Category: Thuở ấy

  • Hình ảnh Annam năm 1911

    “Trung Kỳ (Annam) khá khác với Nam Kỳ, nơi mà hệ thống đường sá, đường sắt và đường sông hoàn chỉnh đã làm cho việc đi lại trở nên rất dễ dàng. Nam Kỳ vốn được chiếm đóng (bởi người Pháp) rất lâu trước Trung Kỳ. Tài nguyên thiên nhiên và các giá trị kinh tế của nó đã ngay lập tức khiến người Pháp đứng ra thiết lập và tổ chức một hệ thống giao thông nhanh và hiệu quả. […] Trung Kỳ không có những lợi thế đó. Biển dường như là con đường giao thông duy nhất thuận lợi để đi từ nơi này đến nơi khác. Tuy thế, mặc dù có một dải bờ biển dài với những bến cảng tương đối an toàn, lượng giao dịch lại rất ít. Vận tải nội địa được thực hiện bằng những chiếc thuyền mà nếu dùng vào các hoạt động giải trí cho người Âu thì có lẽ thích hợp hơn, và chỉ trong điều kiện khi gió mùa thuận lợi. Trên mặt đất, có Đường Cái Quan (La Route Mandarin) dọc theo bờ biển từ bắc xuống phía nam; nhưng con đường này chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu đi lại.”

    Tạp chí Le Tour du Monde – trích cuốn sách “Ba Năm Của Tôi Ở Annam” – Tác giả: Gabrielle M. Vassal. 1911

    Một con đường ở Mũi Đại Lãnh (Le fameux Cap Varella), trên Đường Cái Quan (la Route Mandarine) sau thời gian dài khai phá và xây dựng. Nơi đây đã từng là biên giới thiên nhiên tưởng như không thể vượt qua.
    Một con đường ở Mũi Đại Lãnh (Le fameux Cap Varella), trên Đường Cái Quan (la Route Mandarine) sau thời gian dài khai phá và xây dựng. Nơi đây đã từng là biên giới thiên nhiên tưởng như không thể vượt qua.
    Hải Vân Quan (La porte d’Annam) trên Đường Cái Quan (la Route Mandarine), với độ cao 900 bậc, phía nam Hà Tĩnh, cách Huế 200km ; một tầm nhìn tuyệt vời !
    Hải Vân Quan (La porte d’Annam) trên Đường Cái Quan (la Route Mandarine), với độ cao 900 bậc, phía nam Hà Tĩnh, cách Huế 200km ; một tầm nhìn tuyệt vời !

    Auto Draft

    Auto DraftChùa Cầu (còn gọn là Cầu Nhật Bản) ở Hội An (Fai-Fo) năm 1911 và ngày nay.

    Auto Draft

    Auto DraftĐường phố Hội An năm 1911 và Chùa Cầu (ngày nay)

    Vịnh Nha Trang
    Vịnh Nha Trang

    Auto DraftVịnh Đà Nẵng (Tourane)

    Auto DraftĐường cái quan xuyên qua một rừng cọ

    Auto DraftMột khúc sông ở Huế

    Đập Bái Thượng ở Thanh Hoá (do người Pháp xây năm 1918 và là hệ thống thủy nông đầu tiên được xây dựng ở Trung Kỳ).
    Đập Bái Thượng ở Thanh Hoá (do người Pháp xây năm 1918 và là hệ thống thủy nông đầu tiên được xây dựng ở Trung Kỳ).

    Auto DraftBệnh viện ở Quãng Ngãi

    Auto DraftNhà máy vôi và xi-măng ở LongTho, gần thành phố Huế

    Auto DraftMột con đường ở Bình Giã (Bà Rịa – Vũng Tàu)

    Auto DraftMột bữa cơm nhà giàu.

    Auto DraftMột ông quan và các “đồ nghề” (điếu tráp, quạt…)

    Auto DraftBờ biển Đà Nẵng (Tourane)

    Auto Draft“Người Annam thích nước; giặt giũ là một trong những hoạt động thường xuyên của họ”

    Auto DraftThuyền binh.

    Auto DraftMột vở diễn

    Auto DraftGuồng quay đưa nước lên ruộng

    Auto DraftMột nghệ nhân đàn tam thập lục

    Auto DraftSản xuất đường

    Auto DraftMột người nông dân

    Auto DraftBức ảnh toàn cảnh về sinh hoạt bên trong một nhà giàu với nhiều hoạt động của nhiều thế hệ.

    Auto DraftThuyền tam bản

    Auto DraftSản xuất đường : Rót mật vào khuôn

    Auto DraftChợ quê

    Đôi lời về tác giả: “Tôi” trong bài này là bà Gabrielle M. Vassal – một phụ nữ người Anh lấy chồng là sỹ quan quân y người Pháp J.J. Vassal. Khi ông được bổ nhiệm làm việc ở Viện Pasteur Nha Trang, bà đã theo ông và có thời gian 3 năm ở đây. Trong khi ông bận rộn với công vụ và việc nghiên cứu những chứng bệnh nhiệt đới sau này sẽ làm ông nổi tiếng, bà đã thu vén công việc và để bớt nỗi nhớ nhà, đã bỏ công nghiên cứu cuộc sống xung quanh mình, thích thú tìm hiểu cảnh vật và con người. Bà quan sát cảnh quan, phong tục người An Nam với cặp mắt tinh tường rồi thuật lại một cách rõ ràng sinh động. Không chỉ quan sát, bà còn lặn lội đến tận nơi những dân tộc thiểu số sinh sống mà từ trước đến giờ ít ai biết rõ. Bà Vassal là tác giả của một vài cuốn sách được xuất bản ở châu Âu kể lại về cuộc sống, đất nước, con người của những nơi bà đã đến (In and Round Yunnan FouOn and Off Duty in AnnamMes Trois Ans d’Annam). Cuốn Mes Trois Ans d’Annam đã được dịch ra tiếng Việt với nhan đề Ba Năm Ở An Nam Hay Nha Trang 100 Năm Trước

    Auto DraftChân dung bà Gabrielle M. Vassal (1880 – 1959)

    Nguồn: http://belleindochine.free.fr

  • Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa – Việt Nam

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa – Việt Nam

    Mặc dù bản đồ này không phải là không sai sót, nhưng tôi nghĩ rằng nó là, và có thể… tốt nhất và chi tiết nhất mà trước nay chưa hề xuất hiện

    – Giám mục Jean-Louis Taberd, Đại diện Tông Tòa Đàng Trong

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Một bản đồ hiếm hoi về Việt Nam vào thế kỷ XIX, ít được chú ý ở phương Tây, đang nhận được sự quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Bản đồ này xuất bản năm 1838, là một trong những tư liệu được trích dẫn để ủng hộ cho các tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, ý nghĩa của nó còn vượt xa hơn giá trị chứng lý trong cuộc đấu tranh hiện nay của Việt Nam đối với Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa. Nhìn rộng hơn, bản đồ này là một sự hợp nhất rất đáng chú ý giữa bản đồ hành chính truyền thống của Việt Nam và bản đồ phương Tây. Bản đồ này cũng cung cấp một bản chụp nhanh về Đông Dương trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khi triều nhà Nguyễn đang củng cố quyền lực cho một Việt Nam vừa mới thống nhất và trước khi thực dân Pháp xâm chiếm [Việt Nam] cũng trong thế kỷ này.

    Tấm bản đồ

    Tên của bản đồ là An Nam đại quốc họa đồ (Bản đồ của Đế quốc An Nam)[1] được in bằng ba ngôn ngữ khác nhau: chữ Hán mà học giới Việt Nam từng sử dụng, chữ Latin và chữ Quốc ngữ – một hệ thống Latin hóa [tiếng Việt] được phát triển bởi các nhà truyền giáo phương Tây và được sử dụng phổ biến ở Việt Nam ngày nay. Bản đồ này thể hiện quan điểm mở rộng bờ cõi của vương triều Nguyễn, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, phần phía đông Campuchia, các tiểu quốc của Lào và một khu vực rộng lớn ở phía tây sông Mekong (nay là vùng đông bắc Thái Lan).

    Xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) bởi The Oriental Lith. Press, bản đồ có kích thước 84 x 45 cm với rất nhiều chi tiết, gồm nhiều địa danh được in bằng chữ Quốc ngữ của Việt Nam. Trong một mức độ nào đó, đây có lẽ là bản đồ [kiểu] châu Âu đầu tiên được xuất bản với nhiều dữ liệu địa lý tương đối chính xác về Việt Nam và các nước láng giềng (Hình 1).

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 1. An Nam đại quốc họa đồ [Bản đồ của Đế quốc An Nam], xuất bản như một phụ bản trong Dictionarium latino-anamiticum bởi Giám mục Jean-Louis Taberd, 1838. 84 x 45 cm. Nguồn: Sưu tập bản đồ của Thư viện Olin, Đại học Cornell) (G8005 1838 .T3)

    Đức Giám mục và cuộc đàn áp chống lại Công giáo tại Việt Nam

    Người được xem là “cha đẻ” của tấm bản đồ này là Giám mục Jean-Louis Taberd (1794 – 1840). Taberd sinh ra ở Saint-Étienne (Pháp), thụ phong Linh mục năm 1817 và ba năm sau đó thì đến Đàng Trong với tư cách là giáo sĩ thuộc Hội Thừa sai hải ngoại Paris [Société des Missions Étrangères de Paris (MEP)]. [2] Ông đến [Đàng Trong] vào thời kỳ khó khăn, ngay sau khi Gia Long (cầm quyền: 1802 – 1820), vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn thăng hà. Người kế vị là Minh Mạng (cầm quyền: 1820 – 1841) đã bắt đầu thời kỳ cai trị lâu dài của mình. Công giáo dưới triều Gia Long phát triển rất mạnh mẽ nhờ vai trò quan trọng của vị Đại diện Tông Tòa người Pháp là Pierre Pigneaux de Béhaine (Giám mục Bá Đa Lộc, 1741 – 1799) trong việc ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất Việt Nam của Gia Long. Tuy nhiên, Minh Mạng lại là người hẹp hòi, và vào giữa những năm 20 của thế kỷ XIX, Taberd bị cáo buộc đã sách nhiễu các giáo sĩ và các giáo dân ở địa phương.[3] Mặc cho hoàn cảnh hiềm khích ngày càng gia tăng, Taberd vẫn phục vụ tại nhiều địa phương khác nhau ở Đàng Trong, trước khi Minh Mạng triệu ông ra Huế vào năm 1827 để làm việc như một người phiên dịch, với một chủ ý rõ ràng nhằm ngăn cản hoạt động truyền giáo. Cũng trong năm này, những nỗ lực truyền giáo trước đó của Taberd đã được ghi nhận khi ông được bổ nhiệm làm Giám mục Isauropolis và là Đại diện Tông Tòa Đàng Trong (bổ nhiệm năm 1830).

    Taberd có thể đã đào thoát khỏi triều đình Minh Mạng [ở Huế] vào năm 1828 nhờ sự can thiệp của Lê Văn Duyệt, Phó vương cai quản vùng đất phía nam của Đàng Trong, từng là Tổng trấn Gia Định thành / Sài Gòn. Taberd trải qua những năm tiếp theo ở đây dưới sự che chở của Lê Văn Duyệt. Nhưng ngay sau khi Lê Văn Duyệt qua đời vào năm 1832, thì nơi đây đã nổ ra cuộc nổi dậy chống lại Minh Mạng, và nhà vua nghi ngờ người Công giáo địa phương đã trợ giúp cho cuộc nổi dậy này. Năm 1833 trở thành một năm tồi tệ với tất cả những người theo Công giáo – không chỉ với riêng giáo dân vùng Gia Định / Sài Gòn – khi vua Minh Mạng ban hành một sắc lệnh chống lại tất cả những người theo Công giáo trên toàn quốc. Vì vậy, Giám mục đã khôn ngoan rời khỏi Đại Nam. Sau thời gian tạm trú ngắn ở Xiêm (Thái Lan) và Penang (thuộc Malaysia), Taberd đến sống ở Calcutta (Ấn Độ) – nơi ông được bổ nhiệm làm Đại diện lầm thời Tông Tòa Bengal (Ấn Độ) vào năm 1838. Khi ở Calcutta, Taberd đã xuất bản hai bộ từ điển quan trọng [Nam Việt dương hiệp tự vị Tự vị Latinh Annam]Ông cũng đã tu chỉnh bộ Từ điển Việt – Latin [Dictionarium Latino Anamiticum (Tự vị Latinh Annam)] do Giám mục Pigneau de Béhaine khởi xướng trước đó, và biên soạn cuốn từ điển đầu tiên của chính mình, xuất bản tại Calcutta vào năm 1838. Tấm bản đồ của ông, An Nam đại quốc họa đồ, đã được đính kèm ở phần sau của quyển từ điển này. Cũng trong thời gian trên, có hai bài báo [của Taberd] được đăng tải trên tạp chí của Hội châu Á ở Bengal, mà Taberd đã khảo về địa lý xứ Đàng Trong và tấm bản đồ của ông.[4] Taberd qua đời ở Calcutta vào năm 1840, ngay sau sinh nhật lần thứ 46 của mình.

