai trò quan trọng trong thiên văn cổ phương Đông.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Linh Giang” là sông Gianh, dòng sông ở Quảng Bình từng là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tây Hải” là vùng biển phía Tây nước Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Chương đỉnh” là hình tượng “Thuận mộc”, nghĩa là cây gỗ huỳnh, hay gỗ sưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngạc ngư” là con cá sấu, loài bò sát khổng lồ sinh sống tại nhiều vùng ngập nước ở Nam Bộ thời xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mông đồng thuyền” là mẫu thuyền chiến cơ động có đáy nông, nhiều tay chèo, trang bị nỏ mạnh, có mái gỗ để che tên đạn của nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Điểu thương” là loại súng hỏa mai được sử dụng phổ biến trong quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tê” là con tê giác, loài động vật quý hiếm ngày nay đã tuyệt chủng ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Linh quy” là rùa thiêng, một linh vật trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

    4. Anh đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ tư trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Anh đỉnh, nặng 2.576kg, được đặt bên trái Nhân đỉnh, ứng với khám thờ vua Tự Đức trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Anh đỉnh là chữ “Anh đỉnh”, thụy hiệu của vua Tự Đức.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Thiền”, nghĩa là con ve, loài côn trùng gắn liền với mùa hạ ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tô hợp” là cây tô hợp, loài cây thuốc quý trong Đông y.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Uất kim” là cây nghệ, loài cây cho củ vừa dùng làm gia vị, vừa là dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tân lang” là cây cau, loài cây thường được trồng làm cảnh và thu hoạch quả ở vùng quê Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khôi hạc” là chim hạc, một loài chim được coi là có tính cách của người quân tử theo quan niệm truyền thống.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mai khôi hoa” là cây hoa hồng, loài cây cho hoa thơm và đẹp, được trồng phổ biển trong các khu vườn xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa: Bên trái chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Ngân hán”, nghĩa là dải ngân hà.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mã giang” là sông Mã, một con sông lớn ở miền Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bắc Đẩu” là sao Bắc Đẩu, chòm sao gồm 7 ngôi sao nằm ở phương Bắc, được người xưa dùng làm dấu mốc xác định phương hướng vào ban đêm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lô hà” là sông Lô, phụ lưu tả ngạn của sông Hồng ở khu vực miền núi phía Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồng sơn” là núi Hồng Lĩnh, dãy núi nổi tiếng được coi là hồn thiêng của xứ Nghệ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Anh đỉnh” là hình tượng “Mã”, nghĩa là con ngựa, loài gia súc được sử dụng làm phương tiện vận chuyển thời xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tang” là cây dâu tằm, loài cây gắn liền với nghề dệt của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Kỳ” là lá cờ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồ điệp tử” là đạn bươm bướm, loại đạn đại pháo khi nổ bung ra tứ phía trông như tổ kén của con bướm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhiêm xà” là con trăn, loài bò sát dạng rắn khổng lồ sinh sống trong nhiều vùng rừng rậm của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử mộc” là cây gỗ kiến, loài cây được sử dụng để sản xuất sơn cánh kiến, một nguyên liệu quý dùng để quét lên gỗ nhằm tạo độ bóng và tăng độ bền.

    5. Nghị đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ năm trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Nghị đỉnh, nặng 2.542kg, được đặt bên phải Chương đỉnh, ứng với khám thờ vua Kiến Phúc trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Nghị đỉnh là chữ “Nghị đỉnh”, thụy hiệu của vua Kiến Phúc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Mai”, nghĩa là cây hoa mai, loài cây nằm trong bộ Tứ quý Tùng, Cúc, Trúc, Mai theo quan niệm truyền thống của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Tiếp theo là hình tượng “Đàn mộc”, nghĩa là cây hoàng đàn, loài cây cho gỗ có mùi thơm đặc biệt quý hiếm, thường được dùng làm tượng thần, phật hoặc các đồ dùng sang trọng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quế” là cây quế, loài cây được trồng để khai thác vỏ và gỗ với nhiều công dụng như làm gia vị, dược liệu, đồ mỹ nghệ…

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Biển đậu” là cây đậu ván, loài cây ngũ cốc họ đậu được trồng phổ biến ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hải đường hoa” là hoa hải đường, loài hoa tượng trưng cho phú quý, thường được trưng trong nhà vào dịp Tết theo văn hóa truyền thống của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hồ da tử” là con đuông dừa, loài côn trùng đặc sản của Nam Bộ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Quảng Bình quan”, nghĩa là cửa ải Quảng Bình, một cửa ải án ngữ đường thiên lý Bắc Nam thuộc hệ thống lũy Thầy, có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cửu An hà” là sông Cửu An, một con sông có vai trò quan trọng với nông nghiệp ở khu vực Hài Dương, Hưng Yên.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam Đẩu” là sao Nam Đẩu, một mảng sao gồm sáu ngôi nằm ở hướng Nam, ngược hướng với chòm sao Bắc Đẩu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạch Đằng giang” là sông Bạch Đằng, dòng sông gắn với những chiến thắng huyền thoại của người Việt trước quân xâm lược phương Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thuận An hải khẩu” là cửa biển Thuận An, cửa biển có vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng với kinh thành Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Nghị đỉnh” là hình tượng “Lục hoa ngư”, nghĩa là cá lóc, loài cá nước ngọt kích cỡ trung bình, cho thịt ngon, được đánh bắt tại nhiều vùng miền của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Giới” là cây rau cải, loài rau được trồng phổ biến, dùng để chế biến nhiều món ăn khác nhau hoặc muối dưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trường thương” là giáo dài, một loại vũ khí cơ bản của quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hải đạo” là loại thuyền chèo rất linh hoạt phục vụ hoạt động chiến đấu trên biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Uyên ương” là chim uyên ương, loài chim nước nổi tiếng với bộ lông đẹp và sự thủy chung.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tượng” là con voi, loài vật khổng lồ có vai trò quan trọng trong biên chế quân đội nhà Nguyễn.

    6. Thuần đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Thuần đỉnh nặng 1.952kg, được đặt bên trái Anh đỉnh, ứng với khám thờ vua Đồng Khánh trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Thuần đỉnh là chữ “Thuần đỉnh”, thụy hiệu của vua Đồng Khánh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Thuần đỉnh” là hình tượng “Đào”, nghĩa là cây đào, loài cây vừa cho hoa đẹp vào mùa xuân, vừa cho quả ngon.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế đến là “Súc sa mật”, nghĩa là cây sa nhân, loài cây có hạt dùng làm gia vị, là, hạt và quả dùng làm dược liệu trong y học cổ truyền.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hương nhu” là cây hương nhu, cũng là một dược liệu quen thuộc của người Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng đậu” là cây đậu nành, một loài cây ngũ cốc họ đậu khác xuất hiện trên Cửu đỉnh bên cạnh đậu xanh (Chương đỉnh) và đậu ván (Nghị đỉnh).

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quỳ hoa” là cây hoa hướng dương, được trồng để lấy hoa làm cảnh và lấy hạt làm thực phẩm, dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng anh” là chim vàng anh, một loài chim đẹp có bộ lông màu vàng rực rỡ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa. bên trái chữ “Thuần đỉnh” là hình tượng “Tản Viên sơn”, là núi Tản Viên hay núi Ba Vì, ngọn núi thiêng gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Định hà” là sông Vĩnh Định, con sông đào vua Minh Mạng cho khởi công ở Quảng Trị năm 1824.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phong” là gió.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thạch Hãn giang” là sông Thạch Hãn, con sông có vai trò quan trọng về giao thông và thủy lợi ở Quảng Trị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cần Giờ hải khẩu” là cửa biển Cần Giờ, cửa ngõ đường biển trọng yếu của thành Gia Định (Sài Gòn).

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, về phía trái chữ Thuần đỉnh là hình tượng “Đăng sơn ngư”, nghĩa là cá rô ta, loài cá sống nhiều ở ruộng đồng, có biệt tài vượt cạn, là món ăn dân dã quen thuộc của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạng” là con ngao, một hải sản được khai thác ở hầu khắp các vùng ven biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

     “Bài đao” là giá gác đao, vật dụng thể hiện tinh thần võ học của người Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đỉnh” là loại thuyền thon nhỏ, nhiều tay chèo, vừa dùng để đua trong các lễ cầu mưa, các ngày lễ hội, vừa dùng trong chiến đấu được trang bị cho quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam mộc” là cây gỗ chò, loại gỗ có độ bền cao được người Việt ưa chuộng trong xây dựng, làm đồ nội thất.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ly ngưu” là con bò tót, loài bò hoang dã có hình thể lớn và sức khỏe địch được cả hổ báo.

