Blog

  • Ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang

    Ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang

    Khoảng thế kỉ VII TCN, các vua Hùng đã dựng nên nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ nước ta. Đó là nhà nước Văn Lang. Quốc hiệu Văn Lang có ý nghĩa như thế nào? Đó là câu hỏi mà mỗi người con đất Việt muốn tìm hiểu khi nhìn lại cội nguồn dân tộc.

    Nước Văn Lang năm 500 TCN
    Bản đồ Nước Văn Lang năm 500 TCN

    Hiện tại, ít nhất có ba cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang:

    Cách thứ nhất cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm. Sách Đới Kí của Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là “Điêu Đề” cũng không ngoài ý nghĩa này (Điêu nghĩa là chạm, xăm; đề là cái trán. Điêu Đề là xăm hình vào trán. Thực ra lúc bấy giờ, dân ta không chỉ xăm hình vào trán).

    Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm. Sách của Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là cũng không ngoài ý nghĩa này ( nghĩa là chạm, xăm; là cái trán. Điêu Đề là xăm hình vào trán. Thực ra lúc bấy giờ, dân ta không chỉ xăm hình vào trán).

    Cách thứ hai cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục nhuộm răng và ăn trầu nên mới có tên nước là Văn lang. Những người chủ trương theo cách này giải thích: hai chữ “tân lang” (nghĩa là cây cau) nói trại ra thành Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích thứ hai này chính là tính phổ biến và sự trường tồn của tục nhuộm răng và ăn trầu. Tuy nhiên, “tân lang” là từ gốc Hán mà từ gốc Hán chỉ mới xuất hiện ở nước ta bắt đầu từ thời Bắc thuộc, tức là sau sự khai sinh của Văn Lang rất nhiều thế kỉ. Vì vậy, cách giải thích này xem ra khó có thể thuyết phục được nhiều người.

    Vì tổ tiên ta có tục nhuộm răng và ăn trầu nên mới có tên nước là Văn lang. Những người chủ trương theo cách này giải thích: hai chữ (nghĩa là cây cau) nói trại ra thành Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích thứ hai này chính là tính phổ biến và sự trường tồn của tục nhuộm răng và ăn trầu. Tuy nhiên, là từ gốc Hán mà từ gốc Hán chỉ mới xuất hiện ở nước ta bắt đầu từ thời Bắc thuộc, tức là sau sự khai sinh của Văn Lang rất nhiều thế kỉ. Vì vậy, cách giải thích này xem ra khó có thể thuyết phục được nhiều người.

    Cách thứ ba cho rằng: Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông. Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này là kết quả nghiên cứu của ngành Ngữ âm học lịch sử. Theo đó thì:

    Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông. Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này là kết quả nghiên cứu của ngành . Theo đó thì:
    1. Văn là người, nhóm người, tộc người, cộng đồng người,…
    2. Lang là sông, đồng nghĩa với giang, với xuyên (trong âm Hán – Việt), với khoảng (trong tiếng Lào) và với kông (trong tiếng Khmer).

    Ghép lại, Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông.

    Lập luận của những người chủ trương giải thích theo cách thứ ba được củng cố thêm bởi kết quả của hàng loạt những cuộc khai quật khảo cổ dọc theo lưu vực sông Hồng và sông Mã. Bởi lẽ này, cách giải thích thứ ba được nhiều người tán thành nhất.

  • Quốc huy Việt Nam xưa và nay

    Quốc huy Việt Nam xưa và nay

    Quốc huy Việt Nam – một sản phẩm của sáng tác hội hoạ, là biểu tượng cô đọng, súc tích và đầy đủ về đất nước và con người Việt Nam, nó hàm chứa khát vọng tha thiết của một dân tộc yêu chuộng hoà bình và khẳng định chủ quyền thiêng liêng của quốc gia độc lập. Quốc huy của chúng ta thật đẹp về hình thức, hàm súc về nội dung, thật sự không thua kém bất cứ quốc huy nào trên thế giới. Tác giả Quốc huy từ mấy chục năm nay được xác định là của Cố hoạ sĩ Trần Văn Cẩn.

    Mời bạn click vào từng ảnh để xem hình Quốc Huy đầy đủ kích thước!

    Quốc huy Việt Nam XHCN
    Mẫu quốc huy chuẩn

    So sánh với mẫu quốc huy Việt Nam chính thức, các hình quốc huy đã được sử dụng thường có những sai sót như:

    – Hình quốc huy chưa đúng hình tròn. Bố cục thiếu cân đối. Vị trí, tỷ lệ và các hình tượng trong quốc huy chưa chính xác.

    – Vị trí, hình dáng, đường nét các bông lúa, lá lúa, hạt lúa chưa đúng. Hạt lúa lúc tròn, lúc vát nhọn, số lượng hạt lúa khi thừa khi thiếu. Khoảng cách giữa hai đầu các bông lúa lúc xa lúc liền nhau. Các cọng bông lúa kết thành đế quốc huy xòe quá to hoặc bị thu nhỏ, mất cân đối.

    – Chiều ánh sáng ngôi sao của mẫu quốc huy Việt Nam chính thức, chiếu từ bên phải sang, theo bản đồ Việt Nam là ánh sáng ban mai từ biển Đông chiếu vào. Trong hình quốc huy sai, ánh sáng chiếu ngược từ phía tây ở bên trái sang vào buổi chiều, phần bóng ngôi sao in sai thành màu quá đậm hoặc màu đỏ.

    – Bánh xe răng cưa sai hình và chỉ có 5, 7, 9 răng (bánh xe quốc huy chuẩn có 10 răng). Trong bánh xe lại có các vành màu đỏ.

    – Băng đỏ có tên nước về hình dáng, góc độ uốn lượn chưa đúng.

    Quốc huy trên bằng khen của Bộ Nội vụ

    Quốc huy trên huân chương, bằng giải thưởng Nhà nước
    Quốc huy trên huân chương, bằng giải thưởng Nhà nước
    Quốc huy trên trụ sở UBND quận Tây Hồ
    Quốc huy trên trụ sở UBND quận Tây Hồ
    Quốc huy trên trụ sở UBND TP Hà Nội
    Quốc huy trên trụ sở UBND TP Hà Nội
    Quốc huy trên trụ sở Viện KSND tỉnh Quảng Ninh
    Quốc huy trên trụ sở Viện KSND tỉnh Quảng Ninh
    Quốc huy trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
    Quốc huy trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
    Quốc huy trên trụ sở Bộ Ngoại giao
    Quốc huy trên trụ sở Bộ Ngoại giao
    Quốc huy trên trụ sở TAND TP Hà Nội
    Quốc huy trên trụ sở TAND TP Hà Nội
  • Lịch sử chùa Tĩnh Lâu ( chùa Sải )

    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu ( chùa Sải )

