Đây có thể coi la phi vụ “ném bom” kỳ quái nhất trong chiến tranh Việt Nam năm 1965 của không lực Hoa Kỳ.







Đây có thể coi la phi vụ “ném bom” kỳ quái nhất trong chiến tranh Việt Nam năm 1965 của không lực Hoa Kỳ.







Bài viết này được thực hiện dựa trên tư liệu của cuốn sách ” Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm” ( tác giả: Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng). Tất cả tư liệu hình ảnh trong bài viết này đều lấy từ blog của bác sĩ Nguyễn Xuân Quang: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/
1. Thuyền cơ bản:
NGUỒN:
Do cưa chỉ trở nên thông dụng từ thời đại đồ sắt, những chiếc thuyền thời Đông Sơn có thể đều là thuyền độc mộc.
Đây là loại thuyền đơn giản nhất: Một “ cái máng” để người ta ngồi vào mà chèo qua sông. Ngoại trừ việc thân, đuôi và mũi thuyền thường được chạm trổ, trang trí cầu kỳ thì bản thân chiếc thuyền không được trang bị thêm bất kì phụ kiện nào cả ( mái chèo, buồm,… hoàn toàn trống trải).
Về mẫu mã, bản thân thuyền cơ bản chia ra 2 loại thuyền chính: thuyền ngắn và thuyền dài. Trong đó:
– thuyền ngắn thường được chạm trổ cầu kỳ, nhưng chỉ đủ chỗ cho 3 người ngồi. Điểm đặc biệt ở thuyền này là phần mũi thuyền có 1 mũi phụ cong vút vươn dài ra phía trước.
hình khắc trên trống Làng Vạc
– Thuyền dài chạm trổ ít cầu kỳ hơn, thường đủ chổ cho 4 – 8 người

hình khắc trên trống Làng Vạc

Hình khắc trên trống Đồi Ro
PHỤC DỰNG:
Căn cứ vào các tư liệu có được, tôi phục dựng lại 2 mẫu thuyền loại cơ bản như sau:

tranh phục dựng do Mitteam thực hiện
Theo sách ” Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm”, khi đo tương quan giữa thuyền và người chèo ở các hình khắc trên trống đồng, thuyền loại này dài trung bình 4 – 6 met. Chiếc ngắn dài chỉ khoảng 3 met, còn chiếc dài nhất có khi hơn 10 met.
2.Thuyền có mái chèo:
NGUỒN:
Theo các hình khắc trên trống, đây có khả năng cũng là một loại thuyền độc mộc.
So với thuyền cơ bản, loại thuyền này được cải tiến bằng việc lắp thêm một mái chèo ở đuôi. Và chỉ có thế.
Về mẫu mã, bản thân thuyền có mái chèo chia ra 2 loại thuyền chính: thuyền ngắn và thuyền dài. Trong đó:
– thuyền ngắn có mái chèo: chính là phiên bản thuyền ngắn của mục “ 1. thuyền cơ bản” nhưng có thêm hai cải tiến. Đó là được lắp thêm mái chèo ở đuôi, và phần mũi thuyền phụ lớn đủ để cho một người nữa đứng trên đó làm quân tiên phong khi giao chiến .

hình khắc trên trống Miếu Môn

hình khắc trên trống Miếu Môn
– Thuyền dài có mái chèo: chính là phiên bản nâng cấp của thuyền dài trong mục “ 1. thuyền cơ bản”. Thuyền dài này được lắp thêm mái chèo ở đuôi và trống ở giữa thuyền.

hình khắc trên trống Sông Đà
PHỤC DỰNG:
Căn cứ vào các tư liệu có được, tôi phục dựng lại 2 mẫu có mái chèo như sau:

tranh phục dựng do Mitteam thực hiện
Theo sách ” Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm”, khi đo tương quan giữa thuyền và người chèo ở các hình khắc trên trống đồng, thuyền loại này dài khoảng từ 10 – 15 met.
3.Thuyền có lầu:
NGUỒN:
Được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Đây là loại thuyền chiến chuyên nghiệp, được trang bị kỹ lưỡng nhất trong các loại thuyền được khắc trên trống đồng. Nó có mái chèo ở đuôi, trống trận ở giữa thuyền. Đặc biệt, thuyền còn được trang bị thêm một cái lầu ở gần đuôi thuyền, làm nơi cho cung thủ sử dụng. Ở ngay dưới lầu là phòng đặt vật dụng ( vd: trống đồng). Binh lính được trang bị rất đa dạng,
Làm sao có thể có lầu trên một chiếc thuyền độc mộc. Có 2 giả thuyết được đưa ra:
1/ Đây không phải là thuyền độc mộc nữa mà có lẽ là một loại thuyền đóng ván. Sự thật, đã có xuất hiện cưa ở một số nơi trên thế giới thời đồ đồng, nhưng việc sử dụng cưa đồng rất tốn kém vì mau mòn. Vậy, người Đông Sơn đã từng sử dụng cưa đồng để đóng thuyền?
2/ Đây kỳ thực vẫn là thuyền độc mộc. Chiếc lầu trên thuyền kỳ thực chỉ là do một số thân tre và gỗ được cột lại rồi buộc chặt vào thuyền???

trống đồng Hoàng Hạ

trống đồng Hoàng Hạ

trống đồng Hoàng Hạ

trống đồng Hoàng Hạ

trống đồng Hoàng Hạ

trống đồng Hoàng Hạ
Điều đáng lưu ý nữa là theo các hình vẽ trên trống Hoàng Hạ, Ngọc Lũ, không hề thấy người chèo thuyền xuất hiện trên thuyền. Điều này có thể do một trong hai nguyên nhân dưới đây:
– đây là thuyền buồm, nên không cần tay chèo. Nhưng cánh buồm đã bị giản lược khỏi hình vẽ trên trống.
– đây vẫn là thuyền chèo, không có buồm. Những người lính trên thuyền đã kiêm luôn việc chèo thuyền, nhưng chi tiết này bị hình khắc trên trống giản lược

trống đồng Ngọc Lũ
PHỤC DỰNG:
Dựa vào các hình khắc và giả thuyết nêu trên, có 3 bản vẽ được phục dựng về loại thuyền này như sau:

Bản vẽ 1: giả thuyết thuyền độc mộc có lầu. Tranh do Mitteam thực hiện

Bản vẽ 2: giả thuyết thuyền đóng có lầu. Tranh do Mitteam thực hiện

Bản vẽ 3: giả thuyết thuyền có trang bị buồm ( bất kể độc mộc hay thuyền đóng). Tranh do Mitteam thực hiện
Theo sách ” Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm”, khi đo tương quan giữa thuyền và người chèo ở các hình khắc trên trống đồng, thuyền loại này dài khoảng từ 20 – 30 met. Chiếc lầu trên thuyền cao khoảng 1,5 met.
Theo Daiyevon Blog

Trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” (NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909), nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyễn Liên Phong đã mô tả đoạn đầu đường Catinat (sau đổi tên thành Tự Do, và Đồng Khởi ngày nay) vào đầu thế kỷ 20 như sau:
“Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
..Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương [đan]
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
..Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son”
“Rue Catinat” là tên gọi của đường Đồng Khởi ngày xưa. Nếu Sài Gòn đã tồn tại hơn 300 năm có lẻ thì ắt hẳn Catinat đã phải đồng hành cùng đô thị phồn vinh này hơn 2/3 chặng đường và chứng kiến vùng đất Gia Định xưa trải qua bao nhiêu biến động lịch sử. Có lẽ cũng chẳng ngoa khi ví Đồng Khởi như một cầu nối thời gian giữa Sài Gòn hiện đại và cũ xưa. “630 thước vàng ngọc” đã qua nhiều lần đổi tên từ Rue 16, Rue Catinat đến Tự Do và cuối cùng nó chính thức mang tên Đồng Khởi.
Theo nhiều tư liệu thì “Rue Catinat” được xem là con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn. Đây cũng là con đường đầu tiên được thiết lập khi Pháp quy hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Sài Gòn. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, “Rue Catinat” nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.
Sau khi các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879 – 1883) năng động khởi công và thúc đẩy hoàn thành, Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đóng, đã trở thành một thành phố có cảnh quan được quy hoạch hài hòa, kiến trúc khu trung tâm có nhiều nét tương đồng các thành phố ở châu Âu. Thậm chí, các du khách đến từ Âu châu và Viễn Đông (chỉ các nước Đông Á) đã có cảm nhận chung Sài Gòn là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp, hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các quốc gia hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.
Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).
Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa)

Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế

Năm 1948 Sở Du lịch và Triển lãm Đông Dương (The Indochina Tourism & Exhibition Department do ông Franchini Mathieu – một người Pháp – điều hành) mua lại toàn bộ tầng trệt và lầu 1 khách sạn và thuê 44 phòng trong thời hạn 30 năm.