    7. Tuyên đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Tuyên đỉnh nặng 2.068kg, được đặt bên phải Nghị đỉnh, ứng với khám thờ vua Khải Định trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Tuyên đỉnh là chữ “Tuyên đỉnh”, thụy hiệu của vua Khải Định.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Tần cát liễu”, nghĩa là chim yểng, loài chim cảnh nổi tiếng với khả năng nhại tiếng người.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Yến oa” là tổ yến, một sản vật tiến vua quý giá thường được khai thác ở các vách đá cheo leo bên bờ biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Long nhãn” là cây/quả long nhãn, cũng là một sản vật tiến vua thời xưa.
    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Trân châu hoa” là hoa sói trắng, loài hoa nhỏ mọc thành chùm như chuỗi hạt trân châu, mùi thơm dịu, thường được dùng để ướp trà.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Địa đậu” là cây lạc hay đậu phộng, một loại ngũ cốc quen thuộc ở Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bá” là cây trắc bá diệp, loài cây vừa được trồng làm cảnh, vừa là loại dược liệu đa dụng trong Đông y.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Duệ sơn”, tức núi Duệ hay núi Lễ, là một danh thắng của đất Hương Trà ở xứ Huế.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nhĩ hà” là sông Nhĩ, tức sông Hồng, hệ thống sông lớn nhất của miền Bắc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vân” nghĩa là mây.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đại Lãnh” là mũi Đại Lãnh, một mỏm núi đâm ra biển, danh thắng của đất Phú Yên.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lam giang” là sông Lam, dòng sông cùng với núi Hồng Lĩnh được coi là biểu tượng của xứ Nghệ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Tuyên đỉnh” là hình tượng “Hậu ngư”, tức là con sam, một hải sản quý được khai thác ở một số vùng biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Khương” là cây gừng, loài cây được trồng lấy củ làm gia vị hoặc dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nỗ” là cái nỏ, một loại vũ khí tầm xa được quân đội nhà Nguyễn sử dụng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lê thuyền” là một loại thuyền có 12 tay chèo, được đóng khá nhiều dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thỉ” là con lợn, một gia súc được nuôi lấy thịt rất quen thuộc ở vùng nông thôn Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ngoan” là con vích, loài rùa biển cỡ nhò thường được khai thác để lấy thịt làm thực phẩm và lấy mai làm đổ mỹ nghệ.

    8. Dụ đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chiếc đỉnh thứ tám trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn là Dụ đỉnh, nặng 2.020kg, được đặt bên trái Thuần Đỉnh, đối diện khám thờ vua Hàm Nghi trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Dụ đỉnh là chữ “Dụ đỉnh”. Khám với các đỉnh trước, tên của Dụ đỉnh không phải là thụy hiệu của bất kì vị vua nào triều Nguyễn, do các vị vua sau thời Khải Định đều không có thụy hiệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Anh vũ”, nghĩa là chim vẹt, cũng là loài chim rất giỏi nhại tiếng người như chim yểng trên Tuyên đỉnh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phù lưu” là cây trầu, loài cây được trồng lấy lá, gắn bó mật thiết với tục ăn trầu của người Việt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Bạch đậu” là cây đậu trắng, loài ngũ cốc họ đậu thứ năm xuất hiện ở Cửu đỉnh, bên cạnh đậu ván, đậu xanh, đậu nành và lạc.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thuần hoa” là cây hoa dâm bụt, loài cây có hoa đỏ rất đẹp thường được trồng làm hàng rào ở nông thôn Việt xưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tùng” là cây tùng, loài cây lá kim tượng trưng cho sự trường tồn, vỉnh cửu theo quan niệm Á Đông.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Hải Vân quan”, nghĩa là cửa ải Hải Vân, một cửa ải quan trọng trấn giữ đường thiên lý Bắc – Nam, có từ thời Lê, được củng cố và mở rộng dưới thời vua Minh Mạng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vĩnh Điện hà” là sông Vĩnh Điện, con sông chảy qua đất Quảng Nam – Đà Nẵng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Lôi” là sấm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vệ giang” là sông Vệ, một con sông nằm ở Quảng Ngãi.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Đà Nẵng hải khẩu” là cửa biển Đà Nẵng, chính là cửa Hàn, cửa biển có vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng của Đà Nẵng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Dụ đỉnh” là hình tượng “Thạch thủ ngư”, tức cá mú, một loài cá biển có thịt ngon được khai thác tại nhiều vùng biển của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tử tô” là cây tía tô, loài cây bụi có lá màu tím, được dùng làm gia vị và dược liệu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Ô thuyền” là loại thuyền đi biển sơn màu đen, cánh buồm cũng đen, có 12 tay chèo, thường trang bị cho quân tuần tiễu dọc bờ biển.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Phác đạo” là loại đao có cán dài, thường được trang bị cho binh lính trận mạc và lực lượng hộ giá vòng ngoài của triều đình nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Cáp” là con sò, loài hải sản có họ với con ngao (trên Thuần đỉnh), được khai thác ở các vùng ven biển Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Dương” là con dê, loài gia súc được nuôi nhiều tại một số vùng núi đá của Việt Nam.

    9. Huyền đỉnh

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Là chiếc đỉnh cuối cùng trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn, Huyền đỉnh nặng 1.935kg, được đặt bên phải Tuyên đỉnh, đối diện khám thờ vua Duy Tân trong Thế Miếu.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Chính giữa của Huyền đỉnh là chữ “Huyền đỉnh”. Cũng giống như Dụ đỉnh, tên của Huyền đỉnh không phải là thụy hiệu của bất kì vị vua nào trong triều Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng trên, về phía trái của chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Ngũ diệp lan”, nghĩa là cây ngọc lan, một loài cây thân gỗ thường được trồng trong vườn lấy bóng mát, có hoa rất thơm.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Kế tiếp là hình tượng “Lệ chi”, nghĩa là cây vải, loài cây trồng lấy quả làm đặc sản tiến vua của một số địa phương ở đồng bằng sông Hồng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Toán” là cây tỏi, cây gia vị có họ với cây hành, hẹ, kiệu từng xuất hiện trên ba chiếc đỉnh khác của Cửu đỉnh.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Nam sâm” là cây sâm ta, một dược liệu quý của Việt Nam.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Miên” là cây bông, loài cây trồng lấy sợi phục vụ nghề dệt.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Thốc thu” là chim phù lão hay chim già đẫy, một loài chim trọc đầu trông giống như ông già, sinh sống tại các vùng ngập nước Nam Bộ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng giữa, bên trái chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Hồng”, nghĩa là cầu vồng.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hậu giang, Tiền giang” là sông Tiền và sông Hậu, hai dòng sông chính của đồng bằng sông Cửu Long.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Vũ” là mưa.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hoàng sơn” là đèo Ngang, con đèo nằm ở ranh giới Hà Tĩnh và Quảng Bình, một thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung Việt Nam. Trên đèo có một cửa ải gọi là Hoành Sơn Quan án ngữ đường qua đèo.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    Hàng dưới, bên trái chữ “Huyền đỉnh” là hình tượng “Thao hà”, tức sông Thao, dòng sông lớn có vai trò quan trọng với giao thông và thủy lợi ở đất tổ Phú Thọ.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Quế đố” là con cà cuống, loài côn trùng lớn sống dưới nước, được khai thác lấy tinh dầu làm gia vị.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Xa” nghĩa là xe.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Mãng xà” là con mãng xà, theo quan niệm dân gian là loài rắn lớn nhất, vua của các loài rắn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Hỏa phún đồng” là ống phun lửa, một loại hỏa khí của quân đội nhà Nguyễn.

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Tất mộc” là cây sơn, nguyên liệu làm sơn ta, một vật liệu quý thường được dùng để sơn phủ đồ gỗ, có khả năng chống thấm nước, chịu nhiệt, ngăn ngừa chuột bọ…

    Ý nghĩa các hình tượng trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

    “Sơn mã” là con mang, một loài hươu nhỏ sinh sống trong nhiều khu rừng ở Việt Nam.

    Theo KIẾN THỨC

  • 4 chiếc ấn tín độc nhất triều Nguyễn

    4 chiếc ấn tín độc nhất triều Nguyễn

    Trong 143 năm tồn tại của mình, nhà Nguyễn cũng như các vương triều trước đó đều coi ấn tín biểu thị cho quyền lực tối cao, là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền. Triều Nguyễn đã cho làm hơn 100 chiếc ấn báu, có rất nhiều loại ấn tín khác nhau từ hình dáng đến họa tiết, chất liệu… Rất nhiều trong số đó là những ấn tín độc đáo có một không hai.

    1. Vua Minh Mạng và những chiếc ấn ngọc “tình cờ có được”

    Điển hình nhất, có giá trị cao nhất là loại ấn tín của hoàng đế được gọi chung là “Kim ngọc Bảo tỷ”. Kim Ngọc Bảo tỷ là những ấn của nhà vua dùng trong trường hợp danh nghĩa quốc gia trọng đại hay được đóng trên các văn bản quan trọng. Những loại ấn này nếu được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc tỷ”, được đúc bằng vàng gọi là “Kim Bảo tỷ”.