    Chùa Sải, tên chữ Tĩnh Lâu tự, tồn tại từ thế kỷ 16, được công nhận Di tích lịch sử – văn hóa theo Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28-6-1996 của Bộ Văn hóa – Thông tin.
    Địa chỉ: góc phố Trích Sài – Võng Thị, thuộc làng Hồ Khẩu, phường Bưởi, quận Tây Hồ, tp Hà Nội. Toạ độ: 21°3’0″N 105°48’46″E, cách Hồ Gươm khoảng 6km về hướng tây-bắc; gần các bến xe bus số 13, 25, 55 dừng trên phố Lạc Long Quân và số 45 dừng trên phố Thuỵ Khuê.
    Lược sử
    Chùa Tĩnh Lâu tọa lạc trên một khu đất cao ở cuối làng Hồ Khẩu (Miệng hồ), mặt chính điện nhìn về phía sông Hồng ở hướng đông-bắc. Dưới thời Lê, nơi đây thuộc huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, kinh thành Thăng Long. Tương truyền ban đầu chỉ có một am nhỏ thờ các vương tôn quí tộc thời Lý, về sau am mới trở thành chùa thờ Phật. Vì do sư sãi trông coi nên còn có tên là chùa “Sãi”, lâu dần dân làng gọi chệch ra chùa “Sải”.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Tam quan chùa Tĩnh Lâu trong dịp Tết. Photo NCCong ©1-2012
    Theo văn bia để lại, năm Mậu Ngọ (1618) khi Hà Đông có hạn lớn, các quan nội phủ theo lệnh chúa Trịnh Tùng đã về chùa làm lễ cầu đảo được linh ứng. Năm Canh Thân (1620), Trịnh Tùng xuống chiếu ban vàng bạc và thu hồi 10 công mẫu đất hương hoả của chùa làng đã bị một số người có thế lực chiếm dụng để trả lại cho hai chùa Chúc Thánh, Thanh Lâu.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Tượng Phật A Di Đà ở sân trước tiền đường chùa Tĩnh Lâu. Photo NCCong ©1-2012
    Chùa từng mang tên chữ là “Thanh Lâu tự” trong suốt hơn hai thế kỷ, trên quả chuông chùa đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) và tấm bia hậu dựng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) đều vẫn khắc tên như thế. Nhưng trên một tấm bia khác ghi việc tu bổ chùa vào năm Tự Đức thứ 14 (1862) đã thấy thay bằng chữ “Tĩnh Lâu tự” và tên đó được dùng cho đến ngày nay.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Chùa Tĩnh Lâu nhìn từ vệ tinh
    Kiến trúc
    Tam quan chùa được làm theo kiểu vòm cuốn với kiến trúc hai tầng, tám mái lợp ngói ống giả, đầu đao cong thanh thoát nhẹ nhàng dưới tán lá xanh của một cây bồ đề to lớn bên bờ Hồ Tây mênh mông. Sau tam quan là một sân rộng, ở giữa có một pho tượng Phật A Di Đà trắng toát trong tư thế kiết già toạ sen trên bệ cao đặt trước giả sơn. Bên trái sân là vườn tháp mộ và ngõ vào khu vực phía sau chùa. Từ sân lên hiên tiền đường có hai bậc thềm rộng, ở giữa là một thềm nghiêng với đôi rồng đá chầu hai bên.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Vườn tháp cạnh ngõ vào chùa Tĩnh Lâu. Photo NCCong ©4-2014
    Năm 2006, Ni sư trụ trì Thích Đàm Chung làm lễ khởi công xây mới tòa Tam bảo với qui mô hai tầng. Toà nhà có kết cấu theo kiểu truyền thống hình chuôi vồ, gồm năm gian tiền đường và bốn gian hậu cung. Vật liệu xây dựng chủ yếu là bê tông cốt thép làm sàn và hơn 100m3 gỗ lim làm khung. Giảng đường, nhà ăn, trường học nằm ở tầng dưới, điện Phật đặt ở tầng trên. Khung đỡ gồm 20 cột gỗ lim đường kính 0,4m, cao 5m. Lan can gồm 42 trụ đá được chạm khắc hình tứ linh, tứ quý, thể hiện 42 thủ ấn của đức Quán thế âm Bồ tát.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Toà Tam bảo chùa Tĩnh Lâu nhìn từ giả sơn. Photo NCCong ©4-2014
    Mái toà Tam bảo lợp ngói mũi hài, bờ nóc ở hai đầu kìm đắp hai dấu vuông, bờ dải phía dưới xây theo kiểu tam cấp, ở trên trang trí các hoa văn hình chữ triện. Phía trước hiên có hai cột trụ xây nối liền với tường hồi của gian tiền đường, trên đỉnh cột có đắp đôi nghê chầu. Dưới con nghê là mui luyện, lồng đèn và các hình đầu rồng, hổ phù, hoa lá… Thân trụ hình vuông, các mặt có đề câu đối chữ Hán. Sau lưng toà Tam bảo là một sân rộng, hai bên có nhà thờ Mẫu và Trai đường. Hậu đường nằm ở cuối sân, bao gồm hai nếp nhà xây theo hình chữ Nhị. Năm 2014 chùa bắt đầu sửa sang khu vực này và xây tường bao toàn bộ khuôn viên chùa.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Khu vực phía sau chùa Tĩnh Lâu. Photo NCCong ©4-2014
    Di vật
    Trên tam quan chùa có đôi câu đối:
    “Hộ thượng Tĩnh Lâu thuý trúc hoàng hoa giai Phật tử
    Môn tiền sạn phát trường tùng tế thảo thị chân thư”.
    Tạm dịch là:
    “Trên gác Tĩnh Lâu, trúc biếc cúc vàng đều Phật tử
    Trước cửa thờ tự, tùng già cỏ mịn chính chân thư.”
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Tam quan chùa Tĩnh Lâu nhìn từ trong ra. Photo NCCong ©4-2014
    Trong chùa hiện lưu giữ được những hiện vật quý hiếm, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 16-17. Các pho tượng Phật giáo được tạo tác công phu, trau chuốt, đường nét thanh thoát, kế thừa tinh tuý của nền điêu khắc thời Lê-Mạc. Đặc biệt ở chính điện có tòa Cửu Long trông như chiếc lọng che (bảo cái), được xem là một tác phẩm độc đáo, khác với hình dáng thường thấy.
    Lịch sử chùa Tĩnh Lâu, chùa Sải
    Tiền đường chùa Tĩnh Lâu. Photo NCCong ©4-2014
    Ba pho tượng Phật Tam thế trong chính điện được tạc gần bằng kích cỡ của người thật, trong tư thế ngồi kiết già trên đài sen ba lớp với khuôn mặt thon thả, sống mũi thẳng, miệng hơi mỉm cười và đôi mắt khép hờ như đang nhìn xuống. Ngoài ra còn có 38 pho tượng nữa, trong đó bộ tượng Phật A Di Đà cao 1,34m là lớn nhất.
    Chùa Tĩnh Lâu còn lưu giữ được một số di vật có giá trị khác. Ngoài 15 tấm bia đá cùng nhiều hoành phi và câu đối cổ, tại cửa ra vào có treo quả chuông đồng đề chữ “Thanh Lâu thiền tự”, do thiền sư Hải Vĩnh và một nữ hội chủ (thế danh Đồng Thị Đính, pháp hiệu Diệu Nương) hưng công cho đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 7 dưới thời Tây Sơn./.

    Theo vanhien.vn

  • Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Không chỉ là lời kể truyền khẩu, câu chuyện về Mai An Tiêm còn được nhiều thư tịch cổ đề cập tới dù có khác biệt đôi chút nhưng nhìn chung nội dung tương đồng.

    Theo như Lĩnh Nam chích quái liệt truyện thì ngày xưa, đời Hùng Vương có một người ngoại quốc, mới được 7 tuổi theo thuyền buôn từ phương Nam đến nước Văn Lang, vua Hùng mua về làm đầy tớ.

    Khi trưởng thành, cậu bé ngày nào nay đã là một chàng trai cao lớn, diện mạo đoan chính, thông minh, tuấn tú; vua Hùng rất yêu mến mới nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai Yến, tên chữ là Mai An Tiêm và chọn một cô gái xinh đẹp, hiền thục gả cho làm vợ, sau sinh được một trai.