    Quần đảo Hoàng Sa

    Các cuộc xung đột về chủ quyền lãnh thổ hiện nay trên Biển Đông đã mang lại một danh tiếng mới cho bản đồ của Giám mục [Taberd], mà lúc này được coi là bằng chứng củng cố yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974.[5] Rìa phía đông của tấm bản đồ này đã miêu tả Paracel seu Cát Vàng [Paracel còn gọi là Cát Vàng] nằm phía trên vĩ tuyến 16 (Hình 2). (Cát Vàng hay Golden Sands là một trong những cái tên sớm nhất mà người Việt đặt cho quần đảo Paracel, nay thường gọi là [quần đảo] Hoàng Sa). Bổ sung cho việc gộp những hòn đảo vào bản đồ của mình, Taberd đã viết rằng Gia Long tuyên bố các đảo này thuộc về Việt Nam từ năm 1816. Trớ trêu thay, theo nhìn nhận đương thời về những hòn đảo này, Taberd cho rằng quần đảo Hoàng Sa ít có giá trị và rằng không quốc gia nào muốn tranh chấp chủ quyền với Việt Nam:

    Pracel hay Paracels [quần đảo Hoàng Sa] là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến 11 độ vĩ Bắc [không chính xác – Meinheit], 107 độ kinh Đông … Tuy quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn là thuận lợi, vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ mở rộng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm vùng đất đầy buồn chán này. Năm 1816, ông đã long trọng đến cắm cờ và chính thức chiếm hữu những hòn đảo này, mà dường như không một ai sẽ tranh giành với ông”.[6]

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 2. [chi tiết] Paracel seu Cát Vàng [Paracel hoặc Cát Vàng]. Quần đảo Hoàng Sa được hiển thị ở phía bên phải, phía trên vĩ tuyến 16. Taberd đã viết rằng Việt Nam đã sở hữu các hòn đảo trong một cuộc thám hiểm năm 1816, nhưng ông coi chúng là một sự mở rộng lãnh thổ buồn chán của Việt Nam mà không quốc gia nào khác muốn tranh chấp.

    Trên thực tế, Gia Long không đích thân đến mà cử một đội thám hiểm ra quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Dường như các thông tin về quần đảo Hoàng Sa mà Taberd có được, có khả năng là từ cuốn hồi ký của Jean-Baptiste Chaigneau (1769 – 1832), một cựu sĩ quan hải quân người Pháp, phục vụ như là một công thần dưới triều Gia Long.[7]

    Việc mở rộng bờ cõi của đế chế An Nam

    Mặc dù sự miêu tả về quần đảo Hoàng Sa của Taberd trong tấm bản đồ của ông đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm ở Việt Nam hiện nay, nhưng các yếu tố khác của bản đồ này, mà trước đó ít nhận được sự chú ý, cũng càng trở nên đặc biệt quan trọng. Điều trước tiên, là tấm bản đồ này đã cung cấp một bức tranh tổng thể về mối quan hệ của triều Nguyễn ở Việt Nam với các nước láng giềng trong những năm đầu thế kỷ XIX. Sau khi chứng tỏ sức mạnh, Gia Long đã nhanh chóng khẳng định vai trò trung tâm của Việt Nam ở Đông Nam Á lúc bấy giờ, bằng cách sử dụng mô hình triều cống của Trung Hoa. Điều này đã khiến cho Việt Nam và nước Xiêm đang bành trướng bị đặt vào sự xung đột đối với các nước yếu như Campuchia và các tiểu quốc của Lào. Bản đồ của Taberd cho thấy “Đế chế Việt Nam” (An Nam quốc seu Imperium Anamiticum) đã mở rộng vượt ra ngoài biên giới của Việt Nam, bao gồm một nửa Campuchia, các tiểu quốc của Lào và một phần lãnh thổ đáng kể ở phía tây sông Mekong, mà ngày nay là vùng đông bắc Thái Lan (cao nguyên Korat).

    Campuchia: Campuchia từ lâu đã mất vùng lãnh thổ ở đồng bằng sông Mekong cho người Việt, nhưng trong những năm đầu thế kỷ XIX, sự cạnh tranh khốc liệt giữa Xiêm và Việt Nam [vẫn] đang diễn ra, khi cả hai quốc gia này đều hậu thuẫn các phe phái ở Campuchia trong việc kế vị. Ngoài việc điều khiển gián tiếp, Việt Nam thực sự đã tìm cách thôn tính Campuchia, hình thành bộ máy hành chính được tổ chức chặt chẽ, do quan lại và tướng lĩnh Việt Nam điều khiển, để thay thế cho hệ thống quyền lực kém hiệu quả hơn ở Campuchia và phần còn lại ở Đông Nam Á. Hệ thống hành chính của Việt Nam đã được thiết lập qua nhiều thời kỳ, với cấu trúc chưa hoàn thiện cho đến năm 1834, sau khi Taberd đã rời Việt Nam. Tuy nhiên, Taberd vẫn tìm hiểu về sự phát triển ở Đàng Trong và Campuchia. Từ Bengal, ông viết rằng vào năm 1835 hoặc đầu năm 1836, Đế chế An Nam tuyên bố Campuchia – Nam Vang – đặt dưới sự bảo hộ của Đế chế và ông cho rằng “[đế chế An Nam] đã biến đổi đất nước [Campuchia] thành các tỉnh” trên bản đồ của mình[8] (Hình 3).

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 3. [chi tiết] Campuchia dưới sự cai trị của Việt Nam. Bộ máy hành chính có tính tổ chức cao của Việt Nam (Trấn và Phủ) được thể hiện một phần. Địa danh trước đó của Khmer có tên tiếng Việt mới (Ví dụ. Phnom Penh gọi là Nam Vang thành). Các biên giới được đánh dấu cho thấy sự thống trị của Xiêm phía tây Campuchia. Trong những năm 1840, Việt Nam đã buộc phải từ bỏ tham vọng thôn tính Campuchia.

    Như mô tả trên bản đồ của Taberd, một đường ranh giới phân chia giữa Campuchia và Xiêm ở phía tây (Băt Tâm bâng, tức tỉnh Battambang) và ở phía đông, là “vương quốc Campuchia cổ đại” (Antiquum Regnum Cambodiӕ) đã bị chia thành các đơn vị hành chính Việt Nam. Hai đơn vị lãnh thổ ở khu vực phía đông được ghi là bảo hộ hoặc trấn (Nam Vang Trấn và Gò Sặt Trấn), và nhiều tỉnh hoặc phủ được xác định (chẳng hạn: Vịnh Thâm PhủPhố Phủ). Một số địa danh được gọi bằng tiếng Khmer và bằng tiếng Việt, như cảng Kompong Som (Com Pong Som hay Vũng Tôm). Cố đô (Udong) cũng được đánh dấu (Vịnh Lung – Locus antiquӕ Regiӕ) và kinh đô mới thiết lập dưới sự bảo hộ của người Việt (Phnom Penh) được ghi tên là Nam Vang thành. Mãi đến những năm 1840, vì những cuộc nổi dậy ở nhiều nơi, khiến Việt Nam phải rút lui, từ bỏ các công trình quân sự / chính trị hành chính mà họ đã thiết lập [ở Campuchia].

    Lào / vùng trũng sông Mekong: Vương quốc Lào được xác định trên bản đồ [của Taberd] nằm trong biên giới rộng lớn của Đế chế An Nam, nhưng khác hẳn với Campuchia, Lào duy trì tình trạng của họ là những “vương quốc” tách biệt (Regio Laocensis), kiểu như là thuộc quốc[9] (Hình 4). Tình trạng của Luang Prabang (Mường Luong Pha Ban) và vương quốc Vientiane (Vạn Tượng Quốc) được thể hiện rõ trên bản đồ.[10]

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 4. [chi tiết] Các khu vực Lào và vùng trũng sông Mekong. Các tiểu quốc thuộc Lào được mô tả như là một phần của Đế chế vĩ đại Việt Nam (An Nam) (Imperium Anamiticum) nhưng vẫn giữ được tính toàn vẹn của họ như là nước chư hầu (Regio Laocensis). Ba tiểu quốc chính thuộc Lào chính trong những năm đầu thế kỷ XIX là Luang Prabang (Mường Long Pha Ban), Vientiane (Vạn Tượng Quốc) và Champassak hoặc Bassac (Thành Lào ba thác) – được xác định rõ. Đế chế An Nam được thể hiện mở rộng đến vùng đất nay là đông bắc Thái Lan.

    Trong miêu tả về Lào, sông Mekong và phần lớn của vùng đông bắc Xiêm của bản đồ, có thể Taberd đã vẽ dựa vào những thông tin thu thập mới nhất về Việt Nam trong cuộc khủng hoảng chính sách đối ngoại quan trọng mà Việt Nam phải đối mặt trong những năm cuối thập niên 1820. Taberd đã tham dự như là một người phiên dịch tại triều đình Huế trong cuộc xung đột vào những năm 1827 – 1828, bị châm ngòi khi Chao Anu, người cai trị ở vương quốc Vientiane [Viên Chăn], đã phát động một cuộc tấn công chống lại người Xiêm. Những cuộc chinh phạt sau đó của Xiêm trên đất Lào khiến Chao Anu phải cầu viện Minh Mạng, mở đường cho người Việt tham chiến. Các họa đồ của Việt Nam thời ấy, mà bản đồ của Taberd đã trích dẫn như là một trong những nguồn tư liệu của ông, rất có thể là một phần trong phản ứng của Việt Nam với cuộc khủng hoảng. Sự ảnh hưởng của bản đồ Việt Nam có thể được nhìn thấy trong nhiều lĩnh vực. Ví dụ, bản đồ của Taberd chính xác hơn các bản đồ trước đó trong việc mô tả kích thước thực tế của Lào. Bản đồ phương Tây trước đây đã cho thấy Lào như là một vùng lãnh thổ khá hẹp, nhưng bản đồ Taberd đã cho thấy nó lớn hơn nhiều.[11] Ngoài ra, một số địa điểm quân sự quan trọng cũng được xác định trên bản đồ. Chúng bao gồm hai địa điểm chiến lược ở Nghệ An Trấn – những đồn ải ở Qui Hợp, có vai trò như là một tiền đồn cho hoạt động quân sự và tình báo của Việt Nam trong cuộc nổi dậy của Chao Anu, còn huyện biên giới Kỳ Sơn thì được tăng cường phòng thủ để chống lại sự xâm nhập của Xiêm[12]  (Hình 5).

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 5. [chi tiết] Qui Hợp. Các đồn biên phòng của Việt Nam tại Qui Hợp là căn cứ quân sự và tình báo quan trọng trong cuộc nổi dậy Chao Anu (1827 – 1828) tại Lào. Nó cũng kiểm soát con đường buôn bán lâu dài giữa các vùng trũng sông Mekong, thành phố Vinh, và cảng Hội Thống ở Biển Đông.

    Sự hiện hữu của những “họa đồ” Việt Nam ở vùng trũng sông Mekong cũng đóng góp cho một sự thể hiện chính xác hơn về các dòng sông lớn trên bản đồ của Giám mục. Taberd tự hào với các miêu tả của ông về sông Mekong như là một yếu tố quan trọng để phân biệt bản đồ của ông với các bản đồ trước đó về Đông Dương. Ông ghi chú rằng, [các] bản đồ của châu Âu trước đó thể hiện sông Mekong ít nhiều như một đường thẳng cho đến khi nó chảy vào [địa phận] Đàng Trong. Tuy nhiên, Tabert đã miêu tả một bức chân dung thực tế hơn đối với các sông lớn, dựa trên “hai bản đồ mà tôi đã có được vẽ bởi các kỹ sư của đất nước [Việt Nam]… Họ thông hiểu, họ đến đó mỗi ngày và đã đo tất cả các khúc uốn lượn của dòng sông…”.[13] Ngoài ra, một số thị tứ ven sông Mekong vẫn có thể nhận biết, mặc dù cách viết hơi khác nhau. Đó là Mukdahan (Mục đà hản), That Phanom (Tháp ba canon), Bassac (Thành Lào ba thác) và Nakhon Phanom (ghi theo tên cũ là Lạc Khon hoặc Lakhon). [14]  Mặc dù Taberd vẽ sông Mekong có phần chính xác hơn, nhưng phải cần thêm nhiều thập kỷ nữa trước khi dòng sông được điều tra một cách chính xác bởi các cuộc thám hiểm sông Mekong của người Pháp trong những năm 1866 – 1868.