    Vua Minh Mạng trong thời gian ở ngôi đã cho làm nhiều loại ấn tín bằng các chất liệu khác nhau với mục đích sử dụng cụ thể. Ngoài ra trong số ấn tín của vua lại có những chiếc ấn có được một cách tình cờ. Sách Minh Mạng chính yếu cho biết vào năm Mậu Tý (1828) “có người ở Quảng Trị là Nguyễn Đăng Khoa, được viên ngọc tỷ đem vào dâng vua, trong có khắc bốn chữ: “Vạn thọ vô cương” bằng lối chữ triện.”

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)

    Các quan đều tâu mừng rằng: “Đây là điềm đức Hoàng thượng thọ khảo và phúc quốc gia vô cương vậy!”. Nhà vua đem việc ấy mà dụ các quan rằng: “Khi trẫm mới lên ngôi, người ở Long triều đã từng dâng ngọc tỷ khắc bốn chữ: “Trung hòa vị dục”, nay lại được ngọc tỷ này, xem nghĩa bốn chữ ấy thì có lẽ là bảo vật của triều trước di truyền, để lâu ngày mờ ám nên chưa biết rõ”.

    Về sau người ở Đông Trì, tỉnh Thừa Thiên là Hoàng Nghĩa Thắng đào được một ngọc tỷ đem dâng, trong có khắc bốn chữ nổi là: “Phong cương vạn thổ”.

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Phong cương vạn cổ được làm bằng loại bích ngọc, quai núm vuông, 4 mặt vát hình thang chạm khắc 2 hàng hồi văn chữ S, 4 phía thành hình chữ nhật. (Ảnh: Internet)

    Trên mặt núm vuông chạm hình rồng. Mặt ấn chạm 4 chữ Triện: Phong cương vạn cổ. Ấn này không thấy ghi chép trong sách vở nào nhưng rất cổ kính và độc đáo.

    Sách Quốc sử di biên cũng cho biết như sau: “Lấy được ấn ngọc ở Quảng Bình. Tôn Thất Sưởng bắt được ở xã Nhan Biều, trấn Quảng Bình, ấn có bốn chữ “Vạn thọ vô cương”. Chiếu cho dùng ấn ngọc này đóng vào tờ ấn chiếu tiết Vạn Thọ. Trước có 6 ấn ngọc như “Quốc gia tín bảo”, “Trị lịch minh thời”.v.v…, đến đây, tăng thêm 6 ấn ngọc nữa là “Hoàng đế chi tỷ”, “Tôn nhân chi tỷ”, “Khâm văn”, “Duệ vũ”, “Sắc chánh vạn dân” và “Thảo tội an dân”, cộng với 6 ấn cũ thành 12 ấn ngọc, đều tùy việc mà dùng”.

    2. Chiếc ấn báu của vua Thiệu Trị được làm từ một viên ngọc cực quý hiếm

    Theo sử sách ghi lại, vào năm Bính Ngọ niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846) có người dân trong khi tìm vàng và đá quý ở núi Ngọc, huyện Hòa Điền, vùng đất Quảng Nam đã đào được một viên ngọc cực lớn, ánh sắc rực rỡ vô cùng bèn dâng vua. Thấy đây là viên ngọc quý hiếm, vua Thiệu Trị rất mừng cho là điềm may mắn liền sai quan Hữu tư mang đi mài dũa, chế tác làm thành quả ấn.

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Ấn ngọc “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. (Ảnh: Internet)

    Sau thời gian một năm trời bỏ công sức, trổ hết tài năng, thợ khắc đã chế tác xong chiếc ấn dâng lên, vua Thiệu Trị xem thấy ngọc tỉ cứng rắn, đẹp đẽ, ôn nhuận sáng sủa, trên núm ấn là hình rồng uốn khúc, cao hơn 4 tấc, mặt hình dấu khắc theo hình vuông, kích thước 3,1×3,1cm. Nhà vua cũng quyết định chọn thời điểm đẹp, ngày tốt là ngày 15 tháng 3 năm Đinh Mùi (1847), tổ chức việc khắc chữ triện vào Ngọc tỉ đúng theo nghi lễ.

    Hôm đó vua Thiệu Trị đích thân làm lễ Đại tự, thỉnh mệnh trời đất, kính yết Tổ khảo giúp vận nước lâu dài, và khắc lên mặt ấn ngọc 9 chữ Triện: “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ” (Ngọc Tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời)Nghi lễ xong xuôi, vua lệnh cho các cung giám phụng mang cất giữ cẩn thận ở điện Trung Hòa trong Càn Thành.

    Với bảo ấn đó, vua Thiệu Trị cho dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ và nó được coi trọng bảo vệ như Kim bảo “Nam Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn tri bảo” được đúc theo lệnh của chúa của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu và truyền lại sử dụng trong thời gian cầm quyền của các chúa Nguyễn sau đó.

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    (Ảnh: Internet)

    3. Vua Đồng Khánh và chiếc ấn làm từ “thiên thạch”

    Để tỏ ý thân thiện hữu hảo với vua Đồng Khánh, chính phủ Pháp một món quà rất đặc biệt. “Đối với một vị con Trời như vua Đồng Khánh, không gì hay hơn là nên tặng vua một bảo vật đến từ trời. Vậy, tôi xin yêu cầu chính phủ xứ ta hãy cố tìm cho ra một thiên thạch, sau đó hãy khắc và tiện nó ra thành một cái ấn qúy”, Stanislas Meunier – nhà địa chất học, khoáng vật học, nhà báo khoa học- đã cố vấn cho Tổng thống Pháp và nhận trọng trách đi tìm báu vật.

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Viên thiên thạch ‘trong mơ’ ấy cuối cùng cũng đã được tìm thấy tại thành phố Vienne – Áo. (Ảnh minh hoạ: Internet)

    Stanislas Meunier đã phải khắp các nơi để tìm một thiên thạch vừa ý, cuối cùng, tại thành phố Vienne (Áo), ông mới mua được một khối đá đã rơi xuống trái đất vào ngày 30/1/1868 tại Pultusk (Ba Lan). Thiên thạch này không bị nứt nẻ, có dáng đẹp mắt, kích thước thích hợp. Ông mừng quá và mang về giao cho thợ kim hoàn chế tạo. Mặt ấn bằng vàng ròng, có khắc chữ: “Le gouvernement de la République Française à S. M. Dong-Khanh, roi d’Annam” (Chính phủ cộng hoà Pháp tặng vua Đồng Khánh, quốc vương xứ An Nam).

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Chiếc ấn của chính phủ Pháp tặng vua Đồng Khánh và mặt ấn. (Ảnh: Sachxua)

    Theo sách “Đồng Khánh chính yếu”, món quà này được gửi tới vua Đồng Khánh vào tháng 12 năm Đinh Hợi (1887). Khi nhận được chiếc ấn ngọc được gọi là Kim tinh hắc hỏa, vua đã viết thư cảm ơn chính phủ Pháp sau đó ban hành tờ cáo dụ cho toàn dân được biết.

    4. Chiếc ấn báu nặng nhất thuộc về vị vua cuối cùng Bảo Đại – 10,7kg

    Chiếc ấn quan trọng nhất, biểu tượng cho hoàng đế là ấn Hoàng đế chi bảo. Chiếc bảo ấn lớn và đẹp nhất Triều Nguyễn này được đúc bằng vàng ròng vào mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư (15-3-1823). Căn cứ theo ảnh tư liệu có được, TS. Phan Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, mô tả bảo ấn này như sau:

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Ấn Hoàng Đế chi bảo nặng nhất (10,7kg vàng) hiện đang ở tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Ảnh: Internet)

    … Ấn đúc hình vuông, quai ấn là một con rồng uốn khúc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng về phía trước. Đỉnh đầu rồng khắc hình chữ vương; kỳ (vây lưng) dựng đứng; đuôi cũng dựng đứng, vây đuôi uốn cong về phía trước; 4 chân rồng đúc rõ 5 móng, tư thế chống chân xuống mặt ấn rất vững vàng. Mặt dưới của ấn khắc 4 chữ triện Hoàng đế chi bảo. Mặt trên của ấn, phía 2 bên quai khắc nổi 2 dòng chữ: Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo (đúc vào giờ tốt mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4); Thập thành hoàng kim, trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân (đúc bằng vàng, trọng lượng 280 lạng 9 chỉ 2 phân – Nếu tính 27 lạng tương đương 1kg thì chiếc ấn này nặng khoảng 10,7kg)”.

    Theo quy định của Triều Nguyễn, ấn Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi “…gặp khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ cũng là các cáo dụ thân huân, đi tuần thú các nơi để xem xét các địa phương, mọi điển lễ long trọng ấy, và ban sắc, thư cho ngoại quốc”.