Cũng như Bảo tàng Mỹ thuật hay Nhà khách Chính phủ, khách sạn Majestic được xây dựng theo phong cách Baroque rất được ưa chuộng thời bấy giờ và ngay cả hiện nay. Nó mang dáng vẻ kiến trúc cổ châu Âu thời phục hưng, cổ kính và sang trọng bậc nhất Sài Gòn ngay khi xây xong vào năm 1925.

Khách sạn Majestic sở hữu tầm nhìn thoáng rộng ra sông Sài Gòn

Bến sông sau đó được cải tạo thành công viên

Lúc này đường Catinat được đổi tên thành Tự Do. Từ sau 1975, đường Tự Do được đổi tên thành Đồng Khởi.

Khách sạn Majestic được xếp hạng 5 sao vào năm 2007. Khu mới (trên đường Nguyễn Huệ) của khách sạn Majestic được khởi công xây dựng vào tháng 7.2011, sẽ bao gồm 2 khối tháp cao 24 tầng và 27 tầng, 4 tầng hầm, với 353 phòng mới. Sau khi hoàn thành, khách sạn Majestic mới sẽ có tổng cộng 538 phòng.

Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa).

Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat.

Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace



Tên gọi “Saigon Đại Lữ Quán” có từ năm 1958

Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrace, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay)

Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient.

Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

Trạm xe điện ngay trước vị trí của Café de la Terrase trước kia

Năm 1957 trên khu đất trước đây là Cafe de la Terrase đã khởi công xây dựng khách sạn Caravelle bởi các nhà đầu tư lớn của Air France và chính phủ Úc. Khách sạn chính thức khai trương vào đêm Giáng sinh 1959.

Khách sạn Caravelle đặt theo tên một loại máy bay của hãng hàng không Air France. Hãng này có văn phòng ở tầng trệt của khách sạn. Điều thú vị là ngày nay văn phòng bán vé Air France vẫn còn duy trì hoạt động ở tầng trệt Caravelle.
Khách sạn Caravelle ngày trước
Nguồn: saigonamthuc.thanhnien.com.vn

Đây là giai đoạn mà Hoa Kỳ đưa quân dụng, quân khí vào Miền Nam Việt Nam.
Hàng chục máy bay chiến đấu “diễu hành” trên đường phố là hình ảnh độc nhất vô nhị từng được ghi nhận ở Sài Gòn năm 1951. Những hình ảnh này được trang web Ecpad.fr của Pháp giới thiệu.
Ngày 26/1/1951, tàu sân bay hộ tống USS Windham Bay (CVE 92) của Mỹ đã cập cảng Sài Gòn cùng hàng chục chiếc máy bay chiến đấu Grumman F8F “Bearcat”.

Những chiếc máy bay được gấp cánh, nằm san sát trên sàn tàu.

Các nhân viên quân sự tháo bỏ vỏ bọc và kiểm tra tình trạng của những chiếc Grumman F8F “Bearcat”.

Chúng sẽ được dỡ xuống cảng theo chương trình viện trợ cho quân Pháp nhằm củng cố sức mạnh quân sự của người Pháp ở Đông Dương.

Một chiếc cần cẩu bắt đầu việc vận chuyển những chiếc máy bay xuống cảng trong sự giám sát của các sĩ quan Mỹ.

Một chiếc máy bay được nhấc ra khỏi sàn đỗ.

…Và đặt xuống cầu cảng.

Công việc được tiến hành ngay cạnh nơi sinh sống của những người dân chài.

Máy bay được đẩy ra ngoài bến cảng để chuyển đến sân bay Tân Sơn Nhất.

Đoàn máy bay “diễu hành” trên đường phố, một cảnh tượng “độc nhất vô nhị” ở Sài Gòn.

USS Windham Bay là tàu sân bay hộ tống thuộc lớp Casablanca của hải quân Mỹ, bắt đầu hoạt động từ năm 1944.

Nhiệm vụ chính của con tàu này là vận chuyển máy bay qua lại giữa các hải cảng khác nhau.

Sau khi thực hiện nhiệm vụ ở Sài Gòn, Windham Bay sẽ di chuyến tới Manila (Philippines) rồi trở về nước Mỹ.
Theo KIẾN THỨC

Khu dinh thự của Trần Lệ Xuân – Ngô Đình Nhu ở Đà lạt tráng lệ đến khó tin, được bảo vệ nghiêm ngặt không thua kém gì những cơ sở quân sự trọng yếu.
Nằm trên một ngọn đồi ở phía Tây TP Đà Lạt, biệt điện Trần Lệ Xuân là một di tích lịch sử đặc biệt gắn với cuộc đời Trần Lệ Xuân, người phụ nữ quyền lực nhất của thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960.

Khu biệt điện vợ chồng Trần Lệ Xuân – Ngô Đình Nhu cho xây dựng năm 1958 trên một khuôn viên rộng tới 13.000m2. Đây là một quần thể kiến trúc gồm nhiều hạng mục công trình khác nhau, trong đó các công trình chính là 3 ngôi biệt thự mang những cái tên mỹ miều: Bạch Ngọc, Lam Ngọc và Hồng Ngọc.

Biệt thự Bạch Ngọc (trong ảnh) là nơi giải trí của gia đình Trần Lệ Xuân và các sĩ quan cao cấp thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa.

Biệt thự này có một bể bơi nước nóng ở rất rộng ở phía trước. Đây là bể bơi nước nóng duy nhất của toàn miền Nam thời điểm đó.

Biệt thự Lam Ngọc là tư gia của Trần Lệ Xuân – Ngô Đình Nhu. Ông bà Nhu thường nghỉ ở đây mỗi khi đáp máy bay lên Đà Lạt vào dịp cuối tuần.

Phía sau biệt thự Lam Ngọc là một vườn hoa tuyệt đẹp do các kỹ sư đến từ Nhật Bản thiết kế, nên được gọi là vườn hoa Nhật Bản. Trong vườn hoa có một hồ nước, khi bơm đầy nước thì mặt hồ sẽ tạo thành hình địa đồ Việt Nam.

Để đề phòng bị tấn công bất ngờ, trong biệt thự Lam Ngọc còn có một căn hầm trú ẩn được thi công bằng loại thép đặc biệt, có thể chống đỡ sức công phá của hỏa lực hạng nặng. Trong căn hầm này có một đường hầm thoát hiểm.

Biệt thự Hồng Ngọc, biệt thự cuối cùng của khu biệt điện được Trần Lệ Xuân xây dựng để tặng cha mình là ông Trần Văn Chương – thời điểm đó đang là đại sứ Việt Nam cộng hòa tại Mỹ. Tuy vậy, ông Chương chưa kịp ở thì chế độ Diệm – Nhu đã bị lật đổ.

Ba ngôi biệt thự Bạch Ngọc, Hồng Ngọc, Lam Ngọc không chỉ có những nét kiến trúc độc đáo riêng mà còn kết hợp hoàn hảo với nhau qua những lối đi và khu vườn được thiết kế rất đẹp trong khung cảnh thơ mộng của đồi thông xứ Lang Biang.

Dược coi là “sân sau” của gia đình quyền lực nhất VNCH thời điểm đó nên khu biệt điện được huy động tối đa trí lực, nhân lực và vật lực cho việc xây dựng. Sau khi hoàn thành, nơi đây được bảo vệ nghiêm ngặt không thua kém gì những cơ sở quân sự trọng yếu.

