Category: Thể chế – Chính trị

  • Về cách đặt tên đệm của dòng họ Nguyễn

    Về cách đặt tên đệm của dòng họ Nguyễn

    Dòng họ Nguyễn làm Chúa, làm Vua trong một thời gian khá lâu (từ 1558 đến 1945), con cháu rất đông. để khỏi nhầm lẫn về thế, thứ, thân, sơ và người trong họ, các Chúa và các vua Nguyễn đã ban những nguyên tắc đặt tên và tên đệm cho con cháu trong dòng họ mình. Nhiều người, ngay cả người trong Hoàng tộc, cũng lúng túng trong việc nhìn nhận vai vế trong tộc mình.

    Việc đặt tên đệm do vua Minh Mạng chủ trương để áp dụng cho 20 đời tính từ vua Thiệu Trị về sau. Theo lời văn khắc trên đồng sách (bài ngự chế tự) thì việc này làm theo ý vua Gia Long.

    1. Từ vua Minh Mạng trở về trước (tức vua Gia Long ngược lên thêm 9 đời Chúa nữa)

    2. Những con cháu của chính vua Minh Mạng

    3. Họ của một số con cháu (Công tính)

     

    Chân dung Nguyễn Ánh trong thời gian ông lưu vong ở Xiêm La năm 1783.
    Chân dung Gia Long Nguyễn Ánh trong thời gian ông lưu vong ở Xiêm La năm 1783

    I. Những con cháu thuộc các thế hệ từ vua Minh Mạng trở về trước

    Gồm con cháu chín đời Chúa, anh em vua Gia Long và anh em vua Minh Mạng.

    Chúa Tiên (1558 – 1613) từ ngoài Bắc vào mang họ Nguyễn, tức Nguyễn Hoàng. Tương truyền rằng, khi bà vợ ông nằm mơ thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữPhúc, nhiều người đề nghị lấy chữ Phúc đặt tên cho con thì bà cho rằng: Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng Phúc, chi bằng lấy chữ Phúc đặt làm tên đệm thì mọi người đều được hưởng Phúc. Bà đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn vào Nam làm Chúa đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đó. Từ NGuyễn Phúc Nguyên xuống đến vua Minh Mạng đều mang họ Nguyễn Phúc (Vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Đảm). Những hậu duệ của chín đời Chúa cùng họ Nguyễn Phúc với vua Minh Mạng được nhà vua đặt là Tôn Thất. Con gái của Tôn Thất là Tôn nữ.

    Một số thân tộc thuộc dòng những con trai khác của Nguyễn Hoàng còn ở lại đất Bắc (như dạng làm con tin) thì đổi ra họ Nguyễn Hựu.

    anh-vua-minh-mang
    Ảnh vẽ truyền thần Vua Minh Mạng

    II. Những con cháu của vua Minh Mạng

    Vua Minh Mạng cho làm riêng cho con cháu mình bài Đế hệ thi 20 chữ dành cho 20 đời.

              Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
              Bảo Quí Định Long Trường
    Hiền Năng Kham Kế Thuật
    Thế Thụy Quốc Gia Xương

    Con vua Minh Mạng có tên đệm là Miên như Miên Tông (Vua Thiệu Trị), Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Miên Trinh (Tuy Lý Vương).

    Cháu nội vua Minh Mạng có tên đệm là Hường như Hường Nhậm (Vua Tự Đức).

    Chắt nội tên đệm là Ưng như Ưng Chân (Vua Dục Đức).

    Chỉ có những người trong Đế hệ thi mới được làm vua: Miên Tông (Thiệu Trị), Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Chân (Dục Đức), Bửu Lân (Thành Thái), Bửu Đảo (Khải Định), Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Đại).

    Con gái, cháu gái của vua Minh Mạng cũng có một cách đặt tên riêng.
    Nói chung, con gái của vua Minh Mạng hay của các vua con cháu của vua Minh Mạng cũng đều áp dụng theo một cách đặt chữ lót sau đây:
    Con gái của vua là Hoàng nữ, khi được sắc phong thì trở thành Công chúa và có tên hiệu riêng. Ví dụ Hoàng nữ Trinh Thận (em ruột Miên Thẩm) được sắc phong là Lại Đức Công chúa.

    Công chúa về sau có anh hay em làm vua thì được gọi là Trưởng Công chúa (để phân biệt với Công chúa con vua đang trị vì), có cháu làm vua (vua gọi bằng cô) thì được gọi là Thái trưởng công chúa (trở thành cô của vua tại vị).

    Con, cháu gái các Hoàng tử tức cháu nội của vua thì phải căn cứ vào thứ bậc của anh hoặc em trai mà đặt.

    Con trai của Hoàng tử là Công tử, chị em gái của Công tử là Công nữ, con trai, con gái của Công tử là Công tôn nữ (tôn đây có nghĩa là cháu), con gái Công tôn là Công tằng tôn nữ, xuống một bậc nữa là Cung huyền tôn nữ, xuống nữa là Lai tôn… Nhưng để đơn giản các đời kế tiếp chỉ gọi là Tôn nữ với ý nghĩa là cháu gái.

    III. Những con cháu của anh và em vua Minh Mạng

    Vua Minh Mạng có một người anh (Hoàng tử Cảnh) và chín người em trai có con cháu. Những người này là phên dậu gần gủi của nhà vua. Để phân biệt với các Tôn Thất khác (con cháu chín đời chúa Nguyễn), vua Minh Mạng cho làm 10 bài Phiên hệ thi, mỗi bài có 20 chữ dùng làm chữ lót sau chữ Tôn Thất cho 20 đời (thế) con cháu của anh và em của ông.

    Dành cho con cháu Hoàng tử Cảnh, anh cả của vua Minh Mạng:

    Bài 01: ANH DUỆ

    Mỹ Duệ Anh Cường Tráng

    Liên Huy Phát Bội Hương

    Lệnh Nghi Tàm Tốn Thuận

    Vị Vọng Biểu Khôn Quang

    Dòng này đến đời thứ tư có một người rất nổi tiếng là Ông Cường Để (Kỳ Ngoại Hầu) giữ cương vị minh chủ của Việt Nam Quang Phục hội do nhà cách mạng Phan Bội Châu sáng lập.

    KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ (1882-1951)
    KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ (1882-1951)

    Bài 02: KIẾN AN

    Lương Kiến Ninh Hòa Thuận
     Du Hành Suất Nghĩa Phương
    Dưỡng Di Tương Thức Hảo
    Cao Túc Thể Vi Tường

    Bài 03: ĐỊNH VIỄN

    Tĩnh Hoài Chiêm Viễn Ái
    Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
    Nghiễm Cách Do Trung Đạt
    Liên Trung Tập Cách Đa

    Bài 04: DIÊN KHÁNH

    Diên Hội Phong Hanh Hợp
    Trọng Phùng Tuấn Lăng Nghi
    Hậu Lưu Thành Tú Diệu
    Diễn Khánh Thích Phương Huy

    Bài 05: ĐIỆN BÀN

    Tín Diện Tư Duy Chánh
    Thành Tín Lợi Thỏa Trinh
    Túc Cung Thừa Hữu Nghị
    Vinh Hiển Tập Khanh Danh

    Bài 06: THIỆU HÓA

    Thiện Thiệu Kỳ Tuấn Lý
    Văn Tri Tại Mẫn Du
    Ngưng Lân Tài Chí Lạc
    Địch Đạo Doãn Phu Hưu

    Bài 07: QUẢNG OAI

    Phụng Phù Trưng Khải Quảng
    Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ
    Điển Học Kỳ Giai Chí
    Đôn Di Khắc Tự Trì

    Bài 08: THƯỜNG TÍN

    Thường Các Tuân Gia Huấn
    Lâm Trang Túy Thạnh Cung
    Thận Tu Di Tấn Đức
    Thọ Ích Mậu Tân Công

    Bài 09: AN KHÁNH

    Khâm Tùng Xưng Ý Phạm
    Nhã Chánh Thủy Hoằng Qui
    Khải Đế Đằng Cần Dự
    Quyển Ninh Cọng Tập Hy

    Bài 10: TỪ SƠN

    Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
    Phu Văn Ái Diệu Dương
    Bách Chi Quân Phụ Dực
    Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương

    Một người cháu bốn đời của ông Từ Sơn là nhà sử học cách mạng Tôn Dương Ky (1914 – 1987) chủ biên tạp chí Tiến Hóa và tạp chí Ngày Mai ở Huế, tác giả sách Việt Sử Khảo Lược, Tiến Hóa 1949.

    IV. Họ của một số con cháu công thần (Công tính)

    Năm 1593, Nguyễn Hoàng đem các con ra Bắc giúp vua Lê chúa Trịnh, khi trở vào Nam, để lấy lòng tin của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã để Công tử Hải (thứ năm) và các cháu nội (con của Hán và Hải) ở lại trên đất Bắc. Con cháu những người này về sau lấy chữ lót là Hựu (Nguyễn Hựu). Riêng con cháu của Công tử Hiệp và Công tử Trạch can vào quốc sự, con cháu của hai công tử này về sau đổi ra họ Nguyễn Thuận.

    Buổi đầu vào Thuận Hóa, trong số các danh thần đi theo Nguyễn Hoàng có Mạc Cảnh Huống. Về sau con trai của Mạc Cảnh Huống là Phó tướng Vinh lấy bà Công nữ Ngọc Liên – con gái chúa Sãi, được Chúa cho cải họ thành Nguyễn Hữu.

    Con gái Ngọc Hoàng là bà Ngọc Tú lấy Trịnh Tráng. Thấy chúa Trịnh không có tâm giữ phận bề tôi bà rất buồn phiền. Bà đã nhờ Nguyễn Kiều ở Đông Đô giúp đưa thư và bảo ấn vào Nam cho chúa Sãi. Nguyễn Kiều giả làm người đi chọi gà thoát ra khỏi Đông Đô vào đến xứ Đàng trong. Kiều được chúa Sãi trọng đãi và gả cho ông Công nữ Ngọc Đỉnh (Công nữ thứ ba). Về sau ông lập được nhiều công trạng, con cháu ông có nhiều người nổi tiếng. Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) vua Minh Mạng cho dòng họ ông đổi thành họ Nguyễn Cửu

    Mấy họ Nguyễn Hựu, Nguyễn Hữu và Nguyễn Cửu nói trên được nhà vua xem là Công tính. Con cháu của các Công tính hiện nay rất đông.
    Chế độ quân chủ ở Việt Nam đã cáo chung cách đây hơn nửa thế kỷ, dòng họ Nguyễn Phước gồm các con cháu các chúa, các vua không còn phân biệt thân sơ nữa, tất cả đều bình đẳng trước dòng họ mình nên xu thế hiện nay nhiều người Tôn Thất lấy lại Nguyễn Phúc, những người có chữ lót theo Phiên hệ thi và Đế hệ thi đặt sau Nguyễn Phúc một chữ lót theo thế thứ của mình.

    [Nguồn: Theo Chín đời Chúa mười ba đời Vua Nguyễn – Nguyễn Đắc Xuân]

  • Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Ngày 6/1/1946 là lần đầu tiên người dân Việt Nam được đi bầu cử với tư cách là công dân của một nước độc lập.

    Cách đây 70 năm, chỉ sau mấy tháng giành được độc lập, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên theo nguyên tắc dân chủ, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã diễn ra thành công.
    Hàng triệu người vừa thoát khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân đã nô nức đi bỏ phiếu, bầu ra Quốc hội đầu tiên. Sự kiện này đã đi vào lịch sử nước nhà, là một bước tiến nhảy vọt, đánh dấu việc khai sinh Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Quốc hội của nước CHXHCN Việt Nam.
    Thời điểm đó, ở nhiều nơi, cuộc bầu cử đã diễn ra hết sức khó khăn trước sự phá hoại điên cuồng, thậm chí bằng cả bom đạn của các phần tử cơ hội và lực lượng thù địch. Nhưng không một ý đồ nào có thể khuất phục được ý thức làm chủ của người dân.
    Cuộc Tổng tuyển cử này đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội nhưng đã có tới hàng nghìn người ra ứng cử thuộc các thành phần, đảng phái. Nhưng bằng ý thức làm chủ, người dân đã sáng suốt lựa chọn ra được những đại biểu xứng đáng nhất đại diện cho mình tham gia vào Quốc hội – Cơ quan lãnh đạo cao nhất của một nhà nước dân chủ.
    Qua 70 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn năng lực là cơ quan đại biểu cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện các quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Ngày 6.1.1946, Bác Hồ thăm và kiểm tra Tổng tuyển cử ở làng Giấy (Bưởi, Hà Nội).

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Nhân dân lao động Thủ đô cổ động cho ngày Tổng Tuyển cứ đầu tiên. (Ảnh Tư liệu TTXVN)

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa I tại ngõ Phất Lộc (Hà Nội) năm 1946

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Ngày 5/1/1946, hàng nghìn người Hà Nội đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 1.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Nhân dân lao động Hà Nội cổ động cho Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Ngày 12-1-1946, hàng vạn nhân dân Thủ đô họp mít tinh tại khu học xá Trung ương (nay là Đại học Bách khoa Hà Nội) chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị đại biểu vừa trúng cử vào Quốc hội khóa I. Ảnh tư liệu

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Một điểm bỏ phiếu ở Hà Nội trong ngày 6-1-1946. (Nguồn TTXVN)

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa I ngày 6-1-1946

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ nhất thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Chính phủ liên hiệp kháng chiến tuyên thệ trước Quốc hội ngày 2/3/1946. Phía sau là lá cờ đỏ sao vàng với múi sao rộng hơn hiện nay.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Quang cảnh kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, ngày 2-3-1946.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-3-1946 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Quốc hội khóa I (1946 -1960) gồm 403 đại biểu, trong đó 333 đại biểu được bầu thông qua Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 và 70 đại biểu mở rộng.

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp hình cùng đại biểu Quốc hội khóa 1 năm 1946

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Bác Hồ chụp ảnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa I. Ảnh tư liệu

    Những hình ảnh lịch sử từ kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

    Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà sau cuộc tổng tuyển cử trong cả nước năm 1946, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch nước
  • Hình ảnh lịch sử về ”Sự kiện vịnh Bắc Bộ” 1964

    Hình ảnh lịch sử về ”Sự kiện vịnh Bắc Bộ” 1964

    Tháng 8/1964, Lầu Năm Góc đã ngụy tạo nên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ đem không quân tàn phá miền Bắc Việt Nam.