    Nhờ được vua yêu, tin dùng nên dần dần Mai An Tiêm thành phú quý, ai cũng muốn lấy lòng, thường đến dâng lễ vật không thức gì là không có; từ đó Mai An Tiêm sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng: “Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không cần nhờ vào sự ban ơn của vua”.

    Hùng Vương nghe được, nổi giận nói rằng:

    “Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra nơi không có người sinh sống để coi thử nó có còn cái vật tiền thân nữa hay không?”.

    Nói rồi ra lệnh đày Mai An Tiêm và vợ con ra một hòn đảo hoang ở ngoài cửa biển Nga Sơn, bốn phía không có dấu chân người, chỉ cấp cho lương thực đủ dùng trong 4-5 tháng mà thôi, ăn hết là chết đói.

    Vào ngày nọ, bỗng thấy một con bạch hạc lớn từ phương tây bay lại, đậu lên mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì 6-7 hạt màu đen rơi trên mặt cát, một thời gian sau hạt đơm hoa kết trái; chim chóc kéo đến mỏ khoét để ăn.

    An Tiêm thấy thế mừng rỡ nói: “Chim ăn được tất người ăn được. Đây chính là thứ mà trời ban cho để nuôi ta đó”.

    Quả thật, trái đó ăn vào mùi vị thơm tho ngọt ngào, mát ruột vô cùng. Mỗi năm trồng tỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi cho các thuyền buôn qua lại vùng biển đảo đó lấy lúa gạo nuôi vợ con. Có người hỏi Mai An Tiêm đây là quả gì, chợt nhớ đến chuyện chim tha hạt từ phương Tây đem đến nên đặt tên là quả Tây qua.

    Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Lâu ngày, Hùng Vương nhớ đến người con nuôi của mình bèn sai người đến chỗ hòn đảo nơi Mai An Tiêm ở để xem có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại mọi chuyện với vua. Vua Hùng than thở hồi lâu mới nói rằng:

    – Lời nói của nó năm xưa tuy tự mãn nhưng quả thực là đúng như vậy!

    Sau đó vua Hùng cho gọi Mai An Tiêm về, trả quan chức lại và ban cho thêm của cải, lại đặt tên chỗ vợ chồng Mai An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”.

    Hòn đảo nơi Mai An Tiêm bị đày đến sau này dần dần được bồi đắp trở thành đất liền, người dân đến sinh sống ngày một đông, dựng thành làng ấp và đặt tên là làng Mai An, còn gọi là Mai Thôn (nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa).

    Tương truyền vì là vùng đất gốc nên là nơi trồng dưa ngon nhất nước; người dân ở đây tôn vợ chồng Mai An Tiêm là “Bố Cái dưa hấu” hay “ông bà tổ dưa tây”. Sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện cho biết khi lễ bái đều lấy quả dưa Tây qua làm đồ tế tự.

    Còn về xuất xứ tên gọi, quả dưa ban đầu có tên là Tây qua vì được chim tha từ phía Tây đến. Chuyện xem chừng không có gì đáng lưu ý nhưng thực ra xét theo khoa học là hoàn toàn có lý và logic vì nguồn gốc của loại quả này ở vùng Tây Á có tên Ả-rập là Baticha, tiếng Pháp là Pasteque.

    Còn về sau được gọi là dưa hấu, theo một số bản chép về câu chuyện này thì khi được về đất liền, Mai An Tiêm đã dâng lên vua Hùng một thuyền đầy dưa, vua ăn thấy ngọt mát thấu dạ nên truyền đặt là dưa thấu, chữ thấu ở đây còn hàm ý vua đã thấu hiểu được sự cố gắng và tấm lòng của Mai An Tiêm. Dưa thấu sau được đọc chệch gọi là dưa hấu.

    Lời bình

    Ý nghĩa của về Mai An Tiêm và sự tích quả dưa hấu chính là lời ngợi ca bản lĩnh, ý chí vượt khó khăn để sinh tồn. Bằng trí tuệ và sức lao động con người thời Hùng Vương, mà Mai An Tiêm là hình tượng tiêu biểu đã xây dựng, vun đắp lên một đời sống vật chất đầy đủ, sung túc.

    Theo trithuctre

  • An Dương Vương trong tâm thức người Việt

    An Dương Vương trong tâm thức người Việt

    An Dương Vương là ai: Tiểu sử, sự nghiệp, cuộc đời và dấu ấn cá nhân?

    “Chết thì bỏ con bỏ cháu

    Sống thì không bỏ mồng Sáu tháng Giêng”

    Câu ca với những lời lẽ quả quyết nhưng lại rất mộc mạc, hồn nhiên ấy là nói về tình cảm thiết tha với ngày Hội làng của dân xã Cổ Loa và 7 xã xung quanh, thuộc huyện Đông Anh, ngoại ô Hà nội. Tâm điểm của lễ hội là tòa Thành ốc (Cổ Loa) và tâm linh của lễ hội hướng về An Vương Vương. Đó là những di tích và nhân vật gắn liền với một thời đoạn lịch sử vẫn còn chất đầy huyền thoại tiếp nối thời đại các vua Hùng cũng vần vũ những đám mây ngũ sắc của những huyền thoại.

    An Dương Vương là ai

    Nếu thời đại các vua Hùng còn định vị đuowjc bởi địa danh Phong Châu mà các thế hệ sau tôn phong là Đất Tổ và xây dựng ngôi Đền thờ Tổ thì tên tuổi của An Dương Vương còn lại một chứng tích vật chất đầy sức thuyết phục, cũng là chứng tích vật chất về một cái mốc đầu tiên ghi nhận Hà Nội hôm nay bao gồm cả vùng đất từng là kinh đô trước khi  Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long hơn một thiên niên kỷ.

    Về An Dương Vương, “Từ điển bách khoa Việt Nam” viết một cách ngắn gọn: “tên thật là Thục Phán, người sáng lập và là vua nước Âu Lạc. Có giả thiết cho là thủ lĩnh người Tây Âu ở vùng núi phía Bắc đã từng xung đột với vua Hùng và cũng là người chống Tần thắng lợi (214 – 208 trước CN), nối ngôi vua Hùng, hợp nhất Tây Âu và Lạc Việt thành nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa. Tục truyền An Dương Vương được rùa thần giúp đỡ cho móng làm lẫy nỏ rất hiệu nghiệm, nên đã đánh bại nhiều lần xâm lược của Triệu Đà. Sau đó Triệu Đà dùng mưu (cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn với con gái An Dương Vương là Mỵ Châu) lấy cắp lẫy nỏ thần rồi mới đem quân sang đánh (179 trước CN) An Dương Vương thua chạy đến Nghệ An, nhảy xuống biển tự tử”

    Lời giảng nghĩa ngắn ngủi ấy cố gắng khẳng định một nhân vật có thật và một thời đại có thật trong lịch sử dân tộc ta là cái gạch nối giữa thời đại các vua Hùng với những thời đại sau đó trong dòng mạch liên tục của một quốc gia tự chủ và đã tạo dựng  được một nền văn minh có bản sắc riêng biệt bên cạnh một nền văn minh lớn cũng là một mối thử thách thường trực và khủng khiếp từ phương Bắc tràn xuống. Nhưng trong lời giảng nghĩa ấy vẫn phải nhắc đến những từ “giả thiết”,  “tục truyền”…