    4 chiếc ấn tín độc nhất Việt Nam
    Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo” thời vua Minh Mạng (Ảnh chụp lại từ sách “Kim Ngọc Bảo Tỷ của hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”).

    Ánh Trăng tổng hợp

  • Thanh kiếm Thái A của vua Gia Long

    Thanh kiếm Thái A của vua Gia Long

    Thanh kiếm này được trưng bày tại bảo tàng Quân Đội Paris

    Xem thêm bài viết: Bộ sưu tập Kiếm & Đao của các danh tướng Việt Nam https://hinhanhvietnam.com/bo-suu-tap-kiem-dao-cua-cac-danh-tuong-viet-nam/

    Khách du lịch ghé qua Paris không thể không lại viếng Điện Quốc gia Phế binh (Hôtel National des Invalides) có tiếng nhiều nhờ đã chứa mồ của Vua Napoléon. Nhưng chớ nên quên trong tòa nầy còn có Viện Bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) là một trong những viện lớn nhất thế giới về mỹ thuật, kỹ thuật và lịch sử quân sự. Đặc biệt Phòng Đông Phương, Cận Đông và Viễn Đông từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 (Sale Orient, Proche Orient et Extrême-Orient du 15ème au 19ème siècle) trưng bày nhiều khí giới Ba Tư, Ấn Độ, Tích Lan,…những thanh gươm Trung Quốc, Nhật Bản… bao quanh một thanh bảo kiếm được ghi là của vua Gia Long.

    Thanh kiếm Thái A của vua Gia Long

    Thanh kiếm Thái A của vua Gia LongThanh kiếm Thái A của vua Gia LongThanh kiếm Thái A của vua Gia LongThanh kiếm Thái A của vua Gia LongThanh kiếm Thái A của vua Gia LongThanh kiếm Thái A của vua Gia Long

    Tôi không phải là người độc nhất tò mò đi tìm xem thanh gươm nầy. Nhưng tôi lại đã xin được ông Quản đốc Viện Bảo tàng mở tủ cho tôi chụp hình. Không biết bao giờ mới có dịp may như thế nầy, tôi đã chụp ngang, chụp dọc, chụp trên, chụp dưới,… Thanh kiếm gồm có hai phần: một lưỡi dài khoảng một thước và một cán ngắn bằng một phần năm lưỡi. Đầu cán là một đầu rồng, có thể đầu một con giao hay một con cù không sừng, bằng vàng chạm trổ. Có người Pháp cho nó giống một đầu con chó (Note E)(4). Cổ rồng nối liền đầu rồng và đốc kiếm (garde) làm thành đốc gươm (fusée) là một dãy bảy vòng ngọc thạch giống bảy đốt tre dính liền với nhau qua những đường gân bằng vàng với đằng cuối một vòng mạ vàng nằm giữa bốn chuỗi san hô xanh đỏ. Miệng rồng nhả ra một băng mạ vàng cũng mang phía ngoài bốn chuỗi san hô xanh đỏ uốn quanh về đốc kiếm làm thành cánh đốc kiếm (quillon). Ở đằng cuối, cánh đốc kiếm nầy mở rộng ra quanh lưỡi kiếm, có chạm trổ những hình lá và nạm những hột kim cương. Lưỡi kiếm hình hơi cong là một thanh thép sáng ngời, khắc ở phần trên một mặt trời nằm giữa mấy cuộn mây và tên gươm bằng ba chữ Hán: Thái A Kiếm. Tên nầy không phải ngẫu nhiên mà có.

    Trong hai cuốn Từ điển từ ngữ điển cố văn họcTừ ngữ văn Nôm1 có sự tích nầy: “Lúc nhà Tần chưa diệt được Ngô, Trương Hoa xem thiên văn thường thấy giữa sao Đẩu và sao Ngưu có luồng khí màu đỏ tía, các đao thuật đều nói đó là điềm báo nước Ngô đang buổi cường thịnh, chưa đánh được. Riêng Trương Hoa cho lời nói đó không đúng. Đến khi đánh lấy được Ngô rồi, luồng khí lại mạnh và sáng hơn. Trương Hoa mới đem chuyện hỏi Lôi Hoán, người giỏi về thiên văn thuật số. Lôi Hoán cùng Trương Hoa lên lầu cao quan sát một hồi lâu. Lôi Hoán nói: ‘Chỉ giữa sao Đẩu và sao Ngưu là có luồng khí lạ đó. Ấy là cái tinh của bảo kiếm ở Phong Thành xông lên tận trời đấy’. Trương Hoa nói: “Quả vậy, nay tôi muốn phiền anh ra làm quan lệnh ở đất ấy rồi ra công tìm gươm báu cho”. Lôi Hoán nhận lời. Ông đến Phong Thành, cho đào nền nhà ngục, thì tìm ra được một cái hòm đá nằm sâu dưới lòng đất hơn bốn trượng. Khi sáng lóe ra, bên trong có hai thanh gươm, một thanh có khắc chữ ‘Long Tuyền’, và một thanh khắc chữ ‘Thái A’. Đêm hôm đó không thấy luồng khí lạ ở giữa sao Đẩu và sao Ngưu nữa”.

    Kinh luân đã tỏ tài cao,

    Thớ co rễ quánh thủ dao Long Tuyền.

    Nguyên quán hai thanh kiếm trống Long Tuyền và mái Thái A nầy trong Tể tướngkiếm, trước mang tên Can Tương và Mạc Da trong Nguyên nhân kiếm được giải thích trong cuốn Thành ngữ điển tích từ điển2: “Ngô Hạp Lư đời Đông Châu giết anh lên ngôi, khiến Can Tương là một tên thợ rèn gươm có tiếng, rèn riêng cho mình một lưỡi gươm. Can Trương tìm sắt tốt vàng ròng, rồi lựa ba trăm con gái còn tơ đốt than nung lò ba tháng mà vàng không chảy. Vợ Can Tương là nàng Mạc Da nói, rèn cái gì mà không hóa thì cần phải có người để cúng mới nên. Mạc Da mới tắm gội sạch sẽ, cắt tóc nhổ răng, khiến người quạt lửa cho đỏ rối gieo mình vào lò than. Vàng sắt đều chảy. Can Tương lấy đó rèn hai lưỡi gươm, một lưỡi thuộc dương đặt tên là Can Tương, một lưỡi thuộc âm đặt tên là Mạc Da. Rồi can Tương đem lưỡi Mạc Da dâng cho Hạp Lư, còn lưỡi Can Tương thì dấu để lại cho mình. Hạp Lư biết được giận lắm, sai người qua đoạt. Can Tương lấy gươm liệng lên hóa rồng cỡi đi mất”. Sáu trăm năm sau, tới triều Tấn, tiếp theo là câu chuyện Lôi Hoán, Trương Hoa đã thấy ở trên. Thì ra Thái A Kiếm là lấy từ sự tích bên Tàu.

    Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,

    Dứt tình phó lưỡi Thái A cho nàng.

    Trong một bức thư viết cho ông Carnot năm 1922 để trả lời một câu hỏi của ông André Salles, Thanh tra Thuộc địa, ông Đại tá Payard, Phó Giám đốc Điện Quốc gia Phế binh tả lưỡi kiếm chỉ có một rãnh khoét (gorge d’évidement) (Note E)3, thành thử có tác giả, trong một thiên khảo cứu tìm tòi4, xác định thanh kiếm nầy là một sản phẩm Âu châu, chỉ có gắn vào một đốc kiếm Á châu thực hiện tại chỗ. Tuy nhiên, ở Viện Bảo tàng Quân đội Paris, bảo kiếm nầy được trình bày là thanh gươm của vua Gia Long. Thật hay không, cần phải có một bằng chứng, chẳng hạn một cái ảnh vua Gia Long mang kiếm hay một văn bản xác định thanh kiếm Thái A chính là của vua Gia Long. Ví như thật là của vua Gia Long thì ai đã đem biếu tặng kiếm cho vị quốc vương Việt Nam và trong điều kiện nào kiếm được đem về trưng bày trong tủ kính Viện nầy? Ông Quản đốc viện không có một tài liệu nào để giải thích sự kiện nếu không là một bản tin vắn tắt cho biết thanh kiếm được đem từ An Nam về sau cuộc viễn chinh đầu tiên (Note B).5 Nếu khó lòng biết được lúc nào kiếm đã đến với vị vua nhà Nguyễn, có thể đoán biết làm sao kiếm đã rời khỏi hoàng thành. Thanh nầy khác hẳn thanh kiếm vua Khải Định sau nầy hay đeo như thấy trong ảnh. Nó cũng không thể là thanh kiếm vua Hàm Nghi đã mang theo với chiếc ấn khi cùng triều thần xuất bôn, khởi hịch Cần Vương sau đêm kinh đô thất thủ vì một cặp kiếm cùng các bảo vật đã được phát hiện gần đây ở thôn Phú Hòa, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh6 đồng thời một thanh gươm khác “dùng để chém những dân phu chôn vàng” rỉ, mục, nhặt được bên cạnh một gốc cây tươi trên đồi Yên Ngựa ở vùng Mả Cú thuộc xóm Rôồng, thôn Đặng Hóa, xã Hóa Sơn.7 Ta không thể tưởng tượng một ông vua nào hay một vị đại thần nào đã đem dâng biếu cho một người ngoại quốc thanh kiếm của nhà vua, “một bảo vật lịch sử và tượng trưng quan hệ đến hạnh phúc và sự bảo tồn dân tộc” như vua Đồng Khánh đã nói với nhà văn Jules Boissière năm 1888 khi tiếp kiến ông nầy ở Huế và tỏ ý được hoàn lại (Note F).8 Nếu kiếm rơi vào tay người Pháp thì có thể là vì họ đã tự tiện đoạt lấy, đặc biệt vào lúc tình hình rối ben, không còn trật tự chẳng hạn vào lúc biến cố Ất Dậu 05/7/1885.