     

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Ngày 2/8/1964, tàu khu trục USS Maddox (ảnh) đã xâm nhập sâu vào vùng Vịnh Bắc Bộ và đụng độ với ba tàu phóng ngư lôi của hải quân miền Bắc Việt Nam. Biến cố này được biết đến như sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Hình ảnh ba tàu chiến của miền Bắc Việt Nam do hải quân Mỹ ghi lại từ tàu Maddox.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Tàu phóng lôi P-4 của Việt Nam.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Trong trận hải chiến, tàu Maddox sử dụng hơn 280 đạn pháo cùng bốn máy bay tiềm kích USN F-8 Crusader oanh tạc các tàu Việt Nam, khiến 3 tàu bị hư hỏng và bốn thủy thủ hi sinh, 6 người bị thương. Ảnh: Khói bốc lên từ các tàu của Việt Nam sau khi trúng đạn Mỹ.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Hình ảnh một con tàu của Việt Nam bốc cháy do chiến đấu cơ Mỹ chụp lại

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Về phía Mỹ có 1 máy bay bị hư hỏng, tàu khu trục bị một vết đạn 14,5 mm, không có tổn thất về người. Ảnh: Thiếu tá Dempster M. Jackson, người chỉ huy tàu Maxdox của Mỹ bên vết đạn bắn.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Sơ đồ của Hải quân Mỹ giải thích các biến cố của sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 1.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Một tài liệu lưu trữ của chính phủ Mỹ về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 2”. Trong một cuốn băng thu âm được giải mật năm 2001, tổng thống Lyndon B. Johnson thừa nhận rằng vụ thứ hai trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa hề xảy ra.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara trình bày về vụ việc xảy ra trong Vịnh Bắc Bộ (sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 2) ngày 4/8/1964 trong cuộc họp báo nửa đêm tại Lầu Năm Góc. Vụ việc này về sau được khẳng định chỉ là sự “nhầm lẫn” về tình báo của Mỹ, nhưng lại là cái cớ để Mỹ mở màn chiến dịch dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.

    Hình ảnh lịch sử về ''Sự kiện vịnh Bắc Bộ'' 1964

    Ngay sau khi xảy ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, hàng nghìn người Mỹ đã xuống đường phản đối sự dối trá của Lầu Năm Góc.
  • Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Người xưa và người đời gọi áo vua mặc bằng nhiều tên khác nhau như áo bào, hoàng bào, long bào… Được biết trong kho đồ vải ở bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế (BTMTCĐH) mà tiền thân là điện Long An (xây dựng năm 1845 thời vua Thiệu Trị) có khoảng 100 bộ trang phục của không chỉ các bậc mẫu nghi thiên hạ, thái tử, hoàng tử, công chúa, quan lại cùng lính tráng… mà có cả áo bào của các vua.

    Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Ít ai biết phía sau những chiếc áo từng được thiên tử ngự này có nhiều chuyện thâm cung bí sử gắn với nạn tham tang của những thợ thêu, tính cách các vua, những trận đòn và không ít cái chết thảm khốc…

    Bào vua dát vàng, ngọc

    Theo tài liệu được ghi trong BĐMTCĐH, y phục nhà vua mặc trong lễ thiết đại triều và các dịp Tết gọi là long bào, thêu hình rồng bay lên (rồng thăng), hai con rồng chầu mặt trời (lưỡng long chầu nhật), điểm xuyết các tầng mây, sóng nước (thủy ba). Trong lễ thiết thường triều, vua Nguyễn mặc hoàng bào, thêu rồng cuộn tròn (viên long) bằng chuỗi ngọc, xen kẽ bát bửu, hoa lá, thủy ba, chữ thọ.

    Ngoài long bào, y phục đại lễ của vua Nguyễn còn có long cổn (y phục tế đàn Nam Giao) màu đen, tay rộng, trang trí kiểu thức rồng thăng, rồng lượn. Ngoài ra còn có hồng bào (y phục cày ruộng tịch điền) màu gạch non, trang trí rồng nhỏ, ẩn trong mây (long vân). “Với quan niệm hoàng đế là bậc anh minh, thay trời trị dân, do đó trang trí hình rồng chỉ được thể hiện trên trang phục vua và thái tử. Tuy nhiên nếu trên long bào, hình rồng chân 5 móng được thể hiện dưới các kiểu thức phi long (rồng bay) hay hồi long hướng nhật (rồng quay đầu về phía mặt trời) có kích thước cân đối, mặt rộng uy nghi thì hình rồng trên long bào thái tử chỉ là mặt nạ, chân có 4 móng, thân thu nhỏ. Còn hình rồng trang trí trên y phục hoàng tử chỉ là các loài giao, mãng, những biến thể thứ cấp của rồng, vì thế y phục hoàng tử được gọi là mãng bào hay mãng lan”, nói về áo bào của người có chân mệnh thiên tử cùng các hoàng nam của mình là thái tử (người kế vị ngai vàng) và hoàng tử, thông tin từ BTMTCĐH, cho biết như thế.

    Riêng chuyện về áo vua mặc mà người viết tiếp cận được từ tài liệu cổ Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ do nội các triều Nguyễn biên soạn thì bào vua được ghi chú với nhiều điểm khác biệt và chi tiết hơn. Theo đó, phục trang vua mặc dùng thiết triều bằng lụa quý được thêu rồng tinh xảo, đính chỉ bằng vàng và nhiều châu ngọc quý báu. Ngoài hình tượng con rồng, áo vua còn có sự hiện diện của chiếc sừng loài tê giác nay đã tuyệt chủng: “Hoàng bào may bằng sa đoạn sắc vàng chính, thêu rồng lớn rồng nhỏ, mây, thủy ba và 4 chữ phúc thọ. Mặt trước và sau mỗi mặt có 2 chữ “vạn thọ”, 3 hình rồng. Mỗi tay áo có 1 hình rồng, 2 cánh và san hô, hỏa lựu, xâu chuỗi bằng hạt ngọc châu nhỏ. Cổ áo bằng đoạn đậu 8 sợi tơ bóng màu tuyết trắng, 2 dải rủ xuống đều thêu rồng mây. Xiêm dùng sa mỏng trắng bóng toàn sợi tơ có hoa màu đỏ, dệt kiểu rồng cuộn tròn, thủy ba, cổ đồ, bát bảo… dưới nối bằng đoạn gấm hoa hồi văn dây leo, lan can đỏ, trong lót lụa đỏ, gấm hạng nhất toàn hoa kim liên, màu lục hay lam, áo nối bằng lụa mộc. Đai bằng vàng, đoạn đậu 8 sợi tơ trắng bóng nhuộm màu vàng chính, khâu chen kẽ tơ lông đổ, đính sừng con tê, dài, vuông, như hình cái mộc cộng 18 mảnh, ngoài bọc vàng tốt, khảm 92 hạt trân châu”.

    Những cấm lệnh lạ kỳ…

    Chiêm ngưỡng kỹ những chiếc áo vua còn được lưu giữ ở xứ kinh kỳ một thuở sẽ thấy, mặt trước và sau từng chiếc áo bào đều có biểu tượng rồng 5 móng ẩn hiện giữa những tầng mây trên nền lụa vàng quyền quý. Ít ai biết được rồng 5 móng cùng sắc vàng trên áo bào kia chỉ có một người trên muôn vạn người được “ngự”. Mọi hành vi lạm dụng, kể cả vô tình, bất kể quan hay dân đều bị xử lý nghiêm, nhẹ thì bị nọc ra đánh (phạt trượng) hay tội xuy (vừa đánh đòn vừa răn dạy, sỉ nhục), tịch thu tang vật làm của công. Trường hợp nghiêm trọng kẻ vi phạm sau khi ăn đòn sẽ bị lưu đày, quan lại bị cách chức.

    Những hình phạt nghiêm khắc như trên được qui định rõ trong Bộ hình triều Nguyễn. Theo đó, những thứ như nhà ở, xe cáng, áo mặc, đồ dùng của quan và dân đều có thứ bậc, nếu trái mẫu thức, lạm dụng, người có chức sẽ bị phạt 100 trượng, cách chức không lưu dụng (không cho làm quan). Với thường dân phạt xuy 50 roi nhưng chỉ bắt tội gia trưởng (chủ nhà), thợ làm đều phải phạt xuy 50 roi.

    Luật triều đình qui định những thứ làm trái mẫu thức bắt buộc phải chữa lại. Các thợ làm tự thú được tha tội, nhưng không được thưởng: “Nếu người nào lạm dụng những thứ trái cấm lệ như thêu vẽ con rồng con phượng, con giao long thì quan hay dân đều phạt 100 trượng, đày 3 năm, thợ làm phải phạt 100 trượng. Những thứ làm trái lệ cấm đều sung làm của công, kẻ thú cáo (thú tội và cáo giác – PV) được thưởng 50 lạng bạc. Nếu thợ làm mà thú cáo ra thì được tha tội, lại được thưởng nữa”.

    Cũng theo qui định của triều Nguyễn, triều đình cấm cả đàn bà, con gái lạm dụng thứ áo mặc thêu dát vàng sắc lóng lánh, thứ cài đầu, vòng xuyến bằng vàng dát châu báu (vàng không dát châu báu thì không cấm – PV) cùng dùng trân châu thêu đính vào áo dày, bởi đó là qui thức dành cho bậc mẫu nghi thiên hạ là hoàng hậu hay mẹ của vua. Nếu ai đó vi phạm, việc phát giác ra cả thảy người phạm tội và người liên đới đều bị chiểu theo luật để trị tội, các thứ áo mặc, đồ dùng bị thu làm công. Luật hình thời bấy giờ nói rõ nếu đàn bà, con gái phạm tội thì bắt tội.

    “Ăn” bớt bào vua: nhẹ phải đòn, nặng… xử tử

    Chuyện rằng từ lời tâu của Bộ Hộ và nội các, Phủ Nội vụ trong quá trình đốc suất thợ may triều đình thêu mới 4 chiếc áo vua phát hiện một số ngờ vực, hoàng đế Minh Mạng đã giao cho hội đồng tính kỹ và phát hiện “trong 4 chiếc áo ấy chiếc nào cũng lấy thừa từ 1 tấc trở lên, rõ ràng là tên thợ may cố ý lấy bớt đi”.

    Việc thợ may chốn cấm cung xén bớt áo bào khiến hoàng đế Minh Mạng phẫn nộ nên đã thiết triều luận xử tội những thợ may tham lam và các quan lại đốc suất không làm tròn nhiệm vụ: “Niên cục chính Tư trượng là Lê Văn Sự chiểu luật “bất kính” xử tội giảo giam hậu (giam chờ ngày treo cổ – PV), trước đem đánh 40 côn sơn đỏ. Đốc công Lê Văn Thu có trách nhiệm đốc sức thợ, mà dung túng cho thợ cố ý làm hơn kém, chuẩn sai đội Cẩm y đến bắt tên Lê Văn Thu xiềng khóa lại đem giam cấm, đợi sau xuống chỉ theo thế mà xử trị. Hội đồng coi làm là Ngô Văn Địch, Lê Viết Trị, Nguyễn Khoa Dục, Ngô Ngọc Cương lần này hãy tạm theo mực nhẹ đều phạt lương 3 tháng để làm răn”.

    Năm 1841, vua Minh Mạng băng hà, kế nghiệp ông là hoàng đế Thiệu Trị. Ngay năm đầu tiên trị vì, vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn đã như vua cha thiết triều xử hàng loạt quan chức vì không trọn chức sự trong việc làm bào vua. Lời dụ rằng: “Lần này thêu bào rồng, xiêm vàng là việc quan trọng, các ngươi thừa hành phải nên mười phần cẩn thận, phải thực khéo mới xứng đáng với chức sự của mình. Thế mà các đốc công không để ý đốc suất thợ làm, đến nỗi áo xiêm ngắn sai kiểu mẫu, chỗ thêu nối thêm màu đậm, nhạt nhìn kỹ chỗ nọ chỗ kia không được hợp nhau, trong đó đường thêu lại có nhiều chỗ nhăn nhúm, dày thưa, nhiều chỗ không đúng mẫu thức, thực là sơ suất quá lắm. Các viên đốc công chuyên ty là viên ngoại lang Hồ Đình Hy, chủ sự là Hà Văn Hanh đều giáng 1 cấp, được lưu dụng. Còn bọn thợ thêu là Nguyễn Chương, Phạm Đình Luân, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Đắc Thông, Nguyễn Tất Tố chính tay thêu mà nhầm, chuẩn đem đánh 100 trượng thực đau, phó trị sự là Lê Văn Tuyển, tượng mục là Lê Văn Sự chuẩn phạt mỗi tên 80 trượng để làm răn”.

    Từ chuyện hai hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị thiết triều, ban dụ quở trách, ra lệnh xử phạt đánh đòn, xử tử những can phạm ăn chặn, may xấu bào vua cho thấy sự nghiêm khắc của luật pháp thời bấy giờ, đồng thời cũng cho hậu thế biết thêm một phần tính cách của 2 vị hoàng đế này: Minh Mạng ghét xự xảo trá, gian tham; còn con trai ông, hoàng đế Thiệu Trị trong một chừng mực nào đó cho thấy ông khá kỹ tính… Đây hẳn là những thông tin thú vị để ta biết rõ hơn về áo bào của vua, nó không chỉ xa hoa mà còn ẩn sau đó tính khí của các vị hoàng đế và cả những bi kịch tàn khốc.

    Theo Net Cố Đô

  • Ảnh hiếm: Đám tang Vua Khải Định diễn ra thế nào?

    Khải Định lên ngôi vua được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20/9 năm Ất Sửu tức 6/11/1925, thọ 40 tuổi. Lăng của vua Khải Định hiệu Ứng Lăng được xây cất tại làng Chân Chữ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Những bức hình được người Pháp chụp nằm trong bộ sưu tập của ông Ngô Văn Ðức ở Bordeaux, Pháp.

    Các quan khâm sai, toàn quyền Pháp đến dự đám tang vua Khải Định

    Lễ động quan ở điện Càn Thành

    Đám rước bắt đầu khởi hành

    Qua cổng thành

    Đoàn tăng ni cầm phướn đi dẫn đầu

    Đoàn con hát

    Đoàn lính tráng

    Voi cũng có mặt trong đám rước

    Tên họ và chức tước của vua được ghi trên bức trướng trong đám rước

    Tại cùng Châu Ê (triền núi Châu Chữ)

    Đám rước đến lăng

    Chuẩn bị nhập lăng

    Đồ tùy táng được đốt để gửi cho vua

    Quang cảnh khu vực lăng Khải Định

    Dân chúng tấp nập trên sông Hương coi đám tang nhà vua

    Theo Báo GDVN

  • Bốn nhà Triệu trong sử Việt

    Bốn nhà Triệu trong sử Việt

    Có lẽ đoạn sử rối rắm, gây nhiều tranh cãi nhất trong sử Việt là giai đoạn từ Thục An Dương Vương tới Triệu Đà. Không sách nào khớp với sách nào, từ sử ta tới sử Tàu, từ cổ thư tới truyền thuyết. Sử sách gì mà chép những chuyện không thể hiểu nổi, kiểu như An Dương Vương 80 tuổi mới sinh con Mỵ Châu, Triệu Đà thọ 121 tuổi…
    Lịch sử không dễ mất đi mà không để lại dấu vết gì. Sự thật ở ngay trước mắt nhưng lại rất xa. Với “tuổi thọ” 121 năm của Triệu Đà thì có thể thấy… trong hình tượng Triệu Đà này có ít nhất là 2, thậm chí là 3 nhân vật lịch sử thật sự. Xin lần lượt bàn từng “vị” Triệu Đà theo dòng thời gian.