Tuy nhiên, sự tồn tại của biệt điện Trần Lệ Xuân chỉ kéo dài được 5 năm đến khi cuộc chính biến 1963 xảy ra. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, tòa biệt điện được trưng dụng làm Bảo tàng Sắc tộc Tây nguyên.

Đến năm 1975, trong cuộc tháo chạy của chế độ cũ, rất nhiều tài sản có giá trị của biệt điện, gồm các đồ dùng của gia đình Trần Lệ Xuân cũng như các cổ vật của bảo tàng sắc tộc Tây Nguyên đã bị đưa ra nước ngoài. Chỉ còn một số ít hiện vật cồng kềnh hoặc ít có giá trị còn được lưu giữ.

Sau 1975, chính quyền mới đã tiếp quản và gìn giữ nơi này như một phần tài sản quốc gia. Đến năm 2007, khu biệt lịch sử chính thức trở thành Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, nơi lưu giữ và trưng bày Mộc bản triều Nguyễn cùng nhiều tư liệu lịch sử về chủ quền biển đảo phục vụ như cầu tham quan, nghiên cứu của các tầng lớp nhân dân..

Tiếp nối bài viết về vũ khí người Việt Cổ: https://hinhanhvietnam.com/vu-khi-nguoi-viet-co/ và Bộ sưu tập Kiếm – Đao của các danh tướng Việt Nam
Dưới đây là bảng danh sách những loại vũ khí, binh chủng có bằng chứng xác nhận là đã thật sự được sử dụng – hoặc ít nhất, được biết đến – vào đời Trần. Để tránh việc suy luận nhiều khi có thể dẫn đến sai lầm, bài viết này loại bỏ những thông tin về vũ khí được nhắc đến ở những triều đại Ngô – Đinh – Lý trước đó. Các thông tin đó sẽ được đề cập ở những bài viết khác, tương ứng với triều đại của nó. Bài viết cũng loại bỏ phần chiến thuyền, vì đây là một đề tài phức tạp, gắn liền với binh chủng thuỷ quân, cần có một bài riêng.
– Trên chiếc thạp bằng sứ tráng men thời Trần, ta thấy vẽ hình các chiến binh cầm giáo và khiên đang tập luyện với nhau.
Thạp gốm đời Trần
= > Như vậy, vào đời Trần, có thể người ta thường sử dụng giáo kết hợp với khiên.
– Sứ giả Nguyên là Trần Phu trong cuốn An Nam Tức Sự của mình miêu tả về dân binh đời Trần như sau:
“ Mỗi châu huyện có quan gọi là “tướng tưu”, coi việc tuần tra, kiêm lĩnh quân sĩ. Có biến động thì lệnh bọn tráng đinh đi đến, các đồ khí giới đều tự trang bị, không có cung tên, chỉ cầm phiêu thương, nỏ thuốc độc, cũng có người cầm cây gỗ trắng”
( Nguyên văn viết là: “ 无弓矢,惟持药弩标枪,亦有操白梃者 – vô cung thỉ, duy trì dược nỗ phiêu thương, dựu hữu thao bạch đĩnh giả”. Văn bản gốc miêu tả cây gậy dưới cái tên “ bạch đĩnh”.)
– Cũng Trần Phu ở trên đã xác nhận trong số các vũ khí của dân binh đời Trần, có một thứ mà ông gọi là phiêu thương-标枪. Phiêu thương là cách người Trung Quốc…hiện đại dùng để gọi cây lao. Đáng tiếc là ta không dám chắc người đời Nguyên có sử dụng cách gọi đó với cùng một nghĩa hay không.

hai loại mũi giáo đời Trần khai quật được. Hình từ sách Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh, tập 24. Có thể mũi lao cũng trông như thế này.
– Cũng Trần Phu ở trên đã xác nhận trong số các vũ khí của dân binh đời Trần, có một thứ mà ông gọi là dược nỗ-药弩, tức nỏ thuốc độc.
– Nguyên Sử cũng xác nhận tướng Nguyên là Lý Hằng đã bị tên độc bắn chết khi tham chiến ở ta trong cuộc xâm lăng lần thứ 2. Nhưng sách không thể xác nhận được mũi tên đó được bắn bằng cung hay nỏ.
– Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm 1305 viết rằng:
“ Bấy giờ có viên độc bạ là Trần Cụ tính khoan hậu, cẩn thận, thật thà, giỏi ngề đánh cá,bắn nỏ và chơi cầu. Vua sai dạy thái tử các nghề ấy.
…Người đời bắn nỏ, chân đứng cũng như bắn cung, tức là kiểu chữ “đinh” không thành, chữ “bát” không ngay. Cụ thì đứng ngay ngắn mà bắn và bảo mọi người:”Phàm bắn cung thì tay trái giơ ra phía trước nắm lấy thân cung, tay phải kéo dây cung về phía sau, mình đã nghiêng thì chân cũng phải lệch, còn bắn nỏ thì đưa cân bằng ra phía trước, cho nên khi cầm nỏ mà bắn, thân mình ngay ngắn, thì cớ gì chân lại phải đứng lệch?”.”

tranh đi săn tù binh trên thạp gốm đời Trần. Ở góc phải có xuất hiện một thứ không rõ là cung hay nỏ.
– Cũng chi tiết về Trần Cụ mà Toàn Thư chép ở trên, ta có thể thấy người đời Trần có hiểu biết về cung và thật sự biết bắn cung. Bằng chứng là Trần Cụ đã phân tích sự khác biệt giữa cách bắn cung và bắn nỏ như ta thấy. Như vậy, lời nói của Trần Phu không hẳn phủ nhận việc người Việt sử dụng cung tên, mà là xác nhận dân binh đời Trần không sử dụng loại vũ khí này.
– Trong Hịch tướng sĩ, Trần – Quốc Tuấn khuyên các tướng phải “huấn luyện quân sĩ,tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”.
– Nguyên Sử cũng xác nhận tướng Nguyên là Lý Hằng đã bị tên độc bắn chết khi tham chiến ở ta trong cuộc xâm lăng lần thứ 2. Nhưng sách không thể xác nhận được mũi tên đó được bắn bằng cung hay nỏ.
Điều khó khăn ở đây là ta không thể biết được cung tên thời Trần được chế tạo bằng loại chất liệu gì, để qua đó ước lượng lực bắn và tầm bắn của cung Việt thời đó.
– Như trên đã nói, thạp sứ đời Trần có hình ảnh mô tả binh sỉ sử dụng khiên và giáo.
– Trong An Nam Tức Sự, sứ giả Trần Phu miêu tả về các vương hầu như sau:
“ Nắm việc nước có hai người, chú của vua là Thái sư Trần Quang Khải và em là Thái úy Trần Đức Diệp. Việc nước lớn nhỏ, Khải, Diệp đều nắm giữ. Hễ ngồi kiệu đến dưới cửa điện thì có hai người cầm hai cái mộc, tròn như cái gương, màu xanh, rộng sáu thước, trên mộc vẽ hình Mặt trăng, Mặt trời, sao Bắc đẩu, 28 ngôi sao, ý là để tự phòng vệ vậy.”

Một chiếc thạp đời Trần khác, miêu tả người chiến binh sử dụng khiên cùng một loại vũ khí lạ, trông như chày.
– Theo sách Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh, người ta đã khai quật được một cái khiên gỗ dài tới 1 met, có hình dạng như sau:

khiên bằng gỗ, cao 1 met
là loại giáo dài khoảng 4,1 met.
– bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão: “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu” ( cắp ngang ngọn sóc đã được mấy mùa thu rồi)
– Trần Quang Khải sau khi đánh thắng trận Chương Dương – Thăng Long đã làm thơ ca ngợi chiến công, trong đó có câu “Đoạt sáo Chương Dương độ” ( đoạt sóc ở Chương Dương)
= > Theo những bài thơ này thì sóc được cả quân ta lẫn quân Nguyên sử dụng.
phiên bản cao cấp hơn của giáo, cách sử dụng cũng khó hơn rất nhiều.
– Trong Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu có viết: “ chiết kích trầm giang”. Cụm từ này được sách giáo khoa dịch là “ sông chìm giáo gẫy”, nhưng kỳ thực ý nghĩa của nó là “ những ngọn kích gẫy trầm mình dưới đáy sông”.
Tuy vậy, bài phú này mang nhiều tính ước lệ. Ngoài việc xác nhận người đời Trần biết đến sự tồn tại của kích ra, ta không dám chắc nó có thật sự khẳng định binh sĩ hai bên sử dụng loại vũ khí này hay đây chỉ là một cách nói cường điệu trong văn vẻ mà thôi. Ngoài ra, ta cũng không có tư liệu hình ảnh gì về kích thời Trần.