    Bộ Lại cho đến bộ Binh,

    Phố phường hai dãy nép mình cháy tan.

    Bao nhiêu của cải bạc vàng,

    Nửa thì nó lấy, nửa đốt tàn thành tro…

    (Vè Thất thủ kinh đô)

    Còn có câu hỏi tại sao vua Hàm Nghi khi xuất bôn không đem thanh kiếm nầy theo cùng với cặp kiếm của ông, trừ phi kiếm đã bị cướp mất trước hay trong thời gian biến cố. Dù sao, cướp bóc thời chinh chiến là chuyện thường thấy ở nhiều nơi, huống hồ quan quân thuộc địa còn làm những việc tầy trời như tháng giêng 1913, dưới triều vua Duy Tân, viên Khâm sứ Georges Mahé dám cho đào lăng vua Tự Đức để chiếm lấy những bảo vật, một điều điếm nhục đã gây nhiều phẫn nộ trong dân chúng cùng triều đình Việt Nam và cũng không ít tai tiếng trong giới bảo hộ đến nỗi sau đó thủ phạm bị triệu hồi về nước. Xin nhắc lại, cướp kiếm chỉ là một giả thuyết, đến nay chưa có một tài liệu nào chứng xác sự kiện. Sự can thiệp của J. Boissière không thấy có kết quả vì thanh kiếm luôn còn nằm ở Viện Bảo tàng Quân đội Paris. Và ở đây lại xảy ra một sự kiện khác cũng có phần lý thú.

    Ngày 03/10/1913, tờ báo Journal (Note A)9, đăng một tin nhỏ: Hôm qua, thứ năm là ngày Viện Bảo tàng mở cửa, lúc bốn giờ, sau lúc viện đóng cửa, những người canh giữ khám phá một tủ kính bị phá vỡ và đã bị mất cắp một thanh gươm An Nam, bao gươm và vòng đai. Những bảo vật nầy mạ vàng, nạm đá, ngọc, có một giá trị lớn. Cuộc điều tra chẳng đem lại kết quả gì. Những dấu in trên kính đã được ghi lại nhưng khách rất đông, phần lớn là người nước ngoài. Tủ kính đã được khôn khéo mở ra với những dụng cụ cắt thép tí hon. Ngày hôm sau, 04.10.1913, tờ báo Temps (Note B)10 cũng cho đăng tải một tin tương tự với chi tiết bao gươm bằng da nạm kim hoàn và cặp móc chạm trổ dát một viên đá quý lớn. Sau khi đọc tin nầy, lập tức ông André Salles, Thanh tra Thuộc địa, viết thư cho Trung tướng Niox, Giám đốc Viện Bảo tàng, Tư lệnh Tòa Quốc gia Phế binh, người có nhiệm vụ thực hiện cuộc điều tra với ông Guérin, để tố cáo những nhà cách mạng An Nam. Lời buộc tội nầy không có một bằng chứng nào, có thể chỉ phát xuất từ thái độ hiềm khích của ông André Salles đối với những chí sĩ Việt Nam. Ông Niox cũng không tin và cho biết thêm thanh gươm không bị mất cắp, chỉ cái bao gươm thôi (Note C).11 Theo Đại tá Payard, bao gươm không phải bằng vàng mà mạ vàng, hai vòng ngoài (chape) và đường viền đồng (bouterolle) đều nạm đá cả hai mặt. Móc vòng đai (crochet de ceinture) và khâu treo (bélière) bằng lụa và vàng nạm ngọc san hô, vòng đai bằng lụa và vàng cũng bị mất cắp cùng bao gươm (Note E).12 Cần giải thích thêm chăng bao gươm và đai gươm mềm, dễ xếp vào túi hơn thanh gươm dài cứng…

    Theo hai học giả quan tâm đến những bảo vật của hoàng gia thì vua Gia Long còn có một thanh gươm khác mang tên Thanh gươm quy y. “Thanh gươm này nguyên là bửu kiếm của tiên triều, thường dùng để chém đầu giặc, những kẻ phản quốc… Một điều lạ là nếu ngày mai có người bị giết thì đêm ấy gươm đã thoát ra khỏi bao. Vua Gia Long thấy thanh kiếm ưa giết người nên đem dâng cửa Phật và mới gọi là Thanh gươm quy y (Quốc triều chánh biên)”.13 Có lẽ là tình cờ, hai cái gươm của vua Gia Long đều có sự tích với cái bao: Thanh kiếm Thái A không còn bao nữa, còn Thanh gươm quy y tự thoát ra bao, bây giờ ở đâu? May ra, ví chi được trưng bày trước những cặp mắt dửng dưng của người ngoại quốc, nó được kín đáo thờ phụng như cặp kiếm của vua Hàm Nghi ở thôn Phú Hòa: “Một mái nhà tranh. Một tấm lòng thành. Một bảo tàng lòng dân. Một ngôi làng sơn cước cũng làm nên một cõi sống đẹp như huyền sử khi con người không quên quá khứ”.14

    Xô thành tiết đại thử 2007

    V.Q.Y.

    Tài liệu tham khảo

    1 Nguyễn Thanh Giang, Lữ Huy Nguyên, Từ điển từ ngữ điển cố văn học, (Hà Nội: Văn học, 1989), 569; Nguyễn Thanh Giang, Từ ngữ văn Nôm, TPHCN: Khoa học xã hội, 1998: 673.

    2 Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển, (Đồng Tháp: Đồng Tháp, 1992), 117-118.

    3, 5, 8, 9, 10, 11, 12 L. Cadière, H. Cosserat, “Documents A. Salles”, Bulletin des Amis du Vieux Hué, 4 (1933), 295-301.

    4 Dominique Rolland, “Le sabre de l’Empereur Gia Long”, Bulletin de la Nouvelle Association des Amis du Vieux Hué, 9/2005, 3-17.

    6, 14 Văn Cầm Hải, “Gặp kiếm báu và voi vàng của vua Hàm Nghi”, www.tuoitre.com.vn, 10/02/2007.

    7 Nguyễn Quang Trung Tiến, “Theo dấu chân vàng của vua Hàm Nghi”, Huế Xưa Nay, 80 (3-4)/2007. 30-39.

    13 Bửu Diên, Hoàng Anh, “Thanh gươm của vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn”,  Nghiên cứu và Phát triển, 4 (34)/2001, 55-9.

  • Bộ trang sức của một Vương Phi thời nhà Nguyễn

    Nhà sưu tầm cổ vật Vũ Kim Lộc ở Sài Gòn vốn xuất thân từ nghề kim hoàn. Vì thế, những món đồ cổ bằng vàng, bạc và đá quý… luôn được anh quan tâm sưu tầm và nghiên cứu. Anh đã từng sưu tập được những cổ vật Champa, cổ vật Óc Eo hay cổ vật triều Nguyễn… bằng vàng, xứng đáng liệt hạng quốc bảo. Nhưng có lần anh nói với tôi: “Cổ vật bằng quý kim của Champa, Óc Eo hay của các triều đại phong kiến Việt Nam tôi gặp khá nhiều, nhưng tôi chưa bao giờ được cầm trên tay một món đồ vàng thời chúa Nguyễn. Trong khi, nghề kim hoàn lại là một thành tựu nổi bật của nền thủ công truyền thống thời chúa Nguyễn”.