    Triệu Đà – Trọng Thủy
    Nhà Triệu thứ nhất là họ Triệu của vua Tần. Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, theo họ mẹ ở nước Triệu. Triệu Chính là con của Trọng Thủy và nàng Mỵ Châu trong truyền thuyết Việt.
    Năm 256 trước Công nguyên Tần Chiêu Tương vương diệt nhà Chu, thu chín cái đỉnh về Tần. Thiên tử đã mất thì thiên hạ cũng thay đổi. Đế quốc Tần bắt đầu từ đây chứ không phải đợi đến lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước.
    Sử Việt chép cũng thời gian năm 257 Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu Lạc. Sự kiện này thực ra chính là việc Tần diệt Chu trong Hoa sử.
    Truyền thuyết Việt thì chép thành họ Triệu (Triệu Đà) cho con là Trọng Thủy ở rể, lừa lấy mất nỏ thần, đuổi An Dương Vương chạy ra biển. Mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy chính là cuộc hôn nhân Tần – Việt với kết cục bi thảm, ai oán, kết thúc sự tồn tại của vương triều Chu gần 1000 năm.

    Long Hưng Triệu Vũ Đế
    Khoảng năm 218 Tần Thủy Hoàng sai Úy Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân tấn công Bách Việt. “Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư“ (Hoài Nam tử).
    Các sử gia ngày nay cho rằng “người Tuấn kiệt” ở đây là Thục Phán. Nhưng như vậy quá rối rắm và vô lý. Thục Phán đã là vua Âu Lạc từ năm 257 TCN, sao tới năm 218 TCN lại được các tướng suy tôn làm thủ lãnh? Âu Lạc đã bị Tần diệt, có còn vua đâu nữa?
    Khởi nghĩa kháng Tần của người tuấn kiệt tại Giao Chỉ không phải là Thục Phán. Xét về thời gian và hành trạng thì người Tuấn kiệt lãnh đạo dân Âu Lạc lúc này phải là … Lưu Bang. Do chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là một quan nhỏ dưới thời Tần, khi dẫn dân phu đi Lịch Sơn vì phu dịch bỏ trốn nhiều quá, biết khó tránh tội chết, nên đã tự mình dựng cờ “khởi nghĩa”, được mọi người hưởng ứng. Khởi nghĩa của Lưu Bang thắng lợi cũng đúng vào sau lúc Tần Thủy Hoàng mất (năm Tần Nhị Thế thứ 3, tức 206 TCN). Hình thức và thời gian khởi nghĩa này thật khớp với ghi chép của Hoài Nam tử ở trên.
    Theo Sử ký Tư Mã Thiên thì Lưu Bang là người đất Phong, làm đình trưởng ở huyện Bái, khởi nghĩa ở núi Mường Đăng. Lưu Bang cũng là Lý Bôn trong sử Việt. Lý Bôn được thờ rất nhiều ở vùng xứ Đoài, là đất Phong Châu phía Tây Giao Chỉ xưa. Đất Bái là Thái Bình (Thái Bình đọc lái là Bái Đình), được chép là quê của Lý Bôn. Mường Đăng, nơi Lý Bôn trảm xà khởi nghĩa, hẳn là vùng Thái Nguyên – Bắc Giang, nay có tục thờ Lý Bôn. Lưu Bang – Lý Bôn, người khởi đầu triều Tiền Lý của sử Việt.
    Lý Bôn được sử Việt gọi là Lý Nam Đế, người phủ Long Hưng đất Thái Bình. Long Hưng hay Hưng Lang là danh xưng của Lý Bôn – Lưu Bang, đã bị biến thành Hán Vương.
    Bất ngờ hơn khi truyền thuyết Việt có chuyện Triệu Vũ Đế lập điện Long Hưng ở Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Và theo Thiên Nam ngữ lục thì chính Triệu Vũ Đế mới là người đã nhân thấy rồng bay lên trên sông Nhị Hà mà đặt tên cho thành Thăng Long, chứ không phải Lý Công Uẩn. Triệu Vũ Đế họ Lý, danh xưng Long Hưng thì hẳn chính là Lưu Bang – Lý Bôn. Như vậy trong truyền thuyết Việt Lưu Bang được gọi là Triệu Vũ Đế.
    Câu đối ở điện Long Hưng:
    Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
    Xung thiên vũ trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.

    Dịch:
    Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
    Động trời khắp chốn, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

    Cũng vị Triệu Vũ Đế này còn lấy vợ là Trình Thị ở đất Đồng Xâm – Kiến Xương – Thái Bình. Sử ký chép Triệu Đà quê ở Chân Định… Chân Định là tên cũ của đất Kiến Xương, là nơi Lưu Bang lấy … Lữ Hậu, ở vùng đất Bái (Thái Bình).

    Bốn nhà Triệu trong sử Việt

    Đền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình

    Lưu Bang và Lữ Hậu còn được thờ đúng họ tên tới nay ở ngay đình Bát Tràng – Hà Nội, cạnh điện Long Hưng ở Xuân Quan. Ngoài ra, ở làng Trâu Lỗ (Hiệp Hòa – Bắc Ninh) có thờ Vua ông Vua bà, không rõ lai lịch, có thể cũng chính là Lưu Bang và Lữ Hậu vì suốt lịch sử Hoa và Việt chỉ có 2 vị này là có thể đều cùng gọi là vua được.
    Tư liệu dân gian cho phép đoán định Triệu Vũ Đế hay Triệu Đà trong sử Việt là Lưu Bang – Lý Bôn phần nào cũng sáng tỏ hơn những thông tin khác về Triệu Đà. Triệu Đà là huyện lệnh huyện Long Xuyên, có thể hiểu là chuyện Lưu Bang ban đầu là đình trưởng đất Bái (phần Đông Giao Chỉ) dưới thời Tần. Hoặc nói tới chiến công của Lưu Bang giết thái thú quận Tam Xuyên ở Ung Châu là Lý Do, con thừa tướng Lý Tư nhà Tần.
    Chuyện Nhâm Ngao trao quyền quận Nam Hải cho Triệu Đà, Triệu Đà nhân đó đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận có thể cũng là hành trạng của Lưu Bang khi khởi nghĩa kháng Tần, thắng lợi ở 3 vùng đất mà Tần chiếm của Việt trước đây.
    Triệu Vũ Đế – Lý Bôn lập ra nước Nam Việt, nên có tên Lý Nam Đế. Có thể triều đại mà Lưu Bang lập nên gọi đúng là nhà Triệu, nước Nam Việt, chứ không phải Hán. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang không dính dáng gì tới Hán cả. Lưu Bang là người khai mở kỷ nhà Triệu (thứ hai) năm 206 TCN trong sử Việt.

    Nhà Triệu – Lữ Gia
    Nếu Triệu Vũ Đế là Lưu Bang, vậy nhà Triệu với 5 đời vua được ghi trong sử sách là như thế nào?
    Ở Quảng Tây đã tìm thấy mộ của Triệu Mạt với ấn “Văn đế hành tỷ”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho gợi ý: Triệu Mạt là Triệu Một, tức là vị vua đầu của nhà Triệu. Như vậy nhà Triệu Nam Việt bắt đầu từ Triệu Văn Vương chứ không phải Triệu Vũ Đế.
    Nhà Triệu này xuất hiện sau khi Lữ Hậu mất năm 180 TCN như Sử ký Tư Mã Thiên chép. Nhà Triệu thứ ba này mới là nhà Triệu đã chiếm Mân Việt và Tây Âu Lạc. Sự có mặt của tể tướng 4 đời vua Triệu là Lữ Gia cho thấy có thể nhà họ Lữ (của Lữ Hậu) sau khi thất bại nắm quyền ở phương Bắc đã tôn một người con hay cháu của Lưu Bang lên làm vua Nam Việt. Vị vua này gọi là vua đầu Triệu Mạt. Vì nhà Triệu này được chuyển tiếp một cách không chính thức nên không có vua Vũ Đế, mà bắt đầu bằng Triệu Văn Vương. Triệu Vũ Đế đã là Lưu Bang, cũng là ông tổ của nhà Triệu Nam Việt.
    Nhà Triệu thứ ba ở Phiên Ngung kết thúc khi Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức của nhà Hiếu tấn công Nam Việt. Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương lên thuyền nhẹ chạy từ Phiên Ngung về cửa biển ở đất Bái (đất của họ Lữ). Huyền sử Việt chép thành chuyện Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử đuổi, chết ở cửa Đại Nha (Nam Định).
    Lữ Gia lui về Phong Châu lập phòng tuyến chống nhà Hiếu (Tây Hán) dọc sông Lô. Phong Châu là đất gốc của Triệu Vũ Đế Lưu Bang – Lý Bôn. Tàn quân nhà Triệu lui về đây cũng hợp lý. Đền thờ Lữ Gia nay có ở Nam Định và vùng Vĩnh Phúc, Sơn Tây là dấu vết của cuộc chiến này.

    Bốn nhà Triệu trong sử Việt Nơi thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì

    Nam Triệu – Tây Lý Vương
    Việc Lữ Gia và Triệu Thuật Dương Vương rút về Phong Châu cho thấy đã có một cuộc di cư lớn của nhóm người Tày Thái từ Quảng Đông về Tây Giao Chỉ khi Lộ Bác Đức tấn công Phiên Ngung (năm 111).
    Tư liệu của nhà nghiên cứu Lương Nghị về đền thờ Lữ Gia ở thôn Tràng Đông, xã Trưng Vương, Việt Trì cho biết:
    Sau khi Lữ Gia mất, đang lúc giao thời một người chắt của Triệu Đà là Nguyễn Vụ với danh nghĩa con cháu nhà Hùng, tự lên ngôi vua ở cố đô Văn Lang, đổi tên Loa Thành thành Tây Vu Thành, lấy hiệu là tây Lý Vương. Nhà vua hiệu triệu nhân dân nổi dậy chống Hán, lấy Tây Vu Thành làm căn cứ chống giặc. Đồng thời cử con là Lang Tề sang nhà Tây Hán điều đình để chấp nhận vương triều của mình. Nhà Hán ép Lang Tề lấy vợ Hán nhưng Lang Tề không chịu, bèn về nước liên kết với các hào kiệt chống Hán. Các quân sĩ của Lữ Gia còn lại tiếp tục chiến đấu dưới lá cờ của Tây Lý Vương. Cuộc chiến đấu kéo dài 14 năm sau, làm cho quân Hán vô cùng khốn đốn, sau đó mới vị tiêu diệt.
    Tư liệu này hoàn toàn trùng hợp với chuyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái cho biết “người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
    Cái tên Nguyễn Vụ của người chắt Triệu Đà cũng tương tự trường hợp sách Tàu đổi họ của Lý Thân (Lý Ông Trọng) thành Nguyễn Thân. Nguyễn Vụ hay Lý Vụ, Lý Vũ, tức là vua Lý. Vùng Tây Vu trong Lĩnh Nam chích quái gọi là đất Nam Triệu, do họ Lý lãnh đạo, giao hảo với nhà Tây Hán (cử Lang Tề đi sứ), chống Đông Hán, rồi hàng phục nhà Hậu Lý của Lý Bí – Lưu Bị thời Gia Cát Vũ Hầu (chuyện Mạnh Hoạch).
    Tây Vu Thành không phải là Loa Thành ở Cổ Loa, mà là vùng đất phía Tây Giao Chỉ (đất Phong), nơi có cố đô Việt Trì từ thời Lang Xương Chu Văn Vương (Văn Lang). Danh xưng Tây Lý Vương cho thấy rõ con cháu Triệu Vũ Đế mang họ Lý của Lý Bôn. Tây Lý Vương là triều Lý Nam Triệu ở phía Tây, phân biệt với triều Lý Nam Việt ở phía Đông (Phiên Ngung) trước đó. Nam Triệu được sử Việt còn gọi là triều Hậu Lý Nam Đế, về sau hàng phục nhà Tùy năm 602.

    Biểu đối chiếu 4 nhà Triệu trong sử ViệtBốn nhà Triệu trong sử Việt

    Họ Lý của nhà Triệu bắt đầu từ Lý Bôn – Lưu Bang. Năm Quý Tỵ 208 TCN Lý Bôn khởi nghĩa chống Tần thắng lợi trên đất Âu Lạc. Lý Bôn, người Việt Giao Chỉ đầu tiên xưng Đế, mở nước Vạn Xuân. Xác định họ Lý truyền từ Lưu Bang Triệu Vũ Đế, sang Nam Việt Triệu Văn Vương rồi Nam Triệu Tây Lý Vương đã làm thông suốt một mảng thời gian quan trọng trong sử Việt, kết nối lịch sử phần Đông với Tây, Nam với Bắc.

    Nguồn: Bách Việt Trùng Cửu

  • Xã – Thôn Việt Nam ngày xưa

    Xã – Thôn Việt Nam ngày xưa

    Trong tổ chức chính quyền địa phương thời phong kiến, danh xưng các cấp thường thay đổi theo từng triều đại, song dù ở thời nào, xã vẫn được coi là cấp chính quyền căn bản, nối liền giữa bộ máy cai trị với người dân. Với tính chất “phép vua thua lệ làng”, xã biểu thị một hình thức sinh hoạt vừa gắn kết với bộ máy trung tâm, vừa có những qui lệ tự đặt ra theo phong tục tập quán đã tồn tại nhiều đời ở mỗi địa phương.

    Việc điều hành một đất nước dù là trong thời kỳ mới lập quốc cũng đòi hỏi có sự phân chia thành những hệ cấp hành chính từ lớn đến nhỏ, từ cao xuống thấp để tiện quản lý. Theo các tài liệu cổ, nước ta vào thời kỳ các vua Hùng đã được chia thành 15 bộ, trải rộng từ bộ Lục Hải, Vũ Định (Lạng Sơn, Cao Bằng ngày nay) đến bộ Việt Thường (Quảng Trị). Tổ chức nhà nước lúc đó mang ít nhiều sắc thái huyền thoại (18 đời Hùng Vương trị vì trong 2622 năm!) nên người ta không biết gì thêm về cách thức điều hành các bộ.

