Các nghi thức trang điểm theo lối cung đình Huế vẫn luôn là điều bí mật với nhiều người. Bí ẩn từ cách pha chế mỹ phẩm đến cung cách vẽ mặt sao cho các mệ trông giống như các bức tượng tiên thánh. Những phần khác chỉ còn là huyền thoại, cùng với sự ra đi của những bà hoàng, những công chúa, phi tần cuối cùng của vương triều nhà Nguyễn…
Người cung nữ cuối cùng còn sống của Triều Nguyễn
Mỗi sáng sớm các viên lính giản khiêng loan ỷ Thánh Cung Hoàng thái hậu, đích mẫu của Vua Khải Định, từ trên lầu Tịnh Minh xuống chính sảnh Cung Diên Thọ để các Cô làm tốt. Đây là cách người Huế xưa gọi việc trang điểm. Phải mất công như thế vì bà bị thấp khớp rất nặng, đi đứng khó khăn. Theo lời yêu cầu của ông Quan Năm bác sỹ người Pháp, triều đình xây cái lầu này trên nhà Thông Minh Đường để Thái hậu nghỉ ngơi cho đỡ ẩm thấp. Dù đau đớn thế nào đi nữa, trong suốt thời gian làm tốt Lệnh bà cũng vẫn phải ngồi yên, lưng ngay, mặt nhìn thẳng theo đúng phép tắc cung đình. Sau khi việc điểm trang, áo xống đã xong, Thái hậu vẫn phải giữ vẻ trang nghiêm trên ngai, đến nỗi trông bà giống như các tượng tiên, thánh trong đền.
Khoảng năm 1970 tôi có dịp được bà Điềm Tần, thứ thất của cố Hoàng đế Khải Định, cho tôi xem cách bà trang điểm để sửa soạn cho một dịp đại kỵ. Lúc ấy vì không hiểu nên tôi chỉ thấy buồn cười mà không dám nói. Bà dùng phấn nụ pha nước sền sệt đánh mặt trắng bệch như vôi, nhưng từ dưới cầm xuống cổ, và hai tai, lại để da trần. Cho dù da bà trắng, sự tương phản vẫn rõ nét, gần như do cố ý. Điều gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi lúc ấy là cặp mắt không trang điểm của bà hiện ra giữa mầu phấn trắng một cách siêu thực. Có khi đấy cũng là do cố ý? Bà bôi lên mỗi gò má một khoảnh tròn phấn hồng. Môi trên dưới đều đánh phấn trắng, nhưng sau đấy bà dùng ngón tay tô sáp lên môi trên, và chỉ một điểm sáp son vào chính giữa môi dưới. Như vậy để môi chum chím như một nụ hoa. Lông mày cũng được đánh che hết bằng phấn trắng, để rồi được tô lại bằng bút lông với muội than gỗ điên điển (có thể thay gỗ điên điển bằng nút bấc).
Bà Tần giải thích rằng khi một nữ nhân đã nhập nội (vào làm vợ vua) rồi thì ngoài chồng, tức là vua, không một người đàn ông nào khác được thấy mặt mình nữa, dù là cha ruột. Gặp những dịp các bà phải có mặt ngoài cung cấm, thì các bà phải đánh phấn trắng như vậy để “trăm Mệ như một”. Người ngoài chỉ được thấy cái mặt giả của các bà. Bà nói các kỹ nữ (geisha) bên Nhật cũng phải theo nguyên tắc này. Mặt thật của họ chỉ có chồng con được biết thôi.
Theo lệ thời cuối Nguyễn Triều thì các hoàng thái hậu và các bà hậu, phi trong tam cung không phải đánh phấn trắng lối này. Các bà trong lục viện mới phải đánh mặt trắng. Ba viện trên được đánh sáp môi lên môi trên và một chấm sáp giữa môi dưới. Ba viện dưới đánh trắng môi trên với một chấm son giữa môi dưới…
Bây giờ tôi chỉ ước được quay lại khung cảnh ấy để chiêm ngưỡng. Cô Lê Thị Dinh, người giữ phận sự trang điểm cho bà Từ Cung Hoàng thái hậu, sau này cho tôi biết rằng tôi rất may mắn. Vì trong tất cả các bà trong nội cung thời cuối Nguyễn, chỉ có bà Điềm Tần còn giữ các cung cách cổ.
Phụ nữ trong cung thủa xưa dùng phấn nụ để trang điểm. Gọi là phấn nụ vì do cách sản xuất thời bấy giờ, mỗi viên phấn có hình dáng giống như một nụ hoa nho nhỏ. Các bà tự làm ra phấn nụ để dùng chứ ít khi họ tin tưởng vào phấn mua ngoài phố. Phấn nụ được làm từ chất cao lanh thượng hạng mua từ Trung Quốc và đem về chế biến.
Khi đánh phấn, người ta nhón viên nụ phấn bằng các đầu ngón tay rồi miết với động tác xoay tròn lên mặt. Sau đó dùng các đầu ngón tay xoa cho đều. Lập lại nếu cần. Phấn cũng còn được pha sẵn với nước đựng trong hũ nhỏ để bôi lên mặt khi cần đánh lớp trắng, dầy trong các dịp đại kỵ.
Người xưa đốt gỗ điên điển, và sau này là nút bấc, rồi dùng cọ lông viết chữ Nho quết than khô để vẽ lông mày. Sau khi đã vấn khăn hay búi tóc xong, các bà cũng dùng than này chấm lên che bớt tóc bạc, đường rẽ ngôi và các chỗ tóc bị sói.
Lối đánh phấn trắng bệch với phấn hồng và môi điểm nụ chỉ được dùng trong các dịp đại kỵ trong cung ngày xưa. Vào các lễ lạc khác và ở đời thường, phấn nụ và sáp môi cũng chỉ được điểm trang như cách phụ nữ vẫn làm ngày nay mà thôi. Phấn nụ vẫn được làm thành từng thỏi lớn và bán tại các hàng xén trong chợ Đông Ba ở Huế. Nhưng các bà xưa vẫn thường tự mua cao lanh về làm phấn nụ để dùng riêng. Họ phải kỹ vì chất cao lanh loại thấp cấp dễ gây tổn hại cho da mặt.
Phấn nụ loại tốt ngày xưa còn được xem là có công dụng dưỡng da. Phấn được bôi dầy lên mặt mỗi đêm, để trong khi ngủ da sẽ thẩm thấu phấn và trở nên mịn màng. Các phụ nữ nội cung còn sống ở Huế hiện nay vẫn chỉ dùng phấn nụ. Họ không hài lòng lắm với mỹ phẩm Tây phương.
Phấn nụ và khăn vành dây bao giờ cũng đi đôi với nhau trong cung nội ở Huế. Người Việt cổ dùng vải nhiễu cát để bao tóc. Người Tây phương sau này cũng rất chuộng loại vải này và gọi nó là Crepe de Chine. Nhiễu cát do người Việt dệt ngày xưa chỉ mỏng bằng nửa loại Crepe de Chine ngoại nhập được dùng khá phổ biến trong cung ở thời cuối Nguyễn triều.
Cách chít khăn trong cung ở Huế khác với cách vấn khăn của đàng ngoài. Khăn vấn Huế được chít với mép khăn hướng lên trên và dấu ở phía trong vành khăn. Vành khăn thứ hai được chít bao ra ngoài phía trước vành khăn một, chứ không luồn bên dưới vành một như ở Bắc bộ. Các mệnh phụ trong cung Huế thường vấn khăn vành dây ra ngoài khăn chít trong các dịp lễ. Khăn vành dây rộng 30cm. Khăn bằng Crepe de Chine ngoại quốc có độ dài trung bình là 15 mét. Khăn nhiễu cát Việt Nam mỏng nên có độ dài hơn.
Từ độ rộng 30cm, khăn vành dây được xếp thành bề rộng 6cm với cạnh hở hướng lên trên, rồi quấn thành hình chữ Nhân, tức là chữ V ngược, che tóc, một phần tai và vòng khăn chít bên trong. Khi khăn đã bao giáp vòng, gấp khăn lại còn nửa chiều rộng, bắt đầu từ đằng sau gáy, vẫn để cạnh hở hướng về phía trên, rồi vấn tiếp. Khăn vành được bao chặt ra ngoài phần khăn chit, tạo thành một cái đĩa lớn. Vì nhiễu cát có độ co dãn và nhám cao nên khăn vành ít khi tuột. Phần cuối của khăn được vén khéo vào trong vành khăn phía sau, rồi dùng kim găm dấu cho khéo.
Về sau khi tóc uốn trở nên thông dụng, người Huế tạo ra một vòng vải ống tròn nhồi bông chụp vừa lên đầu giả khăn vấn để lót cho khăn vành dây. Một trong những người đầu tiên xử dụng loại khăn vấn sẵn này là Hoàng hậu Nam Phương. Khi mới nhập cung, tóc Hoàng hậu vẫn còn uốn ngắn như hồi còn ở bên Pháp. Phải có cái ống khăn chít giả bên trong người ta mới vấn được khăn vành cho Hoàng hậu, để bà có thể mặc áo mệnh phụ khi làm triều lễ.
Chỉ mãi sau này khi điển lệ đã bị phá bỏ người ta mới thấy một vài khăn vành dây mầu vàng trong cung. Còn ngoài ra, từ các hoàng thái hậu, hoàng hậu cho đến các công chúa, mệnh phụ thường cũng chỉ vấn khăn vành mầu lam đậm. Khăn vành dây bao giờ cũng được xem là niềm kiêu hãnh, cũng như nỗi khổ của các phi, hậu, mệnh phụ ngày xưa.
“Vua trẻ con” dùng để chỉ những vị vua lên ngôi khi chưa 15 tuổi. Trong đó, có vua sau khi trưởng thành ghi dấu ấn trong lịch sử, nhưng cũng có vua mệnh mỏng, chết đi trước khi đủ lớn để tự khẳng định mình, và họ vĩnh viễn rời khỏi vũ đài chính trị với tư cách là những vị “vua trẻ con” mà thôi.
Số phận của những vị “VUA TRẺ” trong sử Việt
.
1. Đinh Phế Đế Đinh Toàn (974 – 1001): Vua trẻ con đầu tiên trong lịch sử phong kiến nước ta, lên ngôi khi 6 tuổi, làm vua chưa đầy 1 năm. Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, Đinh Toàn được phong làm Vệ Vương. Năm 1001, trong dịp cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn, Đinh Toàn bị trúng tên, mất năm 27 tuổi.
.
2. Lý Nhân Tông Lý Càn Đức (1066 – 1127), là vị vua thứ 4 của triều Lý, lên ngôi khi 6 tuổi, trị vì tổng cộng 55 năm. Dưới thời trị vì của Nhân Tông “nước Việt phồn vinh, dân được giàu đông”.
.
3. Lý Thần Tông Lý Dương Hoán (1116 – 1138), là vị vua thứ 5 của nhà Lý, lên ngôi năm 11 tuổi. Thời Thần Tông nhân dân no đủ, nhưng ông cũng chỉ trị vì được 10 năm rồi mất khi còn rất trẻ.
.
4. Lý Anh Tông Lý Thiên Tộ (1138-1175), là vị vua thứ 6 của nhà Lý, lên ngôi khi mới 3 tuổi. Vua còn nhỏ, Lê Thái hậu nắm quyền nhiếp chính tư thông với Đỗ Anh Vũ làm triều chính đảo điên. Nhờ có các trọng thần như Tô Hiến Thành gánh vác, nếu không triều đình đã nát cmnr. Anh Tông làm vua được 37 năm, mất năm 40 tuổi.
.
5. Lý Cao Tông Lý Long Trát (1173 – 1210), là vị vua thứ 7 của nhà Lý, lên ngôi năm 3 tuổi. Khi còn nhỏ, Cao Tông tỏ ra ngoan hiền, chăm học hỏi, nhưng khi lớn lên ông càng ngày càng trở nên “bung lụa”, tin cậy hoạn quan, nhân dân đói khổ, nổi dậy khắp nơi, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy.
.
6. Lý Chiêu Hoàng Lý Phật Kim (1218-1278), là vị vua thứ 9 và cuối cùng của triều đại nhà Lý, lên ngôi khi 7 tuổi, tới 8 tuổi thì nhường ngôi cho Trần Cảnh.