    * Vàng và nghề kim hoàn thời chúa Nguyễn

    Đàng Trong vốn là “vùng đất của vàng”, nơi mà các tiền nhân Champa, Óc Eo… đã tạo nên biết bao kiệt tác nghệ thuật bằng quý kim vẫn còn lưu truyền cho đến đời nay. Vì thế, các chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách để phát triển nghề khai thác vàng và nghề kim hoàn. Theo sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn vào năm 1776, thì các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cấp phát lương thực, tiền công cho người dân để khuyến khích họ đi tìm vàng, khai thác vàng cho nhà nước. Các chúa cũng không hạn chế người dân buôn vàng và tự túc khai thác vàng, mà chỉ thu thuế và tạo điều kiện cho họ được kinh doanh và khai thác. Nhà nước cũng lập các đội tìm vàng chuyên nghiệp, giao cho các tướng lĩnh phụ trách. Không chỉ tìm vàng ở các vùng mỏ trong đất liền, các chúa Nguyễn còn lập đội Hoàng Sa, phái người đi đến các vùng biển đảo như Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa để thu nhặt vàng bạc, hàng hóa từ các tàu thuyền của nước ngoài bị đắm trong các vùng biển này. Triều đình nhà chúa còn lập 3 cơ quan gồm: Nội lệnh sử ty chuyên đi thâu nhận vàng, Ngân tượng ty chuyên việc tinh luyện vàng bạc và Nội kim tượng cục chuyên chế tác vàng thành phẩm và làm đồ trang sức để phục vụ cho nội cung và xuất khẩu. Theo các nguồn sử liệu viết về thời kỳ này, thì vào năm 1634, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho xuất khẩu sang Nhật Bản 50 cái bát và 50 cái đĩa, một nửa làm bằng vàng và một nửa làm bằng bạc. Cuốn hồi ký Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, một nhà sư người Trung Hoa có mặt ở Đàng Trong dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chu, chép rằng các chúa Nguyễn dùng toàn đồ làm bằng vàng và bạc, chế tác rất công phu, còn các hạng người sang trọng thì mũ mão và yên cương ngựa của họ đều được trang sức bằng vàng bạc. Đàn bà con gái đều mặc hàng tơ lụa, cổ áo thêu hoa, coi vàng bạc như cát, lúa thóc như bùn.

    * Bộ trang sức của một vương phi thời chúa Nguyễn

    Một ngày, tôi vào Sài Gòn, ghé nhà Vũ Kim Lộc, anh khoe với tôi bộ ảnh chụp những món trang sức bằng vàng và bảo: “Đây là những cổ vật bằng vàng đầu tiên của thời chúa Nguyễn mà tôi tận mắt chứng kiến. Theo tôi, đây là trang sức của một bà phi đời chúa Nguyễn Phúc Khoát”.

    Bộ trang sức gồm một cái bác sơn bằng vàng để gắn trên chiếc mũ của các bậc vua chúa; 12 chiếc trâm hoa; 1 chiếc trâm phượng và 2 chiếc vòng tay, đều làm bằng vàng, gắn đá quý. Tất cả đều rất tinh xảo và sang trọng.

    Bác sơn là một dải trang sức, thường làm bằng quý kim, được chạm trổ công phu, trang trí cầu kỳ, để gắn lên mũ của vua, hoàng hậu, quan lại, quý tộc thời xưa. Chiếc bác sơn này dài 18,5 cm, nặng 42 g, được làm từ một miếng vàng mỏng, chạm lộng hình tản vân và văn thủy ba, làm nền cho các đồ án trang trí đính kèm gồm 3 hình chim phượng và 3 cụm hoa lá. Nhìn vào bố cục trang trí của các đồ án đính kèm, có thể nhận thấy số cụm hoa lá lẽ ra phải là 4, nhưng có lẽ cụm hoa lá ở ngoài cùng bên phải bác sơn đã bị thất lạc. Trên bác sơn còn có một hàng lỗ nhỏ, là nơi đã từng gắn các viên đá quý hoặc trân châu nhưng đã bị mất. Vì đồ án trang trí chủ đạo trên bác sơn là hình chim phượng, nên theo điển chế ngày xưa, thì đây là bác sơn trên chiếc mũ của hoàng hậu, vương phi.

    Bác sơn bằng vàng trang trí trên mũ vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.
    Hình chim phượng bằng vàng gắn trên bác sơn. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Bộ trâm hoa gồm 12 chiếc, dài từ 9,4 cm đến 12 cm, tạo dáng như những cánh hoa. Phần đầu của những chiếc trâm là những cụm hoa lá bằng vàng, được tô điểm bởi những viên đá quý màu ngọc bích. Có 4 loài hoa được thể hiện trên bộ trâm, trong đó có hai loài hoa được nhận diện là hoa mai và hoa cúc. Phần chuôi để cài vào mái tóc của 12 chiếc trâm hoa này được làm bằng bạc.

    Chiếc trâm hoa mai của vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Chiếc trâm hoa cúc của vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Chiếc trâm phượng hoàn toàn làm bằng vàng, dài 14,25 cm, nặng 15 g. Phần đầu trâm thể hiện hình chim phượng đang ngậm chiếc lồng đèn rất tinh xảo. Thân chiếc trâm cũng chính là thân và đuôi của chim phượng, được tạo thành hai nhánh và hơi cong xuống ở phần đuôi. Đầu chim phượng được thể hiện rất sắc sảo, với mỏ quặp, mắt và đuôi mắt dài, có bờm ở trên đầu, dưới cằm và sau cổ. Mỏ chim phượng ngậm chiếc lồng đèn có tán che bên trên, khánh treo bên dưới và những chùm hoa văn treo xung quanh.

    Chiếc trâm phượng bằng vàng của vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Bộ vòng tay gồm 2 chiếc, một chiếc có đường kính 6,18 cm, nặng 20,17 g, chiếc kia có đường kính 6,41 cm, nặng 20,36 g. Tất cả đều làm bằng vàng. Thân vòng đúc rỗng, mặt ngoài có 16 lỗ tròn, nổi trên nền hoa văn hình cánh hoa liên hoàn. Những lỗ tròn này là nơi gắn các viên đá quý nhằm tăng thêm giá trị của chiếc vòng. Phần khóa của chiếc vòng là một đồ án trang trí hình hai con rồng chầu một hạt châu (hay hạt đá quý) nay đã bị thất lạc.

    Vòng tay bằng vàng của vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Đồ án lưỡng long trên vòng tay vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Hạt pha lê khảm trên vòng tay vương phi. Ảnh: Vũ Kim Lộc.

    Bộ trang sức này được tạo tác một cách công phu với kỹ thuật điêu luyện chứng tỏ trình độ tay nghề của nghệ nhân chế tác món đồ này thuộc vào hạng thượng thừa. Đối chiếu các kiểu thức trang trí có trên bộ trang sức này với những miêu tả trong các nguồn sử liệu viết về mỹ thuật và thủ công mỹ nghệ thời chúa Nguyễn, đồng thời so sánh với những kiểu thức trang trí trên Đại hồng chung chùa Thiên Mụ (do chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc năm 1715), trên trán bia mộ của bà Chiêu phi họ Nguyễn (một vương phi thời chúa Nguyễn) ở Quảng Trị) và trên trán bia mộ bà Chiêu Nghi Trần Thị Xạ (vợ chúa Nguyễn Phúc Khoát) ở Huế, tôi đồng tình với ý kiến của Vũ Kim Lộc rằng đây là bộ trang sức của một vương phi thời chúa Nguyễn.

    Đồ án chim phượng trang trí trên Đại hồng chung chùa Thiên Mụ, đúc năm 1715. Ảnh. Trần Đức Anh Sơn.

    Đồ án chim phượng chầu mặt trời trên trán bia Nguyễn Chiêu phi. Thác bản của Nguyễn Phước Bảo Đàn.

    Bản dập đồ án chim phượng chầu mặt trời trên trán bia mộ Nguyễn Chiêu phi. Thác bản của Nguyễn Phước Bảo Đàn.

    Đồ án chim phượng chầu mặt trời trên trán bia mộ Chiêu Nghi Trần Thị Xạ. Thác bản của Nguyễn Phước Bảo Đàn.

    Và đây cũng là bộ bảo vật đầy đủ nhất và quý hiếm nhất của thời chúa Nguyễn mà giới nghiên cứu và sưu tầm cổ vật Việt Nam từng biết đến từ trước tới nay.

    Nguồn :Trần Đức Anh Sơn’s Blog

  • Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

    Rồng trong văn hóa Việt Nam

    Rồng là một biểu tượng văn hóa có độ phổ biến vào loại cao nhất thế giới. Xét theo hình thức cấu tạo, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loài vật khác nhau, song luôn có hình dáng gần nhất với một loài vật chính.

    Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giống bò) để nói lên đặc trưng tổng hợp ấy, và để lý giải vị trí bá chủ vạn vật của rồng.

    1. Nguồn gốc Bách Việt của rồng

    Nghiên cứu cho thấy rồng Đông Á mang nguồn gốc Bách Việt cổ (cộng đồng cư dân cổ thuộc ngữ hệ Austro-asiatic cư trú từ hạ lưu Dương Tử đến Bắc Đông Dương, trong đó có tổ tiên Lạc Việt) trên cơ sở của sự kết hợprắn, cá sấu và nhiều loại vật khác. Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến văn hóa Bách Việt như

    (1) nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến của phương Nam (Rồng có các nguyên mẫu chính gồm rắn, cá sấu, cá, lợn, trâu, ngựa, hổ, chó, tia chớp, sinh thực khí nam – xem Nguyễn Ngọc Thơ: “Về vấn đề nguyên mẫu của Rồng Trung Hoa”, Tập san KHXH&NV, 2007),

    (2) tính cách thích nước và sinh sống ở môi trường sông nước; và

    (3) rồng là sản phẩm tổng hợp của tư duy âm dương phương Nam.

    Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (2000), tên gọi Rồng vốn xuất hiện trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ thuộc tiểu chi Proto Việt-Chứt; từ Thìn trong thập nhị địa chi là tên gọi do người Hán vay mượn từ ngôn ngữ Bách Việt cổ. Người Bách Việt, mà cụ thể là Lạc Việt, với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, tự xem mình là “conRồng cháu Tiên”. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng đồng nhất quan điểm này. Tác giả Văn Nhất Đa trong chuyên khảo “Đoan ngọ khảo” (1993) gắn nguồn gốc xuất hiện của rồng với tết Đoan ngọ và tục đua thuyền rồng của cư dân Ngô Việt vùng hạ lưu Dương Tử. Ngày nay, các vùng đất Nam Trung Hoa, Việt Nam, Đài Loan, Okinawa vẫn còn tục đua thuyền rồng trong các dịp đón năm mới, tết Đoan ngọ hay lễ hội truyền thống (Trịnh Tiểu Lô 1997). Tác giả Trung Hoa Nghê Nông Thủy (2010) chứng minh nguồn gốc Bách Việt của tết Đoan ngọ cùng tục đua thuyền rồng, sau được người Trung Hoa tiếp nhận và gắn thêm chức năng cứu Khuất Nguyên để giáo dục cội nguồn. Nhà dân tộc học người Nga D.V. Deopik (1993) từng viết “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Còn nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin cũng nhận xét: “Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng – một con vật tưởng tượng – trở thành biểu tượng quan trọng nhất… Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá… Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng….” (Xem Xem Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Ngọc Thơ: “Nguồn gốc con rồng nhìn từ văn hóa học”,Tập san KHXH&NV, 2011).

    Từ chiếc nôi Bách Việt, rồng lan truyền ra xung quanh, tại mỗi địa phương rồng khoác lên sắc thái văn hóa của riêng địa phương mình. Chính vì vậy, rồng đã trở nên đa dạng về chủng loại và hình dáng, tạo nên một “Gia tộc họ rồng” cực kỳ đa dạng về hình thức lẫn chức năng.

     

    2. Gia tộc họ rồng

       Lấy giới tính làm tiêu chí phân loại thì có hai loại rồng đực đuôi có hạt châu hoặc chỉ có chiếc đuôi đơn thuần và rồng cái đuôi phân nhánh thành hoa văn hoa cỏ.

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

     

    Thứ hai là tiêu chí nguyên mẫu. Rồng hình thành từ sự kết hợp đa loài, dù vậy vẫn có thể nhận diện loài vật đặc trưng nhất. Tiêu biểu có rồng rắn, rồng cá sấu, rồng cá, rồng ngựa, rồng hổ, rồng chó, rồng chim, rồng thuồng luồng (giao long), rồng kỳ đà, rồng cáo…

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa ViệtNguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa ViệtNguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

     

    Còn nếu dựa vào tứ chi của rồng để phân thì có các loại rồng 5 móng, 4 móng, 3 móng; không chân và rồng có tứ chi là hoa văn cây cỏ. Rồng 5 móng là loại rồng chuẩn, từ đầu Công nguyên trở đi đã trở thành biểu tượng của vua chúa, thường xuyên bị hoàng gia lũng đoạn, dân gian bị cấm dùng. Quan lại chỉ được phép dùng rồng 4 móng, có thời kì bị bắt buộc dùng hình mãng xà (như thời Minh ở Trung Quốc). Rồng không chân thường được hiểu là thuồng luồng, xuất hiện nhiều trong truyền thuyết dân gian. Rồng có tứ chi phát triển thành hoa văn hoa cỏ thường được dùng nhiều trong nghệ thuật trang trí kiến trúc hay hội họa truyền thống.

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

                                                                           Quỳ long

     

    –    Trong truyền thuyết phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau, bao gồmbị hí, xi vẫn, bồ lao, bệ ngạn, thao thiết, công phúc, nhai xế, toan ngê, tiêu đồ; bên cạnh là một số linh vật họ rồng khác nữa như tù ngưu, phụ hý, trào phong, tỳ hưu, hải trãi v.v. [Nguyễn Ngọc Thơ: Rồng Trung Hoa,Luận văn thạc sỹ, 2003].

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa ViệtNguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa ViệtNguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

     

    3. Rồng qua các thời kỳ

    Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt Nam. Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao long). Theo ghi chép trong Hoài Nam TửSơn Hải Kinh, rồng được người Việt xưa xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại”. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình. Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân, quy, phụng”. Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng.

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

    Qua thời kỳ Bắc thuộc, con rồng Việt Nam dần xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Thủ đô Thăng Long được đặt tên theo thế “rồng bay”. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thường thân trơn, lưng có vây, thân uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình sin mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi, tạo cảm giác dòng văn hóa dân gian mượt mà dài vô tận. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ “S”, tượng trưng cho sấm sét, mây mưa [Xem Mỹ thuật thời Lý, 1973]. Trên đại thể, rồng thời Lý là rồng văn, rồng Phật giáo.

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

    Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Đây là thời kì người Việt Nam ba lần đánh bại quân thiện chiến Nguyên Mông, do vậy triều Trần được cho là triều đại trọng võ. Dấu ấn ấy có thể nhìn thấy rất rõ qua hình tượng rồng. Đầu rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay, chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng, có khi là những nửa hình nụ hoa tròn, có khi chỉ là những nét cong thanh thoát [Xem Mỹ thuật thời Trần, 1977].

    Rồng thời Lê (thế kỷ XV) hoàn toàn khác biệt với rồng thời Lý-Trần. Thân rồng có xu hướng ngắn lại, tư thế đa dạng phong phú. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến [Xem Mỹ thuật thời Lê Sơ, 1978].

    Rồng thời Lê Trung hưng nhìn chung ít thay đổi so với thời Lê Sơ, điểm nổi bật là hình tượng rồng dần dà đi vào đời sống thường dân, đặc biệt là các mô típ bầy rồng con quây quần bên rồng mẹ, rồng đuổi bắt mồi, rồng vui cảnh lứa đôi v.v..

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt

    Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v.. Thân rồng không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe. Vây trên lưng rồng có tia, thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua chân có năm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn hoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng cung đình. Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng([1]).

     

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt
    Long ấn thời Nguyễn
        Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sử dụng mô típ rồng không còn nữa, chính vì vậy người ta có thể chạm khắc rồng với muôn hình vạn trạng, từ vân long, đoàn long, quỳ long, ứng long, li long, giao long, rồng 5 ngón, 5 ngón, 3 ngón v.v.. Hình tượng con rồng cũng không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng như xưa, thay vào đó dân gian vẫn đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật với những ý nghĩa dân gian, bình dị.