Các mẫu kích trong đồ nghi trượng thời Nguyễn

Phương Thiên Họa Kích trong tranh đời Nguyễn, xuất hiện trong cuốn ” techique du people Annam”
loại vũ khí có cán dài, lưỡi quắm, dùng để móc hoặc cắt dây leo.
– Trong trận Bạch Đằng (1288), tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống nước, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống.

– Theo sách Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh, người ta cũng đã khai quật được một lưỡi câu liêm đời Trần, hình dáng như sau ( có vẽ hai mũi câu liêm đã bị gãy):

Theo người Việt thường hình dung:
– Kiếm là thứ vũ khí cán ngắn, thân kiếm thanh mảnh, mũi nhọn, lưỡi có thể dài hoặc cong, thường dùng để đâm hoặc chém.
– Đao được xem là tương tự kiếm nhưng thân thường to bản và có lưỡi cong, chủ yếu dùng để chém.
Thật ra Trung Quốc và các nước Đông Á khác không phân loại như vậy. Thứ người Việt thường xem là “ đao” kia thực chất là mẫu đao kiểu Tống-Minh,có lưỡi cong và thân thường to bản. Thế nhưng, đó chỉ là một trong rất nhiều kiểu đao mà thôi.
Theo cách phân loại của Trung Quốc, được cả Hàn và Nhật đồng tình sử dụng:
– Kiếm: có 2 lưỡi, có thể dùng để đâm hoặc chém
– Đao: có 1 lưỡi, thiên về chém Nhưng vẫn có thể dùng để đâm ( nếu có mũi nhọn).
* Katana -刀, trong tiếng Nhật kỳ thực có nghĩa là đao, không phải là kiếm như người Việt thường gọi.
* Cần phải nói thêm rằng, trước khi đụng độ với quân Mông Cổ, đao kiếm các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn, Nhật đều thẳng tắp. Đao cong mà ta thấy sau này là do ảnh hưởng từ vũ khí của người Mông Cổ.
Như vậy, để tránh những rắc rối có thể xảy ra do việc phân loại, tôi gộp hết cả hai loại vào một nhóm.
Nhà Trần để lại một số tư liệu về đao kiếm như sau:
– Trong bài Bạch Đằng Giang Phú, Trương Hán Siêu mô tả quân nhà Trần trong trận Bạch Đằng như sau:
“貔貅六軍, 兵刃蜂起 – Tì hưu lục quân, binh nhẫn phong khỉ”
Từ “ nhẫn”-刃có thể dùng để ám chỉ vũ khí có mũi nhọn, lại cũng có thể dùng để ám chỉ vũ khí có lưỡi để chém ( VD: đao nhẫn – 刀刃 : lưỡi đao). Như vậy, từ này có thể dùng để cùng lúc ám chỉ cả giáo, đao, kiếm và tất cả các vũ khí dùng để đâm hoặc chém khác.
– Đao còn được nhắc đến gián tiếp ở các sự kiện như sau trong Toàn Thư:
+ “1285: Tháng 5, ngày mồng 3, hai vua đánh bại giặc ở phủ Trường Yên2, chém đầucắt tai giặc nhiều không kể xiết.”
+ “ 1285: Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên Soái Toa Đô8”
+ Năm 1288, có người tên Đặng Long hàng giặc, “ hắn bị bắt, đem chém để răn bảo kẻ khác.”
+ Năm 1309: “ Tên Hân bị chém ở cầu Giang Khẩu”.
…
Còn rất nhiều dòng có nội dung tương tự thế. Vũ khí dùng để chém người ở đây tuy không được nói rõ, nhưng ta có thể dễ dàng nhận biết là đao hoặc kiếm ( dù thiên về đao hơn).
– tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ có lẽ là bằng chứng rõ ràng nhất về sự xuất hiện của đao kiếm đời Trần. Trong tranh có vẽ các thị vệ cầm đao đang đứng hầu. Cây đao trong tranh là loại đao cong, cho thấy nhà Trần đã rất nhanh chóng tiếp thu mẫu vũ khí này trong quá trình chiến đấu với người Mông Cổ.

quân hầu cầm đao cong trong tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ đời Trần.
– Được Toàn Thư nhắc đến trong trận Bình Lệ Nguyên năm 1258. Trận này miêu tả tướng Lê Tần “ một mình một ngựa ra vào trận giặc ( Mông Cổ), sắc mặt bình thản như không”.
Tuy thế, sử không miêu tả rõ hơn về trang bị giáp trụ lẫn vũ khí mà kỵ binh thời này sử dụng. Nó cũng không miêu tả quy mô kỵ binh đời Trần chi tiết như thế nào.

thạp gốm đời Trần, vẽ cảnh người cưỡi ngựa.
– Toàn Thư có vài lần nhắc đến voi vào đời Trần như sau “ 1269: Mùa xuân, tháng 2, Chiêm Thành dâng voi trắng.”. Thế nhưng, không thật sự có một dòng nào nhắc đến voi chiến vào đời Trần.
– Trong các sản phẩm thủ công nghiệp, chúng ta vẫn còn thấy hình ảnh voi trên các thạp gốm tráng men đời Trần.


voi trên thạp gốm đời Trần
– Ngoài ra, bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia vẫn còn lưu lại một cái bình trà hình con voi có quản tượng ngồi trên nó.

Như vậy, dưới đời Trần, người Việt thật sự có tiến hành thuần hoá và sử dụng voi. Tuy nhiên, ta không có bằng chứng khẳng định việc họ dùng voi trong chiến trận. Ta chỉ có thể suy đoán rằng thời Trần vẫn có tượng binh, vì binh chủng này đã từng được sử dụng vào đời Lý trước đó ( Thân Cảnh Nguyên đánh quân Tống xâm lược ở ải Quyết Lý năm 1077) và đời Hồ sau đó ( nhà Hồ sử dụng voi chiến trong trận Đa Bang năm 1407).
– Nguyên sử, phần An Nam truyện có chép việc sử dụng pháo của quân nhà Trần. Sự kiện đó diễn ra vào tháng 2-1285. Quân Nguyên lúc đó tiến đến gần Đông Bộ Đầu, đóng ở bên kia sông Nhị, chuẩn bị tiến công vào Kinh thành Thăng Long. Quân ta do vua Trần chỉ huy từ bên này sông đã “bắn pháo hô to, thách đánh” (nguyên văn của Nguyên sử là: Phát pháo đại hô cầu chiến.). Nguyên văn chữ Hán ghi chữ “ pháo” bằng bộ “ thạch” ( đá), ám chỉ máy bắn đá.
Ta không biết đời Trần sử dụng loại máy bắn đá cụ thể gì. Nhưng theo truyền thống các nước Á Đông như Trung Quốc, Nhật thì trong khu vực thịnh hành loại máy bắn đá giật tay thô sơ.

máy bắn đá giật tay, kiểu máy bắn đá rất phổ biến ở Á Đông.
là phiên bản rất sơ khai của súng ống hiện đại. Kích cỡ của nó lúc đó có thể to như đại bác, nhưng thường là những ống đồng nhỏ, buộc lên đầu cán gỗ để người lính cầm tay khi bắn.
Loại vũ khí này bắt đầu xuất hiện vào cuối đời Trần. Nhưng hiện nay, ta không còn lưu lại được mẫu hoả súng nào của triều đại này nữa. Thông tin duy nhất còn lại về sự xuất hiện của nó là trong trận chiến cuối cùng với Chế Bồng Nga được Toàn Thư ghi chép:
“ Khát Chân liền ra lệnh các hoả súng nhất tề nhả đạn,bắn trúng thuyền Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết, người trong thuyền ồn ào kêu khóc”
Điều đáng lưu ý ở đây là sức mạnh đáng kể của hoả súng nhà Trần. Vào thế kỷ XIV, các hoả súng đương thời trên thế giới thường có lực bắn và tầm bắn yếu. Thế nhưng, hoả súng nhà Trần – dù không biết được bắn ở cự ly nào – đã xuyên thủng cả ván thuyền và giết chết vua Chiêm. Đây là một điều đặc biệt đáng ghi nhận.

mẫu hoả súng của nhà Nguyên- Mông thế kỷ XIV

cách sử dụng hand-cannon đương thời
một cây rìu có cán dài.