–> Triều Lý có 9 đời vua thì đã có tới 5 vị lên ngôi ngay từ khi còn ở tuổi thiếu niên, nhi đồng. Âu cũng là cái dở của nhà Lý.
.
7. Trần Thái Tông Trần Cảnh (1218-1277), là vị vua đầu tiên của nhà Trần, lên 7 tuổi được đưa vào cung làm hầu cận cho Lý Chiêu Hoàng, lên 8 tuổi được lấy nữ hoàng làm vợ và được nhường ngôi báu.
.
8. Trần Minh Tông Trần Mạnh (1300 – 1357), là vị vua thứ 5 của nhà Trần, lên ngôi lúc 14 tuổi. Trần Minh Tông tính tình nhân hậu, biết trọng người tài. Minh Tông được sử cũ khen ngợi là một ông vua sáng suốt, dù không phải là không có tỳ vết.
.
9. Trần Hiến Tông Trần Vượng (1319 – 1341), là vị vua thứ 6 của nhà Trần, lên ngôi khi 10 tuổi. Hiến Tông tuy cai trị trên danh nghĩa, nhưng việc điều khiển triều chính đều do cha là Thái thượng hoàng Trần Minh Tông xử lý. Hiến Tông mất sớm, khi mới 23 tuổi. Theo sử sách đánh giá, vua là một người “tư trời tinh anh và sáng suốt”.
.
10. Trần Dụ Tông Trần Hạo (1336 – 1369), là vị vua thứ 7 của nhà Trần, lên ngôi khi 5 tuổi. Dụ Tông thông minh, có học vấn, buổi đầu lại được những trung thần có tài giúp sức, nên chính sự tốt đẹp. Nhưng quãng đời về sau lại càng nát, bị bọn gian thần lũng đoạn.
.
11. Trần Thuận Tông Trần Ngung (1378 – 1398), là vua thứ 11 triều Trần, lên ngôi khi 11 tuổi. Vua chỉ làm bù nhìn vì mọi quyền lực đều nằm trong tay Hồ Quý Ly. Làm vua được 10 năm, 1 năm đi tu và bị Hồ Quý Ly giết năm 22 tuổi. Poor vua!
.
12. Trần Thiếu Đế Trần Án (1396 – ?), là vị vua thứ 12 và là vị vua cuối cùng của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi khi 3 tuổi ba năm sau thì bị Hồ Quý Ly bức phải nhường ngôi. Nhà Trần mất về tay nhà Hồ.
.
–> Vì triều Trần có lệ vua cha khi còn sống đã truyền ngôi cho con và mình lên làm thượng hoàng, vì vậy các vua Trần đều lên ngôi khi tuổi còn rất trẻ, hầu hết được đặt lên ngai vàng trong tình thế bất thường.
.
13. Lê Thái Tông Lê Nguyên Long (1423 – 1442), là vị vua thứ 2 của nhà Lê sơ, lên ngôi năm 11 tuổi, tự điều hành mọi công việc, được sử gia khen là “vua thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình”. Ông làm vua đươc 9 năm rồi chết đột ngột khi mới 20 tuổi trong vụ án Lệ Chi Viên chấn động.
.
14. Lê Nhân Tông Lê Bang Cơ (1441 – 1459), là vị vua thứ 3 của nhà Lê sơ, lên ngôi khi mới 2 tuổi, 12 tuổi thì tự điều hành triều chính. Ông trị vì trong 17 năm rồi bị người anh cùng cha khác mẹ là Nghi Dân ám sát năm 19 tuổi.
.
15. Lê Chiêu Tông Lê Ý (1506 – 1526), là vị vua thứ 10 của nhà Lê Sơ, lên ngôi khi 11 tuổi trong bối cảnh đất nước loạn lạc. Triều chính nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Lớn lên, Lê Chiêu Tông ngầm mưu triệt hạ phe cánh họ Mạc, việc bị lộ, vua bị giết khi mới 21 tuổi.
.
16. Lê Cung Hoàng Lê Xuân (1507 – 1527), là vị vua thứ 11 của nhà Lê sơ, lên ngôi khi 15 tuổi. Cung Hoàng lên ngôi bù nhìn, bị quyền thần Mạc Đăng Dung không chế, thực tế không hề có quyền hạn. Vận nước đã hết, tài năng Cung Hoàng lại không có, làm vua được 5 năm thì bị Mạc Đăng Dung giết chết năm 20 tuổi.
–> Triều Lê sơ kéo dài 99 năm, trải qua 10 đời vua, có 4 vị lên ngôi khi còn độ tuổi thiếu nhi.
.
17. Mạc Anh Tổ Mạc Mậu Hợp (1560 – 1592) là vị vua thứ 5 của nhà Mạc, lên ngôi lúc mới 2 tuổi. Khi quân Nam triều dưới sự chỉ huy của Trịnh Tùng bắc tiến, Mạc Mậu Hợp thua chạy, đánh mất thành Đông Kinh. Sau đó, ông bị quân Nam triều bắt khi đang giả làm sư và bị Trịnh Tùng xử tử. Hưởng dương 32 tuổi.
.
18. Vũ An vương Mạc Toàn (? – 1593) là vua thứ 6 và là vua cuối cùng nhà Mạc. Mạc Toàn lên ngôi khi lực lượng nhỏ yếu, không được nhân tâm ủng hộ. Ông bị quân Trịnh bắt được và đem chém đầu cùng nhiều tông thất nhà Mạc. Mạc Toàn chỉ xưng hiệu được vài tháng, không rõ sống được bao nhiêu tuổi. Nhưng dựa vào chi tiết vua cha Mậu Hợp mất lúc mới 30 tuổi, nên có lẽ Mạc Toàn cũng lên ngôi khi còn trẻ con.
.
19. Lê Trung Tông Lê Duy Huyên (1535 – 1556), là vị vua thứ hai của nhà Lê trung hưng, lên ngôi khi 13 tuổi, và mọi việc do Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm đứng ra giúp đỡ. Dưới thời Trung Tông hoàng đế, vùng kiểm soát của nhà Lê tiếp tục được mở rộng, tiếng vang lan ra, hào kiệt, danh sĩ tứ phương tìm về theo nhà Lê ngày càng đông.
.
20. Lê Thế Tông Lê Duy Đàm (1567 – 1599), là vị vua thứ 4 của nhà Lê trung hưng, lên ngôi năm 7 tuổi. Nhà Mạc bị đánh bại, chạy lên Cao Bằng. Lê Thế Tông được đón về Thăng Long, nhưng quyền lực vua Lê bị thu hẹp bên cạnh sự bành trướng của phủ chúa Trịnh. Lê Thế Tông mất năm 33 tuổi.
.
21. Lê Kính Tông Lê Duy Tân (1588 – 1619), là vị vua thứ 5 của nhà Lê trung hưng, làm vua năm 11 tuổi. Khi trưởng thành, thấy thế lực chúa Trịnh lấn át quá đáng, Lê Kính Tông mưu giết Trịnh Tùng. Việc không thành, vua bị chúa Trịnh bức thắt cổ chết.
.
21. Lê Thần Tông Lê Duy Kỳ, lên ngôi năm 12 tuổi. Năm 36 tuổi ông nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng. Ai ngờ con chết sớm, Thần Tông được chúa Trịnh mời lên làm vua một lần nữa. Ông cũng là vị Vua Việt Nam duy nhất hai lần lên ngôi.
.
22. Lê Chân Tông Lê Duy Hựu (1630 – 1649), là vị vua thứ 7 của nhà Lê trung hưng, con trưởng của Thần Tông, lên ngôi năm 13 tuổi. Ngồi ngai vàng được 6 năm thì bị bệnh mất.
.
23. Lê Huyền Tông Lê Duy Vũ (1654 – 1671), là vị vua thứ 8 của nhà Lê trung hưng, con thứ hai của Lê Thần Tông, sau khi cha chết, lên nối ngôi khi mới 9 tuổi, mất sớm vào tuổi 18.
.
24. Lê Gia Tông Lê Duy Cối (1661 – 1675), là vị vua thứ 9 của nhà Lê trung hưng trong lịch sử, cũng là con thứ của Thần Tông, làm vua khi 12 tuổi, ở ngôi 3 năm rồi mất.
–> Thời Lê trung hưng có 16 đời vua, có tới 7 đời vua trẻ con, trong đó một số chết yểu.
.
25. Cảnh Thịnh đế Nguyễn Quang Toản (1783 – 1802), là vị vua cuối cùng của nhà Tây Sơn, lên ngôi khi 9 tuổi. Cảnh Thịnh sau khi lên ngôi thì bị họ ngoại chuyên quyền, trong đó có Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Vua nhỏ tuổi, không có kinh nghiệm nên không giữ được việc triều chính, làm cho các đại thần giết hại lẫn nhau dẫn đến nội bộ lục đục, triều chính sụp đổ. Cảnh Thịnh cùng hoàng thất Tây Sơn đều bị vua Gia Long dùng cực hình 5 voi xé xác. Khi bị hành hình, Cảnh Thịnh đế 19 tuổi.
.
26. Kiến Phúc đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng (1869 – 1884), là vị vua thứ 7 của nhà Nguyễn, lên ngôi năm 14 tuổi, làm vua được 8 tháng thì bị đầu độc chết.
.
27. Hàm Nghi đế Nguyễn Phúc Ưng Lịch (1872 – 1943), là vị vua thứ 8 của nhà Nguyễn, lên ngôi năm 13 tuổi. Vua bị Pháp bắt khi 17 tuổi và bị đày sang Angiêri và qua đời tại đây năm 1943 vì bệnh ung thư dạ dày.
.
28. Thành Thái đế Nguyễn Phúc Bửu Lân (1879 – 1954), là vị vua thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn, lên làm vua năm 10 tuổi. Đây là ông vua yêu nước, thương dân, có ý chí chống Pháp. Chính vì vậy, ông bị chính quyền Pháp ép phải thoái vị năm 28 tuổi và bị đi đày ở đảo Reunion.
.
29. Duy Tân đế Nguyễn Phúc Vĩnh San (1900 – 1945), là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn, lên ngai vàng khi 8 tuổi. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội dự định khởi nghĩa nhưng thất bại và Duy Tân bị bắt đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương. Trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, ông gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít Đức rồi mất vì tai nạn máy bay ở Trung Phi, hưởng dương 45 tuổi.
.
30. Bảo Đại đế Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1913 – 1997), là vị vua thứ 13 và là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn nói riêng và của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam nói chung, lên ngôi khi 13 tuổi.
Hình ảnh các vị vua, hoàng hậu, hoàng tử… triều Nguyễn trên các bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX thường được thể hiện trong trang phục triều hội, với các “phụ kiện” như cân đai, hia, mão và các món trang sức bằng vàng, ngọc và đá quý rất độc đáo. Tùy theo chất liệu và hình dáng, những món trang sức này được gọi là kim bài, kim khánh, kim bội và ngọc bội. Đó không phải là thứ trang sức thông thường của vua chúa, quý tộc hay đình thần, mà là những phục trang thể hiện danh phận, quyền uy và vinh hạnh của người phục sức. Đó còn là những kỷ vật ghi nhận công trạng hay sự ân thưởng của nhà vua đối với những người có công lao với quốc gia và triều đình.
Kim bài là những chiếc thẻ bài làm bằng vàng hình chữ nhật (8,5cm x 5cm), phía trên tạo hình tựa chiếc khánh, có lỗ để xâu dây đeo. Dưới triều Gia Long (1802 – 1820), triều đình cấp cho các quan trong Cơ Mật viện những chiếc thẻ bài bằng bạc (ngân bài) như một thứ “giấy thông hành” để họ ra vào Đại Nội. Đến năm 1834, vua Minh Mạng (1820 – 1841) bắt đầu cấp các thẻ bài bằng vàng (kim bài) có khắc 4 chữ Hán Cơ Mật đại thần thay cho các ngân bài được cấp trước đây. Với các chức quan không thuộc Cơ Mật viện, thì tùy theo chức tước và phẩm hàm, thẻ bài cấp cho họ có thể làm bằng vàng, bằng bạc mạ vàng hay bằng bạc.