    Bởi lẽ, từ nhiều thế kỷ trước trong các cuốn sách như “Viện điện u linh”; “Lĩnh Nam chích quái”, “đại Việt sử ký toàn thư” hay các tác phẩm của Nguyễn Trãi (Dư địa chí). Phan Huy Chú (lịch triều hiến chương loại chí) đều nhắc tới An Dương Vương họ Thục tên Phán là con của vua Thục (đất Tứ Xuyên – Trung Quốc ngày nay) vì xung khắc của tổ phụ với Hùng Vương của nước Văn Lang mà mang quân đánh chiếm, lập nước Âu Lạc, xưng vương và xây thành Cổ Loa. Nhưng rồi cuối thế kỷ XIX, một số sử thần lại cho rằng Âu Lạc và người đứng đầu Thục Vương không dính dáng gì đến nước Ba Thục mà chỉ là một thế lực ở lân cận “gắn liền với nước Văn Lang”. Sang đầu thế kỷ XX, có học giả còn cực đoan hơn khi cho rằng” nước Nam không có An Dương Vương nhà thục” (Nguyễn Văn Tố” còn một số sử gia người Pháp lại khẳng định “Trước nhà hán không có lịch sử An Nam”…

    Nhưng trong tâm thức của nhiều người Việt Nam nhất là của dân “bát xã hộ nhi” (tám làng thờ cúng và tham gia tế lễ trong ngày hội ở Chùa Thượng) thì An Dương Vương chính là Vua Chủ ăn sâu vào

                       (Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm – Số 4/2001)

    An Dương Vương xây thành Cổ Loa

    Sau chiến thắng vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa.

    Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành. Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân Rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa. Sự thực truyền thuyết đó như thế nào?
    Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy thành Cổ Loa được xây bằng đất ở chính địa phương. Thành có 9 vòng. Chu vi ngòai 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1.6km… Diện tích trung tâm lên tới 2km2 . Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 6-12m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Xem vậy công trình Cổ Loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Chính vì vậy, việc xây dựng thành Cổ Loa cực kỳ khố khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Nhưng điều đáng tự hào là cuối cùng thành đứng vững. Thục An Dương Vương đã biết dựa vào những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa thần chính là bí mật tổ tiên khám phá, xử lý. Ngày nay, khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao nhiêu đá để xử lý cho công trình? Kỹ thuật xếp đá? Đây quả là một kỳ công.

    Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc, Tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê – Hòang Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phướng đóng thuyền chiến.

    Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến thành quân cảng. Rồi nhân dân được điều tới khai phá rừng đa ( Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)v.v… thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ loại, bàn tay sáng tạo của cha ông ta đã chế tạo ra mỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đã được vua Thục khuyến khích. Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật tinh vi, dùng nỏ liên châu đã được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây.

    Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ gò cao nhô hẳn ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ.
    Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ vĩ của dân tộc.

  • Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    ‘SỰ KIỆN VỊNH BẮC BỘ’ 1964

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Ngày 2/8/1964, tàu khu trục USS Maddox (ảnh) đã xâm nhập sâu vào vùng Vịnh Bắc Bộ và đụng độ với ba tàu phóng ngư lôi của hải quân miền Bắc Việt Nam. Biến cố này được biết đến như sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Hình ảnh ba tàu chiến của miền Bắc Việt Nam do hải quân Mỹ ghi lại từ tàu Maddox.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Tàu phóng lôi P-4 của Việt Nam.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Trong trận hải chiến, tàu Maddox sử dụng hơn 280 đạn pháo cùng bốn máy bay tiềm kích USN F-8 Crusader oanh tạc các tàu Việt Nam, khiến 3 tàu bị hư hỏng và bốn thủy thủ hi sinh, 6 người bị thương. Ảnh: Khói bốc lên từ các tàu của Việt Nam sau khi trúng đạn Mỹ.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Hình ảnh một con tàu của Việt Nam bốc cháy do chiến đấu cơ Mỹ chụp lại

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Về phía Mỹ có 1 máy bay bị hư hỏng, tàu khu trục bị một vết đạn 14,5 mm, không có tổn thất về người. Ảnh: Thiếu tá Dempster M. Jackson, người chỉ huy tàu Maxdox của Mỹ bên vết đạn bắn.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Sơ đồ của Hải quân Mỹ giải thích các biến cố của sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 1.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Một tài liệu lưu trữ của chính phủ Mỹ về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 2”. Trong một cuốn băng thu âm được giải mật năm 2001, tổng thống Lyndon B. Johnson thừa nhận rằng vụ thứ hai trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa hề xảy ra.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara trình bày về vụ việc xảy ra trong Vịnh Bắc Bộ (sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần 2) ngày 4/8/1964 trong cuộc họp báo nửa đêm tại Lầu Năm Góc. Vụ việc này về sau được khẳng định chỉ là sự “nhầm lẫn” về tình báo của Mỹ, nhưng lại là cái cớ để Mỹ mở màn chiến dịch dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.

    Hé lộ ảnh lịch sử sự kiện Vịnh Bắc Bộ

    Ngay sau khi xảy ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, hàng nghìn người Mỹ đã xuống đường phản đối sự dối trá của Lầu Năm Góc.
  • “Phiên dịch” tiếng địa phương Huế

    “Phiên dịch” tiếng địa phương Huế

    Các bạn thường đùa rằng, tiếng Huế là “chi, mô, răng,rứa”, nhưng để hiểu và sử dụng nằm lòng các từ này thì cũng không phải đơn giản.

    tu-dien-tieng-hue-mo-te-rang-rua

    Người Huế hỏi: “Mi đi mô rứa?”, nếu so với ngôn ngữ chuẩn thì các bạn phải hiểu là “Mày đi đâu thế?”
    Chữ “mi”, các bạn tạm hiểu đó là ngôi thứ 2 số ít, tương đương với “mày”, “bạn”. Tương tự như thế, “bọn mi” hay “tụi mi” thì tương đương với “chúng mày”, “bọn mày” hay “các bạn”. Ngôn ngữ trong phim Tàu thường được nhóm lồng tiếng dùng là “các ngươi”, chúng đều có nghĩa như nhau vậy.

    Chúng ta lại tiếp tục nói về “chi, mô, răng, rứa”.

    – Chữ “chi” tương đương với chữ “gì”. “Làm chi” có nghĩa là “làm gì”. Ví dụ người Huế nói: “Mi đang làm cái chi rứa?” thì tiếng chuẩn là “Mày đang làm gì
    thế?” hoặc “Bạn đang làm gì vậy?”. Chữ “chi” không những được dùng rộng rãi trong tiếng Huế mà ngay cả hai miền Bắc, Nam cũng dùng rất nhiều.

    Chúng ta không bàn nhiều về chữ này.

    – Chữ “mô” trong tiếng Huế mới thực sự là đặc trưng của Huế. “Mô” tạm hiểu là “đâu”, là một từ thường được dùng trong câu hỏi. Tuy nhiên, trong một vài ngữ cảnh thì “mô” được hiểu theo nghĩa khác. Ví dụ, “Hôm nay mi tổ chức sinh nhật chỗ mô rứa?” bạn phải hiểu rằng “Hôm nay mày tổ chức sinh nhật ở chỗ nào thế?” hoặc “Hôm nay bạn tổ chức sinh nhật ở đâu thế?”. “Mô” được dùng trong câu này để chỉ địa điểm.

    Nếu đặt trong ngữ cảnh khác thì “mô” có thể đóng vai trò là thán từ. Khi bạn hỏi: “sao mày gặp tao mà lơ đi thế?”, nếu người Huế trả lời là “mô mà!” thì bạn phải hiểu là “đâu có!”, tức là phủ định vấn đề.