    Lãnh thổ Lào trên bản đồ, hiển thị như một phần của Đế chế An Nam, kéo dài đến cao nguyên Khorat [Kò rạt] ở hữu ngạn sông Mekong. Trong lịch sử, khu vực này đã được đặt dưới sự thống trị của vương quốc Lan Sang của nước Lào cổ. Do sự sụp đổ của Lan Sang, khu vực này cùng với dân cư Lào cổ, đã trở thành một vùng đệm giữa Xiêm và ba vương quốc kế tục của Lào là Luang Prabang, Vientiane và Champassak. Từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, thế lực của Xiêm ở phía đông bắc mở rộng đáng kể nhờ việc sáp nhập những khu tự trị nhỏ vào sự quản lý của Bangkok. Chịu ảnh hưởng bởi cuộc tranh giành giữa Việt Nam và Xiêm vào cuối những năm 1820, bản đồ của Taberd phản ánh quan điểm của ông dựa trên nguồn [sử liệu] từ Việt Nam (và có thể từ Lào), và chỉ cho thấy một phần nhỏ [ảnh hưởng] của chính quyền Xiêm ở khu vực này. Nghiên cứu sâu hơn là điều cần thiết để xác định phần lớn các địa danh ở trên cao nguyên Khorat. Tuy nhiên, khu vực được tăng cường công sự của vùng đất có tên là Lào Phiên pháo, có thể liên quan đến một căn cứ quân sự của Xiêm trong cuộc nổi dậy Chao Anu.[15] Ngoài ra, Cà Lạ Thiến thanh có lẽ là thị trấn Kalasin, một khu định cư quan trọng của Lào có lịch sử từ lâu đời.[16]

    Taberd nói về bản đồ học Việt Nam

    Trong tác phẩm của mình, Giám mục Taberd đưa ra một số ý kiến khá thú vị về bản đồ học Việt Nam.[17] Như thể hiện trong bản đồ của ông, Taberd đã sử dụng hiệu quả [thành tựu] bản đồ học truyền thống của Việt Nam và có ghi nhận sự đóng góp của các “kỹ sư và thợ của triều đình”. Tuy nhiên, ông cũng phàn nàn những hạn chế của họ, khi viết rằng người Việt chỉ dựa vào dây thừng và la bàn mà không đo đạc theo vĩ độ và kinh độ của các địa điểm:

    Khi bản vẽ bản đồ của mình, họ sử dụng những bản đồ do người châu Âu thực hiện, mà họ hoặc là giảm hoặc mở rộng quy mô; sau đó họ bổ sung thêm các địa điểm khác nhau mà những người châu Âu bỏ qua hoặc chưa biết đến”.

    Nhưng Taberd khẳng định những hạn chế của thợ vẽ bản đồ người Việt đều không phải là lỗi của họ, mà là do thái độ hẹp hòi của các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng. Taberd so sánh những ngăn trở từ các vị vua này so với hoàng đế Khang Hi ở Trung Quốc – người đã bảo trợ cho các nhà truyền giáo thực hiện những bản đồ rất khoa học về các tỉnh thành của Trung Quốc trong phần tư đầu thế kỷ XVIII. Để chứng minh cho luận điểm của mình, Taberd dẫn một câu chuyện về chuyến thăm của một tàu khu trục Pháp, tàu Le Henri, vào năm 1818 hoặc năm 1819. Con tàu thả neo gần Huế, các thuyền viên trên tàu đã được vua Gia Long tiếp đón. Tuy nhiên, khi họ muốn điều chỉnh máy đo thời gian của họ và lên bờ để chuẩn bị một đường chân trời giả định, vua Gia Long đã nói với đình thần của ông: “Có vẻ thuyền viên của tàu khu trục đang thực hiện một bản đồ nước ta. Lệnh cho họ phải chấm dứt hoạt động này”. Thái độ của Minh Mạng đối với người châu Âu thậm chí còn hẹp hòi hơn so với Gia Long, Taberd than thở: “… làm sao chúng tôi còn có thể thích nghi tốt hơn với nội tình của nước này nếu như mọi thứ vẫn trong tình trạng này”.

    Mặc dù có những khó khăn, Taberd tin tưởng nỗ lực của ông trong việc kết hợp bản đồ Việt Nam và phương Tây sẽ cho ra đời “[tấm bản đồ] tốt nhất và chi tiết nhất từ trước đến nay”. Đề cập đến các nguồn tài liệu của mình, Taberd dẫn nguồn là một bản đồ cổ và một bản đồ hiện đại được vẽ bởi “kỹ sư của triều đình”, cũng như kiến thức của ông về Đàng Trong. Đối với vùng bờ biển, ông sử dụng các biểu đồ của Jean-Marie Dayot, một sĩ quan hải quân Pháp đã cùng Giám mục Pigneaux de Béhaine hỗ trợ cho cuộc chinh chiến nhằm thống nhất Việt Nam của nhà Nguyễn.[18] Giữa những năm 1790 và 1795, Dayot đã thực hiện những cuộc khảo sát chính xác nhất về bờ biển của Đàng Trong cho đến thời điểm này. Chúng đã trở thành dữ liệu cho nhiều nhà vẽ bản đồ người Pháp và người Anh khác vào thế kỷ thứ XIX.[19]

    Bản đồ hành chính

    Bình luận của Taberd về những thợ vẽ bản đồ người Việt Nam chỉ dựa vào dây thừng và la bàn, tưởng như có vẻ chỉ ra những hạn chế của họ, nhưng thực sự lại thừa nhận đó là một trong những điểm mạnh của họ. Việt Nam học hỏi mô hình hành chính Trung Hoa, khoảng từ thế kỷ XV, nên cần những tấm bản đồ cho quản lý nhà nước. Dây thừng và la bàn là kỹ thuật quan trọng của những người vẽ bản đồ Việt Nam, đặc biệt là trong các cuộc điều tra địa chính làng xã và việc xác định ranh giới các tỉnh. Chính quyền mới vào năm 1802 tiếp tục và mở rộng bản đồ truyền thống bao trùm toàn bộ lãnh thổ mới của mình, trải dài từ biên giới Trung Quốc đến bán đảo Cà Mau ở phương nam xa xôi. Gia Long chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh. Các cấp thấp hơn của chính quyền bao gồm các phủ, huyện, châu (huyện miền núi), tổngxã. Năm 1831, Minh Mạng cải cách bộ máy hành chính, chuyển đổi các trấndoanh dưới triều Gia Long thành các tỉnh.[20]

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 6. [chi tiết] Chi tiết hành chính và dân tộc thiểu số. Hoàng đế nhà Nguyễn đầu tiên, Gia Long, chia đất nước mới thống nhất thành Trấn. Hai trấn được hiển thị ở đây là Bình Hòa (hoặc Nha Trang) và Bình Thuận. Thủ đô (dinh hoặc thành) được xác định như là các bưu trạm hoặc dịch trạm dọc theo tuyến đường chính Bắc – Nam. Đảo và các thực thể ven biển được ghi nhận, trong đó có vịnh Cam Ranh nổi tiếng. Một ký hiệu nhắc nhở người xem rằng lãnh thổ này đã từng là một phần của vương quốc Champa (Olim Ciampa), và một biểu tượng tháp Chàm ở phía nam của vịnh Cam Ranh. Một số nhóm dân tộc thiểu số Tây Nguyên (Mọi bồ nông, Mọi bồ vun, và Mọi Vị) ở về phía tây của dãy núi An Nam.

    Bản đồ của Taberd sử dụng định danh hành chính của triều Gia Long trước đó, phân chia đất nước thành [các] trấn[21] (Hình 6). Một số đơn vị hành chính cấp thấp hơn cũng được định danh [trên bản đồ] được mô tả, và các thực thể như: cảng, bến cảng, lỵ sở hành chính hoặc các dịch trạm dọc theo tuyến đường chính Bắc – Nam cũng được thể hiện (Hình 7). Một yếu tố mà Taberd mượn từ bản đồ Việt Nam là việc ghi tên nhiều con sông và cửa biển dọc theo bờ biển dài của Việt Nam.[22] Các tuyến đường giao thông hoặc thương mại cũng được thể hiện từ Việt Nam đi qua Campuchia và Lào. Ví dụ, các quan ải chiến lược tại Qui Hợp như đã đề cập ở trên, được thể hiện trên các tuyến đường thương mại lịch sử nối thung lũng sông Mekong với Vinh và cảng Hội Thống nhộn nhịp trên Biển Đông[23]  (Hình 5). [Bản đồ] cũng mô tả những con đường xuyên qua núi như đèo Cù Mông và đèo Cả nối liền vùng bờ biển với Tây Nguyên.

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 7. [chi tiết] Chú dẫn. Chú dẫn cung cấp sự tiện ích cho bản đồ, liệt kê các ký hiệu sử dụng và cách dịch các thuật ngữ tiếng Việt sang tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng Anh.

    Sự quan tâm của Taberd đến lịch sử của Việt Nam được thể hiện rõ ràng trên bản đồ của ông. Điều này xuất hiện trong những chỉ dẫn về thời kỳ dài phân cách do cuộc nội chiến giữa các chúa Nguyễn ở phương Nam với các chúa Trịnh ở phương Bắc, mà cả hai đều tự xưng là đại diện cho vua Lê bù nhìn. Bức tường chia cách chúa Nguyễn Đàng Trong và chúa Trịnh Đàng Ngoài [Lũy Thầy] được hiển thị nổi bật (Lũi Sầy seu Murus magnus separans olim utrumque regnum). [Hình 8] Ngoài ra, việc phân chia mang tính lịch sử được phản ánh trong việc ghi tên chúa Nguyễn Đàng Trong là Annam Đàng Trong (Inner Annam) và Bắc Hà là Đàng Ngoài (Outer Annam). Nơi phát sinh cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nắm quyền kiểm soát Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XVIII cũng được ghi nhận (Tây Sơn thượng) ở phía tây của Bình Định Trấn. Xa hơn về phía bắc, Cao Bằng Trấn được ghi nhận là các lãnh địa của tiền triều (olim Regnum). (Những tàn dư của cuộc nổi dậy của họ Mạc xuất phát từ Cao Bằng cho đến khi bị triều Lê – Trịnh đánh bại vào giữa thế kỷ XVII).

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 8. [Chi tiết] Lũi Sầy seu Murus magnus separans Olim utrumque Regnum (Lũi Sầy [Lũy Thầy] hoặc các trường thành lớn ngăn cách các vương quốc cũ). Những “bức tường” được xây dựng vào thế kỷ XVII để bảo vệ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong khỏi các cuộc tấn công định kỳ của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Nó xuất hiện trên nhiều bản đồ đầu châu Âu và chạy từ biển lên núi, ngay phía bắc của khu phi quân sự ngăn cách Bắc và Nam Việt Nam 1954 – 1975.