Kim bài quý nhất là của nhà vua, có khắc dòng chữ Hán Thái bình thiên tử trên nền hoa văn “lưỡng long” và có gắn 10 viên kim cương, bên ngoài có 3 đường viền kết bằng ngọc trai. Ngoài ra, nhà vua còn có kim bài khắc dòng chữ Hán Đại bang duy bình và có gắn 10 viên hồng ngọc.
Kim khánh cũng được làm bằng vàng, được vua ban cho các tướng lĩnh, quan lại cao cấp vì những công lao của họ đối với triều đại và đất nước. Dưới triều Gia Long và Minh Mạng, kim khánh chỉ được thưởng cho các thành viên hoàng gia và các quan lại có điện hàm đại học sĩ (Tứ trụ).
Từ năm 1873 trở đi, vua Tự Đức (1848 – 1883) còn ban thưởng kim khánh cho các quan chức cao cấp người Pháp ở Đông Dương để tỏ tình giao hảo. Từ triều Hàm Nghi (1884 – 1885) trở về trước, kim khánh chỉ có 2 hạng: đại hạng kim khánh (kim khánh hạng lớn) và kim khánh (kim khánh hạng thường), đều làm bằng vàng 8,5 tuổi nhưng khác nhau về kích thước, trọng lượng và hoa văn trang trí. Sang triều Đồng Khánh (1885 – 1889), kim khánh được phân thành 4 hạng: đại (hạng lớn), trung (hạng vừa), thứ (hạng dưới trung bình) và tiểu (hạng nhỏ). Đến năm 1900, vua Thành Thái (1889 – 1907) quy định kim khánh chỉ có 3 hạng, đều khắc dòng chữ Hán Thành Thái sắc tứ ở mặt trước, nhưng mặt sau thì phân biệt bởi các dòng chữ Hán: Báo nghĩa thù huân (hạng nhất), Gia thiện sinh năng (hạng hai) và Lao năng khả tưởng (hạng ba). Mỗi kim khánh đều có một chùm tua kết bằng các hạt ngọc trai, mã não và cườm nhiều màu nhập từ Ấn Độ. Đặc biệt, kim khánh của triều Khải Định (1916 – 1925) thường có các chữ Hán Khải Định ân tứ hoặc Ân tứ khắc chìm và được khảm ngọc trai trong lòng chữ. Những kim khánh này được đựng trong những chiếc hộp bằng bạc, chính giữa khắc 4 chữ Hán Khải Định niên tạo và có chữ ký nghệ nhân chế tác kim khánh khắc ở phía dưới. Riêng những kim khánh vua ban cho phái nữ thì các hoa văn hình rồng được thay thế bằng hình chim phụng.
Kim bội là vật trang sức hoàng gia, chỉ xuất hiện từ năm 1889 trở đi. Kim là vàng, bội là đeo, treo. Kim bội là (vật bằng) vàng để treo, đeo. Kim bội dáng hình thuẫn hoặc hình chữ nhật cách điệu ở 4 góc. Một mặt của kim bội khắc các dòng chữ Hán ghi niên hiệu của vua như: Thành Thái niên tạo, Duy Tân niên tạo…, mặt kia khắc dòng chữ Hán Quỳnh diêu vĩnh hảo. Lúc đầu, vua Thành Thái cho đúc kim bội để thưởng cho những người có công, nhưng về sau kim bội chỉ được ban tặng cho phụ nữ, chủ yếu là các công chúa, để làm vật trang sức và thể hiện danh phận của họ. Do vậy nên dòng chữ Hán Quỳnh diêu vĩnh hảo trên kim bội được thay bằng các dòng chữ Hán: Hoàng trưởng nữ công chúa, Hoàng thứ nữ công chúa, hay Hoàng thứ nữ. Hoa văn trang trí trên kim bội thường là thuộc đề tài hoa thảo hay các dạng hồi văn chữ Thọ, chữ Công liên hoàn.
Ngọc bội có hình dáng tương tự kim khánh nhưng được làm bằng ngọc quý, chủ yếu là bằng cẩm thạch. Một mặt của ngọc bội khắc chìm dòng chữ Hán thếp vàng Thụ thiên vĩnh mệnh, mặt kia khắc niên hiệu của vị vua đang tại vị như Thiệu Trị trân bửu, Khải Định trân bửu… Thời Nguyễn sơ, ngọc bội được coi là hàm tước danh dự hay quan huy và được ban thưởng cho cả nam lẫn nữ. Từ triều Khải Định trở đi, ngọc bội chỉ còn là một thứ trang sức biểu trưng cho vương gia và quyền quý.
Việc chế tác kim bài, kim khánh, kim bội, ngọc bội dưới thời Nguyễn do Kim ngân tượng cục thực hiện. Kim ngân tượng cục là quan xưởng do vua Minh Mạng cho lập vào năm 1834 đặt dưới sự cai quản của Sở Nội tạo. Đây là nơi tập trung những người thợ kim hoàn giỏi nhất trong nước, chuyên chế tác các vật dụng bằng vàng, bạc và đá quý để phục vụ cho nhu cầu của hoàng gia và triều đình. Ngoài Kim ngân tượng cục, triều Nguyễn còn cho mở thêm hai tượng cục khác để chế tác các vật dụng có liên quan đến vàng bạc. Đó là Kim mạo tượng ty chuyên chế tạo mũ mão bằng vàng cho vua và hoàng gia và Kim tương tượng ty chuyên chế tạo các vật phẩm có thếp vàng.
Vua, hoàng gia và đình thần thường đeo kim bài, kim khánh, kim bội và ngọc bội trong các dịp quốc lễ, triều hội hay trong những dịp nghinh tiếp quốc khách. Cùng với các bộ triều phục lộng lẫy, những kim bài, kim khánh, kim bội, ngọc bội… của triều Nguyễn là những trang sức không thể thiếu trong trang phục cung đình Huế. Những trang sức ấy đã góp phần tạo dựng nét uy phong và quyền quý của một lớp người từng nắm giữ quyền lực ở Việt Nam một thuở. Để rồi giờ đây, khi buổi hoàng kim của triều Nguyễn đã trở thành quá vãng, những món trang sức ấy lại trở thành những cổ vật vô giá và là niềm mơ ước của những nhà sưu tập có tinh thần hoài cổ.
Trong những di sản văn hóa do triều Nguyễn để lại, có một loại cổ vật có giá trị lịch sử, mỹ thuật và văn hóa rất cao, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, nhưng được gọi chung bằng một cái tên là thẻ bài. Đây là tên dùng để gọi một nhóm vật dụng, chữ Hán tự ghi là bài, nghĩa là “cái bảng, mảnh ván đề chữ làm dấu hiệu để yết thị; chiếc thẻ dùng để làm tin”. Từ tên chung là thẻ bài, tùy theo chất liệu làm nên chiếc thẻ mà có sự phân biệt là: kim bài (bài bằng vàng), ngân bài (bài bằng bạc), mộc bài (bài bằng gỗ), thạch bài (bài bằng đá)…; hay tùy theo công năng của từng chiếc thẻ mà gọi là: bội bài (bài để đeo), tín bài (bài làm tín vật), lệnh bài (bài giao việc)…
Những thẻ bài này là vật dụng đặc biệt, dùng để ghi công hay để phân biệt danh tính, phẩm hàm, địa vị, chức phận của các hạng quý tộc, quan binh thời Nguyễn. Theo khảo cứu của Đặng Ngọc Oánh trong bài Les distintions honorifiques annamites (B.A.V.H. No.4/1915) và của L. Sogny trong bài Les plaquettes des dignitaires et des mandarins à la Cour d’Annam (B.A.V.H. No.3/1926), thẻ bài gồm hai loại: một loại là những huân chương, huy chương để tưởng thưởng công trạng hay huy chương danh dự của triều đình ban tặng cho các bậc vương công, đại thần, binh sĩ và cả những người nước ngoài phụng sự cho triều Nguyễn. Loại kia là những “phục trang” đặc biệt để phân biệt địa vị, phẩm hàm của những hạng người khác nhau trong xã hội. Ngoài ra, còn có những chiếc thẻ bài có giá trị như giấy thông hành, dùng để ra vào nơi cung cấm, hay được dùng như giấy ủy nhiệm của quan lại cấp trên giao việc cho thuộc hạ.
Khởi thủy, vua Gia Long (1802 – 1820) cấp cho các quan trong Cơ Mật Viện một ngân bài (bài bằng bạc) để ra vào Đại Nội. Năm 1834, vua Minh Mạng (1820 – 1841) bắt đầu cho làm các thẻ bài bằng vàng, gọi là kim bài, có đề 4 chữ Hán: Cơ Mật Đại Thần để ban cho các quan lại cao cấp được sung vào Cơ Mật Viện. Tùy theo chức tước và phận sự, các thẻ bài do triều Nguyễn ban tặng cho các quan được làm bằng vàng, bằng bạc mạ vàng hay bằng bạc. Từ năm Thành Thái thứ 16 (1906) trở đi, quan lại văn võ từ hàm thất phẩm trở lên nhận thẻ bài làm bằng ngà, từ thất phẩm trở xuống nhận thẻ bài làm bằng sừng trâu. Bài của quân lính phục vụ trong Đại Nội thì làm bằng chì, sau đổi làm bằng gỗ mun.
Quý nhất trong các loại thẻ bài chính là các kim bài của các bậc đế hậu hay quý tộc cao cấp. Đây là những món đồ trang sức của vua chúa, đồng thời cũng là vật thể hiện địa vị và đẳng cấp của người sở hữu chúng. Ngoài kim bài, vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa và các vương tôn còn đeo kim khánh và ngọc khánh. Nhà vua còn dùng kim bài, kim khánh và ngọc khánh như vật phong tặng, quà kỷ niệm hay vật ân thưởng cho quý tộc và quan lại cao cấp trong những dịp đặc biệt.
Kim bài của các vua triều Nguyễn thường có hình chữ nhật (8,5cm x 5cm), có 4 chữ Hán Thái bình thiên tử bằng vàng chạm nỗi và nạm 10 viên kim cương. Ngoài ra còn có loại kim bài hạng hai, khắc 4 chữ Hán Đại bang duy bình bằng vàng chạm nỗi và nạm 10 hồng ngọc, xung quanh có viền hoa văn hình lưỡng long khắc chìm.
Kim khánh làm bằng vàng có đính các hạt trân châu, mã não, là thứ huy chương quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. Dưới triều Gia Long và Minh Mạng, kim khánh chỉ dành riêng cho các thành viên hoàng gia và các quan lại có hàm đại học sĩ. Dưới triều Thiệu Trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1848 – 1883) kim khánh gồm hai hạng: đại kim khánh và kim khánh. Từ năm 1885 triều đình đổi thành bốn hạng: đại kim khánh có đề 4 chữ Hán Báo nghĩa thù huân; trung kim khánh (hình dáng như đại kim khánh như nhẹ hơn); kim khánh có đề 4 chữ Hán Sanh thiện thượng công và tiểu kim khánh có đề 4 chữ Hán Lao năng khả tưởng. Mặt sau các kim khánh thường khắc ghi niên hiệu của triều vua cho chế tác và ban tặng kim khánh. Năm Thành Thái thứ 2 (1900), triều đình bỏ hạng trung kim khánh và thiết lập hệ thống kim khánh mới gồm ba hạng: nhất hạng kim khánh, nhị hạng kim khánh và tam hạng kim khánh dùng để trao trặng cho quần thần và cho cả người Pháp. Mặt sau các kim khánh này có khắc các chữ Hán Đại Nam hoàng đế sắc tứ. Đến triều Khải Định (1916 – 1925), kim khánh làm bằng vàng, có đề 4 chữ Khải Định ân tứ, được đựng trong một hộp bạc, chạm trỗ hoa văn lưỡng long triều nhật, chính giữa mặt trong có một ô hình trái xoan đề 4 chữ Hán Khải Định niên tạo và phía dưới có chữ ký nghệ nhân chế tác ở bên trái. Đối với các kim khánh ban cho phái nữ thì xung quanh các Hán tự có trang trí 2 hình chim phụng.