    Một hội đồng hương chánh thời Pháp thuộc
    Một hội đồng hương chánh thời Pháp thuộc

    Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3 (thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX), vua Đường Cao Tông chia đất Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện, dưới cấp huyện có hương, xã. Đây có lẽ là cấp xã đầu tiên trong lịch sử hình thành nước ta. Theo sách An nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng (Trung Quốc) hương gồm nhiều tiểu hương, có từ 70 đến 150 hộ, đại hương từ 151 hộ đến 540 hộ, xã gồm tiểu xã có 10 đến 30 hộ, đại xã có trên 30 hộ đến 60 hộ. Sau khi giành lại độc lập, nhà Tiền Lê cũng chia các đơn vị hành chánh địa phương ra làm 4 cấp: Lộ, Phủ, Châu, Hương (xã đổi thành hương). Đến đời vua Lê Thái Tổ, ông cho đổi cấp địa phương cao nhất là Lộ thành Đạo, dưới Đạo có Phủ, Lộ, Trấn, Châu, Huyện, Xã. Không lâu sau, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) lại đổi Đạo thành Xứ, đổi Lộ thành Phủ, đổi Trấn thành Châu, dưới nữa có Hương, Phường, Xã, Thôn, Trang, Sách, Động, Nguyên, Trưởng. Đến thời nhà Nguyễn, sau những chuyển biến lớn lao về mặt kinh tế, xã hội, đất nước ta đã trải dài từ Lạng Sơn đến Cà Mau, tổ chức địa phương gồm có Dinh-Trấn, Phủ, Huyện, Tổng, Thuộc, Xã. Bao giờ xã cũng là đơn vị hành chánh căn bản tại các xã thôn.
    Tại miền Bắc, xã thôn vẫn còn giữ nguyên tính truyền thống và chặt chẽ của nó với hai tập quán chính:
    – Tập quán vương tước – Quyền hành tại xã thôn được trao cho những người có tước vị do vua ban
    – Tập quán thiên tước – Quyền hành tại xã thôn được giao cho các bậc trưởng lão, tức những người cao tuổi, có uy tín tại địa phương.
    Theo tập quán 1, số dân trong làng xã được chia thành 5 hạng: thứ nhất là những quan lại thuộc hàng cửu phẩm văn giai, chính thức hóa vai vế trong làng bằng việc tổ chức lễ khao hay lễ vọng để công bố sắc chỉ vua ban. Người có phẩm hàm cao nhất được gọi là thủ chỉ, trên cả lý trưởng và phó lý là những người đứng đầu bộ máy hành chánh làng xã. Hạng thứ hai gồm những bô lão trên 60 tuổi, được làng xã miễn cho các hình thức sưu dịch, thuế khóa, đóng góp; hạng thứ ba là các kỳ mục trong làng gồm lý trưởng, phó lý, chánh tổng đương chức, các cựu lý trưởng, phó lý và chánh tổng; hạng thứ tư gọi là tả văn là những ân nhân của làng xã, thường xuyên đóng góp tiền của để thực hiện những việc công ích như làm cầu, đắp đập, xây đền chùa… Cuối cùng là hạng không có vai vế gì trong làng, gọi là hoàng đinh, gồm những người được ghi tên trong sổ bộ làng, từ 17 đến 48 tuổi, phải đóng thuế và làm sưu dịch cho làng. Tại những làng theo tập quán 2 (thiên tước), sự phân hạng dựa vào tuổi tác, không lý tới phẩm tước ở triều đình. Người lớn tuổi nhất trong cộng đồng này gọi là thủ chỉ và làng chỉ có bốn hạng dân: – những người trên 60 tuổi gọi là ông cụ hay quan lão, riêng tỉnh Hà Đông gọi là trùm; – hạng thứ hai là hội đồng quan viên gồm 12 người được xếp theo thứ tự ghi danh trong sổ bộ làng; – hạng thứ ba gọi là ba bàn gồm 18 thành viên, cũng theo thứ tự ghi danh trong sổ bộ làng. Trong các cuộc họp công cộng, họ được xếp ngồi trong 3 bàn mỗi bàn 6 người nên có tên này. – Hạng thứ tư gồm những cư dân còn lại trong làng.

    Một lý trưởng ở miền Bắc (1916)
    Một lý trưởng ở miền Bắc (1916)

    Tại những làng xã theo tập quán 2, các quan viên cùng với lý trưởng và phó lý tập hợp thành Hội đồng hương chức đảm đương mọi trách vụ trong làng, cả về mặt hành chánh, tài chánh, tư pháp…
    Tại miền Nam, tổ chức làng xã có màu sắc riêng, do vùng Đàng Trong đã tách rời khỏi chính quyền Lê-Trịnh từ đầu thế kỷ 17. Việc điều hành nền hành chánh xã được giao cho Hội đồng hương chánh với một thành phần nhân sự hùng hậu. Tổ chức này hoạt động như một triều đình thu nhỏ với sự phân công, phân nhiệm tương đối rõ nét. Người đứng đầu hội đồng là Hương cả, có nơi còn gọi là Đại Hương cả, thường được chọn trong số con cháu những người sáng lập xã. Viên chức này được sự phụ giúp trực tiếp của Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng trong việc quản lý tài sản xã, thiết lập ngân sách và giám sát các hoạt động thu chi trong xã. Cả ba là ban tham mưu cao cấp của Hương cả, riêng Hương chủ còn có trách nhiệm thay thế Hương cả khi ông này vắng mặt tại xã. Các viên chức kế tiếp xếp theo thứ bậc gồm có:
    – Hương chánh: Chịu trách nhiệm giám sát, hướng dẫn bộ máy thừa hành của xã, chấp hành đúng mệnh lệnh chính quyền cấp trên, làm trọng tài giải quyết những tranh chấp giữa người dân với nhau.
    – Hương giáo: Phụ trách công tác giáo dục tại xã. Với tư cách thư ký hội đồng hương chính, Hương giáo lập biên bản các phiên họp, ghi vào một sổ riêng để theo dõi.
    – Hương quản: Viên chức này có những nhiệm vụ nặng nề và những quyền hạn nổi bật. Hương quản phụ trách công tác cảnh sát hành chánh và cảnh sát tư pháp, truy tầm tội phạm, giám sát các hoạt động đường thủy, đường bộ, đường sắt, cầu cống… Dưới quyền trực tiếp của Hương quản có một số cai thị, cái thôn, trùm và trưởng là những viên chức cảnh sát cấp duới.
    – Hương bộ hay thủ bộ là người chấp giữ sổ địa bộ và văn khố, ghi chép các khoản chi, thu và trông coi vật tư của xã.
    – Hương thân: Đảm bảo mối quan hệ giữa các cơ quan hành chánh và tư pháp với hội đồng hương chính.
    – Xã trưởng (làng lớn) hay Thôn truởng (làng nhỏ) có nhiệm vụ chấp giữ con dấu của xã, đặc trách thu thuế và sung vào công nho.
    – Hương hào: Phụ trách công tác cảnh sát hương thôn. Chịu trách nhiệm thi hành những quy định về đường sá, tống đạt cho dân chúng các trát đòi hay giấy báo trong các vụ kiện tụng. Hương thân, Xã trưởng, Hương hào hợp thành bộ phận chấp hành làm việc dưới sự cố vấn và giám sát của Hương chánh. Cả ba đồng thời là phụ tá của Hương quản trong nhiệm vụ cảnh sát hành chính và cảnh sát tư pháp và có quyền điều động các viên chức cấp thấp như:
    • Lý trưởng hay phó xã.
    • Ấp trưởng là đại diện của Xã trưởng tại ấp.
    • Biện lại phụ trách viết thẻ thuế.
    • Cai tuần lo việc tuần tra, canh gác trong xã.
    • Tri lễ, tri văn – lo việc nghi lễ, đình chùa.
    • Trùm, trưởng – trông coi nhà việc (nơi làm việc của hội đồng), chuyển mệnh lệnh cho các cấp.
    Sau khi thôn tính xong ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867), thực dân Pháp củng cố bộ máy cai trị tại vùng đất mới. Ngày 24.9.1869, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định thành lập một Ủy ban trung ương có nhiệm vụ cứu xét các nghị quyết của Hội đồng hương chánh. Ủy ban do Giám đốc Nha nội vụ (Directeur de l’intérieur) làm chủ tịch và một số quan lại Việt Nam làm thành viên, trong đó có thể kể những gương mặt quen thuộc: Đốc phủ sứ Trần Tử Ca, Lãnh binh Huỳnh văn Tấn (còn gọi Huỳnh Công Tấn), Đốc phủ sứ Trần Bá Lộc, Phủ Đỗ Hữu Phương, Phủ Lê Tấn Đức…

    Một viên chức hành thu thuế ở miền Bắc
    Một viên chức hành thu thuế ở miền Bắc

    Mặt khác, thông tư ngày 21.5.1874 quy định các hình thức phạt tiền đối với những Hội đồng hương chánh nào không hoàn tất trách nhiệm được giao. Mười năm sau (1884), chính quyền thuộc địa đặt thêm trong tổ chức xã chức Chánh tri bộ và Phó tri bộ trông coi việc hộ tịch và thống kê dân số.
    Thời đó, người dân nô lệ phải sống trong nỗi ám ảnh ngàn đời của sưu cao thuế nặng. Hai khoản thuế chủ yếu mà họ phải đóng là thuế thân và thuế điền thổ. Những ai nằm trong hạng tuổi 18-60 đều phải đóng thuế thân với mức 1 đồng/1 người/năm. Thẻ thuế thân là giấy tờ tùy thân duy nhất phải mang theo mình để xuất trình khi bị xét hỏi. Những người trốn thuế thân phải chịu những hình phạt nặng nề cho nên nhiều người phải bỏ làng tha phương cầu thực vì không có tiền đóng thuế thân cho chính quyền thuộc địa.
    Thuế điền thổ căn cứ vào điền bộ do Hương bộ lập. Thời Nguyễn, bộ điền được lập thành 3 bản, 1 bản chuyển về kinh cho bộ Hộ (Bộ Tài chính – Nông nghiệp ngày nay), 1 bản chuyển cho quan Bố chánh ở tỉnh, một bản lưu tại xã. Cần phân biệt điền bộ là sổ ghi chép những chi tiết liên quan đến thuế má ruộng vườn với địa bộ là sổ sách ghi chép hiện trạng việc phân chia đất đai trong xã. Riêng địa bộ còn có sự phân biệt rõ rệt giữa công điền, công thổ là đất công mà xã chỉ có nhiệm vụ quản lý chứ không được bán hay cho thuê và bổn thôn điền là đất mà xã có thể đem bán nếu cần.

    Một thân hào ở Sài Gòn (1906)
    Một thân hào ở Sài Gòn (1906)

    Cuối cùng, như một truyền thống không thể thiếu, mỗi xã có một đình thần là nơi diễn ra những nghi thức cúng tế hàng năm. Vị thần trong xã là người sáng lập xã, một anh hùng dân tộc sinh trưởng tại địa phương hay một nhân vật có uy tín trong xã đã mất đi. Triều đình cứu xét từng trường hợp một và nếu chấp thuận, nhà vua sẽ ký ban sắc thần cho xã. Đến nay nhiều đình làng vẫn còn giữ được những đạo sắc thần do vua ban.
    Lê Nguyễn

  • NHỮNG CÁI NHẤT CỦA VUA CHÚA TRIỀU NGUYỄN

    NHỮNG CÁI NHẤT CỦA VUA CHÚA TRIỀU NGUYỄN

    Trải qua 387 năm với 9 đời chúa và 13 đời vua, triều đại vua chúa nhà Nguyễn đã trải qua biết bao thăng trầm và sau đây là tổng hợp của LỊCH SỬ VIỆT NAM về những cái nhất của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam ta

    Kinh thành Huế về ban đêm
    Kinh thành Huế về ban đêm

    1. Ở ngôi lâu nhất:
    Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558 và băng hà năm 1613 trị vì 55 năm, có 10 con trai và 2 con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

    2. Ở ngôi ít nhất:
    Vua Dục Đức lên ngôi theo di chiếu của Tự Đức. Hai phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nại rằng Dục Đức muốn cải di chiếu nên đã sai Trần Tiễn Thành đọc bớt đi (đoạn nói mắt vua có tật, tính thì hiếu dâm….), có tang vẫn dùng áo màu…. dâng sớ lên Hoàng thái hậu đặt vua khác. Vua bị phế khi vừa lên ngôi được 3 ngày ( 20, 21, 22.7.1883), bị giam và bỏ đói, rồi chết.

    3. Lên ngôi muộn nhất:
    Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi hay Chúa Bụt (1563-1635), con trai thứ sáu của Chúa Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có 11 con trai và 4 con gái. Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ “Phúc”. Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là “Phúc”. Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn hoàng đế.

    4. Lên ngôi sớm nhất:
    Vua Duy Tân sinh ngày 19-9-1900, con trai thứ 5 của vua Thành Thái và bà Nguyễn Thị Ðịnh. Vua Thành Thái rất đông con, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng Pháp sợ Vua trưởng thành khó sai khiến nên phải tìm chọn một người càng nhỏ tuổi càng hay. Hôm Khâm sứ Lévecque cầm danh sách các Hoàng tử con Vua Thành Thái vào Hoàng cung chọn vua, trong lúc điểm danh thì thiếu mất Vĩnh San. Triều đình hốt hoảng chạy đi kiếm thì thấy Vĩnh San đang chui dưới gầm giường bắt dế. Vĩnh San bị lôi ra, mặt mày lem luốt, quần áo ướt nhẹp vì mồ hôi. Không kịp đưa về nhà tắm rửa, bọn thị vệ đưa ngay Vĩnh San ra trình diện quan Pháp.
    Mới trông thấy Vĩnh San, các quan Pháp vừa ý ngay vì theo họ đứa bé mặt mày dơ tèm lem có vẻ nhút nhác và đần độn, chắc dể sai khiến sau nầy. Thế là Pháp chọn Vĩnh San làm Vua, mới 7 tuổi đầu. Triều đình thấy Vua nhỏ bèn xin tăng thêm một tuổi thành tám. Nghĩ tình Vua Thành Thái suốt đời ước nguyện đổi mới mà không làm được, nên những người phò tá còn chút quyền hành đã lấy niên hiệu cho người nối nghiệp là Duy Tân.

    5. Sống thọ nhất:
    Chúa Nguyễn Hoàng, thọ 88 tuổi. Ông là người đầu tiên khai sinh ra lịch sử nhà Nguyễn 9 chúa 13 vua, dân thường gọi là chúa Tiên. Sự nghiệp của chúa bắt đầu từ tháng 10 năm 1558 khi vào trấn thủ Thuận Hóa, hòng thoát khỏi tai mắt của họ Trịnh. Chúa có công mở rộng bờ cõi nước ta về phía Nam, biên cương trong thời chúa trị vì đến tận tỉnh Phú Yên ngày nay.

    6. Thọ kém nhất:
    Ông Dưỡng Thiện, tên là Ưng Ðăng là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên ngôi vua lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Vua chỉ có 15 tuổi, mọi việc đều do ông Tường và ông Thuyết quyết định cả.
    Có nhiều ông quan thấy vậy liền trả ấn lại cho triều đình, từ quan rồi đi chiêu mộ binh mà đánh Tây.
    Có sách nói rằng Ưng Ðăng được tin triều đình tới rước mình về làm Vua, Ưng Ðăng sợ quá chui xuống gầm giường trốn, mọi người phải lôi ra, ông la hét khóc lóc thảm thiết nhưng vẫn bị đem lên kiệu đưa về cung. Ông viện đủ mọi cách để từ chối nhưng vẫn bị hai ông Tường và Thuyết ép phải lên ngôi. Vua Kiến Phúc ở ngôi được có hơn 6 tháng thì phải bệnh mất ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884). Có sách nói rằng Vua bị ông Tường thuốc chết vì Vua bắt gặp ông Tường đang tư tình với bà phi Nguyễn Thị Hương, để bịt miệng Vua, lợi dụng lúc Vua đang bệnh ông Tường bỏ thuốc độc vào thuốc trị bệnh của Vua.