    Dân tộc thiểu số

    Có một yếu tố quan trọng khác trên tấm bản đồ của Taberd làm nó trở nên khác biệt so với bản đồ Việt Nam truyền thống. Bản đồ Việt Nam thế kỷ XIX thường thể hiện vùng cao nguyên, vùng có dân tộc thiểu số (thường được gọi là châu) nhưng nhìn chung đều không xác định được các nhóm dân tộc thiểu số theo tên gọi. Chỉ có ngoại lệ duy nhất là Đá Vách (người Hrê) tại tỉnh Quảng Ngãi, nơi mà những bản đồ Việt Nam vào thế kỷ XIX thể hiển một bức tường, do Tướng quân Lê Văn Duyệt cho xây dựng vào năm 1819 để bảo vệ những thôn làng của người Việt khỏi các cuộc tấn công của người thiểu số vùng cao.[24]

    Bản đồ của Taberd thể hiện một bước tiến trong các nỗ lực của phương Tây để thiết lập bản đồ các dân tộc cao nguyên ở Việt Nam bằng cách sử dụng các tên cụ thể (Hình 6). Những bản đồ phương Tây trước đó, bắt đầu là những bản đồ của Alexandre de Rhodes, vẽ vào năm 1650 và năm 1653, chỉ đơn giản gọi người dân vùng cao là Kemoy hoặc Rumoi (Mọi là từ tiếng Việt để chỉ “người man rợ”).[25] Nhưng trong thế kỷ XIX, cụm từ này xuất hiện trên nhiều bản đồ phương Tây, chẳng hạn như Bản đồ những vương quốc Xiêm La và Đàng Trong của John Crawfurd vào năm 1828 – một bản đồ được xuất bản bởi Cha Charles-Émile Bouillevaux vào năm 1851, có thể là bản đồ đầu tiên của Pháp hiển thị các tên chuẩn của các bộ tộc ở cao nguyên [của Việt Nam].[26] Tuy nhiên, bản đồ của Taberd là một tiền thân cho bản đồ của Bouillevaux về một nỗ lực xác định các nhóm [thiểu số] vùng cao dựa theo tên gọi, mặc dù những cái tên dường như không khớp với cái tên hiện nay của các nhóm dân tộc thiểu số vùng cao đó.[27]

    Thêm một tấm bản đồ quý giá về chủ quyền Hoàng Sa - Việt Nam

    Hình 9. [chi tiết] Nước Stiêng. Chưa bao giờ là một quốc gia hay một vương quốc riêng biệt, Stiêng là một nhóm bộ lạc sinh sống tại khu vực biên giới Campuchia – Việt Nam ngày nay. Họ là mục tiêu của một nỗ lực truyền giáo không thành công trong những năm cuối thế kỷ XVIII. Bản đồ cho thấy các tuyến đường được thực hiện bởi các nhà truyền giáo đến từ thị tứ ven sông Mekong – “Che Long” (Chhlong hiện đại) – vào lãnh thổ Stiêng. Làng Saat, không được hiển thị, được cho là nơi định cư quan trọng nhất của người Stiêng. Xác định Thành Tĩnh xương vẫn còn là một bí ẩn. Nguồn: Thư viện Quốc hội Mỹ.

    Vương quốc bí ẩn của người Stiêng: Một nhóm dân tộc thiểu số được nổi lên bất thường trên bản đồ của Taberd được xác định như là một quốc gia riêng biệt hay một đất nước, Nước Stiêng (Hình 9). (Từ điển định nghĩa từ Nước trong tiếng Việt là một quốc gia, dân tộc, hoặc nhà nước; chú thích trên bản đồ của Taberd định nghĩa nó là một Royaume hay “vương quốc”). Vương quốc Stiêng hiện hữu trên bản đồ [của Taberd] tách khỏi bảy nhóm [người thiểu số] liền kề xâm lấn biên giới Đàng Trong. Ngày nay, Stiêng là một nhóm dân tộc thiểu số vùng cao nhỏ sống dọc biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Campuchia. Họ chưa bao giờ được xem là một vương quốc thống nhất. Tuy nhiên, trong phần tư cuối thế kỷ XVIII, nhóm thiểu số này là đặc biệt quan trọng đối với các nhà truyền giáo Pháp, vì người Stiêng trở thành đối tượng cho nỗ lực đầu tiên nhằm truyền bá Kitô giáo cho các nhóm bộ tộc ở Tây Nguyên và vùng đông bắc Campuchia. Các giáo sĩ đã tường thuật đầy phấn khích trong các báo cáo của họ, khi tuyên bố rằng “đã khám phá ra một vương quốc mới có tên Stiêng” và tiếp tục đề cập đến lãnh thổ Stiêng như một vương quốc trong thư tịch của họ.[28] Tuy nhiên, chuyến viếng thăm ngắn ngủi của Cha Julien Faulet tới lãnh thổ Stiêng trong những năm 1775 – 1776, đã giảm thiểu những ý tưởng phóng đại về một vương quốc Stiêng thống nhất. Trong báo cáo của mình, Faulet gọi khu vực này là một vùng “man rợ của đất nước” chứ không phải là một vương quốc và ông nói rằng Stiêng không có vua.[29] Nếu không có đủ nhân sự để theo dõi, nỗ lực truyền giáo bị thất bại và bị chỉ trích mạnh mẽ bởi lãnh đạo của Hội Thừa sai ở Paris.[30] Mặc dù có một linh mục khác từ Sài Gòn đến khu vực này vào năm 1791, nhưng ông ấy đã không lưu lại nơi này, và dường như đã không có thêm cuộc tiếp xúc nào giữa người Stiêng với các nhà truyền giáo Pháp trong hơn nửa thế kỷ.

    Tại sao tấm bản đồ năm 1838 của Taberd, tiếp tục làm nổi bật người Stiêng và ghi nhận học như là một quốc gia hay một vương quốc riêng, vẫn còn là một bí ẩn! Tương tự, [địa danh] Thành hay Tĩnh xương trong lãnh địa Stiêng đã không còn xuất hiện trên các bản đồ sau này. Có lẽ, Taberd chỉ đơn giản là bày tỏ sự tôn trọng đối với họ bằng việc thừa nhận những gì đã từng là một dự án lớn của vị Đại diện Tông Tòa Pigneaux de Béhaine [thực hiện trước đây]. Cũng có thể là trong những năm đầu thế kỷ XIX, các nhà truyền giáo đã quan tâm đến việc làm mới những nỗ lực trước đó của họ với với người Stiêng.[31]

    Vì sự nhấn mạnh quá mức của Taberd đối với nhóm này, [nên] Stiêng thường được thể hiện trên các bản đồ bằng tiến Pháp vào cuối thế kỷ XIX, mặc dù đây không phải là một quốc gia riêng biệt hoặc một thực thể chính trị.

    Tấm bản đồ nhiều mục đích

    Bản đồ của Giám mục Taberd, trong khi không công khai tôn giáo, lại có một ứng dụng thực tế ngay lập tức cho các nhà truyền giáo ở Đông Dương và những sứ mệnh phục vụ nơi đó. Nhưng Taberd cũng có một mục đích trí tuệ lớn hơn trong tâm trí – phục vụ “lợi ích của khoa học” – bằng cách làm ra tấm bản đồ chính xác nhất về bán đảo Đông Dương.[32] Sự tiếp cận với một đối tượng rộng hơn và sự chú ý của các nhà làm bản đồ châu Âu sẽ dường như bị hạn chế vì cách xuất bản tấm bản đồ, [do việc bản đồ này được] chèn vào phần sau cuốn Từ điển Latin – Việt lớn của Taberd, vốn là nguồn [tài liệu] không dễ tiếp cận. Tuy nhiên, sự hỗ trợ cho Taberd từ Hội châu Á ở Bengal, đặc biệt là từ James Prinsep, thư ký của Hội, đã giúp cho bản đồ của Taberd được lan truyền đến cộng đồng học thuật rộng lớn hơn. Năm 1848, TS. Karl Gutzlaff, một nhà truyền giáo nổi tiếng người Đức (1803 – 1851), người đã phục vụ [giáo hội] ở Đông Nam Á và Trung Quốc, đã bị cuốn hút mạnh bởi công việc của Taberd, bằng một bài nghiên cứu đọc trước Hội Địa lý hoàng gia London (Anh). Gutzlaff đã mô tả bản đồ của Taberd là “tấm bản đồ cao cấp và chính xác nhất, [giúp] chúng tôi có toàn bộ dữ liệu về Đế chế An Nam…”.[33]

    Bản đồ của Taberd đã phục vụ cho một mục đích chính trị rộng lớn hơn trong diễn trình của thế kỷ XIX. Đó là một nguồn [dữ liệu] chính, tương đối chính xác về thông tin hành chính và địa lý ở bán đảo Đông Dương, khi mà áp lực với các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á gia tăng, trước khi các quan chức thực dân người Pháp bắt đầu nỗ lực lập bản đồ rộng lớn của họ trong thế kỷ XIX. Một phần tư thế kỷ sau khi được công bố, bản đồ Taberd có vị thế mới. Bản đồ đã được tái bản tại Paris vào năm 1862, cùng năm mà Pháp đã ký một hiệp ước với triều đình Huế [Hiệp ước Nhâm Tuất], mà sau đó là sự hiện diện của thực dân Pháp ở Sài Gòn và đồng bằng sông Mekong, và người Pháp đã chuyển mối quan tâm của họ về hướng Campuchia. Bản đồ của Taberd đã được tái bản theo chỉ thị của Prosper de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp, người ủng hộ mạnh mẽ nhất hoạt động thực dân ở Đông Dương trong nội các của Napoleon III.

    Và trong thế kỷ XXI hiện nay, bản đồ của Giám mục Taberd lại đảm nhiệm một vai trò chính trị trong bối cảnh có những tuyên bố chủ quyền đối lập ở Biển Đông.

    H.E.M.

    Lời cảm ơn

    Một lần nữa, tôi xin cảm ơn Boris Michev, Thư viện Bản đồ & Thông tin không gian địa lý tại Đại học Cornell (Hoa Kỳ), đã cung cấp một sự hỗ trợ vô giá với những tư liệu từ sưu tập bản đồ thuộc Thư viện Olin. Riêng Hình 9 là do Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ cung cấp.

    Dịch sang tiếng Việt: Ngô Hoàng Đại Long – Trần Thị Kim Nguyên

    Hiệu đính: Trần Đức Anh Sơn

    * Harold E. Meinhiet là cựu viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ, từng làm việc tại các cơ quan ngoại giao của Mỹ ở châu Á, trong đó có Việt Nam. Ông hiện là thư ký của Hội Bản đồ Washington (Mỹ).

    * Bản tiếng Anh của bài nghiên cứu này được in trên The Portolan, tạp chí của Hội Bản đồ Washington (Mỹ). Số 97, Mùa Đông 2016. Ban biên tập tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng cám ơn tác giả Harold E. Meinheit và tạp chí The Portolan đã đồng ý chúng tôi dịch bài nghiên cứu này sang tiếng Việt để in trên số 88 (Tháng 4.2017) của tạp chí.

    ** Những chữ in nghiêng trong ngoặc đơn () là chú dẫn hoặc trích nguyên văn của tác giả Harold E. Meinheit. Những chữ trong ngoặc vuông [] là của người hiệu đính.

    Chú thích

    [1] An Nam là tên mà người châu Âu thường gọi Việt Nam. Tên này xuất xứ từ Trung Quốc hàm ý “phương Nam yên ổn”. Trong suốt thế kỷ XIX, những nhà cầm quyền Việt Nam đều gọi nước mình là Đại Nam (nước Nam vĩ đại).

    [2] Đàng Trong là một Hạt đại diện Tông Tòa thuộc thẩm quyền của Giáo phận Ma Cao, được dẫn dắt bởi một vị Đại diện Tông Tòa, thường là một Giám mục danh nghĩa, được bổ nhiệm danh nghĩa. Khi Taberd được bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa vào năm 1828, ông cũng được phong Giám mục danh nghĩa của Isauropolis. Các hạt đại diện Tông Tòa Đàng Trong bao phủ một khu vực từ tỉnh Quảng Bình (khoảng 17o30 vĩ độ Bắc) ở miền Trung Việt Nam đến đồng bằng sông Mekong ở miền Nam. Nó cũng bao gồm một phần của Campuchia. Tiểu sử của Giám mục Taberd có thể tìm thấy trong văn khố MEP [Hội Thừa sai hải ngoại ở Paris], tại http://archives.mepasie.org/notices/notices-biographiques/taberd.

    [3] Jacob Ramsay, “Sự bóp nghẹt và chèn ép trong chiến dịch của nhà Nguyễn chống lại Công giáo vào những năm 1830 – 1840 ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tập 35, Số 2, Tháng 6.2014 2004, tr. 315.

    [4] Jean-Louis Taberd, “Ghi chép về địa lý của Đàng Trong”, Tạp chí của Hội châu Á ở Bengal, Tập  VI, Phần II, Số 69, Tháng 9.1837, tr. 737-745. (http://hdl.handle.net/2027/chi.20428348?urlappend=%3Bseq=251) Bài viết thứ hai của Taberd là: Jean-Louis Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, Tạp chí của Hội châu Á ở Bengal, Tập VII, Số 76, Tháng 4.1838, tr. 317-324. (http://hdl.handle.net/2027/mdp.39015028150624).

    [5] Xem: Nguyễn Đình Đầu, Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa, TP.HCM: Nxb Đại học Quốc gia, 2014, tr. 122-123 và tr. 125; Xem thêm: Trần Đức Anh Sơn (Chủ biên), Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, TP.HCM: Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2014, tr. 433.

    [6] Taberd, “Ghi chép về địa lý Đàng Trong”, tr. 745. Taberd viết rằng các đảo “trải rộng lên đến 11 vĩ độ Bắc”. Tuy nhiên bản đồ của ông cho thấy những đảo này nằm ở khoảng vĩ tuyến 16. Hoặc là có một lỗi đánh máy trong bài của Taberd, hay là sự nhầm lẫn về vị trí của quần đảo Hoàng Sa với quần đảo Trường Sa vốn ở nằm xa hơn về phía Nam.

