Tag: Tiếng Việt

  • “Tiếng Lóng” Slang của người Saigon xưa và người Hoa

    “Tiếng Lóng” Slang của người Saigon xưa và người Hoa

    Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian, tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”, những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn bị tạm chiếm, Tây – Mỹ nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn, thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là “mã tà”, vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”.

    Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới, thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”, hách dịch tự cao gọi là “chảnh”.

    Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình, ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

    Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la… ghi” tức uống café thiếu ghi sổ…Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi “nhật trình”. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là “tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là “tin chó cán xe”, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là “tin vơ-đét” vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là “xào bài”, truyện tình cảm dấm dớ gọi là “tiểu thuyết 3 xu”, các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là “báo lá cải”. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”.

    hinh anh cho lon sai gon xua

    Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là “tịch”, “hai năm mươi”, “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư, thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là “vòng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần” tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là “Đoàn Chỉnh Thuần” tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé… Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng “ăn theo” mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng “OK Salem”, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là “sén” hay “chó lửa”, dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu” còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ “dân chơi cầu ba cẳng” thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”?

    Đó cũng là lúc các tiếng lóng như “dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
    Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xô xích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm “lu xu bu” nại lý do không rõ ràng để trốn việc. Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm bình dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là “dở hơi”…

    Nguồn:Facebook

  • Từ vựng về văn hóa – thắng cảnh – du lịch Việt Nam

    Từ vựng về văn hóa – thắng cảnh – du lịch Việt Nam

    1. Danh lam thắng cảnh

    The Hung Kings: Các vua Hùng

    The Lenin park: Công viên Lênin

    The Saigon port: Cảng Sài Gòn

    The portico of the pagoda; Cổng chùa

    The ancient capital of the Nguyen Dynasty; Cố đô triều Nguyễn

    The Ben Thanh market: Chợ Bến Thành

    The Huong Pagoda: Chùa Hương

    The One Pillar pagoda; Chùa Một Cột

    The Quan Su Pagoda; Chùa Quán Sứ

    The Thien Mu Pagoda: Chùa Thiên Mụ

    The Reunification Railway: Đường sắt Thống Nhất

    Ngoc Son (Jade Hill) temple: Đền Ngọc Sơn

    The Temple of the Kneeling Elephant: Đền Voi Phục

    The Royal City: Đại nội

    Chùa Một Cột năm 1898, trông khá tàn tạ so với bức ảnh chụp 2 năm trước đó.
    Chùa Một Cột năm 1898, trông khá tàn tạ …

    2. Di tích lịch sử, văn hóa

    Runner-up (second in a beauty contest): Á hậu

    The Museum of the Revolution: Bảo tàng cách mạng

    The Museum of History: Bảo tàng lịch sử

    The Museum of Fine Arts: Bảo tàng mỹ thuật

    The Museum of the Army: Bảo tàng quân đội

    The thirty-six streets of old Hanoi : Ba mươi sáu phố phường Hà Nội cổ

    Stone stelae: Bia đá

    Ornament fish: Cá cảnh

    Dwarf tree: Cây cảnh

    Tet pole: Cây nêu ngày tết

    Tangerine trees: Cây quít, quất

    Traditional opera: Chèo

    Artworks shop: Cửa hàng mỹ nghệ

    The Royal Palace: Cung điện

    Appearance: Dung mạo

    Wooden carvings: Đồ gỗ chạm trổ gỗ

    Offering(n), sustenance: Đồ cúng

    Rattanwares: Đồ làm bằng mây tre

    Garments: Đồ may mặc

    Fine art handicraft articles: Đồ thủ công mỹ nghệ

    The Vietnamese speciality: Đặc sản Việt Nam

    New Year’s Eve: Đêm giao thừa

    Song and dance troupe: Đội ca múa

    To be strewn with bricks: Đường lát gạch

    A good/ bad omen: Điềm lành/ xấu

    To cast a bell: Đúc chuông

    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành
    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành

    3. Du lịch

    Cuisine: ẩm thực

    Full satisfaction guaranteed: Bảo đảm hoàn toàn thỏa mãn

    To pick buds: Hái lộc

    Art show: Buổi biểu diễn văn nghệ

    One-thousand-year-old Hanoi: Hà Nội 1000 năm

    Organizing tourism trips in and out of the province: Du lịch trong ngoài tỉnh
    International and domestic tours: Các tua du lịch quốc tế và nội địa
    Bánh bao Cả Cần- ngon nhất Sì Gòn
    Bánh bao Cả Cần – ngon nhất Sì Gòn
  • Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp

    Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp

    Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.
    Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

    Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.
    Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).
    Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).
    Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

    Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

    Xe lửa ngày xưa
    Xe lửa ngày xưa

    Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum), bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…
    Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.
    Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…
    Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.
    Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

    Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
    Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.
    Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.
    Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) dưới thì có xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).
    Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).


    Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc. Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

    Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

    Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

    Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

    Cũng vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì phải mắc tiền nhất chớ!”.

    Các ông lại giải thích một cách hóm hỉnh khi các bà thắc mắc Con Chim làm gì có sữa: “Tại mấy bà không để ý đấy thôi, con chim khi hứng chí cũng tiết ra một thứ sữa màu trắng đục, đó không phải là sữa thì là gì?”.

    Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

    Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

    Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

    Sữa Bột Rau – Guigoz
    Sửa Bột Rau – Guigoz

    Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

    Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

    Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

    Tình cờ tôi bắt gặp trang web

    (http://www.teslogos.com/ancienne_boite_de_lait_guigoz_collector_collection .html) của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

    Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

    Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

    Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

    Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

    Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa

    Nguyễn Ngọc Chính

  • “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa

    “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa

    Cách đây vài tháng ad đã có làm một bài về “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa ,nay đang rảnh rổi lang thang búa lua xua nên làm tiếp tập 2 cho quý vị đọc nha ,nhằm ghi nhớ lại những từ mà ngày xưa người Saigon hay dùng như: “Mèn ơi, Nghen, Hén, Hen, Tà Tà, Thềm ba, Cà rịch cà tang, tàn tàn,…”, và những câu thường dùng như : “Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, làm nư, cứng đầu cứng cổ, tháng mười mưa thúi đất, cái thằng trời đánh thánh đâm…v…v…”, sẵn đây quý vị trong Sài Gòn Xưa ai còn nhớ những từ nào thì hãy chung tay góp nhặt ngỏ hầu lưu lại những tiếng gọi, câu nói thân thương của người Saigon và miền Nam trước đây, vì sợ “E RẰNG” một ngày nào đó nó sẽ mai một trong tương lai.

    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa
    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa

    1.Tiếp tục của chương 1 nha

    Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ miền Bắc di cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ Saigon, miền Tây đã tạo nên thêm một phong cách, giai điệu mới … và bài “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ“, hình ảnh cô gái chạy xe chậm rãi tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năn nỉ làm quen không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi nó nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam thì tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Dễ nghe thấy, người Bắc nhập cư nói từ “Xạo ke” dễ hơn là nói “Ba xạo”, chính điều dó đã làm tăng thêm một số từ mới phù hợp với chất giọng hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn mà các Anh Chị đã từng nghe trên các Video chương trình Ca nhạc, kể chuyện, ….,đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văn nói của Saigon miền Nam nếu dùng google dịch thì “qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy” (câu gốc: Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua)nó dịch ra như vầy “through through through through this gaping expression too” Ông Tây đọc hiểu được ý thì chịu chết… Hay như câu “giỏi dữ hôn” thì google dịch cũng ngất ngư con lạc đà… Trong văn nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ cùng nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật đễ tăng cấp độ nhấn mạnh: như bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng (từ bèng beng không có nghĩa),… sai đứt đuôi con nòng nọc,… chắc là phải cả pho sách mới ghi lại hết….Phong cách sử dụng từ như vậy Trường mong sẽ có một dịp nào đó viết một bài về nó, hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm, riêng Miền Nam thì nhiều vô kể ví dụ : Khi nghe ai nói chuyện lập đi lập lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn: ” Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi!”, hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi : “Đêm nay ai đưa em về !” người ngoại quốc ai không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình, như khi nghe ai nói chuyên mà chuyện này ai cũng biết rồi thì lại nói: “Xưa rồi diễm….” với cái giọng Iễm kéo dài tha thướt .