    7. Có nhiều con nhất:
    Vua Minh Mạng, 142 người con. Ngoài bà phi Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị sau này), Minh Mạng còn có hàng trăm bà phi, tần khác nữa, trong đó 40 bà có con với vua, tổng cộng được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ. Không kể chuyện hậu cung, Minh Mạng là một ông vua văn võ kim toàn, đưa nước Việt ta trở thành một trong những nước hùng mạnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Vua ở ngôi 21 năm (1820- 1841), thọ 49 tuổi.

    8. Vị vua thể hiện hiếu thảo nhất
    Là vị vua hiếu đạo bậc nhất trong số các vị hoàng đế triều Nguyễn. Mẫu hậu là bà Từ Dũ được vua săn sóc, tôn kính, vâng lời hết mực. Bà truyền bảo điều gì đáng lưu tâm, vua liền ghi ngay vào sách tùy thân mà nghiền ngẫm, gọi là “Từ huấn lục” (sách chép lời mẹ dạy). Trải qua suốt 36 năm chấp chính ngai vàng, Tự Đức bao giờ cũng dành ngày chẵn vào cung vấn an sức khỏe mẹ, ngày lẻ thì lo việc triều nghi, chẳng vì ngồi trên chỗ vạn năng quyền thế mà lơ là phận làm con. Không những thế, có gì lo âu, vua liền thỉnh ý để được nghe lời dạy bảo. Chính vì thế, bà đã từng đề nghị giảm thuế má cho dân vào những khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém, nhà vua đều làm theo ý mẹ. Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu Trị, thế mà hôm ấy nhà vua ham săn bắn, gặp nước lụt chảy mạnh bất ngờ, quan quân chưa dám dong thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành rừng Thuận Trực. Bà Từ Dũ sai quan Nguyễn Tri Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng roi, nằm xuống chờ quở phạt. Bà giận, quay mặt chẳng nói, sau mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi. Xem thế, đủ biết vua Tự Đức thờ mẹ rất chí hiếu.

    9. Vị vua có nhiều bài thơ nhất
    Vua Tự Đức là người uyên thâm nhất về nền học vấn Ðông Phương, nhất là Nho học. Vua giỏi về cả sử học, triết học, văn học nghệ thuật và đặc biệt là rất sính thơ. Vua đã để lại 600 bài văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng100 bài thơ chữ Nôm. Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm, một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư chất ấy cũng biểu lộ rõ trên nghệ thuật kiến trúc của lăng vua. Sử cho biết chính nhà vua đã “chuẩn định” (décider) mô thức xây dựng nó. Trong vòng La thành rộng khoảng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ dàn trải thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng 10m. Nhưng, các hệ thống thống bậc cấp lát đá thanh, các lối đi quanh co lát gạch bát tràng đã nối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan, gần gũi.

    10. Người duy nhất không làm vua nhưng có nhiều con trai làm vua nhất:
    Ông Nguyễn Phúc Hồng Cai, em trai của Tự Đức; vì Tự Đức không có con nên thực dân Pháp lần lượt đưa 3 con trai của ông lên làm vua với số phận khác nhau: Kiến Phúc bị đầu độc chết, Hàm Nghi bị đi đày, còn Đồng Khánh thì rất ngoan ngoãn làm tay sai cho Pháp. Dân Huế có câu ca:
    ” Một nhà sinh được ba vua
    Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”

    11. Cai trị lãnh thổ rộng nhất.
    Minh Mạng (1820- 1840) cai trị lãnh thổ rộng nhất, vì thời đó, triều đình nhà Nguyễn còn cai trị 1 phần đất phía đông của nước Lào (Sầm Nưa, Xavannakhet, Kham Keut, Mương Lam, Sam Teu…) lại bỏ việc ”bảo hộ” Campuchia đổi thành Trấn Tây thành, nhập vào lãnh thổ Đại Nam.

    12. Làm vua nhiều ” kịch tính” nhất:
    Nguyễn Phúc Hồng Dật (1846-1883), con út của Thiệu Trị; năm 1883, các quan sai lính đến xóm nghèo Kim Long đón Dật về cung để đưa lên làm vua mới, Dật quá sợ khóc thét lên, cố hết sức thoái thác, nhưng lính cứ bắt về lên ngôi, hiệu là Hiệp Hòa; mấy tháng sau Hiệp Hòa viết chiếu xin thôi làm vua. Các quan giả vờ đồng ý, cho khiêng võng ra ngoài thành rồi buộc ép uống thuốc độc mà chết

    13. Vua duy nhất có nhiều vợ mà không có dù chỉ 1 đứa con:
    Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (1829- 1883), làm vua hiệu Tự Đức, có hơn ba trăm vợ (trong đó hạ cố lấy cả 1 bà đã từng có chồng, có con với chồng trước) và cũng dùng thuốc quý “Nhất dạ, lục giao, sinh ngũ tử” (1 đêm, 6 lần gặp vợ, sinh 5 con) như ông nội của Tự Đức là Minh Mạng đã từng có đến 142 người con, nhưng cuối cùng Tự Đức vẫn là ông vua duy nhất có rất nhiều vợ mà không có 1 người con ruột nào cả.

    14. Vua bù nhìn mạt hạng nhất:
    Danh hiệu này của dân chúng Huế khinh bỉ bêu tặng Nguyễn Phúc Bửu Đảo ( 1884-1925 ), làm vua lấy hiệu là Khải Định, với câu ca:
    “ Tiếng đồn Khải Định nịnh Tây,
    Nghề này thì lấy ông này (là) tiên sư”
    Là vua đầu tiên ở Việt Nam xuất ngoại, sang tận châu Âu để dự hội chợ thuộc địa, bị Nguyễn Ái Quốc chế diễu qua vở kịch “Con rồng tre”; tăng 30% thuế trong cả nước để lấy tiền tổ chức sinh nhật lần thứ 40 (gọi là Tứ tuần Đại khánh) của mình. 1 năm sau, Khải Định chết, lễ tang kéo dài 86 ngày. Ông ta có 12 vợ nhưng không vợ nào có mang; công luận Huế và nhiều sách ghi rõ, Vĩnh Thụy là con 1 hoàng thân, bà mẹ có mang rồi mới được đưa vào cung để đẻ và Khải Định nhận là con để khỏi bị mang tội, mang tiếng là “tuyệt tự”.

    15. Người đầu tiên lãnh đạo quân chống lại phương Tây:
    Năm 1644, chúa Nguyễn Phúc Lan là ông vua/chúa đầu tiên dám đứng mũi chịu sào và cầm đầu đoàn tàu chiến của thủy quân Việt Nam đánh nhau quyết liệt với 1 hạm đội có nhiều trọng pháo hùng hậu của Hà Lan. Kết quả là ta thắng lớn, tàu địch 1 chiếc nổ tung, 1 chiếc đâm vào đá ngầm mà vỡ, còn chiếc nhỏ nhất bỏ chạy trốn.

    16. Có nhiều con nhất:
    Nếu như Minh Mạng theo tính số con chính thức là ông vua có nhiều con nhất với 142 con (78 trai, 64 gái) thì Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) là ông chúa có nhiều con nhất; 17 tuổi làm chúa, tuy chỉ sống đến 51 tuổi nhưng đã kịp có 146 con, trong đó có 38 con trai; quá đông con nên ông ta không sao nhớ hết tên, đứa nào vào chào, phải xưng tên, xưng tuổi. Ông có câu thơ: “Mình tuổi thọ ít, nhưng phúc nhiều….”.

    17. Người duy nhất vừa làm vua, vừa đi tu:
    Nguyễn Phúc Chu (1675- 1725), tự xưng là Quốc Chúa, sùng đạo Phật, lên chùa quy y với pháp danh là Thiên Túng đạo nhân; 34 năm cầm quyền cho quan quân mở đất suốt vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và cả Nam Bộ ngày nay.

    18. Triều đại có nhiều vua bị bắt đi đày ra nước ngoài nhiều nhất:
    Nhà Nguyễn liên tiếp có 3 vua: Nguyễn Phúc Ưng Lịch (1872- 1943) hiệu Hàm Nghi, bị đày đi Algeria 47 năm đến chết; Nguyễn Phúc Bửu Lân (1879- 1954) hiệu Thành Thái, bị Pháp đày sang đảo Réunion bên châu Phi trong 31 năm, rồi quản thúc tại Sài Gòn; Nguyễn Phúc Vĩnh San (1900 – 1945) hiệu Duy Tân, bị đày ở đảo Réunion từ năm 1916 đến khi chết tan xác trong 1 “tai nạn” máy bay rất đáng ngờ năm 1945.

    19. Người quản lý Đàng Trong đầu tiên dám xưng Chúa:
    Không phải là ông Nguyễn Hoàng, dẫu ông sống đến 88 tuổi và đứng đầu Đàng Trong đến 55 năm nhưng vẫn phải giữ thế là quan ngoài biên ải của vua Lê và vẫn phải triều cống đầy đủ cho Chúa Trịnh. Khi Nguyễn Hoàng chết, con trai là Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên dám trả lại tờ sắc phong và xưng làm Chúa.

    20. Triều đại có nhiều vụ khước từ trốn tránh làm vua nhất:
    Nhà Nguyễn có tới 3 vụ khước từ trốn tránh làm vua. Năm 1883, phế xong vua Dục Đức, các quan đi đón Nguyễn Phúc Hồng Dật (1846 -1883) lên ngai vàng, ông này vội chối từ: “Tôi tư chất tầm thường, không dám nhận”. Cuối năm đó, lính mang võng bắt Nguyễn Phúc Ưng Đăng về nhận ngai vàng, ông này run rẩy thưa: “Ta còn bé, sợ không làm nổi”. Sáu năm sau, các quan lại đi tìm bắt Nguyễn Phúc Bửu Lân, 8 tuổi, về làm vua; Lân hét lên sợ hãi: “Các ông mần chi rứa? Bắt tui à? Các ông mần chi phải đợi ả (mẹ) tui về đã!”. Lát sau bà mẹ Lân về, bà òa lên khóc, gào thét: “Lạy các quan! Xin các quan tha cho mẹ con tui!”.
    Cả 3 vụ chối từ làm vua kể trên đều có kết cục đen tối: Hồng Dật làm vua được 5 tháng bị ép uống thuốc độc chết; Ưng Đăng làm vua được 8 tháng bị đổ thuốc độc chết lúc 15 tuổi; còn Bửu Lân bị Pháp vu cho là điên, gạt ra khỏi ngôi và đưa đi đày ở 1 hòn đảo giữa Ấn Độ Dương trong 31 năm, sau đó bị quản thúc ở Sài Gòn 7 năm cho đến khi chết già năm 1954.

    21. Vua duy nhất bắt dân kiêng tên của con dâu:
    Thường thì các vua bắt dân kiêng tên của mình, riêng Nguyễn Ánh bắt dân kiêng thêm tên Hoa của cô con dâu 16 tuổi (tức là Hồ Thị Hoa, vợ đầu của Nguyễn Phúc Đảm, sau này lên ngôi hiệu Minh Mạng); do đó chợ Đông Hoa (Huế) phải đổi tên là chợ Đông Ba, cầu Hoa (Gia Định) phải đổi tên thành cầu Bông (gần quán Hương Đồng 4 mà quán Sài Gòn hay giao lưu), trấn Thanh Hoa phải đổi tên là tỉnh Thanh Hóa, cả đến vai tuồng Phàn Lê Hoa cũng bị đổi là Phàn Lê Huê!

    22. Sống nhiều năm nhất ở nước ngoài:
    Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1913- 1997), làm vua hiệu Bảo Đại, là người giữ kỷ lục sống nhiều năm nhất ở nước ngoài. Thủa bé ở Pháp để cha mẹ nuôi Charles dạy dỗ 15 năm, lên ngôi vua rồi tiếp tục sang Pháp học 7 năm nữa; năm 1938 bị bắn gãy chân, sang Pháp 1 năm chữa chạy; đã thoái vị năm 1945, lại còn chạy sang Hồng Kông lánh đời 3 năm; ra làm quốc trưởng bù nhìn cho Pháp năm 1950 đến 1954, bị Ngô Đình Diệm truất phế, ông “tự đi đày” thêm 43 năm ở nước Pháp; tổng cộng đời ông ở nước ngoài là 69 năm.

    23. Thân Tây và nịnh Tây nhất:
    Nguyễn Phúc Ưng Xụy, tức Ưng Đường, 2 tuổi vào làm con nuôi Tự Đức, 21 tuổi được Pháp chọn đưa lên làm vua, hiệu là Đồng Khánh, việc đầu tiên là ra ngay 3 đạo dụ phong cho 3 quan Tây làm “Bảo hộ quân vương”, “Bảo hộ công”, “Dực quốc công”; mọi sự lớn nhỏ đều nhất nhất làm theo lệnh Tây, đích thân ông ta ra lệnh trong cung vứt hết rượu ta, ông chỉ chuyên uống rượu Tây, ở ngôi được 3 năm thì ốm chết. Ở Việt Nam sau này xuất hiện loại “Bánh trung thu Đồng Khánh”.

    24. Những ông vua có con ruột không mang họ mình:
    Tuy trước đó đã có vợ, ông cựu hoàng Ưng Lịch (Hàm Nghi) khi bị đi đày ở Algeria đã lấy vợ đầm, có 1 con trai, 1 con gái; cựu hoàng Vĩnh San (Duy Tân) khi bị đi đày giữa Ấn Độ Dương cũng lấy 2 bà vợ đầm, được 3 con trai, 2 con gái; tất cả 7 người con của 2 ông vua này đều không chịu mang họ Nguyễn Phúc và đều không biết nói tiếng và viết chữ Việt Nam.

    25. Triều đại ban lệnh kỵ húy nhiều nhất:
    Xa xưa không có tục lệ này, nhưng từ đầu đời nhà Trần đến hết đời Nguyễn, đã có 40 lần vua chúa ban lệnh húy kỵ tên họ vợ chồng con cái họ hàng nhà vua, với 531 lượt chữ; riêng triều đại Nguyễn có tới 22 lệnh kỵ húy, 1 mình Thiệu Trị chỉ làm vua 5 năm mà ban tới 8 lệnh kỵ húy. Một lệnh lần thứ 4 của Tự Đức (1848- 1883) đã kỵ húy tới 47 chữ, trong đó có 2 chữ tên thưở nhỏ của ông là Thì và Nhậm, khiến cho danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) dẫu đã chết ba bốn chục năm trước bị gọi lệch sang thành “Ngô Thời Nhiệm”. Hiện nay Sài Gòn cũng đang có 1 con đường mang tên Ngô Thời Nhiệm.

    26. Bị vu oan nhất:
    Thành Thái lên ngôi đúng ngày mùng 1 Tết (dương lịch là 31/1/1889). Ông là vua duy nhất bị Pháp vu cáo là “điên rồ” rồi hất ra khỏi ngai vàng năm 1906, đẩy đi đày và chết nghèo khổ ở Sài Gòn năm 1954.

  • Công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam Tổ quốc!

    Công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam Tổ quốc!

    Lịch sử “Nam Tiến” qua các thời kỳ

    Ðọc lịch sử Việt Nam, người ngoại quốc nhận thấy có hai nét đặc trưng nổi bật: sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam và sự tham gia, hội diện với các nền văn minh bên ngoài, đặc biệt vùng biển Nam Á là nơi họp mặt giao thương của các nước Tây Phương từ thế kỷ 16.