    [7] Tôi mượn nhận định này của TS. Trần Đức Anh Sơn, người đã chỉ dẫn tôi tới cuốn Le Memoire sur la Cochinchine (công bố năm 1820) của Chaigneau. Chaigneau đã viết: “C’est seulement en 1816, que l’Empereur actuel a pris possession de cet archipel” (Chỉ đến năm 1816, vị Hoàng đế hiện tại [tức vua Gia Long của Đại Nam] mới sở hữu quần đảo này. “Jean-Baptiste Chaigneau et sa famille” (Jean-Baptiste Chaigneau và gia đình) của A. Salles, Bulletin des Amis du Vieux Hué (Tập san của Hội Đô thành hiếu cổ), Hà Nội, Tập 10, Số 1, 1923, tr. 257.

    [8] Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, tr. 318.

    [9] Taberd khẳng định rằng ông coi hầu hết các tiểu quốc nhỏ ở Lào như các thuộc quốc của “đế chế Đại Nam”. Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, tr. 322-323.

    [10] Một sự vắng mặt đáng chú ý là tiểu quốc Xieng Khouang (Xiêng Khoảng) của Lào (tiếng Việt: Trấn Ninh), được liệt kê như là một trong các chư hầu của Việt Nam vào năm 1805, nhưng hiện diện trong cuộc tranh giành quyền lực giữa Xiêm và Việt Nam trong cuộc nổi dậy của Chao Anu.

    [11] Mayoury Ngaosrivathana và Pheuiphanh Ngaosrivathana, “Ấn tượng ban đầu của người châu Âu về Lào”, in trong: Mayoury Ngaosrivathana và Kennon Breazeale (Chủ biên), Thuở hồng hoang trong lịch sử Lào: Những nhận định về khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, Chiang Mai: Silkworm Books, 2002, tr. 141.

    [12] Những nguồn tư liệu Việt Nam liên quan đến cuộc xung đột năm 1827 giữa triều đình Xiêm La và các công quốc của Lào: tạp chí về các hành động triều đình của Việt Nam về các biến cố liên quan đến Vương quốc Vạn Tượng, Mayoury và Pheuiphanh Ngaosrivathana giới thiệu và chú giải, Tokyo: Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Đông Á của UNESCO, Toyo Bunko, 2001, Tập 1, tr. 112-113.

    [13] Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, tr. 319.

    [14] Hơi khó hiểu là vị trí của thành phố Vientiane (Bàn chăn hoặc Viên Chănk) nằm ở hữu ngạn sông Mekong, thuộc vùng hạ lưu của vương quốc Vientiane. Người Xiêm đã phá hủy hoàn toàn thành phố Vientiane (ngoại trừ một số tu viện Phật giáo) vào năm 1828 và chuyển nhiều cư dân [của thành phố này] đến sống trong lãnh thổ của Xiêm. Có lẽ vị trí của thành phố Vientiane trên bản đồ có ý thể hiện sự ép buộc giảm thiểu dân số của thành phố, với việc nhiều người Lào di chuyển đến các khu vực xung quanh thành phố Nong Khai hiện nay. Hoặc có lẽ nó chỉ đơn giản là một sai sót. Trong bản đồ của mình vào năm 1858, Edward Weller (FRGS), dường như đã bị ảnh hưởng bởi sự thể hiện của Taberd về sông Mekong nên cũng định vị Vientiane ở hữu ngạn [sông này]. Xem: Burmah, Siam, Anam & c. (1858?),  http://nla.gov.au/nla.obj-231866668.

    [15] Xem: Những nguồn tư liệu Việt Nam liên quan đến cuộc xung đột năm 1827, Tập. 1, tr. 73, chú thích 212. Các vị trí cũng được viết theo nhiều cách khác trong các nguồn tài liệu, ví dụ: Phan-phao, Phien-Bao,…

    [16] Charles F. Keyes, Isan: Chủ nghĩa khu vực ở đông bắc Thái Lan, Báo cáo tạm thời Dự án Cornell Thái Lan, Số 10, Chương trình Đông Nam Á, Thư tịch 65, Ithaca: Cornell University, 1967, trang 8.

    [17] Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, tr. 319-320.

    [18] Như trên, tr. 319.

    [19] Gilles Palsky, “La Cartographie française des Côtes cochinchinoises à la Fin du 18e Siècle: Jean-Marie Dayot et le Pilote de Cochinchine” (Bản đồ của Pháp về bờ biển Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII: Jean- Marie Dayot và tác phẩm Pilote de Cochinchine), Imago Mundi, Tập 41, Số 1, tháng Giêng, 1989, tr. 59-69.

    [20] Alexander Barton Woodside, Việt Nam và khuôn mẫu Trung Hoa: Một nghiên cứu so sánh về chính quyền dân sự giữa nhà Thanh và nhà Nguyễn trong nửa đầu của thế kỷ XIX, Cambridge: Harvard University Press, 1971, tr. 141-143.

    [21] Taberd vẫn còn ở Việt Nam khi vua Minh Mạng bắt đầu của cải cách hành chính của mình. Ông đã đề cập đến cuộc cải cách này trong tác phẩm Ghi chép về địa lý Đàng Trong của mình (tr. 744). Tuy nhiên, nhưng bản đồ được dùng trong sách này là của triều Gia Long. Trong tác phẩm Ghi chép về địa lý Đàng Trong của ông được xuất bản bằng tiếng Anh, Taberd đã dùng lối dịch khác nhau cho các đơn vị hành chính của Việt Nam. Chẳng hạn, ông dịch trấn là prefecture, thay vì pretectorate như bản dịch của Woodside và những người khác. (Prefecture thường được dùng để dịch chữ phủ trong tiếng Việt). Có một số khác biệt nhỏ khác giữa chú giải của Taberd và chính tấm bản đồ. Để rõ hơn, tôi đã tham khảo các bản dịch được dùng bởi Woodside và học giả Việt Nam hiện đại.

    [22] Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu đã liệt kê tất cả 57 cửa sông và nhiều yếu tố khác dọc theo đường bờ biển dài của Việt Nam trên bản đồ của Taberd. Nguyễn Đình Đầu, Sđd, tr. 123 và tr. 127.

    [23] Trần Văn Quý, “Thư tịch Quỳ Hợp: Quan hệ Việt – Lào phản ánh trong tài liệu về các đồn ải, từ 1619 đến 1880”, in trong: Mayoury Ngaosrivathana và Kennon Breazeale (Chủ biên), Sđd, tr. 239-259.

    [24] Harold E. Meinheit, “Một góc nhìn về cuộc chiến ở Việt Nam thế kỷ XIX”, The Portolan, Số 73, Mùa đông 2008, tr. 21. Taberd mô tả [Mọi] Đá Vách là “các giống dân man rợ khủng khiếp nhất chiếm toàn bộ dãy núi bao quanh vương quốc”. Taberd, “Ghi chép về địa lý Đàng Trong”, tr. 741.

    [25] Harold E. Meinheit, “Khám phá Việt Nam: Bản đồ của Alexandre de Rhodes”, The Portolan, Số 65, Mùa xuân 2006, tr. 28-41.

    [26] Henri Maitre, Les Jungles Moi (Rừng người Thượng), Paris: Emile LaRose, 1912, tr. 555.

    [27] Các nhóm là: Mọi đá rách, Mọi đá vách, Mọi đá hàn, Mọi bồ nông, Mọi bồ vun, Mọi Vị, và Mọi bà ria. Như đã chú thích, Đá Vách là một nhóm sắc tộc có thể nhận diện. Bồnông cũng có thể là [tộc người] Phnong hay Mnong.

    [28] Thư của Cha Jean Steiner, Procure, Giáo phận Macau, ngày 21.8.1774 (tiếng Pháp). Tường thuật về cái chết u buồn của Cha Juguet ở tuổi 30, Steiner viết: “Ce missionnaire, peu de temps avant sa mort, avait découvert un nouveau royaume, appélé Stiêng…” (Nhà truyền giáo này, ngay trước khi qua đời, đã khám phá ra một vương quốc mới gọi là Stiêng). Pigneaux de Béhaine cũng báo cáo về “vương quốc mới của Stiêng” (“Regnum novum vocatum Stiêng”) trong một lá thư ngày 05.01.1775. Cả hai bức thư này đều được in trong: Adrien Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, 1658-1823: documents historiques (Lịch sử công vụ ở Đàng Trong, giai đoạn 1658-1823), Paris: Missions étrangères de Paris: savantes Indes, Tập 3 (1771 – 1823), 2000, tr. 60- 61.

    [29]  Thư của M. Faulet gửi M. Steine ngày 24.6.1776. In trong: Launay, Sđd, tr. 64.

    [30] Frédéric Mantienne, Pierre Pigneaux: eveque d’Adran et mandarin de Cochinchine (1741 – 1799) (Pierre Pigneaux: Giám mục d’Adran và quan chức Đàng Trong), Paris: Les Indes savantes, 2012, tr. 70-72.

    [31] Mối quan tâm truyền giáo được tiếp tục trong tộc người này thể hiện ở việc thành lập một phái bộ [truyền giáo] trong cộng đồng người Stiêng ở Brelam vào thập niên 1850. Tuy nhiên, phái bộ này đã bị hủy hoại trong cuộc nổi dậy Pu Kombo vào năm 1866.

    [32] Taberd, “Ghi chép bổ sung về địa lý Đàng Trong”, tr. 319, 320.

    [33] Tiến sĩ Karl Gutzlaff, “Địa lý của Đế quốc An Nam”, Tạp chí của Hiệp hội Địa lý Hoàng gia London, Tập 19 (1849), tr. 85-143.

    Nguồn: Trần Đức Anh Sơn’s blog

  • Loạt ảnh hiếm: Đám cưới bên “bờ” vĩ tuyến 17 năm 1969

    Loạt ảnh hiếm: Đám cưới bên “bờ” vĩ tuyến 17 năm 1969

    Trang web Vietvet.com của các cựu chiến binh Mỹ đã đăng tải một bài viết có tiêu đề Đám cưới truyền thống của những người theo Phật giáo Việt Nam (Traditional Vietnamese Buddhist Wedding) kèm theo loạt ảnh độc đáo về một đám cưới ở tỉnh Quảng Trị, phía Nam vĩ tuyến 17 vào năm 1969. Tác giả của bài viết là Jim Ritter, một sĩ quan thuỷ quân lục chiến Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam vào các năm 1968 – 1969. Dưới đây là nội dung bài viết:

    Trong tháng 6/1969, tôi được chỉ định làm người tham dự đám cưới một trong những thông dịch viên của Tiểu đoàn. Theo đề xuất của cô dâu và chú rể, quà cưới sẽ là một thùng Coca.

    Đám cưới được tổ chức ở gia trang của cha mẹ cô dâu chú rể. Nơi này nằm ở phía Tây  của một căn cứ quân sự tại Quảng Trị. Buổi lễ bắt đầu đám rước của gia đình nhà chú rể đến nhà cô dâu. Tại đây, họ sẽ làm lễ trước bàn thờ gia tiên. Sau đó là đám rước của gia đình cô dâu đến nhà của chú rể.

    Tôi đến nhà chú rể trước khi gia đình của cô dâu đến. Trong những bức ảnh đầu tiên, người đứng đầu của gia đình cô dâu là cụ già cầm chiếc ô lớn màu đen. Tiếp theo đám rước là những phụ nữ mặc áo dài rất đẹp. Cô dâu đi phía cuối đám rước.

    Sau nghi lễ trước bàn thờ tổ tiên, mọi người bắt đầu ăn cỗ. Đây là một bữa tiệc có nhiều món ăn kỳ lạ. Tôi chỉ nhận ra được cơm và tiết canh bò, những món khác thì chịu.

    Mọi người rót cho tôi một chất lỏng từ chai Pepsi cũ. Nó khiến tôi cháy cổ họng sau khi uống một ngụm. Điệu bộ của tôi có lẽ giống như một thằng hề, và người Việt Nam đổ lại thứ chất lỏng gắt như axit này vào chai.

    Sau đó họ pha chúng với Pepsi và lại mời tôi uống. Nhưng phản ứng của tôi cũng không khá hơn lần trước.