    – Chữ “răng” trong tiếng Huế tạm hiểu là “sao”, thường được dùng trong câu hỏi, một vài trường hợp biểu thị ý nghĩa khác. Ví dụ, “răng mà mi noái lạ rứa?” thì bạn phải hiểu là “sao mà mày nói lạ thế” hoặc “sao bạn nói kỳ vậy”. “Ui chao, răng rứa?” có nghĩa là “Ôi, sao thế?” hoặc “Ủa, sao vậy?”. Nếu “răng” nằm đơn độc một mình thì đóng vai trò như câu hỏi tỉnh lược. Ví dụ, một người hối hả chạy vào, bạn hỏi “răng?” thì có nghĩa là “gì thế?”, “sao thế”, “sao mà vội vàng thế?”. Khi bạn an ủi ai
    đó thì bạn dùng “không răng mô!”, tức là “không sao đâu!”, “không có vấn đề gì đâu!”. Một thiền sư có viết bài thơ trong đó có hai câu rằng:

    “Không răng mà lại cũng không răng
    Chỉ có thua người một miếng ăn”

    Hai chữ “răng” ở câu đầu có hai nghĩa khác nhau. Câu đó nghĩa là “không có răng nhưng cũng chẳng sao cả”, ý nói đã già, răng rụng hết.

    – Chữ “rứa” trong tiếng Huế tạm hiểu như chữ “thế”, thường đặt ở cuối câu để làm câu hỏi hoặc có một số nghĩa khác khi nằm ở vị trí khác.

    Ví dụ, “răng rứa?” nghĩa là “sao thế?”. “Mi đi mô rứa?” nghĩa là “mày đi đâu thế?” hay “bạn đi đâu vậy?”. Một đứa con nghịch ngợm, mẹ bảo hoài mà không nghe thì người Huế thường nói: “nói mãi mà cứ rứa!”. Nhiều trường hợp “rứa” được đặt đầu câu. Ví dụ, “Rứa hôm nay bác đi mô?” có nghĩa là “Thế hôm nay bác đi đâu?”. Nếu đóng vai trò thán từ thì cũng như “thế”. Ví dụ, bạn hiểu ra một vấn đề gì đó, bạn nói “rứa à!” hoặc
    “té ra là rứa!” có nghĩa là “thế à!” hoặc “hóa ra là thế!”…Trên đây tôi nói sơ lược về “chi, mô, răng, rứa” của tiếng Huế. Ngoài ra, còn có các từ khác như “tê, ni, nớ, ri…” sẽ được trình bày ở phần kế tiếp.

    —————————–

    Chắc các bạn đã từng nghe những câu sau trong bài nhạc của Hoàng Quý Phương: “trời đổ mưa mà em đi mô, anh có biết chi mô nà! Thôi bây chừ đưa em về với mạ, có chi mô mà em cứ khoóc hoài!”

    Rất Huế đúng không các bạn? Nếu ai không hiểu thì tôi tạm thời “thông dịch” như sau: “trời đổ mưa mà em đi đâu, anh chẳng biết gì cả. Thôi bây giờ đưa em về với mẹ, có sao đâu mà em cứ khóc hoài”. Đó, các bạn xem, cái hay của đất Huế là vậy đó, rất chân chất, quê mùa nhưng ngọt ngào, đằm thắm. Nói như người xưa, “cái không hiểu” đó mới chính là “rất Huế”.Còn nói về tê, ni, nớ, ri… thì tạm hiểu như sau:

    – Chữ “TÊ” có nghĩa như chữ “kia”. Ví dụ, người Huế hỏi “đầu tê răng rứa?” thì nghĩa là “đầu kia sao vậy?” hoặc “đầu kia có chuyện gì thế?”. Có câu chuyện vui thế này:

    Có một người Huế khi ra Bắc, nghe nói rằng chữ “tê” ở Huế thì ngoài bắc dùng là “kia”, chữ “răng” ở Huế thì ngoài bắc dùng là “sao”. Khi đi tham quan, người Huế đó đã ghé vào quán nước để uống, chủ quán mang cho anh ta một cốc nước đá lạnh. Vì đang háo nước, anh ta vội vã nốc một hồi hết sạch. Vì do nước quá lạnh nên anh ta buốt hết cả răng. Đột nhiên anh ta kêu to, “trời ơi, kia cái sao quá!” big grin Ngôn ngữ là vậy đó, “tê răng” của Huế là “kia sao” của miền bắc mà!

    – Chữ “NI” tạm hiểu là “này”, ví dụ người Huế nói “bên ni” tức là “bên này”. Đối ngược với “bên ni” là “bên nớ” hoặc “bên tê”, tiếng chuẩn là “bên kia”. Trong
    bài “Huế xưa” của Châu Kỳ có câu rằng “ở bên ni qua bên nớ, cách con sông chuyến đò chẳng xa, nhỏ sang thăm có tôi đợi chờ”. NI và NỚ là chỉ cho bên này và bên kia vậy!

    – Chữ “NỚ” có nghĩa tương phản với “NI”, bạn có thể dùng Nớ và Ni để chỉ địa điểm (bên nớ, bên ni) hoặc có thể dùng để chỉ đối tượng là người, ví dụ “Nếu Nớ ngỏ lời thì Ni cũng đồng ý”, hiểu là “Nếu anh đã ngỏ lời thì em đây đồng ý”

    – Chữ “RI” trong tiếng Huế tạm hiểu là “đây”, “đấy”, ngoài ra còn dùng với nghĩa tương phản của “RỨA”. Ví dụ, người Huế thường hỏi nhau là “MI ĐI MÔ RỨA?”, hoặc “RỨA THÌ MI ĐI MÔ RI?” Các bạn hiểu sao?Đó là hai câu hỏi thường xảy ra trong trường hợp hai người đi và gặp nhau trên đường. Đơn giản, người này hỏi người kia là “mày đi đâu thế?”, người kia sẽ hỏi lại là “thế thì mày đi đâu?” Cái hay của Huế phải chăng là cái RI, RỨA!

    Các bạn chỉ cần chú ý một tí thôi thì tiếng Huế chẳng có gì khó cả, ngược lại còn rất là dí dỏm và đáng yêu nữa, nhất là nó được phát âm bởi các cô gái Huế đương độ xuân thì.

    – Cụm từ “CHI MÔ NÀ” thì như tôi đã nói, chúng có nghĩa là “gì đâu”, ý phủ định. Ví dụ, bạn bị mẹ mắng, bạn thanh minh bằng cách nói rằng “CON CÓ LÀM CHI MÔ NÀ!”…

    Ngoài ra, một số từ xưng hô đặc biệt cũng được sử dụng trong ngôn ngữ Huế. Ví dụ

    Bố thì gọi là BA
    Mẹ thì gọi là MẠ
    Ông Bà thì gọi là ÔN MỆ (Ôn nội, Mệ nội, Ôn ngoại, Mệ ngoại…)
    Bố Mẹ của Ông Bà thì gọi là CỐ
    Em hoặc chị của Bà Nội hay Bà Ngoại thì đều gọi là MỤ
    Ra đường gặp người già nếu không thân thích thì thường chào là “THƯA MỤ” (từ “Thưa” ở Huế được dùng như từ “Chào”)
    Chị gái hay em gái của Bố thì đều gọi là O (chữ O tương đương với Cô)
    Anh trai hay em trai của mẹ đều được gọi là CẬU
    Vợ của CẬU được gọi là MỢ (người vùng quê ở Huế còn gọi CẬU là CỤ, gọi MỢ là MỰ)
    Chị gái hay em gái của mẹ đều gọi là DÌ
    Chồng của DÌ được gọi là DƯỢNG
    Vợ của CHÚ được gọi là THÍM
    Chỉ có anh trai của Bố hoặc vợ anh trai của Bố thì mới được gọi là Bác.
    Các bạn nên biết cách xưng hô để hiểu và thông cảm cho phong tục của
    từng vùng miền. Ví dụ, từ MỤ hay MỆ ở ngoài bắc thường dùng với nghĩa
    xấu, nhưng đối với Huế đấy là những danh xưng cho các bậc tiền bối.