Ngọc khánh có hình dáng tương tự như kim khánh nhưng được làm bằng ngọc quý, chủ yếu làm bằng cẩm thạch. Mặt trước ngọc khánh thường khắc 4 chữ Hán Thụ thiên vĩnh mệnh. Mặt sau khác niên hiệu của vị vua đang trị vì vào thời điểm ngọc khánh được chế tác hay ban tặng.
Việc chế tác các kim bài và kim khánh dưới thời Nguyễn được giao cho Kim ngân tượng cục thực hiện. Kim ngân tượng cục do vua Minh Mạng cho lập vào năm 1834, trực thuộc Sở Nội tạo. Đây là nơi trưng tập các thợ thủ công tài giỏi trong cả nước về nghề kim hoàn. Họ được tuyển vào làm việc ở Kim ngân tượng cục này để chuyên chế tác các vật dụng bằng vàng và bạc, cung ứng cho nhu cầu của hoàng gia và triều đình. Ngoài Kim ngân tượng cục, triều Nguyễn còn cho mở thêm hai tượng cục khác, chuyên chế tác các vật dụng liên quan đến vàng bạc. Đó là Kim mạo tượng ty chuyên chế tạo mũ mão bằng vàng cho vua và hoàng gia và Kim tương tượng ty chuyên chế tạo các vật phẩm có thếp vàng.
Vua, hoàng hậu và các thành viên hoàng gia thường mang kim bài, kim khánh, ngọc khánh… trong các dịp thiết đại triều, trong những lễ lạt quan trọng của triều đình và trong các dịp nghinh đón quốc khách. Riêng vua Khải Định, thì ngoài kim bài, kim khánh và ngọc khánh, nhà vua còn đeo thêm các huy chương như Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh… mà chính phủ Pháp trao tặng, nhất là trong các dịp lễ lạt có sự hiện diện của quan lại mẫu quốc.
165 năm sau ngày nhà Nguyễn cáo chung, phần lớn kim bài, kim khánh, ngọc khánh… của triều Nguyễn đã trở thành cổ vật trong các bảo tàng và sưu tập tư nhân ở nước ngoài. Trong một bài viết mới công bố gần đây, nhà nghiên cứu Philippe Truong (hiện sống ở Pháp) cho biết: Cách nay hai tháng, trên mạng eBay có đưa ra đấu giá một thẻ bài bằng bạc mạ vàng của An Tĩnh Công, giá bán cuối cùng lên đến 1919 euro. Ngoài ra, trong sưu tập huy chương của đại sứ Ý Antonio Benedetto Spada, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Légion d’Honneur (Paris), có trưng bày 8 kim bài, 6 ngân bài và một số bài bằng ngà và sừng, kim khánh, ngân khánh, kim bội và kim tiền thời Nguyễn. Trong số đó, đáng chú ý nhất là kim bài khắc 4 chữ Hán Đại bang duy bình của vua Khải Định làm bằng vàng nạm 10 hồng ngọc, viền hoa văn lưỡng long và kim khánh bằng vàng có đề bốn chữ Hán Khải Định ân tứ, chứa trong một hộp bạc, khắc hoa văn lưỡng long triều nhật, chính giữa có một ô hình trái xoan đề chữ Khải Định niên tạo và chữ ký của nghệ nhân khắc ở phía dưới bên trái.
Giới khảo cứu và dân chơi cổ ngoạn trong nước hiếm khi có dịp tận mắt chiêm ngưỡng những trân bảo ấy. May mắn lắm cũng chỉ nhìn thấy hình dáng “của hiếm” trong những catalogue in ấn ở ngoại quốc mà thôi. Âu đó cũng là một thiệt thòi cho giới sưu tầm và ưa chuộng cổ vật nước nhà vậy.
Kim bài khắc dòng chữ Thái bình thiên tử của vua Khải Định
Kim bài khắc dòng chữ Đông cung hoàng thái tử của hoàng thái tử Vĩnh Thụy
Kim bài khắc dòng chữ An Tĩnh công, triều Khải Định
Kim khánh khắc hai chữ Ân tứ, triều Đồng Khán
Kim khánh khắc dòng chữ Báo nghĩa thù huân, triều Khải Định
Kim khánh khắc dòng chữ Khải Định ân tặng
Kim bội khắc dòng chữ Hoàng trưởng nữ công chúa
Kim bội khắc dòng chữ Hoàng thứ nữ công chúa
Ngọc bội khắc dòng chữ Thiệu Trị trân bửuNgọc bội khắc dòng chữ Khải Định trân bửu
Chân dung vua Đồng Khánh mặc hoàng bào, đeo ngọc khánh, tay cầm hốt trấn khuê, ngự trên ngai vàng
Vua Thành Thái mặc long bào, đeo ngọc khánh và kim tiền
Vua Khải Định mặc trang phục kiểu Âu châu, đội nón, đeo kim bài, ngọc khánh và huy chương (do người Pháp tặng)
Vua Bảo Đại mặc quốc phục, đeo kim bài và huy chương (do người Pháp tặng)
Hoàng tử Bảo Long mặc quốc phục, đeo kim bài và ngọc khánh
Hoàng tử Bảo Long mặc quốc phục, đeo kim bài và huy chương (do người Pháp tặng)
Lịch sử Việt Nam không thiếu chuyện hậu cung tranh sủng thâm sâu ngàn lớp, độc kế trùng trùng, chẳng thua các chuyện được nhà làm phim Trung Quốc khai thác triệt để như Cung Tâm Kế, Chân Hoàn Truyện hay gần đây là Võ Mị Nương Truyền Kỳ. Chẳng qua, vì nền phim ảnh truyền hình nước ta còn yếu mỏng, nên đa phần khán giả trẻ chỉ nghe sơ sài về án oan Lệ Chi Viên, Thái hậu Dương Vân Nga, hay cuộc đời truân chuyên của Hoàng hậu Nam Phương. Chính sử Việt Nam còn dày và truyền cảm hứng nhiều hơn thế!
#1: Lưỡng triều Thái hậu Dương Vân Nga
Nhiều sử gia cho rằng Dương Vân Nga là người nữ nhân đẹp nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam. Gương mặt bà bầu bĩnh như khuôn trăng song vẫn có nét thanh tú, cao sang như áng mây bồng bềnh. Bà là Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, có với vua ba con trai, một con gái. Nhưng sau khi Đinh Tiên Hoàng qua đời, là một thái hậu “thức thời”, bà đã gá nghĩa kết hôn với Lê Đại Hành để tìm chỗ dựa cho triều đình trong lúc giặc ngoại xâm đang hăm he xâu xé. Vì vậy, Dương Vân Nga trở thành Hoàng hậu đầu tiên của triều Tiền Lê, là người phụ nữ đầu tiên của sử Việt trở thành Hoàng hậu của hai vị hoàng đế hùng mạnh, mưu lược.
Hình minh họa
#2: Nguyên phi Ỷ Lan từ thôn nữ thành Thái hậu hai lần buông rèm nhiếp chính
Nguyên phi Ỷ Lan là vợ vua Lý Thánh Tông, được vua tuyển nhập cung trong một lần vua về viếng thăm chùa Dâu và bắt gặp nàng. Khi ấy, dân làng ai cũng nô nức ra xem thánh giá, chỉ có một cô thôn nữ nhan sắc thanh tú vẫn tiếp tục hái dâu, hờ hững như không. Thấy thế, vua vời đến hỏi thì biết nàng xuất thân nghèo khó nên dặn bản thân phải chăm làm, không muốn xem lễ hội. Tuy nhiên, đời sau nhiều người lại bảo đấy là “chiêu thức” của nàng Nguyên Phi đặng khiến bản thân nổi bật gây chú ý. Sau khi vua chồng mất, là mẹ đẻ của vua con lại là người tinh thông chính trị, Nguyên Phi Ỷ Lan hai lần buông rèm nhiếp chính, giúp đem lại một thời thái bình thịnh trị. Nhưng chính sử vẫn luận tội Ỷ Lan ngầm hãm hại Dương Thái Hậu vốn là vợ chính của vua chồng, sai khiến vua con đày Dương Hậu vào lãnh cung rồi xử chết cùng 72 cung nữ để bản thân được thỏa mộng quyền lực.
Hình minh họa
#3: Lý Chiêu Thánh & Lý Thuận Thiên – tình em duyên chị
Lý Chiêu Thánh và Lý Thuận Thiên là hai công chúa cuối cùng của nhà Lý, con gái Lý Huệ Tông và Hoàng hậu Trần Thị Dung. Khi Lý Huệ Tông băng hà, truyền ngôi lại cho con gái thứ là Chiêu Thánh trở thành Nữ hoàng (duy nhất của lịch sử Việt Nam). Thái hậu Trần Thị Dung cấu kết cùng Thái sư Trần Thủ Độ gả Nữ hoàng Chiêu Thánh cho cháu mình là Trần Cảnh, rồi năm sau ép Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng – vương triều Lý chính thức khép lại, mở ra triều nhà Trần. Trần Cảnh lên ngôi thành Trần Thái Tông, lập Chiêu Thánh thành Hoàng hậu. Câu chuyện không dừng ở đó. Chị của Chiêu Thánh là Công chúa Thuận Thiên vốn được gả cho anh trai của Trần Cảnh là Trần Liễu từ năm 6, 7 tuổi. Nhưng Chiêu Thánh mười năm trong cung không có con khiến Thái sư Trần Thủ Độ và Công chúa Trần Thị Dung lo lắng không có hậu duệ nương tựa nên đã bày kế ép Thuận Thiên đang mang thai phải bỏ anh lấy em, vào cung thành Hoàng hậu mới của Trần Cảnh để sinh ra thừa tự. Hoàng hậu Chiêu Thánh bị phế và biếm khỏi cung, phải lên chùa tu một thời gian. Có tích nói ở tuổi 40, bà bị triều đình đem gả làm món quà cho một danh tướng có công là Lê Phụ Trần.
Hình minh họa
#4: Lê Thái Tông & Tam cung tranh sủng
Lê Thái Tông có năm người vợ nổi bật là Dương Thị Bí, Nguyễn Thị Anh, Ngô Thị Ngọc Dao. Sủng phi Dương Thị Bí xinh đẹp sinh được hoàng tử trưởng Lê Nghi Dân nên địa vị trong cung rất cao, được vua nhất mực yêu chiều. Được sủng ái sinh cao ngạo, Dương Thị tỏ thái độ với cả vua chồng khiến bản thân bị chán ghét, phế xuống thành Chiêu nghi. Thái Tông lập Nguyễn Thị Anh là mẹ của Hoàng tử Lê Bang Cơ làm Hoàng hậu. Nhưng rồi, lại có dị nghị rằng Nguyễn Thị Anh vào cung chỉ sáu tháng đã sinh con nên Bang Cơ không phải cốt nhục hoàng gia, cùng lúc ấy Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao cũng sinh con trai. Nguyễn Thị Anh sợ Ngô Tiệp dư sẽ tranh sủng tranh quyền, nên đã sát hại vua Thái Tông rồi đổ cho vợ chồng Nguyễn Trãi, thành án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng đời đời mà vẫn nhiều uẩn khúc chưa thể kết luận.
Nam Phương Hoàng Hậu
Chính sử Việt Nam thời phong kiến còn rất nhiều những câu chuyện ly kỳ được sách vở truyền tụng và nhân dân nhiều đời thêu dệt, như hai Công chúa Đông Đô thành Hoàng hậu Phú Xuân (Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc Bình), Công chúa Ngọc Vạn và hành trình trở thành Vương hậu Chân Lạp, Công chúa Huyền Trân cắt duyên đầu chấp nhận gả xa để mở mang bờ cõi… Hy vọng, những nhà làm phim Việt và các thế hệ đạo diễn trẻ có thể tìm về lịch sử nước nhà mà xây dựng những bộ phim hoành tráng, vừa là mồi nhử cho lớp trẻ tìm tòi lịch sử, vừa có thể đem sử Việt đi khuấy động châu Á như các bộ phim Trung, Hàn đang làm.
LANA (lanasomething) Bài viết gốc có tiêu đề : Thâm cung nội chiến: Nếu sử Việt lên ngôi .