Nằm ở góc trái tấm hình dưới đây là cây phủ đầu rồng đời Trần được khai quật. Tuy vậy, không có bằng chứng gì phủ được nhà Trần sử dụng làm vũ khí, bởi vì nó vốn được các triều đại phong kiến dùng làm…đồ nghi trượng mà thôi.
Website này đề cập đến An Nam Tức Sự của sứ giả Trần Phu:
Theo đó, Trần Phu từng nhắc đến một thứ vũ khí gọi là nỏ nước:
“Nỏ nước, một tên khác là xá sa, người bắn dùng hơi để bắn xa được ba mươi bộ. Bắn trúng thì thấy có cái bóng màu hồng và ngứa thì liền lấy dao khoét bỏ mảnh thịt đó đi. Không thế thì ngứa cho đến chết “.
Thế nhưng, do thiếu bản chữ Hán, tôi không thể kiểm chứng được thông tin này. Ngoài ra, cách diễn tả của đoạn trích cũng quá khó hình dung loại vũ khí trên có hình thù và hoạt động như thế nào.
Trong An Nam Chí Lược, Lê Trắc xác nhận quân đội nhà Trần sử dụng loại thuyền tiêu chuẩn có tên là Mông Đồng. Mỗi chiếc thuyền này có thể chở khoảng 50 người gồm một nửa là tay chèo, nửa kia là quân lính. Ngoài ra, mỗi thuyền còn được trang bị 2 máy bắn nỏ.
Tuy vậy, ta không có thông tin chi tiết về loại máy bắn nỏ được nhà Trần sử dụng.
Nguồn: Daiyevon Blog

Rồng trong văn hóa Việt Nam
Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giống bò) để nói lên đặc trưng tổng hợp ấy, và để lý giải vị trí bá chủ vạn vật của rồng.
Nghiên cứu cho thấy rồng Đông Á mang nguồn gốc Bách Việt cổ (cộng đồng cư dân cổ thuộc ngữ hệ Austro-asiatic cư trú từ hạ lưu Dương Tử đến Bắc Đông Dương, trong đó có tổ tiên Lạc Việt) trên cơ sở của sự kết hợprắn, cá sấu và nhiều loại vật khác. Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến văn hóa Bách Việt như
(1) nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến của phương Nam (Rồng có các nguyên mẫu chính gồm rắn, cá sấu, cá, lợn, trâu, ngựa, hổ, chó, tia chớp, sinh thực khí nam – xem Nguyễn Ngọc Thơ: “Về vấn đề nguyên mẫu của Rồng Trung Hoa”, Tập san KHXH&NV, 2007),
(2) tính cách thích nước và sinh sống ở môi trường sông nước; và
(3) rồng là sản phẩm tổng hợp của tư duy âm dương phương Nam.
Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (2000), tên gọi Rồng vốn xuất hiện trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ thuộc tiểu chi Proto Việt-Chứt; từ Thìn trong thập nhị địa chi là tên gọi do người Hán vay mượn từ ngôn ngữ Bách Việt cổ. Người Bách Việt, mà cụ thể là Lạc Việt, với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, tự xem mình là “conRồng cháu Tiên”. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng đồng nhất quan điểm này. Tác giả Văn Nhất Đa trong chuyên khảo “Đoan ngọ khảo” (1993) gắn nguồn gốc xuất hiện của rồng với tết Đoan ngọ và tục đua thuyền rồng của cư dân Ngô Việt vùng hạ lưu Dương Tử. Ngày nay, các vùng đất Nam Trung Hoa, Việt Nam, Đài Loan, Okinawa vẫn còn tục đua thuyền rồng trong các dịp đón năm mới, tết Đoan ngọ hay lễ hội truyền thống (Trịnh Tiểu Lô 1997). Tác giả Trung Hoa Nghê Nông Thủy (2010) chứng minh nguồn gốc Bách Việt của tết Đoan ngọ cùng tục đua thuyền rồng, sau được người Trung Hoa tiếp nhận và gắn thêm chức năng cứu Khuất Nguyên để giáo dục cội nguồn. Nhà dân tộc học người Nga D.V. Deopik (1993) từng viết “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Còn nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin cũng nhận xét: “Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng – một con vật tưởng tượng – trở thành biểu tượng quan trọng nhất… Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá… Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng….” (Xem Xem Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Ngọc Thơ: “Nguồn gốc con rồng nhìn từ văn hóa học”,Tập san KHXH&NV, 2011).
Từ chiếc nôi Bách Việt, rồng lan truyền ra xung quanh, tại mỗi địa phương rồng khoác lên sắc thái văn hóa của riêng địa phương mình. Chính vì vậy, rồng đã trở nên đa dạng về chủng loại và hình dáng, tạo nên một “Gia tộc họ rồng” cực kỳ đa dạng về hình thức lẫn chức năng.
Lấy giới tính làm tiêu chí phân loại thì có hai loại rồng đực đuôi có hạt châu hoặc chỉ có chiếc đuôi đơn thuần và rồng cái đuôi phân nhánh thành hoa văn hoa cỏ.
Thứ hai là tiêu chí nguyên mẫu. Rồng hình thành từ sự kết hợp đa loài, dù vậy vẫn có thể nhận diện loài vật đặc trưng nhất. Tiêu biểu có rồng rắn, rồng cá sấu, rồng cá, rồng ngựa, rồng hổ, rồng chó, rồng chim, rồng thuồng luồng (giao long), rồng kỳ đà, rồng cáo…



Còn nếu dựa vào tứ chi của rồng để phân thì có các loại rồng 5 móng, 4 móng, 3 móng; không chân và rồng có tứ chi là hoa văn cây cỏ. Rồng 5 móng là loại rồng chuẩn, từ đầu Công nguyên trở đi đã trở thành biểu tượng của vua chúa, thường xuyên bị hoàng gia lũng đoạn, dân gian bị cấm dùng. Quan lại chỉ được phép dùng rồng 4 móng, có thời kì bị bắt buộc dùng hình mãng xà (như thời Minh ở Trung Quốc). Rồng không chân thường được hiểu là thuồng luồng, xuất hiện nhiều trong truyền thuyết dân gian. Rồng có tứ chi phát triển thành hoa văn hoa cỏ thường được dùng nhiều trong nghệ thuật trang trí kiến trúc hay hội họa truyền thống.

Quỳ long
– Trong truyền thuyết phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau, bao gồmbị hí, xi vẫn, bồ lao, bệ ngạn, thao thiết, công phúc, nhai xế, toan ngê, tiêu đồ; bên cạnh là một số linh vật họ rồng khác nữa như tù ngưu, phụ hý, trào phong, tỳ hưu, hải trãi v.v. [Nguyễn Ngọc Thơ: Rồng Trung Hoa,Luận văn thạc sỹ, 2003].



Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt Nam. Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao long). Theo ghi chép trong Hoài Nam Tử và Sơn Hải Kinh, rồng được người Việt xưa xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại”. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình. Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân, quy, phụng”. Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng.

Qua thời kỳ Bắc thuộc, con rồng Việt Nam dần xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Thủ đô Thăng Long được đặt tên theo thế “rồng bay”. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thường thân trơn, lưng có vây, thân uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình sin mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi, tạo cảm giác dòng văn hóa dân gian mượt mà dài vô tận. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ “S”, tượng trưng cho sấm sét, mây mưa [Xem Mỹ thuật thời Lý, 1973]. Trên đại thể, rồng thời Lý là rồng văn, rồng Phật giáo.

Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Đây là thời kì người Việt Nam ba lần đánh bại quân thiện chiến Nguyên Mông, do vậy triều Trần được cho là triều đại trọng võ. Dấu ấn ấy có thể nhìn thấy rất rõ qua hình tượng rồng. Đầu rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay, chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng, có khi là những nửa hình nụ hoa tròn, có khi chỉ là những nét cong thanh thoát [Xem Mỹ thuật thời Trần, 1977].
Rồng thời Lê (thế kỷ XV) hoàn toàn khác biệt với rồng thời Lý-Trần. Thân rồng có xu hướng ngắn lại, tư thế đa dạng phong phú. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến [Xem Mỹ thuật thời Lê Sơ, 1978].
Rồng thời Lê Trung hưng nhìn chung ít thay đổi so với thời Lê Sơ, điểm nổi bật là hình tượng rồng dần dà đi vào đời sống thường dân, đặc biệt là các mô típ bầy rồng con quây quần bên rồng mẹ, rồng đuổi bắt mồi, rồng vui cảnh lứa đôi v.v..

Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v.. Thân rồng không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe. Vây trên lưng rồng có tia, thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua chân có năm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn hoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng cung đình. Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng([1]).



Ở chức năng tâm linh, rồng được hiểu là thần thánh, phần nhiều là thiện thần. Hai trong những nguyên do biến rồng thành thần gồm (1) linh vật tổng hợp từ sự vượt trội của nhiều loài; (2) rồng có thể thiên biến vạn hóa và thông thiên kết nối nhân gian và thế giới thần tiên. Chính vì vậy, người Việt sớm nhận thức rằng rồng là hiện thân của thần linh để trị ác cứu dân, là vật cưỡi của thần tiên (như mô típ tiên cưỡi rồng trong kiến trúc đình Bắc Bộ) hay chư Phật (trong kiến trúc chùa), là linh vật chầu phục Đức Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo. Sự ngự trị tối cao của rồng so với các loài vật khác còn có thể thấy trong quần thể tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ (trần mái Cửu Trùng Đài, cột rồng v.v.). Ở chùa An Phước (Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh), người ta đúc thuyền hình rồng trên có năm thầy trò Đường Tăng đầu quay về Thiên Trúc với ý nghĩa rồng hộ tống, đưa Phật tử và chúng sinh thánh thiện về đất Phật.


Nguyễn Ngọc Thơ
(Đã đăng trên Đặc san Khoa học Xã hội số 42, tháng 1 năm 2012)

Phong Kiến và Quân Chủ khác biệt nhau như thế nào ?
Đừng nói đến sự khác biệt giữa các chế độ Phong Kiến, Quân Chủ Tây Âu và các chế độ Phong Kiến, Quân Chủ Đông Á, vì nó sẽ đi xa quá bài viết nầy. Vã chăng, đã có nhiều tác giả đề cập tới như Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê (Nhà xuất bản Tổng Hợp, TP Hồ Chí Minh. 2006) hay La Féodalité Chinoise của Granet (Editions Imago, Paris. 1981). Đây tôi muốn nói cái chung của các chế độ Phong Kiến và của các chế độ Quân Chủ tại Á Đông.
Chế độ Phong Kiến ở Trung Quốc được hình thành, theo Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, vào đời Nhà Chu (khoảng 1111 – 221 TCN), để rồi Nhà Tần sau khi thống nhất đất nước, chấm dứt chế độ Phong Kiến.
Phong Kiến 封 建 là Phong Tước 封 爵 và Kiến Địa 建 地 , nghĩa là vua phong tước cho một bầy tôi (một công thần hay anh em, bà con trong họ…) và cho người đó một khu đất để người đó kiến quốc, lập nước. Người đó trở thành một chư hầu của vua. Đó cũng vì đất nước Trung Hoa vào thời ấy đã quá lớn, quá rộng mà phương tiện giao thông lại thô sơ, nên vua phải ban đất cho công thần, con cháu, để làm phên dậu mà cai trị giúp. Đất đai đó là của riêng của các chư hầu. Các chư hầu có quyền bán, tặng, đổi đất đai vì quyền lợi công hay tư, mà không cần phải có lệnh nhà vua. Đó là chưa nói đến chuyện các chư hầu có quyền chiếm hữu nô lệ. Đến đời Nhà Tần (221 -206) thì đường sá đã khá mở mang, rộng hẹp đều có kích thước, nên Tần Thủy Hoàng nhận thấy chế độ Phong Kiến chỉ đem lại hiềm khích, chiến tranh làm khổ nhân dân, nên đã chia lãnh thổ ra làm quận, huyện và phái công chức (quan lại) đi trấn nhiệm để cai quản. Chuyện là như thế, nhưng chế độ Phong Kiến Trung Quốc vẫn tồn tại, nhất là trong những năm 1916-1949, với việc Viên Thế Khải tự tôn làm hoàng đế, để đất nước bị phân tán trong tay các lãnh chúa. Mạnh ai nấy chiếm đất đai, mạnh ai nấy thâu nô lệ, làm như thời Phong Kiến vậy.
Còn Quân Chủ là chỉ do một người làm chủ, cai quản đất nước, người đó là vua. Vì vua không có thể có mặt khắp nơi trên đất nước, nên vua phái các quan đi trấn nhiệm ở các trấn, phủ, huyện…, để thay mặt vua mà cai quản đất nước và huấn dụ nhân dân. Các quan là những công chức, ăn lương của triều đình, chứ các trấn, phủ, huyện không là của riêng của họ, mà của chung cả đất nước.
Vậy căn bản của chế độ Phong Kiến là chế độ Quân Chủ, nhưng nhiều chủ có đặc quyền, đặc lợi rất lớn, rồi ganh ghét nhau, đố kị nhau. Mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy chiếm, sinh ra chiến tranh loạn lạc khắp nơi, chỉ làm cho dân khó yên ổn làm ăn, mà phải phục dịch, đầu quân, đói khát, chết chóc. Một chế độ đáng bãi bỏ thật.
Nước Việt Nam chúng ta có chế độ Phong Kiến không ?
Nước Việt Nam chúng ta, trước các nhà Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và các nền Cộng Hòa, tuy đã ” lập quốc “, tuy đã có những dấu ấn riêng biệt, khác với người Trung Hoa, nhưng chúng ta bị ” Bắc Thuộc ” trên 1 000 năm, mặc dù có những cuộc nổi dậy của các Bà Triệu, Bà Trưng, hay Lý Bôn. Chính Ngô Quyền, vì tư thù, đánh quân Nam Hán, năm 938, mà đã chấm dứt được ách lệ thuộc nước ta với nước Tàu. Nền tự chủ hoàn toàn của nước ta bắt đầu từ đấy. Nhưng liền sau đó, vì nền tự chủ đang còn phôi thai, rồi lâm vào cảnh gian thần ấu chúa, nên sinh ra cái loạn 12 Sứ Quân. Phải đợi đến năm 1010, Thái Tổ Lý Công Uẩn mới lập ra một quốc gia thực sự, với chính thể Quân Chủ, có kỷ cương, có triều chính, có văn hóa và đặt nền nếp cho nước ta từ đó về sau. Nền Quân Chủ Tự Chủ Việt Nam đã tồn tại từ năm 1010 cho đến năm 1945, và sau đó là các chính thể Cộng Hòa.