    Hình ảnh Việt Nam.com sưu tầm

  • Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Đệ nhất ân Phi Hồ Thị Chỉ là vợ vua Khải Định. Bà Chỉ nổi tiếng là nhan sắc mặn mà, thông minh, đàn hay, thông thạo tiếng Pháp, Hán Văn, Việt Ngữ. Bà Chỉ là con của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương quê ở làng Chuồn (xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế)
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Chân dung hai hoàng hậu Tiên Cung (vợ trước) và Thánh Cung (vợ sau) của vua Đồng Khánh

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Công chúa Thuyên Hoa, em gái vua Thành Thái có vẻ đẹp hiện đại
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Công chúa Mỹ Lương, Trưởng nữ của vua Dục Đức, chị cả của vua Thành Thái
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Cô Nguyễn Thị Cẩm Hà – thường gọi là Mệ Bông, con của Công chúa Mỹ Lương với vẻ đẹp dịu dàng

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức có nét đẹp rất hiền từ. Bà rất thương dân. Do trong dân gian thường gọi nhầm là Từ Dũ nên tên Từ Dũ sau này cũng vì thế được đặt cho bệnh viện phụ sản lớn nhất Sài Gòn từ trước năm 1975 cho đến nay
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng thái hậu Tự Cung – là Hoàng thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn rất đẹp, sắc sảo. Bà Từ Cung là vợ vua Khải Định và cũng là người duy nhất trong số 12 người vợ có con trai là hoàng đế Bảo Đại say này

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bà Từ Cung (giữa) cùng các người thân trong hoàng tộc
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bà Nguyễn Thị Định, là thứ phi của vua Thành Thái, mẹ vua Duy Tân, ảnh chụp khi bà đã lớn tuổi nhưng nét đẹp một thời vẫn còn trên khuôn mặt

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Một ảnh chụp khác của Vương phi Mai Thị Vàng, vợ yêu của vua Duy Tân lúc về già
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hình ảnh Nam Phương hoàng hậu lúc được tấn phong – vợ của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều đại phong kiến tại Việt Nam
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Nam Phương quê ở Tiền Giang, con của một gia đình rất giàu có. Bà 3 năm liền đoạt giải Hoa hậu Đông Dương, lấy vua Bảo Đại khi vừa 19 tuổi

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Thứ phi Mộng Điệp người Hà Nội rất được vua Bảo Đại sủng ái

    Sinh năm 1924 tại Bắc Ninh, khác với nhiều cung tần mỹ nữ thời trước, Mộng Điệp là phụ nữ đã có chồng và con. Tuy nhiên, nhan sắc mặn mà của người phụ nữ Kinh Bắc đã “đốn ngã” trái tim Bảo Đại mà ông từng tưởng rằng chỉ thuộc về duy nhất Nam Phương hoàng hậu.

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Nhan sắc của Mộng Điệp trở thành đề tài của rất nhiều bậc tài tử thời bấy giờ. Theo nhiều tài liệu lịch sử cho biết, trước khi lấy chồng nhà Mộng Điệp không thể đếm xuể bao nhiêu người qua lại ngỏ ý. Vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của cô gái Kinh Bắc dễ dàng làm siêu lòng bất kỳ chàng trai nào thời đó.

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc rất tình cảm của thứ phi Mộng Điệp với cựu hoàng Bảo Đại (ảnh tư liệu của nhà nghiên cứu Huế – Nguyễn Đắc Xuân)
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng hậu Nam Phương sau khi sinh con vẫn giữ được nét đẹp quý phái

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng hậu Nam Phương và các hoàng tử, công chúa con của mình với nét đẹp chuẩn mực. Đây cũng là hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng của việt Nam đóng đô tại Huế với nhiều quá khứ vàng son (1802-1945)
  • Bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn

     

    Video tài liệu: Khám phá những bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn và ngôi chùa Từ Hiếu ( chùa Thái giám) ở Huế…
    Kịch bản và Đạo diễn: Nguyễn Hải Anh

    https://www.youtube.com/watch?v=lF0jmkrI0LQ

    Thái giám, hay hoạn quan là một chức quan tuy địa vị thấp nhưng chiếm vị trí quan trọng trong hậu cung xưa. Cuộc đời của họ ngoài những thăng trầm biến cố theo thời cuộc, còn phải chịu thêm đủ nỗi nặng nề, thương tâm. Một trong số đó là cảm giác đơn độc, cô quạnh cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay.

    Thái giám trong lịch sử Việt Nam tồn tại dưới các đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Do không có bộ phận sinh dục nên con người của thái giám tiếng nói cũng như tính cách rụt rè thiên về nữ nhiều hơn nam. Suốt đời họ phụng sự trong cung và lớn lên họ kết nghĩa với nhau, có thể cùng giới hoặc khác giới.

    Một số thái giám có sức ảnh hưởng tới dòng chảy lịch sử dân tộc, mời bạn xem bài viết: Những hoạn quan nổi tiếng của nước Việt

    Song hành cùng lịch sử dẫu bị chối bỏ công lao

    Cũng do có thuận lợi được sống gần “thiên tử”, được nhiều ân sủng và nắm được những “thâm cung bí sử” trong triều nên thường họ cùng liên kết với nhau để thực hiện âm mưu nào đó. Không ít triều đình rối ren, thậm chí bị đảo chính cũng là có phần góp sức không nhỏ của thái giám.

    Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, thời vua Minh Mạng (1820 – 1841) đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức.

    Bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn

    Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”.

    Sống quạnh hiu, chết nương nhờ cửa Phật

    Tại Huế, bên cạnh những lăng tẩm lộng lẫy, không mấy người không biết tới chùa Từ Hiếu, nơi nương mình lặng lẽ của những người hầu cận vốn chiếm vai trò khá quan trọng trong cung đình xưa, nhưng tên tuổi cũng như vị trí của họ chưa bao giờ được đề cao. Họ là những thái giám chốn hậu cung.

    Ngôi chùa là nơi “cưu mang” các quan thái giám trong triều Nguyễn,  vốn không có con nối dõi, họ bày tỏ nguyện vọng với nhà vua, sau khi nhắm mắt xuôi tay, họ được chôn trong ngôi chùa này đặng có người lo hương khói.

    Cảm thông với ước nguyện chính đáng này, vua Tự Đức đã xuống chỉ dụ chấp thuận. Họ đã đóng góp công đức vào ngôi chùa, để sau khi chết họ được mai táng, phục tự và cúng giỗ nơi này.

    Bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn
    Khuôn viên chùa Từ Hiếu, nơi có nghĩa trang thái giám với 25 ngôi mộ.

    Vì thế, ngoài tên Từ Hiếu, chùa còn được nhiều người quen gọi là chùa Thái giám. Hiện nay, trong vườn chùa Từ Hiếu có đến 25 ngôi mộ của Thái giám triều Nguyễn. Trước mỗi ngôi mộ đều có tấm bia ghi rõ tên họ và chức vụ của từng người.