    Tuy nhiên, do những từ này được trình bày bằng chữ nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu: “thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dậy?” cụm từ “thằng cha mầy” kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt (nói): ” Xí! Hổng chịu đâu”,”Xí! Cha già dịch nè !”, ” Sức mấy!, “Ông nói gì tui ưa hổng nổi nha!”, “Cha già khó ưa! ” với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó gần lắm à nghen, nhưng đến khi nghe câu ” tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với Ông nữa đâu đó nghen! ” thì coi chừng … liệu hồn đó, thật ra không phải người Saigon ai cũng xài hết mấy từ này, chỉ có người bình-dân mới dám xài từ như Mả cha, Tổ mẹ để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức ít ai được Ba Má cho nói, nói ra là vả miệng không kịp ngáp luôn, giáo dục ngày xưa trong gia đình rất là khó, nhất là mấy người làm bên nghề giáo dạy con càng khó dữ nữa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói “DM” thậm chí còn không hiểu nó nói gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời: “Đó là nói bậy không được bắt chước đó nghen!”. Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy vô xầm xập hỏi thì cũng bị la rầy liền : “Chổ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa?”. Đến năm 1980 thì giáo dục cũng khác hẳn ngôn ngữ bắt đầu đảo lộn ở cấp tiểu học… tiếng Saigon dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình Game Show chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói: “Mời anh trả lời ạ” “các bạn có thấy đúng không ạ”, ạ… ạ …ạ… cái gì cũng ạ….làm tui thấy lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như không còn dùng những từ ngữ này khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, nên khi coi phim thấy nó lạ lạ làm sao đâu …