    Sức sống mãnh liệt ấy được nhìn thấy rõ qua cuộc Nam Tiến trường kỳ và liên tục (1).

    Xem Thêm: Bộ bản đồ Việt Nam từ thuở hồng hoang!

    Vừa thoát khỏi vòng đô hộ Trung Hoa giành lại quyền tự chủ, người Việt Nam lần hồi bành trướng lãnh thổ, lấn đất Chiêm Thành trong lịch sử năm thế kỷ, từ đó đi lần xuống đồng bằng sông Cửu Long, đụng độ với Phù Nam-Chân Lạp, lập nên Gia Ðịnh Thành mênh mông trù phú, Nam Việt ngày nay.

    南進/南进·남진·Nam_tiến· (wiki)
    南進/南进·남진·Nam_tiến· (wiki)

    Quá trình phát triển đất đai về sau lịch sử gọi là Nam Tiến, hai chữ Nam Tiến viết hoa, bao gồm không những lịch sử cận đại Việt Nam, mà cả lịch sử Chiêm Thành và Phù Nam (Chân Lạp) văn hóa phồn thịnh lâu đời. Có thể nói được rằng lịch sử cận đại Việt Nam một phần không nhỏ là lịch sử Nam Tiến mà cao điểm là thời đại Gia Long, kết thúc với triều đại Minh Mạng hình thành quốc gia Việt Nam văn hiến, hùng cường đầu thế kỷ 19. Nhìn lại lịch sử xa xưa, lãnh thổ nước ta cho đến đời nhà Lý chỉ quanh quẩn vùng núi Hoành Sơn và miền trung du sông Hồng, sông Lam trở xuống; đến đời nhà Trần, chưa vượt quá đèo Hải Vân. Ðời Hậu Lê, cùng với chừng ấy diện tích lãnh thổ, có thêm vùng Thuận-Quảng, dân số tăng gia đến mức độ nhân mãn, đất đai đồng bằng sông Nhị Hà bắt đầu già nua kiệt lực.

    Ðất nước đang chuyển mình (mà dấu hiệu đầu tiên là cuộc tranh chấp Nam-Bắc Triều, họ Lê, họ Mạc), cần thêm nguồn sinh lực mới. Ðây chính là thời điểm cuộc Nam Tiến chuyển đổi giai đoạn. Mặc dù phải tận lực đương đầu khó khăn và nguy hiểm với họ Trịnh trong cuộc nội chiến Ðàng Trong-Ðàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khôn khéo, lợi dụng đúng lúc tình hình chính trị bất ổn vì tranh chấp nội bộ của Phù Nam-Chân Lạp, tiếp tục cuộc Nam Tiến xa hơn, từ Tiền Giang-Hậu Giang nối liền đến kinh đô Nam Vang.

    Ðàng Trong vừa mở mang bờ cõi phương Nam, nới rộng ranh giới phương Tây; vừa chiếm đất từng bước, vừa khai thác kinh dinh thật sự, chắc chắn vững vàng, tạo thế lực cho một phương Nam hùng cứ khởi sắc.

    Ðất đai mới đem lại yếu tố văn hóa; cuộc Nam Tiến ăn sâu bén rễ lâu ngày tạo nên sức mạnh tinh thần cho lớp di dân Ðàng Trong. Sống chung Chiêm Thành và Chân Lạp chỉ mới là lớp sóng xao động Nam Tiến bên ngoài buổi ban đầu giao lưu, sinh hóa, trưởng thành, kết tinh nền văn hóa, văn minh Phú Xuân-Việt Nam chính là điểm thành tựu sau cùng cần được các sử gia ngày nay phân tích sâu rộng.

    Nếu chỉ nhìn Nam Tiến như một sự kiện cô lập trong không gian, giới hạn Nam Tiến qua những biên niên năm tháng hay địa danh, sẽ không thấy rõ hết sự nối tiếp liên tục vận động lịch sử mang dấu tích thời đại; nói rõ hơn ý nghĩa và ảnh hưởng Nam Tiến đối với quốc gia dân tộc Việt Nam.

    Từ thế kỷ thứ 10, trên giải đất Việt Nam ngày nay đã có ba nền văn hóa, văn minh biệt lập: văn hóa Ðông Sơn nước Ðại Việt, văn hóa Lâm Ấp-Chiêm Thành và văn hóa Phù Nam-Chân Lạp phát triển tận cùng với đế quốc Khmer. Châu Ô, Châu Lý sát nhập vào bản đồ Ðại Việt (1306), Hóa Châu (Huế) đã trở thành địa bàn giao lưu, hội tụ hai nền văn hóa Ðông Sơn và Sa Huỳnh (Chiêm Thành) lâu dần kết tụ thành văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân, riêng biệt với bản sắc Huế nhưng vẫn hòa đồng với văn hóa Ðại Việt miền Bắc.

    Ði xa hơn vào phương Nam, giao thoa với văn hóa Óc Eo-Phù Nam-Chân Lạp, lần này trong một không gian văn hóa tỏa rộng đến thế giới Nam Hải với các hải đảo xa xôi mang dấu tích văn minh Ấn Ðộ. Cương giới mở rộng gấp đôi so với các đời Lê, Lý, Trần, Ðàng Trong có đủ điều kiện kết tinh từ văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân đến văn hóa Huế-Việt Nam trong một quốc gia xây dựng trên vương triều hoàn chỉnh, một nền thống nhất to lớn thật sự lần đầu tiên từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Và kinh đô Phú Xuân-Huế từ nay nghiễm nhiên là trung tâm văn hóa cả nước, muôn dặm tạo cơ đồ, đời đời văn hiến, như còn ghi khắc nơi điện Thái Hòa:

    “Văn hiến thiên niên quốc
    Xa thư vạn lý đồ…”

    Dưới đây trước hết là những nét đại cương về lịch sử Nam Tiến, tiếp theo bàn về ý nghĩa và ảnh hưởng công trình Nam Tiến đối với vận mệnh quốc gia Việt Nam. *

    Nhìn lại lịch sử Nam Tiến

    Trận chiến lớn đầu tiên Việt-Chiêm xảy ra đời Tiền Lê (905-1005): hai lần vua Lê Ðại Hành cử binh “phạt” Chiêm: Chiêm vương bỏ thành chạy, kinh đô thành trì bị quân ta đốt phá, vàng bạc châu báu tịch thu khá nhiều. Trong thế yếu, Chiêm Thành xin triều cống, nhưng rồi lại tìm cơ hội đối địch, cũng là lẽ tự nhiên xưa nay.

    Nối tiếp cuộc hành quân năm 1044 đời vua Lý Thái Tông, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thống lãnh binh mã, đổ bộ lên cửa bể Thi Lợi Bỉ Nại (Sri Banoy) tiến chiếm kinh đô Vijaya. Chế Củ (Rudravarman III) xin dâng ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bình-Quảng Trị) (2). Cuộc chiếm đất chỉ có tiếng vì sau đó không lâu, Chiêm Thành lại nổi lên đòi lại.

    Năm 1075, Lý Thường Kiệt cử binh đánh Chiêm Thành nhưng không thành công, ngoài việc vẽ bản đồ ba châu nói trên.

    Bản đồ nước Việt nhà Trần
    Bản đồ nước Việt nhà Trần

    Làm lễ cưới công chúa Huyền Trân, năm 1306 Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) xin dâng hai châu Ô-Lý, một năm sau đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu. Chế Mân chết, Chế Chỉ và Chế Năng (Chế Ðà A Ba Niên) liên tiếp nối ngôi không ngừng mưu định khôi phục Thuận Châu-Hóa Châu. Vua Trần Anh Tôn năm 1311 lại có dịp “phạt” Chiêm, bắt được Chế Chỉ (Jaya Sinhavarman IV) đem về Thăng Long. Hận thù Chiêm-Việt thêm sâu sắc kể từ đây.

    Sau trận chiến Chiêm-Việt năm 1318, nội bộ Chiêm Thành chia rẽ. Thất bại trong việc tranh giành ngôi vua với anh rể Trà Hoa Bồ Ðề (năm 1342), con Chế Chỉ là Chế Mổ chạy sang cầu cứu Ðại Việt. Vua Trần Dụ Tôn cho đưa Chế Mổ về nước (1353), nhưng vừa đến Cổ Lũy (Tư Nghĩa-Quảng Ngãi) thì bị chận đánh, phải trở về Thăng Long.

    Mấy năm sau Chiêm vương Trà Hoa Bồ Ðề sai sứ sang đòi lại Hóa Châu. Cuộc vận động ngoại giao không thành, và cả bằng vũ lực sau đó cũng thất bại liên tiếp mấy lần. Ðến lượt nhà Trần suy yếu và nước láng giềng phương Nam vùng dậy. Vị anh hùng của dân tộc Chiêm Thành trong giai đoạn này (1369-1390) là Chế Bồng Nga sau này ra vào Thăng Long “như chỗ không người,” vua tôi nhà Trần mấy phen hãi hùng khiếp sợ phải đi lánh nạn.

    Lần đầu tiên, năm 1370, thủy quân Chế Bồng Nga đổ bộ cửa Ðại An (Ðại An hay Ðại Ác, cửa sông Ðáy) kéo lên Thăng Long, đốt sạch cung điện, thâu tóm châu báu vàng bạc đem về.

    Mấy năm sau (1376) được tin Chiêm Thành chuẩn bị đánh Thuận-Hóa, từ các tỉnh Thanh-Nghệ đến Thuận-Hóa tiếp vận binh mã lương thực, vua Trần Duệ Tông thống lãnh 12 vạn quân thủy bộ tiến vào cửa Thị Nại (Thi Lợi Bỉ Nại), chiếm xong căn cứ Kỳ Mang (Y Mang) tiến lên kinh đô Ðồ Bàn (Vijaya). Bị mưu kế phục kích của Chế Bồng Nga, vua Duệ Tông tử trận, quân ta một số đầu hàng, một số (trong đó có Hồ Quý Ly) theo đường biển chạy thoát.

    Lần thứ ba, tháng 5 năm Mậu Ngọ (1378), càn quét xong Nghệ An, Chế Bồng Nga thẳng đường tiến binh ra Thăng Long tàn phá như hai lần trước. Kết quả sau cùng là lãnh thổ Ðại Việt, từ Thuận Hóa-Tân Bình đến Nghệ An bị quân Chiêm Thành chiếm đóng. Khí thế Chiêm Thành uy hiếp Thăng Long vẫn đè nặng, từ năm 1380 đến năm 1382, cho đến khi Chế Bồng Nga tử trận trên sông Hoàng Giang vì sự phản bội của tùy tướng Bá Lâu Khê. Cái chết của Chế Bồng Nga không những đã cứu nguy kinh đô Ðại Việt mà còn tránh cho nhà hậu Trần khỏi phải ghi lại trang sử bi đát hơn.

    Chế Bồng Nga mất, tướng Lã Khải (Ko Cheng, sử Tàu phiên âm) thừa dịp cướp ngôi. Hai con Chế Bồng Nga, Chế Ma Nô Ðã Nan và Chế San Nô chạy sang núp bóng Ðại Việt chờ cơ hội.

    Bản đồ nước Việt nhà Hồ 1402
    Bản đồ nước Việt nhà Hồ 1402

    Sau ngày Lã Khải mất, lần thứ hai (1402) Hồ Quý Ly sai Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành; Chiêm vương Campadhiraya (Ba Ðích Lại) xin nhường đất Chiêm Ðộng (Indrapura, phủ Thăng Bình, Quảng Nam). Trên đà thắng lớn, Hồ Quý Ly đòi thêm đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi). Ðất đai miền Bắc Chiêm Thành (Amaraviti) như vậy thuộc về nước ta. Bất hợp tác, người Chiêm Thành lánh cư chạy xuống miền Nam; vùng Amavariti vừa chiếm được trở thành đồng không nhà trống. Hồ Quý Ly bèn cho thi hành chính sách di dân bắt buộc đối với những người không có ruộng đất cày cấy.

    Cũng với biện pháp mạnh, năm 1403 Hồ Quý Ly lại sai tướng Ðỗ Mãn đem hai vạn quân trở lại Chiêm Thành. Hơn chín tháng trời mới tới được thành Ðồ Bàn (Chà Bàn). Cuộc viễn chinh xa xôi tốn kém nhưng rồi binh lương thiếu thốn, bệnh tật chết chóc, hao binh tổn tướng, cuối cùng trở về không. Việc khai phá vùng đất mới đang phôi thai thì xảy ra cuộc chiến tranh chống xâm lăng nhà Minh lấy danh nghĩa “điếu phạt” nhà Hồ, tạo cơ hội cho Chiêm vương Ba Ðích Lại dùng võ lực thu hồi lãnh thổ, triệt tiêu luôn kế hoạch di dân khai phá đất đai Chiêm Thành của Hồ Quý Ly.

    Tìm cơ hội hành quân “phạt” Chiêm, năm 1469 vua Lê Thánh Tông đưa yêu sách ngoại giao khác thường: lễ vật cống hiến. Là phiên vương đối với hai nước Trung Hoa và Ðại Việt, Chiêm Thành phải cống hiến lễ vật hai nước bằng nhau (3). Không chấp nhận đòi hỏi của Ðại Việt hay dựa thế nhà Minh muốn “thử sức” Ðại Việt, đạo quân Chiêm vương Trà Toàn vượt biên giới tấn công Thuận Hóa. Một cuộc hành binh thử sức thật sự vì đánh phá xong lại trở về để rồi năm sau tiếp tục hành quân lớn hơn: mười vạn quân và voi trận, chủ lực tấn công của Chiêm Thành.

    Trà Toàn xâm phạm biên cương là cơ hội vua Lê Thánh Tông chờ đợi để thống lãnh 15 vạn quân tướng đổ bộ Sa Kỳ (Quảng Ngãi) chiếm luôn kinh đô Trà Bàn (Chà Bàn – Bình Ðịnh). Trà Toàn bị bắt đưa về Thăng Long nhưng vừa đến Nghệ An thì mất.

    Tướng Chiêm là Bô Trí Tri cùng với tàn quân lui về giữ Phan Lung (Phan Rang – Panduranga) tự xưng làm vua, sai sứ xin trở lại thần phục nhà Lê. Núi Thạch Bi giữa hai tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa đến mũi Varella tạm thời làm biên giới Chiêm-Việt. Vùng đất Chiêm vừa chiếm được, vua Lê Thánh Tông chia nhỏ thành ba “nước”: Chiêm Thành hay Ðại Chiêm, Hoa Anh và Nam Phan (4), mấy tháng sau trở thành phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn.

    Nam Tiến thời đại các chúa Nguyễn

    Bản đồ Việt Nam – với Trường Sa – vào năm 1754
    Bản đồ Việt Nam – với Trường Sa – vào năm 1754

    Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), phần cực Nam nước Ðại Việt là huyện Tuy Viễn (trấn Quảng Nam). Bên kia đèo Cù Mông (giữa Phú Yên-Bình Ðịnh) là đất đai Chiêm Thành. Năm 1611, trấn thủ Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong vượt đèo Cù Mông mở đầu cuộc Nam Tiến thắng lợi: Ðàng Trong có thêm phủ Phú Yên (về sau đổi thành Trấn Biên) gồm hai huyện Ðồng Xuân và Tuy Hòa.