    Nhiều mảnh đời chung tâm nguyện nhỏ nhoi

    Về cuối đời, các thái giám triều Nguyễn lúc bấy giờ phải cư trú ở một ngôi nhà phía Bắc hoàng thành gọi là Cung giám viện. Khi chết, số phận họ vô cùng bi thảm, không được chôn gần lăng tẩm hoặc những chốn linh thiêng và cũng chẳng được ai thờ cúng vì không có con cháu. Để tránh bát hương trở nên lạnh lẽo khi “về trời”, nhiều người đã chọn con nuôi để dạy dỗ và lo hậu sự về sau.

    Theo tục lệ, cứ đến rằm tháng 11 hàng năm, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất, trong đó có thái giám triều Nguyễn. Có lẽ, một phần nhờ sự lãng quên của người đời, mà mặc dù trải qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt nhưng phần lớn những ngôi mộ này vẫn nguyên vẹn và đa phần đều đọc được rõ chữ.

    Bí ẩn về cuộc đời của các vị quan thái giám cuối cùng triều Nguyễn
    Nghĩa trang thái giám hiu quạnh trong chùa Từ Hiếu

    Theo lời dịch lại của một sư cụ trong chùa, thì xúc động nhất là lời lẽ trên tấm bia trước cổng nghĩa trang khiến hậu thế không khỏi chạnh lòng: Bia đề: “Trong đời sống, chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên bình. Khi ốm đau, chúng tôi lui về đây và sau khi chết, chúng tôi sẽ được chôn chung ở đây. Dù sống hay chết, chúng tôi vẫn tìm thấy được ở đây sự yên bình”.

    Phận đời đưa đẩy đã khiến nhiều thái giám có một nỗi sợ mãnh liệt lớn hơn cả cái chết, chết ở đâu, chết lúc nào… theo họ giờ không quan trọng mà quan trọng nhất là được chết toàn thây, được chết cạnh cái mà mình đã cắt bỏ đi để khi về thế giới bên kia mình được chứng nhận là đã trải qua một kiếp con người. Đó cũng là cái kết “đáng buồn thay” cho cuộc đời của những con người “sinh ra chẳng được mấy ai chấp nhận”.

  • Sài Gòn xưa và mốt thời trang vượt thời gian

    Sài Gòn xưa và mốt thời trang vượt thời gian

    So với miền Bắc và các vùng nông thôn Việt Nam thời kỳ đó, trang phục của các quý cô Sài Gòn đã có nhiều thay đổi, phóng khoáng hơn, “Tây” hơn và nhiều màu sắc hơn. Trên đường phố Sài Gòn thời điểm đó không thiếu bóng dáng những chiếc váy suông, váy xòe hay bó sát gợi cảm. Phái đẹp ngày ấy cũng đã biết cách phối đồ váy áo với phụ kiện, giày dép khá cầu kỳ.

    Thiếu nữ Sài Gòn trước năm 1975 đã diện mốt chân váy ôm kết hợp cùng sơ mi sát nách như những cô gái công sở ngày nay

    Hai trang phục xưa cũ và giản dị nhất là chiếc áo bà ba truyền thống và áo dài chiết eo trứ danh. Áo bà ba xuất hiện không nhiều ở thành thị, thường chỉ những người già hoặc người làm công việc lao động chân tay như bán hàng rong vỉa hè hay trong các khu chợ mới thường mặc.

    Còn áo dài lại được phụ nữ Sài Gòn khi ấy coi là một thứ váy áo mặc hàng ngày chứ không phải một “bộ cánh” chỉ được trưng diện những dịp trọng đại một năm vài lần. Họ có thể mặc áo dài đi tiệc, đi làm hay đi học, và cả khi xách giỏ đi chợ. Áo dài trước năm 1975 được may kiểu phom dáng không quá ôm khít cơ thể như bây giờ, với cổ cao kín đáo và đường chiết eo “trứ danh” nhằm tôn lên vẻ đẹp thắt đáy lưng ong của người phụ nữ.

    Áo bà ba, áo dài dành cho những phụ nữ ưa phong cách ăn mặc truyền thống, kín đáo và đầy nữ tính. Còn váy ngắn, váy xòe hay trang phục ôm sát dành cho những quý cô chuộng nét đẹp phương Tây hiện đại, thời thượng và gợi cảm.

    Phụ nữ Sài Gòn xưa chuộng mốt áo tân thời thắt eo, ngực nhọn

    Những phụ nữ bán hàng, chạy chợ quen thuộc với chiếc áo bà ba, nón lá giản dị

    Với thời trang nam lúc bấy giờ, những đôi tông Lào hay dép quai hậu nhựa dẻo đang rất thịnh hành

    Thiếu nữ Sài Gòn sành điệu với mốt phối kính mát cùng các loại trang phục, từ áo phông, quần bó khỏe khoắn đến áo dài mềm mại

    Những phụ nữ chuộng vẻ đẹp phương Tây ưa thích kiểu tóc ngắn đánh bồng phồng cao, còn các cô gái truyền thống giản dị với tóc xõa hay cột gọn gàng với chiếc kẹp ba lá

    Mốt “xuyên thấu” gợi cảm cũng đã manh nha xuất hiện trên phố Sài Gòn những năm 60, 70

    Bà Tuyết Mai (mẹ của MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên) và nữ diễn viên Kiều Chinh trong tà áo dài được cách tân phần cổ áo năm 1961

    Cách phối áo dài truyền thống với băng đô đồng màu vẫn được nhiều cô gái Việt Nam thời hiện đại ưa chuộng

    Hai thiếu nữ Sài Gòn xưa rất biết cách phối đồ khi mặc nguyên “cây” đỏ cực “chất” hay chiếc váy suông không tay hoa văn xanh kết hợp cùng sandals ton – sur – ton

    Dáng váy suông đuôi cá nhiều màu sắc trên phố Sài Gòn xưa (trái)

    Thiếu nữ Việt Nam hơn 40 năm về trước (trái) đã diện áo ngắn mang dáng dấp crop top, tay đeo đồng hồ, tóc đánh bông hiện đại kết hợp cùng kính mát tối màu sành điệu

    Kiểu dáng mũ bê rê từng xuất hiện tại Sài Gòn xưa cũng vẫn được các cô gái trẻ ngày nay yêu thích.

    Xưa chưa bao giờ là cũ. Điều này trong thời trang luôn luôn đúng. Đừng vội nghĩ rằng là thời nay mình thật sành điệu và các bà các mẹ thật lỗi thời bởi ngay từ xưa, những bậc sinh thành của chúng mình vốn cũng từng “chất” và oách chẳng kém gì chúng mình bây giờ đâu.

    Nếu bạn nghĩ rằng các bà các mẹ của chúng mình thật “lỗi thời” thì xin thưa rằng, họ cũng đã từng có lúc sành điệu chẳng kém gì chúng ta bây giờ. Thậm chí nhiều xu hướng hiện tại mà chúng ta áp dụng vốn đã được ưa chuộng từ tận nửa thế kỷ trước.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Không tin ư, hãy cùng nghía qua một số xu hướng dưới đây từ Sài Gòn xưa những năm 60, để rồi bạn sẽ thấy là, đúng là giống thật!

    Váy suông ngắn

    Cứ mỗi khi hè về là các nàng lại lao ngay ra shop, mua về một cơ man nào là váy suông và váy dáng chữ A thoải mái. Đúng là rất hợp mốt, nhưng câu chuyện về những chiếc váy ngắn đầy nữ tính như thế này đã bắt đầu từ thời bà và mẹ của chúng mình cơ.