    2.Nhớ đâu viết đấy …

    À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
    Anh em cột chèo
    Áo thun ba lá = Áo thun ba lổ, Áo May Ô (bắc)
    Áp phe = trúng mánh, (chiều qua trúng áp phe đã nha!)
    Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
    Ăn hàng = ăn uống (sau này trộm cướp cũng xài từ ăn hàng, tức là đi giựt dọc, cướp bóc B4-1975)
    Âm binh = Cô hồn, các đảng, phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách),…
    Ba đía : xạo
    Bà chằn lữa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
    Ba ke, Ba xạo
    Bá Láp Bá Xàm =Tầm xàm – Bá láp
    Bá chấy bù chét
    Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
    Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
    Bảnh tỏn
    Banh ta lông = như hết chuyện (gốc từ cái talon của vỏ xe)
    Banh xà lỏn
    Bành ki = bự
    Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
    Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
    Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
    Bất thình lình = đột ngột, Bất tử
    Bầy hầy : bê bối, ở dơ
    Bẹo = chưng ra, Bệu (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
    Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên, ứa gan
    Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
    Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
    Biết đâu nà, biết đâu nè, = biết đâu đấy
    Biết sao hôn !
    Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện
    Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
    Bít bùng
    Bình thủy = phích nước
    Bình-dân = bình thường
    Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
    Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
    Bỏ thí = bỏ
    Bồ = gọi bạn thân thiết ( Ê chiều nay bồ rãnh tạt qua nhà chở tui đi luôn nghen)
    Bồ đá = bị bạn gái bỏ
    Bồn binh = Bùng binh, vòng xoay (nay)
    Bội phần, muôn phần = gấp nhiều lần
    Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
    Buột = cột
    Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
    Cà chớn cà cháo = không ra gì
    Cà chớn chống xâm lăng. Cù lần ra khói lửa.
    Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
    Cà Na Xí Muội = chuyện không đâu vào đâu
    Cà nhõng = rãnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhõng tối ngày), có khi gọi là nhõng nhõng
    Cà giựt : lăng xăng, lộn xộn
    Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
    Cà rem = kem
    Cà rịt cà tang = chậm chạp.
    Cà tàng = bình thường, quê mùa,….
    Cà tưng cà tửng
    Cái thằng trời đánh thánh đâm
    Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
    Cảo dược
    Còn ai trồng khoai đất này = chính là tôi
    Coi được hông?
    Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
    Cua gái = tán gái
    Cụng = chạm
    Cuốc = chạy xe (tui mới làm một cuốc từ Hocmon dzia Saigon cũng được trăm hai bỏ túi!)
    Cứng đầu cứng cổ
    Chà bá , tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự
    Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
    Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
    Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á ! )
    Chạy u đi
    Chằn ăn trăn quấn = dữ dằn
    Chậm lụt = chậm chạp, khờ
    Chém vè (dè)= trốn trốn cuộc hẹn trước
    Chén = bát
    Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
    Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
    Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
    Chiên = rán
    Chình ình = ngay trước mặt ( Nghe tiếng gọi thằng Tư quay đầu qua thì đã thấy tui chình ình trước mặt)
    Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
    Chói lọi = chói sáng
    Chỏ mũi, chỏ mỏ= xía, xen vào chuyện người khác
    Chỏng mông = mệt bở hơi tai (làm chỏng mông luôn đây nè)
    Chổ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan công tác
    Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
    Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy? )
    Chưn = chân
    Chưng hững = ngạc nhiên
    Chưng ra = trưng bày
    Còn khuya
    Có chi hông? = có chuyện gì không?
    Cô hồn, các đảng
    Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
    Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
    Dấm da dấm dẵng
    Dây, không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
    De kêu = quá , xạo de kêu
    Dễ tào = dễ sợ
    Dì ghẻ = mẹ kế
    Dĩa = Đĩa
    Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)
    Diễu dỡ =????
    Dzọt lẹ
    Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
    Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
    Dô Mánh
    Du ngoạn = tham quan
    Dù = Ô
    Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
    Dùng dằng = ương bướng
    Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
    Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
    Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
    Đá cá lăn dưa = lưu manh
    Đa đi hia = đi chổ khác.
    Đã nha! = Sướng nha!
    Đài phát thanh = đài tiếng nói
    Đánh đàn đánh đọ = Đánh đàn (học thì lo học không “đánh đàn đánh đọ” nhe hông) một cách để chê việc đánh đàn bằng cách ghép thêm hai từ láy đánh đọ phía sau
    Đàng = đường
    Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
    Đầu đường xó chợ
    Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
    Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
    Đi bang bang = đi nghênh ngang
    Đi bụi
    Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
    Đi mần = đi làm
    Địa cớm
    Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy
    Đồ bỏ đi = đồ hết xài (người gì xài hổng dô, đúng là đồ bỏ đi mà)
    Đồ già dịch = chê người mất nết
    Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
    Đờn = đàn
    Đùm xe = Mai-ơ
    Đừng có mơ,
    Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
    Già dịch = Già dê
    Gần xịt = thiệt là gần
    Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
    Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
    Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
    Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc! )
    Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
    Hay như = hoặc là
    Hầm = nóng (trời hầm quá ngồi không mà người nó đổ mồ hôi ướt nhẹp)
    Hầm bà lằng (gốc tiếng Quảng Đông);
    Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
    Héo queo
    Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
    Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
    Hờm = chờ sẵn ( tui hờm sẵn rồi chỉ chờ thằng kia nó chạy ra là tui cho nó một đá cho nó lăn cù mèo luôn)
    Hớt hơ hớt hãi = hấp tấp và sợ hãi ( nó hớt hơ hớt hãi chạy vào báo tin …. )
    Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
    Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
    Hổng có chi! = không sao đâu
    Hổng chịu đâu
    Hổng thích à nhen!
    Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
    Hợp gu = cùng sở thích
    Ì xèo = tùm lum, …
    năn nỉ ỉ ôi
    Kẻo = coi chừng (Trời ui ui! giờ không đi sớm kẻo trời nó mưa là ướt chèm nhẹp luôn đó nhe)
    Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
    Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
    Không thèm = không cần (làm gì dữ dạ tui đâu có thèm đâu mà bày đặt nhữ qua nhữ lại trước mặt tui? )
    Khỉ đột
    Khỉ khô
    Khỉ gió
    Lanh chanh
    Lạnh xương sống
    Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
    Làm (mần) dzậy coi được hông?
    Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
    Làm gì mà toành hoanh hết zậy
    Làm nư = lì lợm, Làm cho lợi gan
    Làm um lên = làm lớn chuyện
    Láng coóng
    Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
    Lặc lìa lặc lọi = ?
    Lăn cù mèo = lăn long lóc, té ngữa
    Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
    Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
    Lấy le = khoe đồ
    Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
    Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
    Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
    Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
    Lên bờ xuống ruộng
    Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
    Liệu = tính toán
    Liệu hồn = coi chừng
    Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
    Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
    Lộn xộn = làm rối
    Lục cá nguyệt: sáu tháng. Ví dụ: Nộp báo cáo sáu tháng một lần: Nộp báo cáo lục cá nguyệt.
    Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
    Lùm xùm = rối rắm,
    Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
    Lừng mặt = quen quá không còn sợ nữa (Chơi với nó riết nó lừng mặt mình luôn nhen)
    Má = Mẹ
    Ma lanh, Ma le
    Mã tà = cảnh sát
    Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
    Mari sến = sến cải lương
    Mát trời ông địa = thoải mái
    Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
    Mắc cười = buồn cười
    Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
    Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
    Mần ăn = làm ăn
    Mần chi = làm gì
    Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
    Mè nheo = Mèo nheo
    Mét = mách
    Miệt = kèm theo để chỉ một vùng đất, địa danh Miệt Hóc Môn, Miệt dưới, Miệt vườn
    Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
    Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
    Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
    Mồ tổ! = câu cảm thán
    Mả = Mồ
    Muỗng = Thìa, Môi
    Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
    Nam Tàu Bắc Đẩu
    Nào giờ = từ trước tới nay
    Niềng xe = vành xe
    Ngang Tàng = bất cần đời
    Nghen, hén, hen, nhen
    Nghía gái
    Ngó lơ = làm lơ, nhìn chổ khác không để ý tới ai đó
    Ngoại quốc = nước ngoài
    Ngon bà cố = thiệt là ngon
    Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
    Ngồi chồm hỗm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
    Ngủ nghê
    Nhá qua nhá lại
    Nhan nhãn = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt
    Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
    Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
    Nhiều chiện = nhiều chuyện
    Nhí nhảnh
    Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
    Nhóc, đầy nhóc : nhiều
    Nhột = buồn
    Nhữ qua nhữ lại = đưa qua đưa lại cái gì đó trước mặt ai (tương tự nhá qua nhá lại nhưng cấp độ mạnh hơn)
    Nhựt = Nhật
    Ngựa đực, Ngựa cái = xãnh xẹ
    Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
    Nổ banh xác = nói láo
    Nổ dữ dội= quăng lựu đạn (ngày xưa có chuyện hay chọi “lụ đạn” vô chợ khủng bố dân lành)
    Nước lớn, nước xuống, nước rồng (thủy triều)
    Ớn ăn
    Ồng Cò = cảnh sát
    Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
    Ông bà bô = ba má
    Ông bà ông giải
    Phê = mệt
    Phi cơ, máy bay = tàu bay
    Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
    Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
    Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
    Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
    Quá xá quà xa = quá nhiều
    Quắc cần câu = nhậu say hết biết đường
    Quăng lựu đạn (ngày xưa hay có chuyện quăng “lựu đạn” vô chợ khủng bố dân lành)
    Quần què = ????
    Quấy = làm sai – dùng cho con nít thì lại khác, có ý là vừa quậy phá vừa khóc (thằng nhóc này hay khóc quấy quá!)
    Quê một cục
    Quê xệ
    Quởn,
    Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hồng rành đường này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
    Ráo = hết
    Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)
    Rân trời = Rần trời, um sùm
    Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
    Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
    Ruột xe = xăm
    Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
    Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
    Sạp = quầy hàng
    Sến = cải lương màu mè (mặt đồ gì sến quá trời dậy cha?) nhạc sến lại có ý nghĩa khác không phải là nhạc cải lương
    Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.
    Sên xe = xích
    Sếp phơ = Tài xế
    Sống lây lất qua ngày
    Sức mấy,
    Sườn xe = khung xe
    Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
    Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
    Tàng tàng = bình dân
    Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
    Tàu hủ = đậu phụ
    Tạt qua = ghé qua
    Tả Pín Lù : Hầm bà lằng (gốc Quảng Đông)
    Tầm xàm bá láp
    Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
    Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
    Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
    Tía, Ba = Cha
    Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
    Tò te tí te = Nói chuyện – “Coi đó! nó xẹt qua tò te tí te với tui mấy câu thì xẹt đi mất tiêu”
    Tòn teng = đong đưa, đu đưa
    Tổ cha, thằng chết bầm
    Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
    Tới chỉ = cuối (Hôm nay chơi tới chỉ luôn!)
    Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính
    Tốp nhỏ = nhóm người nhỏ tuổi ( thường chỉ có người lớn tuổi gọi như vậy “Tốp nhỏ tụi bây coi dẹp đồ chơi cho lẹ lo rữa tay rồi lên ăn cơm nhen”)
    Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
    Tui, qua = tôi
    Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
    Tức cành hông = tức dữ lắm
    Tháng mười mưa thúi đất
    Thảy hàng
    Thầy chạy
    Thắng = phanh
    Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
    Thậm thụt
    Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
    Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
    Thấy gớm = thấy ớn
    Thèo lẽo = mách lẽo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
    Thêm thắc
    Thềm ba, hàng ba
    Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
    Thí dụ = ví dụ
    Thí cô hồn
    Thiệt hôn? = thật không?
    Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
    Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
    Thôi hén!
    Thơm = dứa, khóm
    Thúi = hôi thối,
    Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
    Trà = Chè
    Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
    Trật chìa, trật đường rầy, trật dây nịt = sai giờ giấc ( Hẹn cho đã rồi không ra làm trật chìa hết trơn hết trọi)
    Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
    Trọ trẹ = giọng nói không rỏ ràng
    Trời ui ui = trời hơi tối tối
    trụi lũi = nhẵn thín ( cạo râu trụi lũi)
    Trừ phi
    Trực thăng = máy bay lên thẳng
    Um xùm
    Ướt chèm nhẹp
    Ướt như chuột lội
    Ứa gan = chướng mắt
    Vè xe = chắn bùn xe
    Vỏ xe = lốp
    Xả láng sáng về sớm = Cứ thoải mái không lo gì hết
    Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
    Xà quần
    Xài = dùng, sử dụng
    Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
    Xe cam nhông = xe tải
    Xe hơi = Ô tô con
    Xe nhà binh = xe quân đội
    Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
    Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
    Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)
    Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
    Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
    Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
    Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
    Xía = chen vô (Xí! cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
    Xĩa răng = không đủ chi phí (Làm muốn chỏng mông mà hổng đủ xĩa răng nữa)
    Xĩa xói = châm chọt
    Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
    Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
    Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
    Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
    Xụi lơ
    Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa TCS)