    Năm 1653 đến lượt chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa quân dân vượt đèo vượt núi (Thạch Bi) lấn chiếm lãnh thổ Chiêm Thành đến tận Phan Rang, đặt dinh Thái Khương với hai phủ Thái Khương (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh).

    Nam Tiến lại tiếp tục; năm 1692 chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm trọn đất Phan Rí, về sau gọi là trấn Thuận Thành (tiếp sau nữa, Bình Thuận). Chiếm đóng bằng võ lực không mấy khó khăn, nhưng cai trị nước người không dễ. Ðể trấn an vỗ về người Chiêm nhiều lần nổi loạn, chúa Nguyễn Phúc Chu phong Kế Bà Tử làm phiên vương để cai trị người Chiêm, hàng năm giữ lệ cống hiến.

    Từ căn cứ Thuận-Quảng, đến đây các chúa Nguyễn đã nới rộng Ðàng Trong đến tận Bình Thuận. Cho đến hết đời Kế Bà Tử, Chiêm Thành chỉ còn lại một mảnh đất nhỏ gọi là Thuận Thành và chức phiên vương không thực quyền. Ðàng Trong lập thêm ba dinh mới Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận:

    Lịch sử Lâm Ấp-Chiêm Thành, ra đời khoảng năm 190-192 sau cuộc nổi dậy của Khu Liên chống chế độ nhà Hán, đến đây chấm dứt. Người Chiêm Thành còn đó (5), sống chung hòa đồng thuận thảo với người Việt, trở thành công dân Việt Nam nhưng quốc hiệu Chiêm Thành, Champa, Nagara Campa và trước đó Lin Yi (Lâm Ấp) độc lập hùng cường khi Giao Chỉ còn nội thuộc nước Tàu, từ nay không còn nữa trên bán đảo Ấn Ðộ Chi Na. Cuộc Nam Tiến tiếp nối sang giai đoạn khác, quan trọng hơn, ảnh hưởng lớn lao hơn, nhờ đó tạo thành một nước Việt Nam vị trí địa dư hoàn chỉnh, từ Bắc xuống Nam, hình cong chữ S, bao lơn của Thái Bình Dương…

    Nước láng giềng phương Nam cùng chung văn hóa, chủng tộc với Chiêm Thành là Phù Nam-Chân Lạp (6), vì hoàn cảnh địa lý chính trị, có khi là đồng minh liên kết, có khi trở thành thù địch với Chiêm Thành, kéo dài chiến tranh đến gần thế kỷ. Phù Nam-Chân Lạp hùng mạnh ở Ðông Nam Á nhờ canh nông phát triển, nhờ tiếp xúc giao thương với Trung Hoa, Nhật Bản và các nước Tây Phương. Giáp giới Chiêm Thành và sau này với Ðàng Trong, Phù Nam-Chân Lạp dù muốn hay không đã tiếp nhận các nhóm di dân tự động Ðàng Trong lần hồi theo làn sóng Nam Tiến đến khai phá rừng hoang, khai canh lập nghiệp, đông đảo nhất vùng Mô Xoài-Ðồng Nai.

    Thêm một yếu tố lịch sử thuận lợi bất ngờ: để giữ thế quân bình chính trị và quân sự với Xiêm La, triều đình Chân Lạp đang cần bang giao thân thiện với các chúa Ðàng Trong.

    Từ Huyền Trân công chúa đời Trần, lịch sử Nam Tiến đến đây vinh danh thêm một giai nhân lá ngọc cành vàng khác, con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, Hy Tông Hoàng Ðế. Năm 1620, vua Chân Lạp Prea Chey Chetta II đẹp duyên cùng công chúa Ngọc Vạn. Cuộc hôn nhân có ảnh hưởng lớn lao đối với vận mệnh hai nước; thuận lợi cho Ðàng Trong nước Ðại Việt nhiều hơn (7). Nhờ công nương Ngọc Vạn, triều đình Oudong đón nhận một số văn võ quan Ðàng Trong làm “cố vấn” và triều đình Thuận Hóa có thêm cơ hội can thiệp vào nội bộ Chân Lạp. Nhờ sự che chở của hoàng hậu Ngọc Vạn, người xứ Ðàng Trong tự do di dân đến Chân Lạp mỗi ngày một nhiều hơn, bảo đảm hơn.

    Năm 1623, sứ bộ Ðàng Trong đến kinh đô Oudong điều đình việc lập đồn kiểm soát quan thuế tại Preykor (Sài Gòn sau này) được quốc vương Chân Lạp chấp thuận dễ dàng. Có Preykor làm đầu cầu chiến lược, việc di dân có căn bản vững chắc, tha hồ tỏa rộng nối dài.

    Năm 1658, ba mươi năm sau ngày Prea Chey Chetta II mất, vì sự tranh giành ngôi báu với Nặc Ông Chân và do ảnh hưởng của thái hậu Ngọc Vạn, đám hoàng thân mất ngôi chạy sang nương nhờ chúa Nguyễn. Tướng Nguyễn Phúc Yến theo lệnh chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đem 3000 quân đến Mô Xoài bắt Nặc Ông Chân đưa về an trí tại Quảng Bình và phong cho con trai thái hậu lên làm vua: quốc vương Batom Reacha Pontana Reja.

    Năm 1674, Nặc Ông Ðài (Ang Chey) đảo chánh cướp ngôi vua, Nặc Ông Nộn (con thứ hai thái hậu Ngọc Vạn) lại trở về họ ngoại cầu cứu. Chúa Hiền sai cai cơ Nguyễn Dương hành quân tiến chiếm Sài Côn, Gò Bích, Nam Vang. Nặc Ông Ðài tử trận. Ðể tỏ ra đối xử công bằng với các hoàng thân cùng cha khác mẹ đang giành nhau ngôi báu, chúa Hiền phong cho Nặc Ông Thu (Ang Saur) làm chính vương ở Oudong, Nặc Ông Nộn làm Ðệ nhị vương đóng đô ở Sài Côn (Prey Nokor).

    Năm 1679, một cộng đồng tỵ nạn Trung Hoa hơn 3000 người, những quan quân nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh với tổng binh Dương Ngạn Ðịch, phó tướng Hoàng Tiến và hai tổng, phó binh họ Trần, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình cùng với 50 chiến thuyền đến cửa Tư Hiền và cửa Thuận an xin yết kiến chúa Nguyễn. Ðang sẵn có ý định khai khẩn vùng đất Ðồng Nai, chúa Hiền sai hai tướng Văn Trình, Văn Chiêu (sử ta không ghi họ) đưa đám quân binh nhà Minh vào Nam, mang theo quốc thơ gởi vua Chân Lạp yêu cầu cấp phát đất đai và đối xử tử tế với nhóm di dân mới, phân chia nhau bọn Dương Ngạn Ðịch định cư ở Mỹ Tho và các tướng tá họ Trần ở Bàn Lân (Biên Hòa).

    Nhờ lớp di dân Trung Hoa tỵ nạn này, hai thị trấn được thành lập: Ðại Phố Châu (Cù Lao Phố) ở Biên Hòa và Mỹ Tho đại phố, lần lần trở thành hai trung tâm thương mại phồn thịnh đón tiếp nhiều ghe thuyền ngoại quốc ra vào mua bán. Biên Hòa chính thức sát nhập vào lãnh thổ Ðàng Trong, và Mỹ Tho trên thực tế đã trở thành vùng đất Nam Tiến tự trị.

    Năm 1688 Hoàng Tiến nổi loạn giết Dương Ngạn Ðịch, đem quân đóng ở Rạch Nan (Nan Khê) đánh nhau với người Cao Miên, Nặc Ông Thu thừa dịp này cầu viện Xiêm, ly khai với chúa Nguyễn. Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính được lệnh chúa Nguyễn Phúc Trăn vào kinh lược Cao Miên. Nguyễn Hữu Kính đem quân chiếm đóng Nam Vang, giết được Hoàng Tiến và bắt Nặc Ông Thu đem về Sài Côn, đưa con là Nặc Ông Nộn lên làm vua đóng đô ở Gò Bích (Loveik).

    Ðồng Nai-Gia Ðịnh đã vững vàng, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức đặt nền cai trị trực tiếp, phân chia lãnh thổ hành chánh, thành lập hai dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Ðịnh), lấy đất Nông Nại (Ðồng Nai) làm huyện Phước Long, Sài Côn làm huyện Tân Bình; bổ nhiệm văn võ quan vào các chức vụ lưu thủ, cai bộ, ký lục; tổ chức quân binh theo cơ đội, bộ binh thủy binh. Thành tích được ghi nhận tốt đẹp hơn cả là chiêu mộ thêm lưu dân từ Thuận-Hóa Châu trở vào, hệ thống hóa các lớp di dân mới cũ thành làng xã, thôn ấp; ruộng đất, nhà cửa, nhân khẩu kê khai theo đinh, địa bộ, như sau này Gia Ðịnh Thành Thống Chí ghi rõ, “… đất đai mở rộng thêm 1000 dặm, dân số trên 40.000 hộ (nhà), mọi người đều được phân chia ruộng đất cày cấy…”

    Việc khai phá mở mang tốt đẹp Biên Hòa-Mỹ Tho góp phần công lớn thành lập Gia-Ðịnh-Thành của hai nhóm Trung Hoa tỵ nạn Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên, là món quà Nam Tiến đầu tiên hiến dâng các chúa Ðàng Trong. Như “sách trời định phần” việc Mạc Cửu tiếp sau dâng đất Hà Tiên là một tặng phẩm chiến lược độc nhất vô nhị. Uy quyền triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân từ đây tỏa rộng từ Tiền Giang, Hậu Giang đến vịnh Xiêm La. Nhờ Hà Tiên dinh trấn, thế lực chúa Nguyễn còn đi xa hơn, nối liền Thủy Chân Lạp với Lục Chân Lạp, mở đường việc bảo hộ Cao Miên sau này.

    Mạc Cửu, người Quảng Ðông, trước đây ở Sài Mạc, buôn bán kinh doanh phát đạt, tập họp lưu dân lập thành bảy xã ở Hà Tiên, thấy Chân Lạp nổi loạn liên miên bèn dâng đất Hà Tiên, thần phục triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh trấn Hà Tiên làm phiên thuộc (tự trị), tiếp tục công việc khai hóa Hà Tiên; quan trọng hơn cả, canh chừng và ngăn chặn ảnh hưởng Xiêm La.

    Mùa xuân năm Nhâm Tí (1732) nới rộng địa bàn hành chánh quân sự, chúa Nguyễn Phúc Trú lập dinh Long Hồ và châu Ðịnh Viễn (Long Hồ, Vĩnh Long nguyên trước là đất Mê Sa và Long Hor do Nặc Tha “xin nhượng,” trên thực tế đã thuộc quyền kiểm soát của Ðàng Trong).

    Bản đồ Việt Nam nhà Nguyễn 1835, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa
    Bản đồ Việt Nam nhà Nguyễn 1835, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa

    Năm 1753, nội tình Chân Lạp rối ren, hoàng gia Cao Miên một số theo về các chúa Ðàng Trong, một số có sẵn cảm tình chủng tộc với Xiêm La, càng thêm rắc rối hơn. Ðể ổn định tình hình, chúa Nguyễn Phúc Trú hạ lệnh cho Thiện Chánh làm thống xuất, Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu vào Cao Miên kinh lược, trọn quyền điều động quân tướng năm dinh từ Bình Khang trở vào. Thành Nam Vang bị chiếm đóng dễ dàng; quốc vương Cao Miên Nặc Ông Nguyên chạy về Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở. Ðể “chuộc tội” đã về hùa theo Xiêm La, cầu viện chúa Trịnh và nhờ Mạc Thiên Tứ tâu xin, Nặc Ông Nguyên được trở lại ngôi vua (1756) xin “dâng” hai phủ Tầm Ðôn và Xoài Rạp.

    Nặc Ông Nguyên mất (1757), Nặc Ông Nhuận giữ quyền nhiếp chính, lại dâng thêm đất Trà Vinh và Ba Thát (Ba Thắc – Bassac), chẳng bao lâu lại bị Nạc Hinh giết. Cháu Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên cầu cứu. Sắc phong cho Nặc Tôn làm vua Cao Miên, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Mạc Thiên Tứ tập họp binh mã đem Nặc Ông Tôn về Nam Vang làm lễ tấn phong. Ðể tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn xin dâng đất Tầm Phong Long (An Giang) đồng thời cũng để cám ơn công lao Mạc Thiên Tứ, Nặc Ông Tôn đem năm phủ Vũng Thơm, Cần Bột (Kampot), Châu Sâm, Sài Mạc và Linh Quỳnh làm quà tặng thêm ân nhân Mạc Thiên Tứ. Với phần đất tặng biếu này, đất đai Hà Tiên mở rộng; Mạc Thiên Tứ theo lệnh chúa Nguyễn, đặt Rạch Giá thành đạo Kiên Giang, Cà Mâu thành đạo Long Xuyên.

    Như vậy, cùng với việc thành lập trước đây (theo đề nghị của phái đoàn kinh lược Thiện Chánh Hầu và Nguyễn Cư Trinh) các đạo Ðông Nhẫn (Sa Ðéc), đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Ðốc ở Hậu Giang, hầu hết đất đai Thủy Chân Lạp thuộc quyền kiểm soat của triều đình chúa Nguyễn ở Phú Xuân.

    Nặc Ông Tôn triều cống người Việt; không thể ngồi yên chờ đợi, vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh liền cử binh tiến chiếm Cao Miên. Ðại quân thủy bộ Xiêm La đem toàn lực uy hiếp Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ và hai con chạy thoát cùng lui về Châu Ðốc liên lạc với đạo quân của Tống Phước Hạp. Chiếm xong Hà Tiên, quân Xiêm La tiến lên kinh đô Nam Vang đưa Nặc Ông Nộn lên làm vua, thay thế Nặc Tôn.

    Cuộc đụng độ quân sự lớn lao nhất Việt-Xiêm khởi đầu. Ðến lượt chúa Nguyễn không thể ngồi yên bỏ rơi Nặc Tôn. Năm 1772 triều đình Phú Xuân hạ lệnh Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Ðàm thống xuất 10.000 quân binh thủy bộ và 30 chiến thuyền phối hợp với đạo quân Long Hồ do Nguyễn Khoa Chiêm chỉ huy tiến lên Nam Vang đánh tan quân Xiêm La, đưa Nặc Ông Tôn trở lại ngôi vua. Với cuộc hành quân chính trị này, triều đình Phú Xuân nắm đủ thời cơ thuận lợi đặt nền bảo hộ nước láng giềng Cao Miên.