    Dưới đây là những bức ảnh tôi còn giữ từ buổi đám cưới đáng nhớ ấy. Mỗi khi xem lại, tôi luôn tự hỏi điều gì sẽ xảy đến với những con người trong ảnh khoảng thời gian sau đó, khi cuộc chiến khốc liệt sẽ còn kéo dài thêm 5 năm…

    Đám rước của gia đình cô dâu đã tới.
    Đám rước của gia đình cô dâu đã tới.
    Ông cụ cầm chiếc ô lớn màu đen là người đứng đầu nhà cô dâu. Phía sau là những người đàn ông lớn tuổi trong họ.
    Ông cụ cầm chiếc ô lớn màu đen là người đứng đầu nhà cô dâu. Phía sau là những người đàn ông lớn tuổi trong họ.
    Kế đến là các cô phù dâu mặc những chiếc áo dài rất đẹp.
    Kế đến là các cô phù dâu mặc những chiếc áo dài rất đẹp.
    Cô dâu là người mặc áo hồng, đi giữa hai phụ nữ mặc áo dài tím.
    Cô dâu là người mặc áo hồng, đi giữa hai phụ nữ mặc áo dài tím.
    Các cụ bà bên nhà cô dâu.
    Các cụ bà bên nhà cô dâu.
    Tất cả phụ nữ mặc áo dài, và dường như là không có chiếc nào giống chiếc nào.
    Tất cả phụ nữ mặc áo dài, và dường như là không có chiếc nào giống chiếc nào.
    Những trẻ em hiếu kì đi theo đám rước.
    Những trẻ em hiếu kì đi theo đám rước.
    Tiếc cưới rất ngon miệng, dù nhiều món tôi không biết phải gọi là gì.
    Tiếc cưới rất ngon miệng, dù nhiều món tôi không biết phải gọi là gì.
    Cô dâu và chú rể ngượng nghịu chụp ảnh kỷ niệm. Sau lưng họ là những bao cát quân sự.
    Cô dâu và chú rể ngượng nghịu chụp ảnh kỷ niệm. Sau lưng họ là những bao cát quân sự.
    Cha mẹ của chú rể.
    Cha mẹ của chú rể.
    Chị của chú rể và cậu con trai.
    Chị của chú rể và cậu con trai.
    Chú rể là thông dịch viên trong tiểu đoàn trinh sát của chúng tôi.
    Chú rể là thông dịch viên trong tiểu đoàn trinh sát của chúng tôi.
    Em trai chú rể, có biệt danh là Joe, một đứa trẻ lanh lợi.
    Em trai chú rể, có biệt danh là Joe, một đứa trẻ lanh lợi.
    Hai đứa trẻ bên nhà cô dâu.
    Hai đứa trẻ bên nhà cô dâu.
    Mẹ chú rể bên các cô phù dâu.
    Mẹ chú rể bên các cô phù dâu.
    Bố của chú rể, một quý ông đẹp lão.
    Bố của chú rể, một quý ông đẹp lão.
    Cô dâu và các cô phù dâu đứng tán gẫu.
    Cô dâu và các cô phù dâu đứng tán gẫu.
    Joe và tôi - một người đi dự đám cưới với đầy đủ súng đạn trên người.
    Joe và tôi – một người đi dự đám cưới với đầy đủ súng đạn trên người.
    Joe và các đứa em họ chờ đợi được ăn cỗ.
    Joe và các đứa em họ chờ đợi được ăn cỗ.
    Đoàn của nhà cô dâu rời khỏi nhà chú rể sau đám cưới.
    Đoàn của nhà cô dâu rời khỏi nhà chú rể sau đám cưới.

    theo Đất Việt

  • Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Hà Nội cách đây hơn 50 năm khác rất nhiều so với Hà Nội của hiện tại. Dù có là người con sinh ra, lớn lên ở Hà Nội, bạn cũng khó có thể nhận ra những con đường, tuyến phố, khu chợ xuất hiện trong ảnh.
    Bộ ảnh ghi lại nhịp sống ở Hà Nội năm 1959, do nhiếp ảnh gia Rév Miklós thực hiện.

    Rév Miklós (1905-1998) là một nhiếp ảnh gia, ông được xem như “bậc thầy” của trường phái nhiếp ảnh báo chí Hungary. Miklós từng theo học trường Cao đẳng nghệ thuật chuyên nghành thiết kế nội thất, nhưng sau đó ông quyết định theo đuổi đam mê nhiếp ảnh, trở thành phóng viên ảnh tự do.

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959
    Ành: Rév Miklós

     

    Nếu bạn cho rằng thật để tưởng tượng cuộc sống ở Hà Nội không có xe máy sẽ ra sao, như thế nào, thì đây, cùng “du lịch về quá khứ” qua bộ ảnh chụp Hà Nội năm 1959 của tác giả Miklós.

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959
    Ành: Rév Miklós

     

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Trong chuyến đi tới Hà Nội năm 1959, Miklós đã dành khá nhiều thời gian lang thang, khám phá phố phường, cảm nhận cuộc sống của người dân và ghi lại khoảnh khắc đẹp. Bằng mắt quan sát tinh tế, “bậc thầy” của nhiếp ảnh báo chí đã thu vào ống kính những góc rất đời.

    Bộ ảnh gồm cả ảnh màu và ảnh đen trắng, cho độc giả thấy phần nào đặc trưng về văn hóa, kiến trúc, sinh hoạt thường ngày của người Hà Nội thời bấy giờ. Bộ ảnh là tư liệu quý, giúp thế hệ sau được nhìn lại những gì đã qua trong quá khứ.

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Theo Phương Lâm/ Đời sống & Pháp lý

  • Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm

    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm

    Không ít người nhìn những bức ảnh xưa về Sài Gòn mà lòng ngậm ngùi….

    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Học sinh ăn bò bía trên đường phố Sài Gòn những năm 1950.

    Quyển sách ảnh 150 hình bóng sài Gòn (NXB Trẻ, 2015) là thành quả của 10 năm sưu khảo, biên soạn những bức ảnh Sài Gòn xưa của NSNA Tam Thái, để kể lại câu chuyện vùng đất phồn hoa đô hội từ khi người Pháp đặt chân đến đô hộ, rồi đi qua thời mệnh danh Hòn ngọc Viễn Đông, cho đến tận ngày hôm nay.

    Tam Thái kể lại rằng có cụ già từ Đà Lạt xuống Sài Gòn xem triển lãm ảnh, biết tin quyển sách bèn tìm mua. Khi lật từng trang sách, cụ già xúc động, rưng rưng nước mắt. Hay có những người mua luôn 5 – 7 cuốn, không những cho mình mà cho luôn bạn bè, người thân như một món quà san sẻ kỷ niệm vùng đất Sài Gòn – Gia Định xưa.

    Cùng tìm về ký ức, nghệ sĩ nhiếp ảnh Tam Thái tiếp tục chia sẻ thêm một số bức ảnh Sài Gòn – Gia Định mà anh đã sưu tập và giới thiệu trong sách.

    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Đường xe lửa Sài Gòn – Gò Vấp năm 1910. Người Pháp từng xây tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho, Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Gò Vấp – Lái Thiêu – Thủ Dầu Một. Đến thời Ngô Đình Diệm, vì vắng khách nên các tuyến đường sắt ngưng hoạt động. Ga trung tâm của các tuyến đường sắt này nằm ở khu vực chợ Bến Thành ngày nay.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Con đường nối Sài Gòn – Chợ Lớn vào thế kỷ 19, thuở ấy còn rất hoang sơ, nay là đường Nguyễn Trãi.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Một chợ heo khu vực Phú Lâm cuối thế kỷ 19.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Vòng xoay Lăng Cha Cả thập niên 1950. Lăng thờ giám mục người Pháp Bá Đa Lộc, người có công giúp Nguyễn Ánh đánh triều Tây Sơn, nằm trên con đường Sài Gòn đi Cao Miên (đường Cộng Hòa ngày nay). Trước năm 1975, đây là một di tích văn hóa. Nhưng sau năm 1975, lăng bị giải tỏa, hài cốt giám mục Bá Đa Lộc được đưa về Pháp an táng.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Quang cảnh sân bay Tân Sơn Nhất đón chuyến bay cấp cứu vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của Việt Nam, năm 1938. Trong một lần săn bắn ở Tây Nguyên, ông bị té gãy chân và được máy bay đưa về Sài Gòn cấp cứu.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Triển lãm mô hình phát triển Thủ Thiêm. Thời Ngô Đình Diệm, nhận thấy nếu phát triển khu trung tâm sẽ phá vỡ kiến trúc cũ thuộc địa, làm đảo lộn đời sống người dân nên chính quyền thời đó định bắc cầu, phát triển khu hành chính mới qua Thủ Thiêm. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh nên dự án này không thực hiện được. Hiện nay, quy hoạch phát triển Thủ Thiêm là khu hành chính mới đã được thành phố thông qua. Đoạt giải Nhất kiến trúc quy hoạch Thủ Thiêm là một công ty Nhật Bản.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Thuyền chiến của triều Nguyễn trên sông Sài Gòn thế kỷ 18, tranh vẽ của người Pháp. Thời kỳ này, giao thông đường bộ Bắc Nam còn hiểm trở, cho nên giao thông đường thủy là chính. Tư liệu cho thấy cả triều Tây Sơn và Nguyễn Ánh đều có lực lượng thủy binh hùng mạnh, tiếp thu kỹ thuật đóng thuyền phương Tây. Những trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh trên đầm Thị Nại (Quy Nhơn) đáng được xem là những trận thủy chiến ác liệt nhất của lịch sử. Hằng năm, cứ khi trời trở gió nồm thì thủy binh Nguyễn Ánh từ Gia Định lại dong buồm ra miền Trung đánh quân Tây Sơn, đến khi gió bấc thì lại rút quân về. Dân gian có câu: “Lạy trời cho cả gió nồm/Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra”.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Bến Bạch Đằng năm 1956.
    Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệm
    Logo Sài Gòn năm 1870. Khi chiếm Sài Gòn, người Pháp đã sáng tác ra logo này. Hình ảnh hai con cọp trong logo thể hiện đây là vùng đất hoang sơ. Nhưng dòng chữ Latinh Paulatim Crescam có nghĩa là : “Cứ từ từ, tôi sẽ phát triển”. Hình ảnh con tàu hơi nước ở giữa logo cho biết đây là vùng đất nhiều kênh rạch. Phía trên có vương miện 5 cánh như thông báo Sài Gòn sẽ giao thương với năm châu bốn biển. Logo Sài Gòn 1870 thể hiện cách nhìn hoang sơ và triển vọng Sài Gòn của người Pháp. Hiện nay, TP.HCM dù đã tổ chức các cuộc thi những vẫn chưa tìm được một logo chính thức cho thành phố hôm nay.

    “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng…” – khi xưa nhà vua Tự Đức nhớ thương người vợ mà viết nên câu thơ tha thiết. Vậy với những ai mơ bóng Sài Gòn, lần theo những bức ảnh này để có một hành trình kỷ niệm ngược thời gian chăng?

    Theo TTO

  • Những nét văn hóa “rất Pháp” ở Miền Nam trước năm 1975

    Những nét văn hóa “rất Pháp” ở Miền Nam trước năm 1975

    Bộ ảnh này được nhiếp ảnh gia Pháp Jack Garofalo ghi lại năm 1974.

    Trong hình là những nét văn hóa mang hơi hướng Pháp ở miền Nam Vệt Nam.

    Những nét văn hóa Giao thông ở ngã tư Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm. Những chiếc xe trong ảnh là của các hãng xe Pháp Renault và Citroën sản xuất.

    Những nét văn hóa

    Bánh mỳ baguette kiểu Pháp được bày bán bên lề đường.

    Những nét văn hóa

    Những người Pháp chơi bi sắt – bộ môn thể thao khai sinh ở Pháp – trong một câu lạc bộ ở Sài Gòn.

    Những nét văn hóa

    Xưởng đóng tàu Caric của Pháp ở Thủ Thiêm, Sài Gòn.

    Những nét văn hóa

    Quán rượu của một ông chủ người Pháp (người trong ảnh) sinh sống tại Sài Gòn.

    Những nét văn hóa

    Ông chủ người Pháp của nhà hàng – quán bar ‘Le Colisée’ tạo dáng chụp ảnh với 3 nhân viên người Việt.

    Những nét văn hóa

    Rạp Vĩnh Lợi ở Sài Gòn với biển tên tiếng Pháp.

    Những nét văn hóa

    Nghĩa trang quân đội Pháp tại ngã tư Bảy Hiền, Sài Gòn.

    Những nét văn hóa

    Một người đàn ông Pháp hút thuốc trước cửa hiệu của mình ở Di Linh, Lâm Đồng.

    Những nét văn hóa

    Học sinh dân tộc thiểu số tại nhà thờ Cam Ly ở Đà Lạt. Nhà thờ này do linh mục người Pháp Boutary cho xây dựng cuối thập niên 1960.

    Những nét văn hóa

    Các thiếu nữ người dân tộc thiểu số trong gian bếp của một trường dòng do người Pháp sáng lập tại Đà Lạt.