      4. Rồng trong tâm thức người Việt

           Như vậy, tổ tiên Bách Việt đã từng có tô tem rồng. Sau quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Trung Hoa, người Việt Nam tiếp nhận trở lại hình ảnh và ý nghĩa của mẫu rồng Á Đông đã hoàn thiện hóa từ người Trung Hoa. Từ đó trở đi, rồng ngự trị trong tâm thức người Việt như một linh vật đặc biệt, là “vạn vật chi đế”, là biểu tượng cộng gộp tất cả các ước vọng tốt đẹp nhất của cuộc sống nhân sinh.
          Trước nhất, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loại vật có thật trong tự nhiên, do vậy rồng mang trong mình hết thảy các ưu thế vượt trội của các loài, trong đó sức mạnh và quyền năng thiên biến vạn hóa là hai đặc tính quan trọng. Rồng được cho là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, là uy lực bất bại trước kẻ thù.
           Từ đặc tính tạo thành từ giới tự nhiên, rồng được người Việt Nam và Đông Á nói chung vay mượn để thực hành hoặc chuyển tải các thông điệp tâm lý – xã hội. Với tính năng siêu việt, rồng được tin là linh vật mang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng, sự thông thái; đồng thời còn là sứ giả để gửi gắm những ước vọng trong đời: cầu mưa, cầu phồn thực. Chính từ đó, trong dân gian xuất hiện các mô-típ rồng hút nước biển Đông để tưới vào đất liền, cá chép vượt vũ môn hóa rồng, rồng trừng trị kẻ ác để bảo vệ chúng dân; thế đất rồng trong phong thủy mang đến cuộc sống phồn vinh (long mạch, long hổ hội, Dinh Độc Lập = phủ đầu rồng); hiện tượng rồng “cù dậy” (cù lao); rồng là một trong 12 con vật đại diện trong dãy Thập nhị Địa chi; mượn tên gọi Long, Rồng để đặt tên đất (Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Long Hải, Hàm Rồng v.v.), tên người, tên các loài động thực vật hay dụng cụ khác giống rồng (địa long = giun đất, cá mắt rồng;  long nhãn, rau long tu, cây long huyết, cỏ long đảm; đầu rồng = vòi nước v.v.); múa lân-sư-rồng v.v..
          Tương tự, rồng được khắc, họa trong nhiều công trình kiến trúc quan trọng từ kinh đô đến nhà dân, từ đình chùa miếu mạo đến các cơ quan công quyền (truyền thống) như một thể hiện sống động của rồng trong tâm thức người Việt. Lấy hoa văn trang trí trên đình chùa miếu mạo làm ví dụ, người Việt Nam có xu hướng quy tụ vào nhóm Tứ linh (long-lân-quy-phụng) hơn là xu hướng đa dạng hóa các mô típ trang trí của người Trung Hoa (rồng-phụng, bát vật, bát bảo, bát tiên quá hải, các nhân vật truyền thuyết-thần thoại, các linh vật họ rồng v.v.. – có thể xem ở miếu Thiên Hậu Tuệ Thành số 710 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, Tp. Hồ Chí Minh). Các mô típ thường thấy nhất là “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long triều nhật”, “tứ linh hội tụ”, “dây lá hóa long” v.v.. Ở đất Nam Bộ, rồng còn gắn liền với cá chép, cả hai đều là loài vật thích nước, đều là vật biểu trưng của vùng đất phương Nam đầy sông nước, như ở Tổ đình chùa Giác Lâm (Tp. Hồ Chí Minh) chẳng hạn.
           Trong ca dao tục ngữ, phần đông rồng được dùng để chuyển tải ý nghĩa cao quý, thánh thiện, nhấn mạnh chức năng tâm lý:  
              – Một ngày dựa mạn thuyền rồng
                Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài
            – Bao giờ cá chép hoá long
              Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.
            – Thế gian được vợ hỏng chồng
    Có đâu như rồng mà được cả đôi.
           – Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng
             Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư
           – Trứng rồng lại nở ra rồng
             Liu điu lại nở ra dòng liu điu
          Đôi khi còn dùng rồng để chuyển tại thông điệp tình yêu:
           – Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
             Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây
          – Tình cờ anh gặp mình đây
             Như cá gặp nước, như mây gặp rồng
          – Trăm năm ghi tạc chữ đồng
            Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai
          Có chồng thì phải theo chồng
            Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo..
        Hay kinh nghiệm sống:
          – Rồng đen lấy nước thì nắng;
            Rồng trắng lấy nước thì mưa   
          – Rồng đen lấy nước được mùa;
            Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày..
       Dùng làm câu đố:
            Đầu rồng đuôi phụng le te,
            Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con
    (Cây cau – xem Phan Thuận An: cuasomoi.com)
        Hoặc dùng rồng như một thứ để giễu cợt, mỉa mai, trách móc:
            – Rồng nằm bể bắc phơi râu,
              Đến khi nước cạn hở đầu hở đuôi    
            – Ăn rồng cuốn, nói rồng leo, làm mèo mửa v.v..
    (Phùng Thành Chủng: newvietart.com)
         Với thuyết Hồng Bàng thị, người Việt Nam còn coi rồng là một biểu trưng của nguồn cội, của ý thức giống nòi và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Ý thức “Con rồng cháu tiên” sớm ngấm ngầm vào da thịt từng người con đất Việt từ thuở lọt lòng mẹ.
    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt
          Cũng ở chức năng này, rồng sớm bị các bậc đế vương phong kiến lũng đoạn, bắt đầu từ nhà Hán ở Trung Hoa([2]), sau ảnh hưởng đến Việt Nam và các quốc gia Đông Á khác. Từ đó rồng được phân loại mạnh mẽ: rồng 5 móng là rồng chuẩn mực, là biểu tượng của vua chúa, hoàng gia nên dần dà trở thành vật sở hữu của họ([3]). Dân gian từ thời Lê trở về sau bị hạn chế dùng rồng trong trang trí, nhất là rồng 5 móng. Trong tâm thức dân gian Nam Bộ, rồng là biểu hiện của văn hóa cung đình, do vậy ca dao có câu “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai..”. Tại các đình chùa miếu mạo do dân gian xây dựng, mô típ rồng thường thấy là rồng 4 móng hoặc 3 móng, tức chưa là rồng chuẩn. Như một sự phản kháng, dân chúng đã tạo ra các kiểu rồng không mọc chân mà thay vào đó là các kiểu hoa văn hoa cỏ sinh động để thể hiện ước vọng thăng hoa của nội tâm, đặc biệt là chạm khắc trên các công trình kiến trúc (quỳ long, li long, cù long v.v..).
    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt
    Mô típ “Lưỡng long triều nhật” ở Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt (Tp.HCM)

    Ở chức năng tâm linh, rồng được hiểu là thần thánh, phần nhiều là thiện thần. Hai trong những nguyên do biến rồng thành thần gồm (1) linh vật tổng hợp từ sự vượt trội của nhiều loài; (2) rồng có thể thiên biến vạn hóa và thông thiên kết nối nhân gian và thế giới thần tiên. Chính vì vậy, người Việt sớm nhận thức rằng rồng là hiện thân của thần linh để trị ác cứu dân, là vật cưỡi của thần tiên (như mô típ tiên cưỡi rồng trong kiến trúc đình Bắc Bộ) hay chư Phật (trong kiến trúc chùa), là linh vật chầu phục Đức Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo. Sự ngự trị tối cao của rồng so với các loài vật khác còn có thể thấy trong quần thể tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ (trần mái Cửu Trùng Đài, cột rồng v.v.). Ở chùa An Phước (Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh), người ta đúc thuyền hình rồng trên có năm thầy trò Đường Tăng đầu quay về Thiên Trúc với ý nghĩa rồng hộ tống, đưa Phật tử và chúng sinh thánh thiện về đất Phật.

    Nguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa ViệtNguồn gốc và các loại Rồng trong văn hóa Việt
    Long ấn thời Nguyễn
        Tuy nhiên, chức năng tâm linh này của rồng thường được hiểu là gắn liền với chức năng ổn định tâm lý và giáo dục con người (tu tâm dưỡng tính, gửi gắm niềm mong mỏi một cuộc sống tốt đẹp hơn v.v.) là chính. Trong xã hội đương đại vẫn còn dấu vết của hiện tượng mê tín hóa biểu tượng rồng, chẳng hạn chuyện chọn năm Thìn để sinh con, hoặc chọn ngày giờ phù hợp sinh con để được quẻ Thuần Rồng (trong Tử vi); chuyện dùng nước “giếng rồng” để chữa bệnh; quan niệm ăn thịt rồng (thực chất là thịt rắn), trứng rồng (trứng đà điểu) để trường sinh bất lão; chuyện cúng tế “cù long” (rồng cù dậy) trong những ngôi nhà nền đất mặt sần sùi giống vảy rồng do đi lại lâu ngày tạo nên v.v..
         o0o
        Vậy đó, tổ tiên đã tạo ra biểu tượng rồng như là một biểu hiện của khát vọng vươn lên chinh phục tự nhiên và chinh phục chính mình. Cùng với thời gian, con người đã “thiên biến vạn hóa” biểu tượng rồng và sử dụng chúng theo những mục đích khác nhau, song chính những giá trị tốt đẹp của rồng trong tâm thức con người đã đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó.

    [1] Xem B.A.V.H 1915: Những người bạn cố đô Huế (tập 2), Đặng Như Tùng dịch, NXB Thuận Hóa.
    [2] Hán Cao Tổ Lưu Bang sinh thời da vẻ sần sùi, tự xưng là giống rồng và ngụy tạo chuyện rồng cha truyền giống để lý giải quyền Thiên tử của mình. Tương truyền, mẹ là Lưu Ôn trong lần ra vườn Thượng uyển thấy bàn chân to trên đá, bá ướm thử, bỗng giông tố nổi lên, bà ngất xỉu. Trong lúc hôn mê, bà thấy một con rồng xanh từ trên trời bay xuống thụ tinh cho bà, bà có mang, sau sinh ra Lưu Bang.
    [3]Ở Trung Hoa, thời Minh Gia Khánh rồng bị lũng đoạn nghiêm trọng, chỉ có vua mới được dùng rồng, hoàng tử, quan lại chỉ dùng mãng xà, dân chỉ dùng rắn. Hoàng hậu đương triều trong một lần nhớ chồng mân mê chiếc long bào có hình rồng lập tức bị xử tội (xem Rồng Trung Hoa, luận văn thạc sỹ, 2003).

    Nguyễn Ngọc Thơ

             (Đã đăng trên Đặc san Khoa học Xã hội số 42, tháng 1 năm 2012) 

    Cổ vật tinh hoa ( Nguồn: vanhoahoc.vn)