    Nhắc đến thời trang những năm 50s-60s, đặc biệt là những năm cuối của thập niên này thì chắc hẳn không thể không nhắc đến những chiếc váy dáng suông rộng rãi – trang phục vốn được coi là một sự cách tân mang tính lịch sử trong ngành thời trang lúc bấy giờ. Kiểu váy này mang lại cho người mặc cảm giác vô cùng thoải mái, mà vẫn thanh lịch và mang chút cổ điển.

    Ngày nay váy suông được biến tấu với đủ chất liệu và chi tiết bắt mắt, nhưng nhìn chung, chúng cũng không quá khác biệt so với kiểu dáng ngày xưa là mấy.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Block heels

    Từ trước khi nhường chỗ cho những đôi giày gót nhọn hoắt đầy gợi cảm, giày đế thô là phụ kiện mang tính “quốc dân” của phụ nữ Sài Gòn xưa. Kiểu giày này đi rất vững chân mà trông lại cá tính vô cùng.Ngày nay, giày đế thô đã được cách tân với phần đế loe ra để trông “mềm dáng” và mới lạ hơn.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kitten Heels với váy ngắn/quần loe

    Từ năm 2013, cả thế giới phát cuồng lên vì những đôi giày kitten heels với phần mũi nhọn,gót thấp và nhỏ nhắn. Kiểu giày này chinh phục giới thời trang bởi nét xinh xắn, trẻ trung nhưng lại sang chảnh và khá dễ diện đồ. Mẫu giày huyền thoại này đã được phát triển thành nhiều kiểu dáng đa dạng hơn, với đủ thiết kế từ tối giản cho quý cô thanh lịch cho đến phá cách cùng chi tiết đinh tán, color block, in họa tiết… cho những cô nàng mạnh mẽ.

    Thực chất kitten heels cực thịnh vào những năm 60. Cứ sải bước ra phố ở Sài Gòn là lại bắt gặp các quý cô ăn vận chỉnh tề, thong dong sải bước trong đôi kitten heels. Cũng chính vì gắn liền với thời gian đó nên mỗi khi nhắc đến kitten heels thì ấn tượng đầu tiên luôn là “vintage”.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kính râm

    Nếu được bình chọn xem đâu là món phụ kiện “bất ly thân” của các tín đồ thời trang Sài Gòn xưa thì đó ắt là kính râm. Hơn 50 năm trước, các bà các mẹ chúng ta không thể ra đường nếu không có một đôi kính râm thật oách trên khuôn mặt. Kiểu kính mà họ đeo cũng rất gần gũi với hiện tại, đủ kiểu dáng từ gọng vuông, tròn, mắt mèo và thậm chí có cả họa tiết.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Ngọc trai

    Dior và Chanel đang lăng xê “điên đảo” những món phụ kiện ngọc trai, và bạn thấy chúng quả đáng mê từ cái nhìn đầu tiên. Các bà các mẹ của chúng mình ở Sài Gòn xưa cũng thế đấy. Không cần cầu kỳ trong khoản phụ kiện, chỉ cần một chiếc vòng ngọc trai đeo sát quanh cổ là đã chứng nhận độ “sang” của các tín đồ thời trang lúc bấy giờ. Ngọc trai được phối từ trang phục dạo phố, áo dài cho đến cả… bikini.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Kẻ mắt mèo

    Trang điểm mắt khá đơn giản với một đường eyeliner màu đen và cong về phía đuôi mắt, thêm một chút phấn nâu để tán ở vùng chữ V hốc mắt. Điểm nhấn tập trung chủ yếu ở hàng mi cong vút, cặp chân mày được tô đậm nhưng mảnh và được vẽ cao hơn bình thường. Đây chính là cách kẻ mắt mèo của phụ nữ Sài Gòn xưa.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Lông mày rậm

    Kiểu lông mày rậm đang được cho là xu hướng “hot” của năm 2016. Lông mày rậm khiến cho đôi mắt bạn sâu và sắc nét hơn. Kiểu làm đẹp này vốn đã được nhiều nữ minh tinh, ca sỹ của thập niên 60 như Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương áp dụng.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh

    Tóc Pin-up

    Sấy phồng mái tóc, kết hợp với kẻ mắt mèo và son đỏ là bạn sẽ trở thành một “Pin-up girl” chính hiệu. Kiểu tóc này ngày nay không còn được áp dụng rộng rãi vì nó hơi tốn thời gian và cũng bởi sự xuất hiện của… mũ bảo hiểm. Tuy nhiên nhiều người đẹp vẫn thích chọn tóc Pin-up khi tham dự các bữa tiệc. Ngay cả các ngôi sao nổi tiếng thế giới như Katy Perry vẫn còn mê mệt kiểu tóc này.

    Loạt ảnh

    Loạt ảnh
    HinhanhVietnam tổng hợp
  • Những con nghiện thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Những con nghiện thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Loạt ảnh về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn năm 1948 của tạp chí Life khiến người xem không khỏi bị sốc về mặt trái của “Hòn ngọc Viễn Đông” xưa.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Cổng chính Nhà máy Chế biến Thuốc phiện ở số 74 đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng), Sài Gòn năm 1948.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Tờ thông báo gắn ở cổng nhà máy thuốc phiện Sài Gòn.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Sân trong nhà máy thuốc phiện Sài Gòn nhìn qua cửa sổ văn phòng nhà máy.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Dân nghiện cùng hút thuốc phiện trong một “dưỡng đường giải độc”, tên gọi một cách hoa mỹ cho các tiệm hút thuốc phiện công khai.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Những con nghiện thuốc phiện sau khi đăng ký với chính quyền sẽ được phép đến các tiệm thuốc phiện để thỏa mãn lạc thú cùng “nàng tiên nâu”.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Một con nghiện lớn tuổi sửa soạn đồ nghề hút chích.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Ngất ngây bên bàn đèn thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Một phụ nữ phương Tây trong động thuốc phiện Sài Gòn.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Nơi để ống điếu và bàn đèn tại một tiệm thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Từ khi chiếm đóng Đông Dương, người Pháp đã thúc đẩy việc tiêu thụ thuốc phiện trong người dân địa phương nhằm thu lợi từ hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Trong giai đoạn đỉnh cao, ngành công nghiệp thuốc phiện đã đóng góp trên 1/3 tổng thu nhập hàng năm của Pháp ở Đông Dương thuộc địa.

    Theo KIẾN THỨC

  • Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cuộc sống ở Hà Nội năm 1992 hiện lên trong ảnh của nhiếp ảnh gia người Australia Peter Charlesworth với những nét đơn sơ, mộc mạc, đánh thức ký ức của nhiều người…

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992
    Những chiếc xe lu thế hệ cũ “diễu hành” trên phố Hàng Bài, gần hồ Hoàn Kiếm.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Một chiếc xe bò trên phố Lê Duẩn, gần chợ Cửa Nam. Đây là phương tiện vận tải phổ biến ở Hà Nội đầu thập niên 1990.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cảnh tượng nhộn nhịp ở phố Lê Duẩn.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Người cảnh sát điều khiển giao thông ở khu phố cổ Hà Nội.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Kiều nữ Hà thành bị cảnh sát tuýt còi cùng chiếc Honda Cub huyền thoại.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Tượng đài lãnh tụ cách mạng V. I. Lê-nin tại vườn hoa Lê-nin.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Những người phụ nữ bán khoai lang trên một con phố vắng.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Nét “quê” của Hà Nội năm 1992.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Những người phụ nữ quẩy đòn gánh ra chợ.

    Ảnh cực chất về cuộc sống ở Hà Nội năm 1992

    Cậu bé nông dân trên cánh đồng ngoại ô Hà Nội.

    Theo KIẾN THỨC