    Những nét văn hóa

    Một nữ tu với các bệnh nhân bệnh phong trước mộ Giám mục Pháp Jean Cassaigne tại trại phong Di Linh, Lâm Đồng.

    Theo Tachcafe

  • Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang 1969

    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang 1969

    Honda SS90 hầm hố, Vespa thanh lịch, Yamaha Dame bình dị… là những mẫu xe máy xuất hiện phổ biến ở Nha Trang năm 1969.

    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Vẫn là một chiếc xe Yamaha Dame màu xanh dương, nhưng lần này người cầm lái là một thiếu nữ tân thời.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Một chiếc Honda SS50 “siêu tải” với hai vợ chồng và ba đưa con nhỏ.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Hai thiếu nữ áo dài trên chiếc Honda Dame C50 màu xanh lá.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Bà mẹ trổ tài chở bốn đứa con trên chiếc Honda Dame C50.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Ba chiếc Honda 67 cùng xuất hiện trong bức ảnh này.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Người đẹp áo dài đỏ trên chiếc xe Yamaha Dame màu xanh dương nhạt ở đường Duy Tân (nay là đường Trần Phú), Nha Trang năm 1969. Loạt ảnh đăng tải trên trang Flickr của một nhiếp ảnh gia người Mỹ có nick ElectroSpark.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Honda SS90 và Vespa sóng đôi trên một góc phố Nha Trang.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Hai quý bà ngồi Honda Dame C50 đi ngang qua các xe tải chở lính Mỹ.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Người đẹp mặc áo dài cùng tông màu với chiếc Honda Dame C50 của mình.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Hai bố con trên chiếc Honda Dame C50 đỏ.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Người đàn ông và ba em bé trên chiếc Honda Dame C50 màu đỏ.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Hai bố con trên xe Honda SS50.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Cao bồi phổ biến trên chiếc Honda SS90 hầm hố.
    Vài ảnh đời thường về xe máy ở Nha Trang
    Một gia đình trên chiếc Vespa.
  • Rue Catinat – con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Rue Catinat – con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” (NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909), nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyễn Liên Phong đã mô tả đoạn đầu đường Catinat (sau đổi tên thành Tự Do, và Đồng Khởi ngày nay) vào đầu thế kỷ 20 như sau:

    “Nhứt là đường Ca-ti-na,
    Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
    ..Máy may mấy chỗ quá nhiều,
    Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương
    Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương [đan]
    Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
    ..Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
    Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son”

    “Rue Catinat” là tên gọi của đường Đồng Khởi ngày xưa. Nếu Sài Gòn đã tồn tại hơn 300 năm có lẻ thì ắt hẳn Catinat đã phải đồng hành cùng đô thị phồn vinh này hơn 2/3 chặng đường và chứng kiến vùng đất Gia Định xưa trải qua bao nhiêu biến động lịch sử.  Có lẽ cũng chẳng ngoa khi ví Đồng Khởi như một cầu nối thời gian giữa Sài Gòn hiện đại và cũ xưa. “630 thước vàng ngọc” đã qua nhiều lần đổi tên từ Rue 16, Rue Catinat đến Tự Do và cuối cùng nó chính thức mang tên Đồng Khởi.

    Theo nhiều tư liệu thì “Rue Catinat” được xem là con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn. Đây cũng là con đường đầu tiên được thiết lập khi Pháp quy hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Sài Gòn. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, “Rue Catinat” nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.

    Sau khi các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879 – 1883) năng động khởi công và thúc đẩy hoàn thành, Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đóng, đã trở thành một thành phố có cảnh quan được quy hoạch hài hòa, kiến trúc khu trung tâm có nhiều nét tương đồng các thành phố ở châu Âu. Thậm chí, các du khách đến từ Âu châu và Viễn Đông (chỉ các nước Đông Á) đã có cảm nhận chung Sài Gòn là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp, hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các quốc gia hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.

    Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa)

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Năm 1948 Sở Du lịch và Triển lãm Đông Dương (The Indochina Tourism & Exhibition Department do ông Franchini Mathieu – một người Pháp – điều hành) mua lại toàn bộ tầng trệt và lầu 1 khách sạn và thuê 44 phòng trong thời hạn 30 năm.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Cũng như Bảo tàng Mỹ thuật hay Nhà khách Chính phủ, khách sạn Majestic được xây dựng theo phong cách Baroque rất được ưa chuộng thời bấy giờ và ngay cả hiện nay. Nó mang dáng vẻ kiến trúc cổ châu Âu thời phục hưng, cổ kính và sang trọng bậc nhất Sài Gòn ngay khi xây xong vào năm 1925.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Khách sạn Majestic sở hữu tầm nhìn thoáng rộng ra sông Sài Gòn

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Bến sông sau đó được cải tạo thành công viên

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Lúc này đường Catinat được đổi tên thành Tự Do. Từ sau 1975, đường Tự Do được đổi tên thành Đồng Khởi.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Khách sạn Majestic được xếp hạng 5 sao vào năm 2007. Khu mới (trên đường Nguyễn Huệ) của khách sạn Majestic được khởi công xây dựng vào tháng 7.2011, sẽ bao gồm 2 khối tháp cao 24 tầng và 27 tầng, 4 tầng hầm, với 353 phòng mới. Sau khi hoàn thành, khách sạn Majestic mới sẽ có tổng cộng 538 phòng.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa).

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

     

    Tên gọi “Saigon Đại Lữ Quán” có từ năm 1958

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

     

    Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrace, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay)

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

     

    Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Trạm xe điện ngay trước vị trí của Café de la Terrase trước kia

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Năm 1957 trên khu đất trước đây là Cafe de la Terrase đã khởi công xây dựng khách sạn Caravelle bởi các nhà đầu tư lớn của Air France và chính phủ Úc. Khách sạn chính thức khai trương vào đêm Giáng sinh 1959.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn

    Khách sạn Caravelle đặt theo tên một loại máy bay của hãng hàng không Air France. Hãng này có văn phòng ở tầng trệt của khách sạn. Điều thú vị là ngày nay văn phòng bán vé Air France vẫn còn duy trì hoạt động ở tầng trệt Caravelle.

    Rue Catinat - con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài GònKhách sạn Caravelle ngày trước

    Nguồn: saigonamthuc.thanhnien.com.vn

  • Sài Gòn xưa và mốt thời trang vượt thời gian

    Sài Gòn xưa và mốt thời trang vượt thời gian

    So với miền Bắc và các vùng nông thôn Việt Nam thời kỳ đó, trang phục của các quý cô Sài Gòn đã có nhiều thay đổi, phóng khoáng hơn, “Tây” hơn và nhiều màu sắc hơn. Trên đường phố Sài Gòn thời điểm đó không thiếu bóng dáng những chiếc váy suông, váy xòe hay bó sát gợi cảm. Phái đẹp ngày ấy cũng đã biết cách phối đồ váy áo với phụ kiện, giày dép khá cầu kỳ.

    Thiếu nữ Sài Gòn trước năm 1975 đã diện mốt chân váy ôm kết hợp cùng sơ mi sát nách như những cô gái công sở ngày nay

    Hai trang phục xưa cũ và giản dị nhất là chiếc áo bà ba truyền thống và áo dài chiết eo trứ danh. Áo bà ba xuất hiện không nhiều ở thành thị, thường chỉ những người già hoặc người làm công việc lao động chân tay như bán hàng rong vỉa hè hay trong các khu chợ mới thường mặc.

    Còn áo dài lại được phụ nữ Sài Gòn khi ấy coi là một thứ váy áo mặc hàng ngày chứ không phải một “bộ cánh” chỉ được trưng diện những dịp trọng đại một năm vài lần. Họ có thể mặc áo dài đi tiệc, đi làm hay đi học, và cả khi xách giỏ đi chợ. Áo dài trước năm 1975 được may kiểu phom dáng không quá ôm khít cơ thể như bây giờ, với cổ cao kín đáo và đường chiết eo “trứ danh” nhằm tôn lên vẻ đẹp thắt đáy lưng ong của người phụ nữ.

    Áo bà ba, áo dài dành cho những phụ nữ ưa phong cách ăn mặc truyền thống, kín đáo và đầy nữ tính. Còn váy ngắn, váy xòe hay trang phục ôm sát dành cho những quý cô chuộng nét đẹp phương Tây hiện đại, thời thượng và gợi cảm.

    Phụ nữ Sài Gòn xưa chuộng mốt áo tân thời thắt eo, ngực nhọn

    Những phụ nữ bán hàng, chạy chợ quen thuộc với chiếc áo bà ba, nón lá giản dị

    Với thời trang nam lúc bấy giờ, những đôi tông Lào hay dép quai hậu nhựa dẻo đang rất thịnh hành

    Thiếu nữ Sài Gòn sành điệu với mốt phối kính mát cùng các loại trang phục, từ áo phông, quần bó khỏe khoắn đến áo dài mềm mại

    Những phụ nữ chuộng vẻ đẹp phương Tây ưa thích kiểu tóc ngắn đánh bồng phồng cao, còn các cô gái truyền thống giản dị với tóc xõa hay cột gọn gàng với chiếc kẹp ba lá

    Mốt “xuyên thấu” gợi cảm cũng đã manh nha xuất hiện trên phố Sài Gòn những năm 60, 70

    Bà Tuyết Mai (mẹ của MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên) và nữ diễn viên Kiều Chinh trong tà áo dài được cách tân phần cổ áo năm 1961

    Cách phối áo dài truyền thống với băng đô đồng màu vẫn được nhiều cô gái Việt Nam thời hiện đại ưa chuộng

    Hai thiếu nữ Sài Gòn xưa rất biết cách phối đồ khi mặc nguyên “cây” đỏ cực “chất” hay chiếc váy suông không tay hoa văn xanh kết hợp cùng sandals ton – sur – ton

    Dáng váy suông đuôi cá nhiều màu sắc trên phố Sài Gòn xưa (trái)

    Thiếu nữ Việt Nam hơn 40 năm về trước (trái) đã diện áo ngắn mang dáng dấp crop top, tay đeo đồng hồ, tóc đánh bông hiện đại kết hợp cùng kính mát tối màu sành điệu

    Kiểu dáng mũ bê rê từng xuất hiện tại Sài Gòn xưa cũng vẫn được các cô gái trẻ ngày nay yêu thích.

    Xưa chưa bao giờ là cũ. Điều này trong thời trang luôn luôn đúng. Đừng vội nghĩ rằng là thời nay mình thật sành điệu và các bà các mẹ thật lỗi thời bởi ngay từ xưa, những bậc sinh thành của chúng mình vốn cũng từng “chất” và oách chẳng kém gì chúng mình bây giờ đâu.

    Nếu bạn nghĩ rằng các bà các mẹ của chúng mình thật “lỗi thời” thì xin thưa rằng, họ cũng đã từng có lúc sành điệu chẳng kém gì chúng ta bây giờ. Thậm chí nhiều xu hướng hiện tại mà chúng ta áp dụng vốn đã được ưa chuộng từ tận nửa thế kỷ trước.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Không tin ư, hãy cùng nghía qua một số xu hướng dưới đây từ Sài Gòn xưa những năm 60, để rồi bạn sẽ thấy là, đúng là giống thật!

    Váy suông ngắn

    Cứ mỗi khi hè về là các nàng lại lao ngay ra shop, mua về một cơ man nào là váy suông và váy dáng chữ A thoải mái. Đúng là rất hợp mốt, nhưng câu chuyện về những chiếc váy ngắn đầy nữ tính như thế này đã bắt đầu từ thời bà và mẹ của chúng mình cơ.

    Nhắc đến thời trang những năm 50s-60s, đặc biệt là những năm cuối của thập niên này thì chắc hẳn không thể không nhắc đến những chiếc váy dáng suông rộng rãi – trang phục vốn được coi là một sự cách tân mang tính lịch sử trong ngành thời trang lúc bấy giờ. Kiểu váy này mang lại cho người mặc cảm giác vô cùng thoải mái, mà vẫn thanh lịch và mang chút cổ điển.

    Ngày nay váy suông được biến tấu với đủ chất liệu và chi tiết bắt mắt, nhưng nhìn chung, chúng cũng không quá khác biệt so với kiểu dáng ngày xưa là mấy.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Block heels

    Từ trước khi nhường chỗ cho những đôi giày gót nhọn hoắt đầy gợi cảm, giày đế thô là phụ kiện mang tính “quốc dân” của phụ nữ Sài Gòn xưa. Kiểu giày này đi rất vững chân mà trông lại cá tính vô cùng.Ngày nay, giày đế thô đã được cách tân với phần đế loe ra để trông “mềm dáng” và mới lạ hơn.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kitten Heels với váy ngắn/quần loe

    Từ năm 2013, cả thế giới phát cuồng lên vì những đôi giày kitten heels với phần mũi nhọn,gót thấp và nhỏ nhắn. Kiểu giày này chinh phục giới thời trang bởi nét xinh xắn, trẻ trung nhưng lại sang chảnh và khá dễ diện đồ. Mẫu giày huyền thoại này đã được phát triển thành nhiều kiểu dáng đa dạng hơn, với đủ thiết kế từ tối giản cho quý cô thanh lịch cho đến phá cách cùng chi tiết đinh tán, color block, in họa tiết… cho những cô nàng mạnh mẽ.