“Ấu dâm” (quan hệ tình dục với trẻ em) ĐÃ TỪNG LÀ một phần của “văn hóa truyền thống” Việt Nam kéo dài hàng ngàn năm cho mãi đến gần đây.
Luận điểm gây shock này thực sự không có gì đáng ngạc nhiên khi xem xét lại lịch sử hôn nhân và gia đình người Việt, thậm chí, chỉ 40 năm trở về trước.
Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến một kiến thức nhân học cơ bản: tình dục cùng cấm kị tình dục ở những nền văn hóa khác nhau, là khác nhau. Nhiều hành vi tình dục ở một nền văn hóa được coi là bình thường, thì ở một nền văn hóa khác, lại bị coi là tội ác.
Ngay cả trong nội bộ một nền văn hóa, ở những thời điểm khác nhau, tình dục và cấm kị tình dục cũng hoàn toàn khác biệt. Vào đời Lý và Trần, “loạn luân” là hành vi phổ biến và chấp nhận được. Song dưới thời Lê – Nguyễn, “loạn luân” là tội chết. “Ấu dâm” vẫn là chuyện HOÀN TOÀN BÌNH THƯỜNG và chấp nhận được về mặt văn hóa – đạo đức.
Đại Việt sử ký toàn thư thậm chí còn ghi chép chuyện Lý Chiêu Hoàng lên ngôi khi 6 tuổi, thấy Trần Cảnh khi ấy mới lên 8 tuổi thì ưa. Hai người lấy nhau và thành vợ chồng. Một năm sau nhường ngôi cho chồng, được chồng yêu thương hết mực. Theo sử gia, Lý Chiêu Hoàng “hiếm muộn”, nên mãi ở tuổi 15 mới bắt đầu có con.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép lại, thời nhà Trần, Trần Dụ Tông lấy vợ từ khi 13 tuổi, 15 tuổi mắc bệnh liệt dương, bà chị là công chúa Thiên Ninh (lấy chồng trước ông em 9 năm) lấy thân mình chữa bệnh cho em trai.
Hình minh họa
“Ấu dâm” bắt đầu được đề cập đến như một “vấn nạn xã hội” (chứ không phải TỘI ÁC) ở Việt Nam vào đầu thế kỉ XX. Thời gian này, những người Pháp ở Việt Nam chú ý đến hiện tượng phụ nữ Việt Nam thông thường có quan hệ tình dục từ rất sớm. Nguyên nhân là do xã hội chấp nhận hiện tượng kết hôn sớm, và sự phổ biến của hành vi “xâm hại tình dục trẻ em” thời kỳ này (theo góc nhìn của người Pháp, người Việt Nam trước đó không có khái niệm “xâm hại tình dục trẻ em”) (Nguyễn Thùy Linh 2016, 23)
Ghi chép của người Pháp cho rằng: cơ quan sinh dục nữ của phụ nữ Việt Nam rất nhỏ. Và phụ nữ Việt Nam thường dậy thì ở tuổi 12. Cô ta được công nhận là người trưởng thành khi được 16 tuổi 4 tháng (Nguyễn Thùy Linh 2016, 23)
Trong sách “L’amour aux colonies”, Dr. Jacobus X cho biết phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu khám phá cơ thể họ khi họ lên 10 tuổi. Thậm chí, ngay cả trước khi họ hành kinh lần đầu tiên. “Những cô gái An Nam bé nhỏ bị phá trinh khi họ 10 tuổi bởi những cậu trai thường hay chơi với họ” (dẫn theo Nguyễn Thùy Linh 2016, 23)
Bác sĩ Mondière khi phỏng vấn 234 phụ nữ Việt Nam, ông nhận rằng quá nửa những người phụ nữ này có quan hệ tình dục trước khi họ tròn 15 tuổi. “Thông thường, trung bình một người phụ nữ An Nam có quan hệ tình dục lần đầu tiên khi họ 14 tuổi 10 tháng” (Nguyễn Thùy Linh 2016, 23)
Những người Pháp đồng thời cũng nhận thấy rằng văn hóa người Việt lúc đấy chấp nhận cả những hành vi cấm kị như loạn luân và lạm dụng tình dục trẻ em nữ ở độ tuổi dậy thì (trong mắt người Pháp). Thậm chí ông Mondière này còn phải than rằng: “Nếu một cô gái An Nam mà còn trinh, thì chắc chắn cô ấy không có anh trai hoặc ông bố” (bởi họ sẽ “lạm dụng tình dục” cô ấy và khiến cô ấy mất trinh) (Nguyễn Thùy Linh 2016, 23)
Người Pháp đã đem quan niệm của họ về tình dục và cấm kị tình dục vào Việt Nam và thay đổi hoàn toàn cách chúng ta nhìn về tình dục.
Tại sao người Pháp có quan niệm sợ hãi tình dục vị thành niên?
Vào cuối thế kỉ XIX, dưới ảnh hưởng của “khoa học tình dục”, ở Pháp và các nước châu Âu, người ta BẮT ĐẦU tìm mọi cách chứng minh rằng hành vi tình dục ở “người chưa trưởng thành” sẽ gây những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý và sức khỏe của một đứa trẻ.
Song vấn đề lớn nhất mà không nhà khoa học nào trả lời được: “thế nào là một người trưởng thành?”. Và họ cãi nhau ỏm tỏi để về việc quy định số tuổi được coi là “trưởng thành”. Cho đến tận bây giờ, ở một số nước độ tuổi đấy là 12, 14, 15, 16, 18, 20 tùy vào “khoa học tình dục” của từng nước.
Hệ thống luật pháp và những nhà khoa học khắp thế giới cố gắng chứng minh một cá nhân trước một độ tuổi nhất định thì còn là trẻ em, ngây thơ vô tội, và KHÔNG CÓ ý niệm về tình dục. Sau đó dù chỉ một ngày, thì cá nhân đó đột nhiên có thể trở thành người thành niên, với ĐẦY ham muốn tình dục. (xem Gayle Rubin 1993)
Và kiến thức “khoa học tình dục” của thế kỷ XIX này từng khiến mọi người ở châu Âu sợ hãi đến mức cha mẹ phải trói bọn trẻ con lại vì lo rằng bọn trẻ sẽ thủ dâm khi ngủ. Các bác sĩ thời kỳ này còn thực hành CẮT ÂM HẠCH của các bé gái để hạn chế chúng không có hành vi tình dục quá sớm nhằm bảo vệ chúng (xem BarkerBenfield, 1976; Marcus, 1974; Weeks, 1981; Zambaco, 1981).
Thời kỳ này, ở châu Âu bắt đầu hình thành tâm lý về sự sợ hãi đối với hành vi tình dục giữa người trưởng thành và trẻ em. Những câu chuyện kinh hoàng về tấn công và lạm dụng tình dục “trẻ em” liên tục được tô đậm trên báo chí, truyền thông.
Báo chí và truyền thông có xu hướng tô đậm những hành vi, trường hợp hiếp dâm lòi ruột, xuất tinh vào mặt vào mồm miệng cùng tai, làm hư vòm họng, tan nát âm hộ của trẻ em như là hậu quả của MỌI quan hệ tình dục giữa người trưởng thành và trẻ em. Dù rằng những việc đó TRÊN THỰC TẾ hoàn toàn có thể xảy ra với cả người trưởng thành lẫn trẻ em.
Tất cả nhằm tô đậm rằng trẻ em HOÀN TOÀN KHÔNG PHÙ HỢP về mặt sinh học cho hành vi tình dục. Khái niệm”trẻ em” ở đây giao động liên tục giữa nhiều nấc tuổi: 12, 14, 15, 16, 18, 20 tùy vào từng thời điểm và chẳng dựa trên một cơ sở “khoa học” nào. Họ cố gắng chứng minh rằng dưới độ tuổi nhất định nào đó thì đó là trẻ em ngây thơ trong sáng, vô tội về mặt tình dục và một độ tuổi nào đó trở lên thì lại là người lớn. Điều này hoàn toàn phi lý tính và thực tế.
Dưới tấm biển “khoa học tình dục” thì cho mãi đến những năm 1970s của thế kỉ XX, trên thế giới người ta mới bắt đầu TỘI ÁC HÓA và TÂM THẦN HÓA hoạt động tình dục trẻ em dựa trên những “căn cứ, bằng chứng khoa học” mà phần nhiều là không thể chứng minh.
Tính từ thời gian này, ở Mỹ, người lớn (kể cả bố mẹ) chụp ảnh nude của trẻ con đem ra công khai/hoặc không công khai mà bị phát hiện có thể đi tù đến 15 năm. Vì thế, trên nguyên tắc, việc phổ biến hình ảnh con em thổ dân ở truồng trong sách nghiên cứu dân tộc học, hay đưa ảnh nude của con em lên Facebook cũng là nguyên nhân để đưa bố mẹ vào tù. Thực tế có rất nhiều trường hợp đi tù như vậy xảy ra trên khắp thế giới tính từ năm 1978 trở lại đây (xem Gayle Rubin 1993)
Khoảng 30 năm trở lại đây, thực hành “ấu dâm” ở Việt Nam mới bắt đầu bị TỘI ÁC HÓA dưới ảnh hưởng ngày càng sâu đậm của kiến thức của y học phương Tây về sức khỏe sinh sản của trẻ em gái và “nhãn quan đạo đức phương Tây. Khoa học hay đạo đức có thể ĐÚNG, có thể SAI nhưng tay “ấu dâm” chắc chắn “lãnh đủ”.
Ở Việt Nam mãi đến ngày 11 tháng 05 năm 1976, Tòa án nhân dân tối cao mới bắt đầu ghi nhận việc quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi là một TỘI hình sự. Đến năm 1985, điều 114 của Bộ Luật Hình sự mới chính thức có quy định về “Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi”.
Bộ Luật hình sự sau này qua rất nhiều lần chỉnh sửa đổi, quy định cụ thể hơn về các hình thức bị coi là xâm hại tình dục của trẻ em nói chung và tội giao cấu với người dưới 16 tuổi nói riêng. TỘI này nhanh chóng được quy định chặt chẽ hơn, mức xử phạt cũng tăng cao và nghiêm khắc hơn, có thể lên đến tử hình!
< Website HinhanhVietNam xin lược bỏ 1 phần cuối, có chút cảm tính của tác giả. Phần nguyên gốc xin xem ở cuối link bài này! >
—————————
Về mặt tư liệu: Tất cả tài liệu được nói đến trong bài viết đã được công bố trên Thư viện Nhân học.
On Paedophilia (March 2010) Schinaia Cosimo (PDF)
Gayle Rubin (1993) Thinking Sex Notes for a Radical Theory of the Politics of Sexuality nằm trong sách Social Perspectives in Lesbian and Gay Studies A Reader (September 2013) Nardi, Peter M.Schneider, Beth E. Theo
Video tài liệu: Khám phá những bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn và ngôi chùa Từ Hiếu ( chùa Thái giám) ở Huế…
Kịch bản và Đạo diễn: Nguyễn Hải Anh
https://www.youtube.com/watch?v=lF0jmkrI0LQ
Thái giám, hay hoạn quan là một chức quan tuy địa vị thấp nhưng chiếm vị trí quan trọng trong hậu cung xưa. Cuộc đời của họ ngoài những thăng trầm biến cố theo thời cuộc, còn phải chịu thêm đủ nỗi nặng nề, thương tâm. Một trong số đó là cảm giác đơn độc, cô quạnh cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay.
Thái giám trong lịch sử Việt Nam tồn tại dưới các đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Do không có bộ phận sinh dục nên con người của thái giám tiếng nói cũng như tính cách rụt rè thiên về nữ nhiều hơn nam. Suốt đời họ phụng sự trong cung và lớn lên họ kết nghĩa với nhau, có thể cùng giới hoặc khác giới.
Cũng do có thuận lợi được sống gần “thiên tử”, được nhiều ân sủng và nắm được những “thâm cung bí sử” trong triều nên thường họ cùng liên kết với nhau để thực hiện âm mưu nào đó. Không ít triều đình rối ren, thậm chí bị đảo chính cũng là có phần góp sức không nhỏ của thái giám.
Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, thời vua Minh Mạng (1820 – 1841) đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức.
Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”.
Sống quạnh hiu, chết nương nhờ cửa Phật
Tại Huế, bên cạnh những lăng tẩm lộng lẫy, không mấy người không biết tới chùa Từ Hiếu, nơi nương mình lặng lẽ của những người hầu cận vốn chiếm vai trò khá quan trọng trong cung đình xưa, nhưng tên tuổi cũng như vị trí của họ chưa bao giờ được đề cao. Họ là những thái giám chốn hậu cung.
Ngôi chùa là nơi “cưu mang” các quan thái giám trong triều Nguyễn, vốn không có con nối dõi, họ bày tỏ nguyện vọng với nhà vua, sau khi nhắm mắt xuôi tay, họ được chôn trong ngôi chùa này đặng có người lo hương khói.
Cảm thông với ước nguyện chính đáng này, vua Tự Đức đã xuống chỉ dụ chấp thuận. Họ đã đóng góp công đức vào ngôi chùa, để sau khi chết họ được mai táng, phục tự và cúng giỗ nơi này.
Khuôn viên chùa Từ Hiếu, nơi có nghĩa trang thái giám với 25 ngôi mộ.
Vì thế, ngoài tên Từ Hiếu, chùa còn được nhiều người quen gọi là chùa Thái giám. Hiện nay, trong vườn chùa Từ Hiếu có đến 25 ngôi mộ của Thái giám triều Nguyễn. Trước mỗi ngôi mộ đều có tấm bia ghi rõ tên họ và chức vụ của từng người.
Nhiều mảnh đời chung tâm nguyện nhỏ nhoi
Về cuối đời, các thái giám triều Nguyễn lúc bấy giờ phải cư trú ở một ngôi nhà phía Bắc hoàng thành gọi là Cung giám viện. Khi chết, số phận họ vô cùng bi thảm, không được chôn gần lăng tẩm hoặc những chốn linh thiêng và cũng chẳng được ai thờ cúng vì không có con cháu. Để tránh bát hương trở nên lạnh lẽo khi “về trời”, nhiều người đã chọn con nuôi để dạy dỗ và lo hậu sự về sau.
Theo tục lệ, cứ đến rằm tháng 11 hàng năm, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất, trong đó có thái giám triều Nguyễn. Có lẽ, một phần nhờ sự lãng quên của người đời, mà mặc dù trải qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt nhưng phần lớn những ngôi mộ này vẫn nguyên vẹn và đa phần đều đọc được rõ chữ.
Nghĩa trang thái giám hiu quạnh trong chùa Từ Hiếu
Theo lời dịch lại của một sư cụ trong chùa, thì xúc động nhất là lời lẽ trên tấm bia trước cổng nghĩa trang khiến hậu thế không khỏi chạnh lòng: Bia đề: “Trong đời sống, chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên bình. Khi ốm đau, chúng tôi lui về đây và sau khi chết, chúng tôi sẽ được chôn chung ở đây. Dù sống hay chết, chúng tôi vẫn tìm thấy được ở đây sự yên bình”.
Phận đời đưa đẩy đã khiến nhiều thái giám có một nỗi sợ mãnh liệt lớn hơn cả cái chết, chết ở đâu, chết lúc nào… theo họ giờ không quan trọng mà quan trọng nhất là được chết toàn thây, được chết cạnh cái mà mình đã cắt bỏ đi để khi về thế giới bên kia mình được chứng nhận là đã trải qua một kiếp con người. Đó cũng là cái kết “đáng buồn thay” cho cuộc đời của những con người “sinh ra chẳng được mấy ai chấp nhận”.
Xem tướng số nhiều người cho rằng không đúng, bởi đừng nhìn mặt mà bắt hình dong. Tuy thế hàng ngàn năm nay dân gian vẫn lưu truyền và củng cố thuyết tướng mệnh; xem tướng biết vận mệnh. Đặc biệt trong số những vị vua tài giỏi của Việt Nam thời xưa, xuất hiện 4 vị có tướng mạo lạ kỳ của bậc quân vương. Mời các bạn cùng tìm hiểu:
1.Lý Thái Tông
Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.
Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.
Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.
Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.
Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.
2.Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.
Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.
Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.
3.Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi
Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.
4.Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện
Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.
Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.
So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…
Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.
Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.
Vua Minh Mạng không chỉ nổi tiếng ở tài thao lược, mà còn vang danh hậu thế nhờ có sức khoẻ hơn người. Nhà vua hoạt động chăn gối về đêm đều đặn nhưng hằng ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt. Không chỉ có thế, Vua thường thức đến tận canh ba để làm việc. Điều đó cho thấy Vua Minh Mạng có một “thể chất tiên thiên” – cường tráng bẩm sinh. Chính sự khỏe mạnh đó đã góp phần không nhỏ vào sự vượng con của vị vua này.
Một số tài liệu cũng cho thấy, Hoàng đế Minh Mạng có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn. Ông để lại cho đời 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết: Trong đời sống thường nhật, có lẽ Vua Minh Mạng là người được hưởng nhiều vui thú nhất trong các vua Nguyễn ở chốn phòng the. Nhà vua có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể “chiều” đến 5 – 6 cung tần. Tuy nhiên, thông thường, mỗi đêm, Vua chấm cho thái giám gọi 5 bà vào hầu, mỗi canh một bà. Trong số các bà ấy thì có khi đã có ba bà thụ thai.
Có giai thoại rằng, để cẩn thận “tìm” đúng con vua, thái giám phải chuyển danh sách năm bà ấy cho Tôn nhơn phủ; phủ này lại chuyển một danh sách khác cho Quốc sử quán. Sau này, khi bà nào mãn nguyệt khai hoa, Quốc sử quán có trách nhiệm rà soát, đối chiếu xem thử từ ngày vua “đòi” đến kỳ sinh nở có đúng ngày đúng tháng không.
Vậy, làm thế nào mà Vua Minh Mạng có “sức đàn ông” phi thường? Theo sử sách, các ngự y trong triều đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận cho thiên tử dùng. Và nhờ “bồi bổ” Minh Mạng thang, gồm hai toa thuốc: Nhất dạ ngũ giao và Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử – được thầy thuốc căn cứ vào thể chất và sinh hoạt của nhà vua để lập ra thang thuốc rượu, mà đấng quân vương nhà Nguyễn trở thành chiến binh dũng mãnh chốn phòng the.
Tuy nhiên, các nhà y học hiện đại cho rằng, “phép thần thông” mà người ta đồn đại về Minh Mạng thang không hoàn toàn đúng 100%. Vua Minh Mạng là người có thực lực tính dục bẩm sinh, hứng thú ân ái. Những toa thuốc vua dùng chỉ mang tính trợ lực, chứ không phải đóng vai trò chủ trì quyết định. Ngoài ra, có một bằng chứng đơn giản, nếu Hoàng đế Minh Mạng có bài thuốc thần diệu như vậy thì tại sao Vua Tự Đức (cháu nội) lại không áp dụng được mà vẫn bị bất lực, không con?
Cũng có đời sống tình dục phóng khoáng trong số các vị vua triều Nguyễn, Bảo Đại nổi tiếng là vị vua đa tình và ăn chơi khét tiếng một thời. Theo sách Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam của tác giả người Pháp Daniel Grandclément, sở thích hàng đầu của Hoàng đế Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp. Ông từng thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn sắc dục của mình: “Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người”.
“Con người Bảo Đại có một phần mười của Farouk, hai phần mười của Machiavel và bảy phần mười của Hamlet… Ông đã dan díu với đủ hạng người, từ cô hầu phòng bình thường, vợ của các gia nhân đày tớ, hoa hậu Đông Dương đến gái nhảy, thậm chí gái điếm…”, một người thân thiết của cựu hoàng đã bình phẩm.
Không chỉ thử “cảm giác” với người đẹp ở quê hương, ông hoàng Bảo Đại còn có đàn bà Trung Hoa, Hong Kong, Pháp, Nhật Bản, Zaire….
Vấn đề tham quan ô lại, triều đại nào trị vì cũng đều được đặt ra và xử lý hết sức nghiêm ngặt.
Khi đọc lịch sử thời Minh Mạng, một ông vua nổi tiếng là nghiêm khắc chúng ta thấy hai sự kiện đáng chú ý trong bộ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1963, tập IV. Hai đoạn sử cho thấy thái độ kiên quyết của vua Minh Mạng trị tội bọn tham quan.
Ảnh vẽ truyền thần Vua Minh Mạng
Bị chém đầu vì trộm hơn 1 lạng vàng
Trong Bộ luật Gia Long có một điều khoản quy định cách xử tội những người ăn cắp tài sản của nhà nước. Điều 229 của bộ luật có đoạn viết: “Kho của vua gọi là Nội phủ, nó ở trong cấm địa của Hoàng thành. Hễ lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu”.
Dưới thời vua Gia Long trị vì (1802 – 1819) đã xảy ra một vụ gian lận, lấy cắp tài sản chứa trong nội phủ và những thủ phạm đã bị chém đầu. Đến thời vua Minh Mạng trị vì (1820 – 1840) lại diễn ra cảnh hoàng kim hắc thế tâm (vàng làm đen tối lòng người). Vào tháng 5/1823, một ông quan làm việc tại phủ nội vụ, tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Thay bằng tuyên án chém đầu, bộ Hình thấy đây là một ông quan đã ít nhiều có công trạng nên giảm xuống thành tội bắt đi đày viễn xứ. Vụ án được tâu lên vua, vua Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của bộ Hình là giảm án và nhà vua ra lệnh cho bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình. Đoạn văn ấy được ghi như sau:
“Thư lại Nội vụ phủ là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng. Bộ Hình nghĩ xử tội chém chuẩn làm tội đồ. Án tâu lên, vua dụ rằng: Khoảng năm Gia Long, bọn Nguyễn Đăng Được thông đồng với thợ bạc là bọn Nguyễn Khoa Nguyên đúc trộm ấn giả, để trộm đổi ấn cất ở kho, đều xử chém ngay. Nay Hữu Diệm ở đấy cân vàng mà còn dám công nhiên lấy trộm, huống chi của kho thì sao?
Thế là trong mắt hắn không có pháp luật. Chi bằng theo đúng tội danh mà định tội để răn người sau. Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết. Hồ Hữu Thẩm phải truyền cho bọn viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?”.
Ảnh minh họa.
Chặt tay vì lấy trộm thùng nhựa thơm
Vụ gian lận thứ hai xảy ra vào tháng 11 năm 1831. Toàn văn đoạn sử này như sau:
Lũ Nguyễn Đức Tuyên, tư vụ Nội vụ phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc phát giác. Vua dụ rằng: “Lai dịch các kho phần nhiều là kẻ tham lam hèn mạt, bớt xén, dối trá, chẳng thiếu cách gì. Xảy ra đến đâu trừng phạt đến đấy, đã chiếu luật làm tội nặng, lại nhiều lần truyền dụ, dạy bảo hầu đến rát cổ họng. Cốt muốn cho kẻ gian đổi lòng đổi dạ, trở thành lương thiện, thế mà không ngờ lòng người khác xưa, ngày thêm gian giảo! Năm nay có vụ án (ăn cắp) sơn ở Vũ khố, đã đem nhẹ thành nặng vì khinh nhờn pháp luật, lừa dối vua. Kẻ phạm tội ấy đã bị xử tử, lại phải chặt một tay để treo ở cửa kho.
Gần đây lại xảy ra vụ án mất trộm sa đoạn và hổ phách, hiện đương sai tra xét rất khẩn cấp. Nay sai dâng nhựa thơm thì ra lũ Nguyễn Đức Tuyên đã ăn bớt từ trước, lại dám lấy mật trộn lẫn vào để ít hóa nhiều, ý định lừa gạt che giấu. Trước còn chối cãi, đến lúc cả kho xưng ra, mới chịu thổ lộ thực tình, thì những người tai nghe mắt thấy ai mà không ghét. Vả lại vụ mất sơn chưa nguôi, án sa đoạn, hổ phách còn nóng hổi, chúng nó mù điếc, sao lại mất hết lương tâm, cố ý phạm tội như thế. Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”.