    Năm 1778 thành Gia Ðịnh về tay nhà Nguyễn Tây Sơn, Xiêm La trở lại chiếm đóng Nam Vang từ đó cho đến năm 1801, đến lượt vua Gia Long giành lại quyền bá chủ Chân Lạp-Cao Miên. “Quyền” bảo hộ được Xiêm La nhìn nhận, thời tổng trấn Gia Ðịnh Thành Lê Văn Duyệt, khi đội quân cuối cùng của Xiêm La phải rời khỏi Battambang, từ đó cho đến đầu triều đại vua Thiệu Trị, năm 1847 với hai sắc dụ cuối cùng cáo chung một thời vang bóng: phong Nặc Ông Ðôn làm quốc vương Cao Miên và Mỹ Lâm quận chúa làm Cao Miên Quận Chúa.

    NGUYÊN HƯƠNG

    Chú thích:

    1. Yoshiharu Tsuboi: L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine. L’Harmattan. Paris 1987.

    2. Về các địa danh Chiêm Thành, kinh đô thay đổi nhiều lần, xin đọc thêm Le Royaume de Champa: Georges Maspéro. EFEO Paris 1928.

    3. Tuy rằng Ðại Việt và Chiêm Thành vẫn đi lại cống hiến Trung Hoa, sứ bộ hai nước có khi còn “chộ mệ” (gặp nhau) tại triều đình Trung Hoa, nhưng Ðại Việt vẫn coi mình là “thượng quốc” và Chiêm Thành là “phiên thuộc.” Nổi tiếng giàu có về vàng bạc, ngọc ngà châu báu, lễ vật cống hiến của Chiêm Thành thường thường rất hậu hỉ, gồm có sản vật địa phương như ngà voi, sừng tê giác, giáng hương, kỳ nam, bạch đàn, nhục quế, long não… Voi và tê giác là hai (con) vật cống lễ không thể thiếu được. Lỡ thiếu, cả Trung Hoa lẫn Ðại Việt, thường “nhắc khéo” thuộc quốc, có khi trả lại không nhận!

      Nhiều lần liên tiếp, Chiêm Thành cống hiến Trung Hoa mấy con voi trắng (bạch tượng) và tê giác trắng rất quý hiếm; lâu ngày thành lệ như trường hợp vua Lê Thánh Tôn bắt Chiêm Thành phải cống một cặp bạch tượng.

      Tiếp sứ bộ Chiêm Thành hôm ấy, vua Lê Thánh Tôn truyền phán đại ý: “Là phiên quốc đối với Ðại Việt, Chiêm Thành phải làm đầy đủ bổn phận… lần này phải dâng thêm voi, tê giác và ngọc hỏa châu… Sứ thần Chiêm Thành tâu xin: “Tệ quốc lâu nay vẫn thần phục quý quốc, vâng theo thánh ý bệ hạ như con cái vâng lời cha mẹ. Nay bệ hạ truyền dâng thêm cống phẩm, hạ thần không thể tuân hành ngay được. Cúi xin bệ hạ ban lệnh cho sứ thần quý quốc đến tệ quốc bàn định…” (Chuyển ngữ đoạn này theo bản Pháp văn: Le Royaume du Champa. tr. 235 sđd).

      Sứ Chiêm về tâu lại, Chiêm vương Trà Toàn không chấp thuận. Trà Toàn trước đây thường cho người qua Trung Hoa kiện cáo về việc Ðại Việt gây hấn Chiêm Thành, tuy có lúc vẫn cho quân xâm phạm lãnh thổ Ðại Việt. Việc yêu sách cống phẩm trên chỉ là lý do bề mặt để dò xem phản ứng Chiêm Thành. Và đúng như vua Lê Thánh Tôn dự đoán; sau khi cho người cấp báo triều đình Trung Hoa, Trà Toàn ra tay trước bằng cuộc hành quân tấn công Thuận-Hóa như đã ghi trên.

    4. Ðể làm suy yếu thế lực Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tôn xé nhỏ phần đất mới chiếm được thành ba nước, mỗi nước một quốc vương riêng: Ðại Chiêm hay Chiêm Ðộng (thuộc phía bắc lãnh thổ Chiêm Thành, gọi là Amaravati, tỉnh Quảng Nam ngày nay) ranh giới kéo dài từ Nam Ngãi đến Chà Bàn (Bình Ðịnh); Hoa Anh ở phía Nam Chiêm Ðộng (có thể là vùng đất Phú Yên) và Nam Phan (hay Nam Bàn) ở phía tây Hoa Anh lan rộng đến vùng núi Trường Sơn, sau này là hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá, sách Ðại Nam Thực Lục thường nói đến.

      Nên biết qua, miền Bắc Chiêm Thành (Amavarati) gồm có kinh đô (một trong những kinh đô) Indrapura và cửa bể Ðại Chiêm, Sinhapura, trên sông Thu Bồn (sông Sinhapura như người Chiêm gọi). Phần đất miền Nam Chiêm Thành còn lại gồm có từ Kanthara (Khánh Hòa), Panduranga (Phan Rang) trở vào cho đến Bình Thuận (Vijaya, sử ta gọi là Phật Thệ).

      Trên thực tế lịch sử, rất khó định rõ vị trí “tam quốc” nói trên; việc chú thích gần-gần-đúng chỉ có mục đích để bạn đọc dễ theo dõi, trong khi Chiêm Thành lần lần mất hết đất đai kể từ đây.

    5. Nước Chiêm Thành không còn nữa, một số người Chiêm chạy sang hướng Tây miền Thượng Sơn sống lẫn lộn với các sắc dân thiểu số; một số chạy sang miền đông Cao Miên, sử ta sau này gọi là người Côn Man. Số người Chiêm còn lại quy tụ ở Phan Rang, Phan Thiết gọi là người Chàm, người Hồi, hay Lồi (Thành Lồi).

      Năm Minh Mạng thứ 20, nhà vua sắc dụ đổi tên thổ dân địa phương, từ nay gọi là Tân dân – dân mới – (sau này năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, bắt chước theo, cũng gọi đồng bào thiểu số là Việt Nam mới):

      “Nguyên Thuận Thành đã được phân thiết phủ huyện… thổ dân bây giờ ăn bận đều đã giống người kinh… mới được cải cách mà đã tiêm nhiễm khá nhiều phong hóa miền kinh, biết phục dịch công vụ, đã nhạy cảm theo phong hóa mới… Từ nay về sau, phải gọi họ là tân dân (dân Việt Nam mới). Mặt khác cũng phải nói cho họ biết phải tự xưng mình là tân dân, cho biết rõ cái ý nghĩa “nhất thị” (cùng dòng giống Việt Nam như những người Việt Nam khác).

      Theo G. Maspero (sđd), đầu thập niên 20 có độ chừng 60.000 người Chàm ở Cao Miên theo Hồi Giáo và ở Phan Rang, Phan Thiết trên dưới 30.000 người. Người Chàm theo Hồi Giáo ở miền Nam Trung Việt gọi là Chàm Bani, phiên âm theo tiếng Ả Rập, có nghĩa là “con cái” đấng Tiên Tri.

    6. Gọi Phù Nam-Chân Lạp (Chân Lạp-Cao Miên) để độc giả dễ theo dõi liên tục lịch sử nước láng giềng Cao Miên ngày nay.

      Chân Lạp, nguyên trước là nước Phù Nam (Fu Nan) một quốc gia hùng mạnh theo văn minh Ấn Ðộ, lãnh thổ rộng lớn bao gồm ngoài Cao Miên và Nam Việt ngày nay, còn có thêm Hạ Lào và một phần miền đông biên giới Xiêm La.

      Vào giữa thế kỷ thứ 6, người Chân Lạp (Kambuja, tổ tiên người Khmer sau này) nổi lên chiếm nước, lần lần thay thế địa vị Phù Nam làm bá chủ vùng tây nam Ấn Ðộ Chi Na; định đô ở Angkor. Sau ngày Jayawarman mất, nội bộ Chân Lạp chia rẽ vì tranh giành ngôi vua. Ðến đầu thế kỷ thứ 8, Chân Lạp chia thành hai nước: Lục Chân Lạp (Cambhupura) và Thủy Chân Lạp (Viadhapura, Nam Việt sau này). Một thế kỷ sau hợp nhất lại; nước Chân Lạp thống nhất mở đầu giai đoạn thịnh trị của đế quốc Khmer cho đến giữa thế kỷ 15.

      Kéo dài chiến tranh với Chiêm Thành trên một thế kỷ, tiếp đến đụng độ với Ðàng Trong, nội bộ xâu xé chia rẽ, lúc ngả theo Xiêm La, lúc theo về các chúa Nguyễn Ðàng Trong, đất nước Chân Lạp-Cao Miên biến thành bãi chiến trường hai nước Xiêm La và Ðại Việt Ðàng Trong. Từ quốc hiệu Phù Nam đến Chân Lạp đổi thành Cao Miên đầu thế kỷ 18, nước Cao Miên suy yếu dần cho đến khi trở thành thuộc quốc của Việt Nam vào cuối thế kỷ 18.

    7. Xem: Công Nương Ngọc Vạn. Lệ Vân. T.S.H Dallas. 1992.

    8. Hình ảnh chú thích trong bài thu thập từ nhiều nguồn bởi sggdpost
  • Lễ mừng thọ 40 tuổi của vua Khải Ðịnh

    Lễ mừng thọ 40 tuổi của vua Khải Ðịnh

    Những hình ảnh hiếm có về Lễ mừng thọ 40 tuổi (Tứ Tuần Đại Khánh) của vua Khải Ðịnh khoảng vào tháng 9-10 năm 1924

    Nhờ những hình ảnh nầy mà chúng ta thấy được cố đô Huế vào thời xa xưa, lúc chưa bị chiến tranh tàn phá. Ngày nay, dù cho UNESCO có giúp đỡ Việt Nam để xây dựng lại những cung điện xưa (Hoàng Thành Huế) nhưng chỉ sẽ là những tòa nhà trống trải vô hồn.

     

    Toàn cảnh cố đô Huế khi xưa
    Toàn cảnh cố đô Huế khi xưa
    Bên dòng sông Hương
    Bên dòng sông Hương
    Quan cảnh sau cổng thành
    Quan cảnh sau cổng thành
    Hoàng thành Huế nhìn từ trên cao
    Hoàng thành Huế nhìn từ trên cao
    Cổng-vào-cung-điện-Huế
    Một cổng vào cung điện
    Thêm một cổng vào cung điện
    Thêm một cổng vào cung điện
    Một lối đi trong điện Cần Chánh
    Một lối đi trong điện Cần Chánh
    Nơi trưng bày những lễ vật của quan khách
    Nơi trưng bày những lễ vật của quan khách
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Những lễ vật
    Ðoàn hát Nam-Ðịnh
    Ðoàn hát Nam-Ðịnh
    Nhóm nhạc sĩ của một dân tộc thiểu số
    Nhóm nhạc sĩ của một dân tộc thiểu số
    Ðoàn vũ công miền Nam
    Ðoàn vũ công miền Nam
    Ðoàn vũ công của Vinh và Thanh Hóa
    Ðoàn vũ công của Vinh và Thanh Hóa
    Phía bên trong cửa Ngọ Môn
    Phía bên trong cửa Ngọ Môn
    Bá quan lạy khi vào tới điện Cần Chánh
    Bá quan lạy khi vào tới điện Cần Chánh
    Bá quan lạy khi vào tới điện Cần Chánh
    Bá quan lạy khi vào tới điện Cần Chánh
    Bá quan lạy khi vào tới điện Thái Hòa
    Bá quan lạy khi vào tới điện Thái Hòa
    Vua Khải Ðịnh đang dùng cơm trưa ở điện Cần Chánh
    Vua Khải Ðịnh đang dùng cơm trưa ở điện Cần Chánh
    Vua đãi cơm chiều cho bá quan ở điện Cần Chánh
    Vua đãi cơm chiều cho bá quan ở điện Cần Chánh
    Ðiện Thái Hòa
    Ðiện Thái Hòa
    Thuyền của Thái Hậu và các bà phi coi đua thuyền
    Thuyền của Thái Hậu và các bà phi coi đua thuyền
    Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Ðại trong tương lai) và một viên quan
    Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Ðại trong tương lai) và một viên quan
  • Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu

    Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu

    THỬ KIỂM KÊ MỨC SỐNG CỦA NGƯỜI ĐÀNG TRONG QUA SỬ LIỆU

    Mức sống của người Đàng Trong thông qua sử liệu
    Chúng ta cùng xem thử triều đình Đàng Trong mỗi năm chi xài bao nhiêu tiền nhé!

    “Phủ biên tạp lục” cho biết, mỗi năm triều đình Nam Hà chi tiêu khoảng từ 364.400 quan tới khoảng 369.400 quan, nếu thiếu khoảng 2-3 vạn thì lấy bạc bù vào. Trong đó, tiền chi cho quân lực (cả chưởng quản lẫn binh sĩ) là 260.000 quan, chi cho việc tế lễ của hai xứ Thuận – Quảng là 1.400 quan, chưa kể lễ tiết yến ẩm, thưởng lạo, tôn tạo công trình. So với tiền thu vào khoảng từ 338.100 quan tới 423.300 quan, vàng thu vào trên dưới 85 hốt, bạc tốt 24-29 hốt, bạc lá 224-228 hốt, bạc con gà khoảng 10.000 đồng ; có năm bạc tốt thu đến 251 hốt, bạc lá 223 hốt. Trong ba năm gần đó, đúc tiền kẽm khoảng 72.396 quan. Như vậy, số tiền chi cho triều đình khoảng chừng 100.000 quan. Mỗi hốt vàng luyện được 9 vạn lá, triều đình dùng để sắm trang sức, có năm ngốn đến 45 hốt, trong khi giá vàng mỗi hốt là 180 quan.

    Trước chiến tranh, giá gạo 10 thưng (đủ ăn một tháng) chỉ có 3 tiền, giá một con trâu không quá 10 quan, một con voi giá khoảng 2 hốt bạc. Cau 3 quan 1 tạ, tiêu 12 quan/tạ, các loại thảo mộc trên dưới 10 quan, tê giác 500 quan, yến sào 50 quan, vi cá 40 quan, tôm khô 6 quan, đồi mồi 180 quan, kỳ nam 120 quan/lạng, tơ lụa 3 quan 5 tiền/tấm. Thuế tàu Chiết Giang, Quảng Đông là 3000 quan đến và 300 quan về, tàu Ma Cao (thực ra là Hà Lan), Nhật Bản là 4000 quan đến và 400 quan về, Phi Luật Tân và Xiêm La 2000-200, Đông Ấn Hà Lan (Indonesia) 500-50, Hà Tiên 300-30.

    Từ bảng giá này có thể thấy… khoảng cách của xa xỉ phẩm với nhu yếu phẩm. Gạo cho 1 người ăn 1 năm chỉ khoảng gần 4 quan, ngang giá 1 tấm lụa. Đấy là do giá gạo ở Đàng Trong rẻ như cho, “tiền như đất bạc như bùn” nên không thể (và không nên) đem so sánh với nơi khác. Nhưng mà nhìn lại quân số xứ này ước khoảng 2-3 vạn người, trung bình mỗi người cao nhất khoảng 12-13 quan, thấp thì mỗi người 7-8 quan. Kể ra cũng chỉ trên mức sống trung bình tí thôi.

    【Trường An】VIETNAMESE HISTORICAL FILM