    Thực chất kitten heels cực thịnh vào những năm 60. Cứ sải bước ra phố ở Sài Gòn là lại bắt gặp các quý cô ăn vận chỉnh tề, thong dong sải bước trong đôi kitten heels. Cũng chính vì gắn liền với thời gian đó nên mỗi khi nhắc đến kitten heels thì ấn tượng đầu tiên luôn là “vintage”.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kính râm

    Nếu được bình chọn xem đâu là món phụ kiện “bất ly thân” của các tín đồ thời trang Sài Gòn xưa thì đó ắt là kính râm. Hơn 50 năm trước, các bà các mẹ chúng ta không thể ra đường nếu không có một đôi kính râm thật oách trên khuôn mặt. Kiểu kính mà họ đeo cũng rất gần gũi với hiện tại, đủ kiểu dáng từ gọng vuông, tròn, mắt mèo và thậm chí có cả họa tiết.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Ngọc trai

    Dior và Chanel đang lăng xê “điên đảo” những món phụ kiện ngọc trai, và bạn thấy chúng quả đáng mê từ cái nhìn đầu tiên. Các bà các mẹ của chúng mình ở Sài Gòn xưa cũng thế đấy. Không cần cầu kỳ trong khoản phụ kiện, chỉ cần một chiếc vòng ngọc trai đeo sát quanh cổ là đã chứng nhận độ “sang” của các tín đồ thời trang lúc bấy giờ. Ngọc trai được phối từ trang phục dạo phố, áo dài cho đến cả… bikini.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kẻ mắt mèo

    Trang điểm mắt khá đơn giản với một đường eyeliner màu đen và cong về phía đuôi mắt, thêm một chút phấn nâu để tán ở vùng chữ V hốc mắt. Điểm nhấn tập trung chủ yếu ở hàng mi cong vút, cặp chân mày được tô đậm nhưng mảnh và được vẽ cao hơn bình thường. Đây chính là cách kẻ mắt mèo của phụ nữ Sài Gòn xưa.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Lông mày rậm

    Kiểu lông mày rậm đang được cho là xu hướng “hot” của năm 2016. Lông mày rậm khiến cho đôi mắt bạn sâu và sắc nét hơn. Kiểu làm đẹp này vốn đã được nhiều nữ minh tinh, ca sỹ của thập niên 60 như Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương áp dụng.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Tóc Pin-up

    Sấy phồng mái tóc, kết hợp với kẻ mắt mèo và son đỏ là bạn sẽ trở thành một “Pin-up girl” chính hiệu. Kiểu tóc này ngày nay không còn được áp dụng rộng rãi vì nó hơi tốn thời gian và cũng bởi sự xuất hiện của… mũ bảo hiểm. Tuy nhiên nhiều người đẹp vẫn thích chọn tóc Pin-up khi tham dự các bữa tiệc. Ngay cả các ngôi sao nổi tiếng thế giới như Katy Perry vẫn còn mê mệt kiểu tóc này.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh
    HinhanhVietnam tổng hợp
  • Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cuộc sống ở Hà Nội năm 1992 hiện lên trong ảnh của nhiếp ảnh gia người Australia Peter Charlesworth với những nét đơn sơ, mộc mạc, đánh thức ký ức của nhiều người… Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992
    Những chiếc xe lu thế hệ cũ “diễu hành” trên phố Hàng Bài, gần hồ Hoàn Kiếm.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Một chiếc xe bò trên phố Lê Duẩn, gần chợ Cửa Nam. Đây là phương tiện vận tải phổ biến ở Hà Nội đầu thập niên 1990.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cảnh tượng nhộn nhịp ở phố Lê Duẩn.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Người cảnh sát điều khiển giao thông ở khu phố cổ Hà Nội.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Kiều nữ Hà thành bị cảnh sát tuýt còi cùng chiếc Honda Cub huyền thoại.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Tượng đài lãnh tụ cách mạng V. I. Lê-nin tại vườn hoa Lê-nin.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Những người phụ nữ bán khoai lang trên một con phố vắng.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Nét “quê” của Hà Nội năm 1992.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Những người phụ nữ quẩy đòn gánh ra chợ.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cậu bé nông dân trên cánh đồng ngoại ô Hà Nội.

    Theo KIẾN THỨC

  • Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975

    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975

    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975 đến bây giờ vẫn khiến bạn chết thèm khi ngắm ảnh

    Những bức ảnh ẩm thực vỉa hè Sài Gòn xưa cho thấy sự “trường tồn” của các món quà vặt tiêu biểu ở thành phố này như phá lấu, cuốn bò bía hay những cốc chè, ly mía đá.

    Được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông, Sài Gòn từ trước đến nay luôn hấp dẫn, năng động và có nhiều điều để nhớ nhung. Đối với người Sài Gòn, đặc biệt những người con xa quê, một trong những nhớ nhung, khắc khoải ấy chính là ẩm thực Sài Gòn mà đặc trưng nhất là những hàng quán ven đường, xe đẩy bán hàng rong.

    Thực tế những hàng quán ven đường, trên vỉa hè được xem là nét đặc trưng của Sài Gòn. Rất đơn giản, chúng chỉ là những gánh phở, xe kem, thùng tào phớ, tiệm bún, xe bò bía, gánh mận, những cốc si rô xanh đỏ…  Và chính những thứ tưởng như quá đơn giản và bình dị ấy lại bao chùm được tất cả bản sắc ẩm thực vỉa hè thú vị của thành phố này.

    Cùng ngắm bộ ảnh về ẩm thực vỉa hè Sài Gòn để khám phá thêm về Sài Gòn xưa .

    Xem thêm: Người Sài Gòn xưa giải khát thế nào?

     

    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Sài Gòn phá lấu có nhiều thứ đáng nhớ nhưng nhớ tới nhớ lui lại nhớ cái mâm nhôm của mấy người Hoa đội trên đầu, cái ghế xếp đeo vai và tiếng kéo lách cách thay cho tiếng rao hàng… – ( Ảnh: ttvnol.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Bò bía – món khoái khẩu của học sinh Sài Gòn xưa và nay – ( Ảnh: flickr.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Những xe bò bía với nguyên liệu đơn giản luôn đắt khách.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Người Sài Gòn xưa hẳn sẽ chẳng quên được xe mực nướng thơm lừng ven đường mỗi buổi chiều – ( Ảnh: saigonocean.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Mía ghim món ăn vặt rất được yêu thích ở Sài Gòn.  ( Ảnh: skyscrapercity.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
     Một cậu bé với khay mía ghim ở khu trung tâm -( Ảnh: tiengsonghuong )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Những sọt bánh mì to đùng, thơm phức ở chợ Cũ đường Hàm Nghi -( Ảnh: skyscrapercity.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Xe bánh mì chả ở chợ hoa Tết, trên đường Nguyễn Huệ.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Chậu chè chuối nguyên quả hấp dẫn này sẽ khiến nhiều người phải nuốt nước miếng vì thèm  – ( Ảnh: 2saigon.vn )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Củ đậu sắn gọt sẵn, để trong tủ kính, sẵn sàng phục vụ thực khách – ( Ảnh: tccl )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Một tiệm bán bánh ở Chợ Bình Tây. – ( Ảnh: David Staszak )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Một gánh trái cây trên đường phố Sài Gòn – ( Ảnh: Dr. William Bolhofer )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Siro ướp lạnh, món giải khát lý tưởng của thành phố có 2 mùa: nóng và rất nóng – ( Ảnh: vulep-photo )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Chùm ruột, xoài ngâm là những thức quà lúc nào cũng được ưa chuộng – ( Ảnh: saigoneer.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Một gánh bún trên đường Phan Châu Trinh, cửa tây chợ Bến Thành -( Ảnh: Flickr )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Quầy măng cụt ăn ngay tại chỗ.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Gánh hàng nem nướng ở góc đường Nguyễn Huệ – Ngô Đức Kế.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Cháo gà và chiếc lon Guigoz – vỏ sữa bột đựng đũa “huyền thoại”.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Các chị, các cô thời thượng không ngại ngồi hàng quán vỉa hè  – ( Ảnh: allanfurtado.com )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Một gánh xôi gà hấp dẫn – ( Ảnh: Tom Briggs )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Ứa nước miếng khi trót lạc vào tiệm vịt heo quay, xá xíu, lạp xưởng… – ( Ảnh: ttvnol )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Không thể không nhắc đến những xe nước mía – món đồ uống vô cùng được ưa chuộng ở Sài Gòn – ( Ảnh: tuxtini )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Những gánh trái cây tươi ngon.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Những xe chè thế này từng rất phổ biến ở Sài Gòn. Đến thập niên 90 vẫn còn vài chiếc xe chè, nước ngọt như chiếc này, nhưng đó trở di thì gần như đi vào dĩ vãng.
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Cà phê vỉa hè là một phần quan trọng của ẩm thực Sài Gòn xưa. Thong dong ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê mỗi sáng hay chiều tan sở là thói quen rất Sài Gòn của nhiều người Sài Gòn. – ( Ảnh: Flick )
    Quà vặt vỉa hè Sài Gòn trước năm 1975
    Xe đẩy bán rau má, nước ngọt – những món đồ giải nhiệt không thể thiếu của Sài Gòn xưa – ( Ảnh: tommy japan )

    (Tổng hợp) : Bleu / Trí Thức Trẻ

  • Những hàng cây trăm năm xưa cũ ở Sài Gòn

    Những hàng cây trăm năm xưa cũ ở Sài Gòn

    Những hình ảnh hàng cây được trồng bên hai vệ đường từ thời Pháp thuộc cho thấy từ ngày xưa cây xanh ở Sài Gòn đã được quy hoạch và trồng một cách bài bản.

    Nhiếp ảnh gia Tam Thái là người đã có công sưu tầm những tư liệu quý về cây xanh ở vùng đất Sài Gòn xưa. Ngoài ra, chính ông cũng đã chụp lại nhiều hình ảnh cây xanh trong thành phố, trong đó một số cây hiện đã không còn nữa.

    Mời bạn xem những hình ảnh về cây xanh được trồng trong đô thị xưa của Sài Gòn.

    Cây xanh trên đường Duy Tân (nay là đường Phạm Ngọc Thạch).

    Bức ảnh “Thu về”, được chụp năm 1901. Mọi người đang dạo chơi trên một nẻo đường của phố Sài Gòn.

    Bức ảnh “La Route de Saigon” chụp đầu thế ỷ 20, nay là đường Nguyễn Trãi.

    Đường Chasseloup-Laubat, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai.

    Cây xanh được trồng trên đường Rue de Bankok, nay là đường Mạc Đĩnh Chi.

    Cây xanh trên đường Paul Blanchy, nay là đường Hai Bà Trưng. Ảnh chụp năm 1906.

    Hàng me trên đường Gia Long, nay là Lý Tự Trọng.

    Quảng trường trước Nhà hát thành phố nhìn ra đại lộ cây xanh Bonnard (nay là đường Lê Lợi, quận 1). Hàng cây cổ thụ bên phải, nằm trước hành lang Eden.

    Công viên Gia Định vào đầu thế kỷ 20.

    Hàng cây phượng vỹ trên đường đến cầu Bình Lợi vào đầu thế kỷ 20. Đây cũng là đường Thiên lý Bắc Nam trước thập niên 1950.

    Kênh Bonnard, hay còn gọi là kênh Hàng Bàng vì trên bờ sông có trồng nhiều loại cây bàng.

    Hàng cây xà cừ trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Ảnh chụp năm 2005.

    Đường An Dương Vương, quận 10. Ảnh chụp năm 2006.

    Cây xà cừ trên đường Tôn Đức Thắng. Ảnh chụp năm 2013.

    Đại thụ chùa Hạnh Phú, quận 12. Năm 2012 đã không còn vì nhường đất cho dự án ven sông. Ảnh chụp năm 2000.

    Đại thụ chùa Hạnh Phú, quận 12. Năm 2012 đã không còn vì nhường đất cho dự án ven sông. Ảnh chụp năm 2000.

    Ảnh: tư liệu của nhiếp ảnh gia Tam Thái
    Theo Phạm Hữu/Thanh niên