Khi thụt một lạng vàng, lấy cắp trong kho một thùng nhựa thơm mà vua Minh Mạng đã bắt chém đầu, chặt tay thủ phạm. Đọc lại những ghi chép trong sử sách đáng để cho chúng ta luận cổ suy kim.
Người xưa và người đời gọi áo vua mặc bằng nhiều tên khác nhau như áo bào, hoàng bào, long bào… Được biết trong kho đồ vải ở bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế (BTMTCĐH) mà tiền thân là điện Long An (xây dựng năm 1845 thời vua Thiệu Trị) có khoảng 100 bộ trang phục của không chỉ các bậc mẫu nghi thiên hạ, thái tử, hoàng tử, công chúa, quan lại cùng lính tráng… mà có cả áo bào của các vua.
Ít ai biết phía sau những chiếc áo từng được thiên tử ngự này có nhiều chuyện thâm cung bí sử gắn với nạn tham tang của những thợ thêu, tính cách các vua, những trận đòn và không ít cái chết thảm khốc…
Bào vua dát vàng, ngọc
Theo tài liệu được ghi trong BĐMTCĐH, y phục nhà vua mặc trong lễ thiết đại triều và các dịp Tết gọi là long bào, thêu hình rồng bay lên (rồng thăng), hai con rồng chầu mặt trời (lưỡng long chầu nhật), điểm xuyết các tầng mây, sóng nước (thủy ba). Trong lễ thiết thường triều, vua Nguyễn mặc hoàng bào, thêu rồng cuộn tròn (viên long) bằng chuỗi ngọc, xen kẽ bát bửu, hoa lá, thủy ba, chữ thọ.
Ngoài long bào, y phục đại lễ của vua Nguyễn còn có long cổn (y phục tế đàn Nam Giao) màu đen, tay rộng, trang trí kiểu thức rồng thăng, rồng lượn. Ngoài ra còn có hồng bào (y phục cày ruộng tịch điền) màu gạch non, trang trí rồng nhỏ, ẩn trong mây (long vân). “Với quan niệm hoàng đế là bậc anh minh, thay trời trị dân, do đó trang trí hình rồng chỉ được thể hiện trên trang phục vua và thái tử. Tuy nhiên nếu trên long bào, hình rồng chân 5 móng được thể hiện dưới các kiểu thức phi long (rồng bay) hay hồi long hướng nhật (rồng quay đầu về phía mặt trời) có kích thước cân đối, mặt rộng uy nghi thì hình rồng trên long bào thái tử chỉ là mặt nạ, chân có 4 móng, thân thu nhỏ. Còn hình rồng trang trí trên y phục hoàng tử chỉ là các loài giao, mãng, những biến thể thứ cấp của rồng, vì thế y phục hoàng tử được gọi là mãng bào hay mãng lan”, nói về áo bào của người có chân mệnh thiên tử cùng các hoàng nam của mình là thái tử (người kế vị ngai vàng) và hoàng tử, thông tin từ BTMTCĐH, cho biết như thế.
Riêng chuyện về áo vua mặc mà người viết tiếp cận được từ tài liệu cổ Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ do nội các triều Nguyễn biên soạn thì bào vua được ghi chú với nhiều điểm khác biệt và chi tiết hơn. Theo đó, phục trang vua mặc dùng thiết triều bằng lụa quý được thêu rồng tinh xảo, đính chỉ bằng vàng và nhiều châu ngọc quý báu. Ngoài hình tượng con rồng, áo vua còn có sự hiện diện của chiếc sừng loài tê giác nay đã tuyệt chủng: “Hoàng bào may bằng sa đoạn sắc vàng chính, thêu rồng lớn rồng nhỏ, mây, thủy ba và 4 chữ phúc thọ. Mặt trước và sau mỗi mặt có 2 chữ “vạn thọ”, 3 hình rồng. Mỗi tay áo có 1 hình rồng, 2 cánh và san hô, hỏa lựu, xâu chuỗi bằng hạt ngọc châu nhỏ. Cổ áo bằng đoạn đậu 8 sợi tơ bóng màu tuyết trắng, 2 dải rủ xuống đều thêu rồng mây. Xiêm dùng sa mỏng trắng bóng toàn sợi tơ có hoa màu đỏ, dệt kiểu rồng cuộn tròn, thủy ba, cổ đồ, bát bảo… dưới nối bằng đoạn gấm hoa hồi văn dây leo, lan can đỏ, trong lót lụa đỏ, gấm hạng nhất toàn hoa kim liên, màu lục hay lam, áo nối bằng lụa mộc. Đai bằng vàng, đoạn đậu 8 sợi tơ trắng bóng nhuộm màu vàng chính, khâu chen kẽ tơ lông đổ, đính sừng con tê, dài, vuông, như hình cái mộc cộng 18 mảnh, ngoài bọc vàng tốt, khảm 92 hạt trân châu”.
Những cấm lệnh lạ kỳ…
Chiêm ngưỡng kỹ những chiếc áo vua còn được lưu giữ ở xứ kinh kỳ một thuở sẽ thấy, mặt trước và sau từng chiếc áo bào đều có biểu tượng rồng 5 móng ẩn hiện giữa những tầng mây trên nền lụa vàng quyền quý. Ít ai biết được rồng 5 móng cùng sắc vàng trên áo bào kia chỉ có một người trên muôn vạn người được “ngự”. Mọi hành vi lạm dụng, kể cả vô tình, bất kể quan hay dân đều bị xử lý nghiêm, nhẹ thì bị nọc ra đánh (phạt trượng) hay tội xuy (vừa đánh đòn vừa răn dạy, sỉ nhục), tịch thu tang vật làm của công. Trường hợp nghiêm trọng kẻ vi phạm sau khi ăn đòn sẽ bị lưu đày, quan lại bị cách chức.
Những hình phạt nghiêm khắc như trên được qui định rõ trong Bộ hình triều Nguyễn. Theo đó, những thứ như nhà ở, xe cáng, áo mặc, đồ dùng của quan và dân đều có thứ bậc, nếu trái mẫu thức, lạm dụng, người có chức sẽ bị phạt 100 trượng, cách chức không lưu dụng (không cho làm quan). Với thường dân phạt xuy 50 roi nhưng chỉ bắt tội gia trưởng (chủ nhà), thợ làm đều phải phạt xuy 50 roi.
Luật triều đình qui định những thứ làm trái mẫu thức bắt buộc phải chữa lại. Các thợ làm tự thú được tha tội, nhưng không được thưởng: “Nếu người nào lạm dụng những thứ trái cấm lệ như thêu vẽ con rồng con phượng, con giao long thì quan hay dân đều phạt 100 trượng, đày 3 năm, thợ làm phải phạt 100 trượng. Những thứ làm trái lệ cấm đều sung làm của công, kẻ thú cáo (thú tội và cáo giác – PV) được thưởng 50 lạng bạc. Nếu thợ làm mà thú cáo ra thì được tha tội, lại được thưởng nữa”.
Cũng theo qui định của triều Nguyễn, triều đình cấm cả đàn bà, con gái lạm dụng thứ áo mặc thêu dát vàng sắc lóng lánh, thứ cài đầu, vòng xuyến bằng vàng dát châu báu (vàng không dát châu báu thì không cấm – PV) cùng dùng trân châu thêu đính vào áo dày, bởi đó là qui thức dành cho bậc mẫu nghi thiên hạ là hoàng hậu hay mẹ của vua. Nếu ai đó vi phạm, việc phát giác ra cả thảy người phạm tội và người liên đới đều bị chiểu theo luật để trị tội, các thứ áo mặc, đồ dùng bị thu làm công. Luật hình thời bấy giờ nói rõ nếu đàn bà, con gái phạm tội thì bắt tội.
“Ăn” bớt bào vua: nhẹ phải đòn, nặng… xử tử
Chuyện rằng từ lời tâu của Bộ Hộ và nội các, Phủ Nội vụ trong quá trình đốc suất thợ may triều đình thêu mới 4 chiếc áo vua phát hiện một số ngờ vực, hoàng đế Minh Mạng đã giao cho hội đồng tính kỹ và phát hiện “trong 4 chiếc áo ấy chiếc nào cũng lấy thừa từ 1 tấc trở lên, rõ ràng là tên thợ may cố ý lấy bớt đi”.
Việc thợ may chốn cấm cung xén bớt áo bào khiến hoàng đế Minh Mạng phẫn nộ nên đã thiết triều luận xử tội những thợ may tham lam và các quan lại đốc suất không làm tròn nhiệm vụ: “Niên cục chính Tư trượng là Lê Văn Sự chiểu luật “bất kính” xử tội giảo giam hậu (giam chờ ngày treo cổ – PV), trước đem đánh 40 côn sơn đỏ. Đốc công Lê Văn Thu có trách nhiệm đốc sức thợ, mà dung túng cho thợ cố ý làm hơn kém, chuẩn sai đội Cẩm y đến bắt tên Lê Văn Thu xiềng khóa lại đem giam cấm, đợi sau xuống chỉ theo thế mà xử trị. Hội đồng coi làm là Ngô Văn Địch, Lê Viết Trị, Nguyễn Khoa Dục, Ngô Ngọc Cương lần này hãy tạm theo mực nhẹ đều phạt lương 3 tháng để làm răn”.
Năm 1841, vua Minh Mạng băng hà, kế nghiệp ông là hoàng đế Thiệu Trị. Ngay năm đầu tiên trị vì, vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn đã như vua cha thiết triều xử hàng loạt quan chức vì không trọn chức sự trong việc làm bào vua. Lời dụ rằng: “Lần này thêu bào rồng, xiêm vàng là việc quan trọng, các ngươi thừa hành phải nên mười phần cẩn thận, phải thực khéo mới xứng đáng với chức sự của mình. Thế mà các đốc công không để ý đốc suất thợ làm, đến nỗi áo xiêm ngắn sai kiểu mẫu, chỗ thêu nối thêm màu đậm, nhạt nhìn kỹ chỗ nọ chỗ kia không được hợp nhau, trong đó đường thêu lại có nhiều chỗ nhăn nhúm, dày thưa, nhiều chỗ không đúng mẫu thức, thực là sơ suất quá lắm. Các viên đốc công chuyên ty là viên ngoại lang Hồ Đình Hy, chủ sự là Hà Văn Hanh đều giáng 1 cấp, được lưu dụng. Còn bọn thợ thêu là Nguyễn Chương, Phạm Đình Luân, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Đắc Thông, Nguyễn Tất Tố chính tay thêu mà nhầm, chuẩn đem đánh 100 trượng thực đau, phó trị sự là Lê Văn Tuyển, tượng mục là Lê Văn Sự chuẩn phạt mỗi tên 80 trượng để làm răn”.
Từ chuyện hai hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị thiết triều, ban dụ quở trách, ra lệnh xử phạt đánh đòn, xử tử những can phạm ăn chặn, may xấu bào vua cho thấy sự nghiêm khắc của luật pháp thời bấy giờ, đồng thời cũng cho hậu thế biết thêm một phần tính cách của 2 vị hoàng đế này: Minh Mạng ghét xự xảo trá, gian tham; còn con trai ông, hoàng đế Thiệu Trị trong một chừng mực nào đó cho thấy ông khá kỹ tính… Đây hẳn là những thông tin thú vị để ta biết rõ hơn về áo bào của vua, nó không chỉ xa hoa mà còn ẩn sau đó tính khí của các vị hoàng đế và cả những bi kịch tàn khốc.
Với 143 năm tồn tại (1802-1945), hậu cung triều Nguyễn và những câu chuyện thâm cung bí sử hầu như không được sử sách ghi chép nhưng lại được biết qua những câu chuyện truyền miệng của các nhân vật đã từng sống cùng thời điểm hoặc sống trong hậu cung.
Ở Huế từng truyền tụng câu ca dao:
Ngọ Môn năm cửa chín lầu,
Một lầu vàng tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng hai cửa quanh,
Sinh em ra làm phận gái,
Chớ nên hỏi chốn kinh thành mà làm chi.