Trong các Triều Đại Việt Nam, ta thấy các vua có phong tước cho các công thần hay cho con cháu, nhưng đó chỉ là những phần thưởng danh dự, chứ không có ban đất đai cho ai bao giờ, như trong chế độ Phong Kiến. Lý Thường Kiệt được phong là Việt Quốc Công, Trần Quốc Tuấn được phong là Hưng Đạo Vương, vì các vị có công rất lớn với Quốc Gia. Có chăng, các vị được vua ban cho một mảnh đất nhỏ để xây nhà ở, mà theo điển lễ gọi là Phủ, thế thôi. Sau nầy có các công thần lớn, cũng vậy, như Văn Trinh Công Chu Văn An, Dĩnh Thành Hầu Lê Quý Đôn…
Dưới triều Nguyễn, đôi khi lấy tên, rồi thêm một vài mỹ tự mà phong cho các công thần, như các cụ Thành Tín Hầu Trần Văn Thành, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, hay lấy tên huyện, tên phủ mà phong, như hai nhà thơ mà nhiều người biết đến là Tùng Thiện Vương Miên-Thẩm, Tuy Lý Vương Miên-Trinh, hay như Anh Sơn Quận Công Hồng-Phi (sau khi mất, được phong tặng Vĩnh Quốc Công), Gia Hưng Vương Hồng-Hưu… Huyện Tùng Thiện thuộc phủ Vĩnh Tường (Sơn Tây), huyện Tuy Lý thuộc phủ Hàm Thuận (Khánh Hòa), phủ Anh Sơn là một trong sáu phủ của tỉnh Nghệ An, phủ Gia Hưng là một trong bốn phủ của tỉnh Hưng Hoá… Tôi chắc là các hoàng tử Miên-Thẩm, Miên-Trinh, Hồng-Phi, Hồng-Hưu, cả đời chưa bao giờ bước chân đến hai huyện Tùng Thiện, Tuy Lý, hai phủ Anh Sơn, Gia Hưng, nói chi đến chuyện được ban cho đất đai như dưới chế độ Phong Kiến ! Có chăng thì cũng được cho một miếng đất nhỏ để xây phủ. Phải nói ngay, là có những phủ, con cháu phải mua đất lấy, để xây phủ mà thờ Ông Bà, nhất là phủ của các hoàng tử không con. Sau khi mất, con hay cháu của các hoàng tử anh em, xin qua làm con hay cháu kế tự (quá kế) và phải mua đất để xây phủ thờ, như Phủ Vĩnh Quốc Công.
Cao Thế Dung, tác giả của nhiều cuốn sách viết về sử cận đại Việt Nam, nói chế độ Quân Chủ Việt Nam là chế độ ” Quân Chủ Tôn Quân Tập Truyền “. Có người cho là hơi quá đáng, nhưng thật sự cũng không phải là sai. Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Nguyễn Thế Tổ… được tôn lên làm vua, hoặc do đình thần nhà Tiền Lê (1010), hoặc do các tướng kháng Minh (1418), hoặc do quần thần cũ của Chúa Nguyễn (1777)… Ngoài ra các vị vua nối nghiệp được chọn lựa rất kỹ lưỡng, không phải con trưởng là được tự động kế nghiệp vua cha. Thái tử được vua chỉ định thế tập, phải được sự đồng ý của các thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu (nếu còn tại thế), của các hàng tông thất (anh em, bà con ruột thịt với vua), của đình thần. Vì theo quan niệm của người xưa, vua phải hiền, phải có tài, phải có đức thì đất nước mới phồn thịnh, nhân dân mới lạc nghiệp an cư.
Còn thời ” Trịnh, Nguyễn Phân Tranh “, trên lý thuyết, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều là ” tôi thần ” của vua Lê. Nhưng trong thực tế, các chúa Trịnh lấy danh nghĩa vua Lê mà cai trị toàn cõi ” Đàng Ngoài “, các chúa Nguyễn thì không không phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp gì với vua Lê cả. ” Đàng Trong ” được các chúa Nguyễn khai phá, ít nhất cũng từ Phú Yên đến mũi Cá Mâu, phần đất mà lúc trước, không thuộc về Đại Việt do nhà Lê, hay các triều trước cai quản. Thời bấy giờ ” Đàng Ngoài ” và ” Đàng Trong ” được xem như hai quốc gia độc lập riêng biệt. Vậy ” Trịnh, Nguyễn Phân Tranh ” không phải là một chế độ Phong Kiến của Đại Việt.
Nền Quân Chủ xưa của Việt Nam, bất kỳ dưới triều đại nào, ngay cả trong thời kỳ ” Đàng Trong, Đàng Ngoài ” cũng không hề có cái nạn chiếm hữu nô lệ.
Lược trích từ bài “Có nên dùng hai chữ ” Quân Chủ ” thay cho hai chữ ” Phong Kiến ”
để nói đến lịch sử Việt Nam trước thời thành lập nền Cộng Hoà chăng ?”
của tác giả Nguyễn Vĩnh-Tráng

Nhiều vấn đề của nước Âu Lạc cho đến nay đã được làm sáng tỏ ít nhiều, nhưng vẫn chưa đầy đủ về lịch sử – kinh tế – xã hội của quốc gia cổ đại từ hơn 2.200 năm trước. Để làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh của nước Âu Lạc, cần nêu lên một số thành tựu rực rỡ của quốc gia cổ xưa này.
Công nghệ luyện đúc đồng phát đạt
Nền văn hóa khảo cổ học Đông Sơn phân bố khắp lãnh thổ miền Bắc nước ta kéo dài từ suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến các năm SCN, mà tiêu chí là công nghệ luyện đúc đồng đạt đến trình độ điêu luyện
Các trung tâm lớn của văn minh Đông Sơn có nhiều, nhưng những địa danh liên quan đến Thục Phán – Âu Lạc lại nổi trội hơn hết, đó là Đào Thịnh – Yên Bái với sưu tập hiện vật đồ đồng đa dạng, trong đó có thạp đồng Đào Thịnh và nhiều trống đồng Đông Sơn. Đó là Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, lại là địa danh văn minh Đông Sơn xuất sắc vùng hạ lưu sông Hồng phía dưới Việt Trì.
Ở Cổ Loa có nhiều trống đồng Đông Sơn thuộc trống loại I Hêgơ, có hàng vạn mũi tên đồng. Cũng tại khu vực Cổ Loa tìm thấy nhiều lưỡi cày đồng. Có lẽ chưa có một địa danh văn minh Đông Sơn nào lại quy tụ nhiều loại hiện vật có giá trị tiêu biểu như ở Cổ Loa.
Chinh phục đồng bằng sông Hồng
Việc dời đô về Cổ Loa, bỏ qua Việt Trì – Phú Thọ thời Hùng Vương chứng tỏ rằng, cư dân Việt cổ của nước Âu Lạc đã chinh phục được đồng bằng sông Hồng. Điều lý thú là hàng loạt lưỡi cày đồng tìm thấy ở Cổ Loa, chứng tỏ rằng lúc đó nghề nông làm lúa nước bằng cày (có thể do người kéo hay súc vật kéo) đã phát triển.
Cây lúa hạt thóc là lương thực chủ đạo của cư dân Âu Lạc, những ruộng lúa ven châu thổ sông Hồng đã chín vàng vào mùa khô là điều chắc chắn. Thời Âu Lạc của An Dương Vương đã khác thời Văn Lang của Hùng Vương về lương thực là rõ ràng. Bởi vì thời Hùng Vương đồng ruộng vùng trung du, những đồng bằng hẹp ven sông, lợi dụng thủy triều lên xuống để làm ruộng…
Tất nhiên, kết quả là có hạn. Đến thời An Dương Vương, ruộng đất được cày xới, nghề nông dùng cày hiệu quả hàng chục lần hơn nghề nông dùng cuốc thời Hùng Vương, là một tiến bộ vượt bậc. Với nông nghiệp dùng cày, kinh tế thời Âu Lạc đã đạt đến trình độ cao. Đó là thành tựu rực rỡ của Âu Lạc.
Phát triển đô thị cổ
Với thành Cổ Loa, lâu nay giới nghiên cứu nói nhiều đến ý nghĩa quân sự của tòa thành này. Nhưng điều mà ít người nói đến Cổ Loa là ở vị thế đô thị cổ của nó.
Có thể là trung tâm hành chính không phải là đô thị cổ và trung tâm quân sự chưa phải là đô thị cổ. Nhưng Cổ Loa là đô thị cổ đích thực, bởi trình độ kinh tế thời Âu Lạc đã được thể hiện ở Cổ Loa, từ làng mạc vươn tới đô hội, nơi có tất cả mọi ngành nghề, quay về hướng nam, nơi có đồng bằng màu mỡ, có nhiều con sông nối với Cổ Loa, sông Hồng, sông Cầu…

Ba hạng mục thành tựu rực rỡ của Âu Lạc như vẫn còn đó trong những gì mà người Việt cổ lưu lại cho con cháu, từ truyền thuyết – di tích – hiện vật đến tâm tưởng của mọi thế hệ con cháu của Âu Lạc.
Theo hoangthanhthanglong.vn