    Nguồn : http://www.sggdpost.com/

  • Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc.

    Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
    Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
    Bắc mang thai, Nam có chửa
    Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi

    Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
    Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
    Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
    Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ

    Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
    Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
    Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
    Bắc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre

    Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
    Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
    Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
    Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng

    Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
    Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
    Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
    Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê

    Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
    Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
    Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
    Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh

    Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
    Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
    Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
    Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo!

    Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi.
    Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
    Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn!
    Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác

    Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
    Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
    Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay
    Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó

    Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
    Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
    Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi!
    Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội

    Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
    Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
    Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
    Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy

    Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá!
    Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
    Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
    Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng

    Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
    Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
    Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
    Nam mê phiếm, Bắc thích đùa

    Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
    Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam: Thơm Thơm đậu phọng
    Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
    Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

    Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả”
    Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia”
    Nam mỉa “tên cà chua”, Bắc rủa “đồ phải gió”
    Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

    Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
    Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
    Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm
    Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan

    Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực!”,
    Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!”
    Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
    Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc. Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc.

    Nguồn: Sưu Tầm

  • Phát âm miền Tây Nam Bộ

    Phát âm miền Tây Nam Bộ

    Chuyện cười.
    Phát âm miền Tây Nam Bộ.
    Tại một cơ quan nọ có 3 người đàn ông mang 3 cái tên: Hoan, Quan và Quang, mà theo giọng của người miền Tây Nam Bộ thì chỉ có duy nhất kiểu phát âm là “Wang”.
    Một hôm, có một cô gái trẻ là dân Nam Bộ chính hiệu, đã đến gõ cửa cơ quan gặp ông bảo vệ và nói:
    – Bác ơi, làm ơn cho con gặp anh Wang!
    – Wang nào? Ở đây có 3 Wang:
    Wang không có cu (Q) cũng không có dê (g);
    Wang có cu có dê
    và Wang có cu không dê.
    Cô kiếm Wang nào?
    – Dạ, con kiếm anh Wang có cu mà không dê đó bác!
    Một anh người Bắc tình cờ đi ngang qua có nghe mẩu đối thoại đó, lầm bầm:
    – Mịa nó, có cu mà không dê thì kiếm nó làm quái gì chứ!
    Nguồn: FB/Quan Nguyen Thanh

    con de saphong sai gon xua
    Một mẫu quảng cáo Xà phòng ở Sài Gòn xưa.