Đã mang thân phận nữ nhi thì không nên biết đến chốn kinh thành, hay chính xác hơn là không nên vì vinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng mà như những con thiêu thân lao vào hậu cung của các bậc đế vương để đổi lấy một cuộc sống lắm tai ương, bất trắc. Bước vào hoàng cung là những thiếu nữ thanh xuân, tuổi trẻ, thiện lương còn bỡ ngỡ trước cuộc đời. Tuy nhiên, cuộc sống đầy âm mưu thủ đoạn của chốn cung cấm đã biến những thiếu nữ thanh thuần trở thành những người lắm mưu, nhiều kế, tay dính máu tanh. Thậm chí là một cuộc sống cô đơn, buồn bã, đánh mất cả tuổi thanh xuân vì không được ân sủng của nhà vua.
Cung phi của các vị vua triều Nguyễn hầu hết đều là con gái của các vị quan trong triều đình. Sự hậu thuẫn của gia tộc cũng chính là một trong những nguyên nhân để các bà trong cung Nguyễn nhận được sự sủng ái của các bậc đế vương. Những cuộc hôn nhân này cũng chính là sự cân bằng quyền lực giữa các thế lực trong triều, nhằm ổn định tình hình chính trị của quốc gia. Cho dù mục đích phía sau của những cuộc hôn nhân này là gì, thì hầu hết những cô gái này đã đánh đổi tuổi thanh xuân và nước mắt của họ để đổi lấy một cuộc sống hoặc là quyền cao chức trọng, mẫu bằng tử quý, hoặc là cô đơn, phòng không gối chiếc cho đến cuối cuộc đời. Những người con gái một khi đã bước chân vào cung cấm thì chỉ có đi mà không thể trở lại. Cả cuộc đời, cả số phận, dù hạnh phúc hay bất hạnh, dù quyền cao chức trọng hay cô đơn chiếc bóng, ảo não u buồn… tất cả chỉ phụ thuộc vào một người duy nhất: Hoàng đế!
“Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Cũng bằng muôn kiếp sống trong thuyền chài”
Cũng bởi ước mong được một ngày dựa mạn thuyền rồng, mà những bi kịch, những tiếc nuối và cả những ai oán của các nữ nhân chốn hậu cung vẫn cứ mãi tiếp diễn. Có những người được vua sủng ái thì hưởng tột đỉnh vinh quang, hạnh phúc nhưng cũng có những người mang nỗi buồn cô đơn, không thể than thở cùng ai. Những phi tần dù được nhà vua sủng hạnh hay chưa được sủng hạnh, nhưng khi vua băng hà cũng phải theo nhà vua đến nơi an nghỉ cuối cùng để phụng thờ hương khói cho đến cuối cuộc đời.
Bên trong khu mộ 15 liếp.
Ở Huế còn có câu thành ngữ “đưa con vô Nội” để chỉ thân phận của các cô gái chốn cung cấm, một khi đã bước vào cung thì không mong ngày trở ra. Đưa con vô Nội lâu ngày đã trở thành một câu nói cửa miệng của người Huế khi nói đến một sự việc có đi mà không có lại, cũng giống như đưa con vô Nội là không mong có ngày gặp lại. Có một số cung phi chỉ thực sự bước chân ra khỏi cung cấm sau khi triều Nguyễn cáo chung và sống lặng lẽ cho đến cuối cuộc đời. Một số sau khi ra khỏi cung tuy vẫn là gái tân nhưng tuổi trẻ và thời thanh xuân thì đã gởi lại trong Tử Cấm Thành.
Nhà Nguyễn cũng đặt ra các quy định chăm sóc sức khỏe cho các cung nữ. Khi đau yếu, bệnh tật, họ phải ra khỏi hoàng cung để dưỡng bệnh tại Bình An Đường. Hiện nay, trong hệ thống kiến trúc triều Nguyễn có hai nhà Bình An Đường, một ở bên ngoài, góc Đông Bắc Hoàng thành (đường Đặng Thái Thân) và một ở bên ngoài lăng Tự Đức, gần cửa Vụ Khiêm. Hai nhà Bình An Đường này là nơi dưỡng bệnh (nếu bệnh nhẹ) và chờ chết (nếu bệnh nặng) của các thái giám và cung nữ chốn hậu cung thời kỳ nhà Nguyễn. Bình An Đường bên ngoài Hoàng thành đã được trùng tu vào năm 2003 nhưng Bình An Đường của Lăng Tự Đức hiện chỉ còn dấu vết của la thành và một cổng vào còn khắc dòng chữ Bình An Đường môn.
Xem triển lãm ảnh cung nữ triều Nguyễn.
Phía sau khuôn viên Bình An Đường Lăng Tự Đức, hiện vẫn còn 15 ngôi mộ của các bà vợ vua Tự Đức với nhà bia và la thành bao quanh, dân địa phương gọi đây là khu lăng mộ 15 Liếp (hay mộ các bà). Khu lăng mộ này hầu như bị bỏ hoang, hương khói của khu lăng mộ đều do người dân chung quanh phúng viếng, thỉnh thoảng cũng có thân nhân và người trong hoàng tộc Nguyễn đến thăm viếng. Trong 15 ngôi mộ ở tại đây, chỉ có 2 ngôi mộ là được thân nhân đến tu sửa, bảo dưỡng. Hương tàn, khói lạnh là thực trạng của khu lăng mộ các bà theo phụng thờ hương khói khi vua Tự Đức băng hà. Sống thì phòng không gối chiếc, chết lại mồ hoang cỏ lạnh là số phận của không ít nữ nhân chốn hậu cung thời Nguyễn.
Sử sách Việt Nam hầu như không ghi chép về những cuộc tranh giành quyền lực ở chốn hậu cung. Hiếm hoi lắm chúng ta mới thấy được một đoạn hồi ký của Michel Đức Chaigneau trong cuốn Souvenir de Hué cho biết một vài chi tiết sinh động về mối quan hệ giữa các phi tần trong cung cấm dưới thời vua Gia Long. Nữ nhân ở hậu cung thời điểm bấy giờ chưa phải là nhiều lắm (nhà vua có 21 bà vợ có con và được ghi chép vào Nguyễn Phúc tộc thế phả), nhưng cũng làm cho nhà vua đau đầu, đến nỗi nhà vua phải than thở “Trị nước thật dễ dàng, không khó nhọc bằng trị chốn nội cung của mình”. Trong một cuộc gặp gỡ với Michel Đức Chaingeau, nhà vua đã tâm sự: “Khanh tưởng rằng sau khi bãi triều, thanh toán xong mọi việc chính trị và hành chính trong ngày là công việc của trẫm đã xong và thế là trẫm có thể nghỉ ngơi trong hậu cung sao? Khanh lầm đó. Khanh không thể tưởng cái gì đang chờ đợi Trẫm ở đấy (vua chỉ về phía hậu cung) sau khi trẫm ra khỏi nơi này. Ở đây, trẫm hài lòng vì được nói chuyện với những người hiểu biết, họ lắng nghe trẫm, hiểu biết trẫm và khi cần thì vâng lời trẫm! Vào trong ấy, trẫm gặp phải những con quỷ dữ. Chúng gây gổ, đánh đập nhau, cấu xé nhau… rồi sau cùng kéo nhau đến đòi trẫm phân xử. Nếu làm đúng thì trẫm phải trị tội cả bọn họ, vì trẫm không biết ai sẽ nhường nhịn ai trong cơn giận dữ!”
Sau một hồi im lặng, vua Gia Long nói tiếp: “Này đây, một chốc nữa, trẫm sẽ phải đứng giữa một bầy quỷ cái, chúng nó sẽ gào thét làm trẫm điếc cả tai” (Michel Đức Chaigneau, Souvenirs de Hué, Éditions typhon, Shanghai 1941, pp. 98-99).
Những vấn đề mà vua Gia Long đã tâm sự ở trên chỉ là những việc cãi vã công khai (minh tranh) để tranh giành sự sủng ái của các bậc đế vương. Phía sau những cuộc cãi vã này hẳn là không thiếu những thủ đoạn độc ác, tinh vi (ám đấu) nhằm loại trừ nhau của những bóng hồng nhiều tham vọng muốn làm chủ chốn hậu cung. Để minh chứng phần nào cho nhận định này, chúng tôi đã làm một thống kê nhỏ qua Nguyễn Phước tộc thế phả (Nguyễn Phúc tộc Thế phả, Nhà Xuất bản Thuận Hoá Huế 1993) và thấy như sau:
Vua Gia Long có 31 người con (13 hoàng tử và 18 công chúa) thì số lượng mất sớm là 06 người (01 tảo thương, 05 mất sớm), chiếm tỷ lệ 19,35%. Vua Minh Mạng có 142 người con (78 hoàng tử và 64 công chúa) thì có đến 30 người mất khi đang còn là bào thai hoặc lúc tuổi còn nhỏ (13 tảo thương, 17 mất sớm), chiếm tỷ lệ 21,12%. Vua Thiệu Trị có 64 người con (29 hoàng tử và 35 công chúa) thì số lượng con mất sớm là 28 người (05 tảo thương, 23 mất sớm), chiếm tỷ lệ 43,75%. Và đến đời Tự Đức thì nhà vua thể chất yếu nhược, không có khả năng sinh con nối dõi và cũng đến thời điểm này, sự truyền thừa của dòng trưởng (con vợ chính) triều Nguyễn xem như chấm dứt.
Chỉ tính riêng 3 vị vua đầu triều Nguyễn, ở vào thời thịnh trị nhất, ta thấy hiện tượng các hoàng tử, công chúa chết non khi đang còn là bào thai (tảo thương) hoặc mất sớm, theo thời gian ngày càng tăng. Liệu rằng trong những số phận bất hạnh ấy, có ai là nạn nhân của những vụ “ám đấu” để tranh giành quyền lực ở chốn hậu cung?
Sau khi vua Tự Đức băng hà (ngày 19 tháng 7 năm 1883), triều đình nhà Nguyễn bước vào giai đoạn khủng hoảng. Pháp đã đặt xong nền móng của chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, ngai vàng và các vua kế vị cũng gặp nhiều thay đổi. Chỉ trong 4 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1883), ngai vàng triều Nguyễn đã 3 lần đổi chủ: Dục Đức – Hiệp Hòa – Kiến Phúc. Đây là thời điểm kinh đô Huế tồn tại hai chính thể cai trị – thực dân Pháp và triều đình phong kiến Nguyễn và cũng là giai đoạn mà các vị vua nối ngôi liên tục thay đổi.
Do sự bất ổn về triều chính, hậu cung triều Nguyễn giai đoạn này cũng im hơi lặng tiếng. Các bậc đế vương về sau như Khải Định (chỉ có duy nhất một con trai), Bảo Đại khi ở ngôi vua chỉ có duy nhất một bà vợ là Nam Phương hoàng hậu nên sự đấu đá tranh giành chốn hậu cung xem như chấm dứt.
Hậu cung triều Nguyễn trong suốt 143 năm tồn tại, tuy chỉ là những hoạt động mặt sau của vương triều nhưng những hoạt động của chốn hậu cung này lại góp phần quyết định cho việc sản sinh ra một thế hệ lãnh đạo của triều đình phong kiến Nguyễn và trong một chừng mực nhất định nào đó cũng góp phần không nhỏ đến sự bình ổn chính trị vào thời điểm bấy giờ.
Khải Định lên ngôi vua được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20/9 năm Ất Sửu tức 6/11/1925, thọ 40 tuổi. Lăng của vua Khải Định hiệu Ứng Lăng được xây cất tại làng Chân Chữ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Những bức hình được người Pháp chụp nằm trong bộ sưu tập của ông Ngô Văn Ðức ở Bordeaux, Pháp.
Các quan khâm sai, toàn quyền Pháp đến dự đám tang vua Khải Định
Lễ động quan ở điện Càn Thành
Đám rước bắt đầu khởi hành
Qua cổng thành
Đoàn tăng ni cầm phướn đi dẫn đầu
Đoàn con hát
Đoàn lính tráng
Voi cũng có mặt trong đám rước
Tên họ và chức tước của vua được ghi trên bức trướng trong đám rước
Tại cùng Châu Ê (triền núi Châu Chữ)
Đám rước đến lăng
Chuẩn bị nhập lăng
Đồ tùy táng được đốt để gửi cho vua
Quang cảnh khu vực lăng Khải Định
Dân chúng tấp nập trên sông Hương coi đám tang nhà vua