Nét đặc trưng của An Nam thời Nguyễn chính là những chiếc khăn vấn, theo nhiều nhận định thì chỉ xuất hiện vào thời kỳ nhà Nguyễn kiểm soát toàn lãnh thổ An Nam.
Ngày nay, chiếc khăn vấn được xem là biểu tượng đặc trưng, theo như cách nói bây giờ, là “thuần Việt”. Dẫu vậy, nhận thức và áp dụng khăn vấn ngày nay lại đi ngược hoàn toàn truyền thống, không phải theo hướng tích cực hơn mà ngày càng trở nên cồng kềnh và phô trương quá mức.
Nguyên nhân cũng vì người hiện đại dần mất đi nhận thức về khăn vấn, điều đáng lẽ không thể xảy ra ở một đất nước “trọng những nét truyền thống văn hóa” như cách bây giờ họ tự hào.
Còn với phụ nữ thì lại đa dạng hơn, nhưng có những đặc trưng. Phần lớn các phụ nữ miền Bắc là luồng tóc thật vào khăn, còn kinh sư lại kiểu vấn Khăn vành, tức là khăn và búi tóc riêng biệt. Tuy nhiên, ở kinh sư thỉnh thoảng vẫn có người búi tóc kiểu miền Bắc và ngược lại.
Riêng phụ nữ miền Nam, rất hiếm ảnh cho thấy họ vấn khăn, mà phần lớn là búi tóc sau gáy.













![Một phụ nữ Bắc Hà, ta thấy rõ cách vòng chèn của [vòng quấn thứ 2] đặt lên trên [điểm tiếp nối giữa tóc và chiếc khăn] ở bên phải đầu người vấn. Đây là một kiểu rất rất thường thấy ở phụ nữ Bắc Hà, một kiểu khác tương tự nhưng vòng quấn thứ 2 lại để ở bên dưới.](https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/14910494_1213711275353140_9121034002375327072_n.jpg?oh=eb6dbc657386a8b6c89804cbbed68133&oe=58CB6DDC)




















































Theo: FB/ngo.dang.thien
Thêm 1 kiểu vấn khăn thời nhà Nguyễn ( Theo Đại Việt Cổ Phong)


Bóng Cờ Lau
Sáng tác: Hoàng Quý
Ta cùng nhau đi
Thăm nơi hùng xưa
Oai linh đứng muôn đời
Giữa nơi sông cùng núi
Và sân đá tường rêu
Rải gan sương cùng mưa
Ngàn bông lau reo đưa
Theo gió chiều phất phới
Hay bóng cờ lau năm xưa còn đâu đây
Kìa bao tiếng trâu xa
Còn vọng trong khói mơ
Dè chừng như tiếng loa trong rừng cây
Hoa Lư ơi !
Non lau còn trong sương gió
Đến muôn đời mà không rứt lời ca
Với tiếng gió Hoa Lư ơi
Muôn năm còn trong sương gió
Đứng oai hùng cùng với nước nhà
====================
Tư liệu lịch sử liên quan
Đinh Bộ Lĩnh (Ất Dậu 925 – Kĩ Mão 979)
Tổ nhà Đinh, ông vốn họ Đinh, tên Hoàng, Bộ Lĩnh là tước quan của sứ quân Trần Lâm phong cho, quê ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), con quan Thứ sử Châu Hoan (Nghệ An) về đời Dương Diên Nghệ là Đinh Công Trứ.

Cha mất sớm, ông theo mẹ là Đàm Thị về quê, nương thân với chú ruột là Đinh Dự, ở chăn trâu. Thường nhóm họp bạn bè lấy lau làm cờ, lập trận đánh nhau, ông tỏ ra có tài chỉ huy. Kết bạn rất thân với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú. Bị người chú ghét đuổi đi, ông sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Lâm ở Bố Hải Khẩu. Ít lâu, được Trần Lâm mến tài gả con cho, ông càng vững bước trên đường sự nghiệp. Không bao lâu, Trần Lâm mất, ông đem quân về giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương, chống nhà Ngô và các sứ quân khác.
Năm Ất Sửu 965 Nam Tấn Vương Xương Văn mất, con là Xương Xí nối nghiệp, quá suy yếu phải về đóng giữ đất Bình Kiều (thuộc Hưng Yên). Ông thừa thế hưng binh đánh lớn, chỉ trong một năm dẹp yên được các sứ quân. Được xưng tụng là Vạn Thắng Vương. Năm Mậu Thìn 968 ông lên ngôi vua, tôn hiệu là Đại Thắng Minh, đặt hiệu nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm Canh Ngọ 970, bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình. Ông truyền cho đúc tiền đồng là tiền tệ xưa nhất ở nước ta, gọi là tiền đồng “Thái Bình”. Ông có công lớn trong việc thống nhất đất nước nhưng về chính trị trong nước lại có phần thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc. Năm Quí Dậu 973 ông sai con là Nam Việt Vương Liễn sang cống nhà Tống, được nhà Tống phong ông làm Giao Chỉ Quận Vương.
Đến năm Kỉ Mão 979, ông và con lớn là Đinh Liễn bị tên hầu cận là Đỗ Thích ám sát chết. Ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi, táng ở núi Mã Yên, xã Trường An thượng, huyện Gia Liễn, tỉnh Ninh Bình, đền thờ ông cũng xây dựng gần đấy.
Theo lichsuvietnam.vn

Trưng Nữ Vương
Thẩm Oánh
Trưng Nữ-Vương lau phấn son mưu thù nhà,
Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca,
Thu về giang-san cho lừng-uy gái Nam,
Bầu-trời Á sáng ngời ánh quang.
Nợ nước phó tay người nhi-nữ,
Tình riêng cứu nguy cho toàn-dân,
Một lòng trung-trinh son-sắt bên Hát-giang sóng rền.
Trưng Nữ-Vương dày đức cao ơn,
Xin ứng-linh ban phúc cho giang-san hoà-bình.
Trưng Nữ-Vương, nước-non còn đó,
Giống Lạc-Hồng quyết kiên-lòng bồi-đền non-sông.
Hồn quốc gia mờ phai má-đào,
Nhà Việt lặng buồn, rầu-rĩ, sầu-đau,
Xui lòng nhi-nữ mau phục thù,
Mê-Linh ngợp trời cờ Việt sóng xô.
Mang phấn-son to màu sơn-hà,
Lòng vì nước, vì nhà.
Cho Việt Nam muôn đời hùng-cường,
Nhờ ơn-đức Trung-Vương.
Trưng Nữ-Vương lau phấn son mưu thù nhà,
Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca,
Thu về giang-san cho lừng-uy gái Nam,
Bầu-trời Á sáng ngời ánh quang.
Nợ nước phó tay người nhi-nữ,
Tình riêng cứu nguy cho toàn-dân,
Một lòng trung-trinh son-sắt bên Hát-giang sóng rền.
Trưng Nữ-Vương dày đức cao ơn,
Xin ứng-linh ban phúc cho giang-san hoà-bình.
Trưng Nữ-Vương, nước-non còn đó,
Giống Lạc-Hồng quyết kiên-lòng bồi-đền non-sông.
======================
Tư liệu lịch sử về Hai Bà Trưng
– Trưng Trắc và Trưng Nhị – là hai vị nữ anh hùng dân tộc đã có công phát động và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa có quy mô rất lớn, lật nhào ách đô hộ của quân Đông Hán (cũng tức là Hậu Hán). Hai Bà đã nhanh chóng giành được thắng lợi, lập nên một chính quyền độc lập và tự chủ. Sử cũ đã viết những lời hùng tráng, ca ngợi khí phách và tài thao lược của Hai Bà Trưng

Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn Tây nổi áng phong trần
Ấm ầm binh mã tới gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
(Nguyên tác chữ Nôm. Bản phiên âm của Nguyễn Khắc Thuần)
Chính sử của nhà Hán lúc bấy giờ cũng phải ghi là “cả bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều nhất tề hưởng ứng”. Gần hai ngàn năm qua, hình ảnh đầy kiêu hãnh của Hai Bà Trưng vẫn sống mãi trong ký ức tôn kính bất diệt của các thế hệ nhân dân ta.