Blog

  • Trọn bộ bản đồ Việt Nam từ thuở hồng hoang

    Trọn bộ bản đồ Việt Nam từ thuở hồng hoang

    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử

    Đây chỉ là bản đồ phục dựng nhằm mô tả một cách gần đúng nhất theo hiểu biết của cá nhân tôi với mong muốn đem đến một cách nhìn mới, giúp mọi người thêm yêu môn Lịch sử nên có thể còn nhiều hạn chế. Xin hoan nghênh mọi góp ý nghiêm túc và xin xóa các comment có tính chất xúc phạm hoặc có lời lẽ thiếu chuẩn mực theo quan điểm cá nhân.
    Trân trọng!  Nguyễn Trọng Luân

    Cùng xem công cuộc mở mang bờ cõi nước Việt của ông cha ta như thế nào nhé!

    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử
    Nước Văn Lang thời Hùng Vương
    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử
    Nước Âu Lạc thời An Dương Vương
    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử
    Nam Việt xâm lược và đô hộ
    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử
    Nhà Hán xâm lược và đô hộ
    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử
    Thời Hai Bà Trưng, nước ta là Quận Giao Chỉ của Trung Hoa

    Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (34) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (35) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (36) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (37) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (38) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (39) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (40) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (41) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (42) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (43) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (44) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (45) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (46) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (47) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (48) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (49) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (50) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (51) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (52) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (53) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (54) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (55) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (56) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (57) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (58) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (59) Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (60) Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Bản đồ Việt Nam theo từng thời kỳ lịch sử Ban do lich su Viet Nam xua - phong kien (20)

  • Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay

    Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay

    Làm theo những lời răn dạy, kiến thức đúc kết từ khoa học sẽ giúp bạn có một thể trạng khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật.

    Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi Bí Quyết Trường Thọ Xưa & Nay. khỏe khoắn, lành mạnh, xa rời bệnh tật. Muốn sống lâu trăm tuổi bi quy truong tho - song lau - han che benh tat Viet nam xua nay (19) bi quy truong tho - song lau - han che benh tat Viet nam xua nay (20) bi quy truong tho - song lau - han che benh tat Viet nam xua nay (21) bi quy truong tho - song lau - han che benh tat Viet nam xua nay (22) bi quy truong tho - song lau - han che benh tat Viet nam xua nay (23)

     

  • Ý nghĩa của ấn đền Trần – Nam Định

    Ý nghĩa của ấn đền Trần – Nam Định

    Ý NGHĨA CỦA ẤN ĐỀN TRẦN – NAM ĐỊNH
    ẤN ĐỀN TRẦN

    Lễ khai ấn Đền Trần là một tập tục có từ thế kỷ XIII, chính xác là vào năm 1239 của triều đại nhà Trần. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu đãi và phong chức cho những quan quân có công. Những năm kháng chiến chống Nguyên Mông sau đó, Lễ khai ấn bị gián đoạn cho tới năm 1262 thì được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại.
    Trải bao thế kỷ, ấn cũ không còn. Năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình có ghé lại đây và cho khắc lại. Ấn cũ khắc là “Trần triều chi bảo”, ấn mới khắc là “Trần triều điển cố” để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu “Tích phúc vô cương”. Lễ khai ấn là một tập tục văn hóa mang tính nhân văn để nhà vua tế lễ Trời, Đất, tiên tổ, thể hiện lòng thành kính biết ơn non sông, cha ông.

     

    Lễ khai ấn đền Trần là một tập tục của triều đại nhà Trần – triều đại phong kiến kéo dài và hùng mạnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với chiến công hiển hách ba lần đánh tan quân Nguyên Mông – đạo quân xâm lược; được mệnh danh là “bách chiến bách thắng”.
    Sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, ngày 14 tháng Giêng, tại phủ Thiên Trường (nơi phát tích của nhà Trần), vua Trần Thái Tông đã mở tiệc chiêu đãi và thưởng công, phong tước cho các quan, quân có công trong việc đánh giặc. Kể từ đó, cứ vào ngày này, các vua Trần lại tổ chức nghi thức khai ấn để tế lễ trời đất, Tổ tiên; phong chức tước cho những người có công, đồng thời mở đầu cho một năm làm việc mới của bộ máy chính quyền nhà Trần.
    Sau này trên nền phủ Thiên Trường, nhân dân đã xây dựng khu di tích đền Trần ĐỂ THỜ 14 VỊ VUA TRẦN, Trần Hưng Đạo cùng các quan văn, võ, đồng thời duy trì nghi thức khai ấn để tưởng nhớ công đức của các vua Trần, giáo dục con cháu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông xã tắc.
    Nghi lễ khai ấn với ý nghĩa nhân văn lớn lao là cầu mong cho thiên hạ thái bình, thịnh trị, mọi nhà chung hưởng lộc ấn đền Trần “Tích phúc vô cương”; cầu mong mọi người bước sang năm mới mạnh khoẻ, lao động, sản xuất hăng say, học tập, công tác tốt. Trải qua nhiều năm, lễ khai ấn vẫn được người dân duy trì và phát triển và trở thành một trong những tập tục đẹp, một nét văn hóa đẹp trong những ngày đầu năm mới của người Việt được gìn giữ lâu đời.
    Trước khi lễ khai ấn được tổ chức, vào ngày mùng 2 tháng Giêng, Ban quản lý Khu di tích đền Trần thực hiện nghi lễ xin mở ấn để in các lá ấn phục vụ lễ khai ấn. Nội dung lá ấn bao gồm các chữ: “Trần triều điển cố – tích phúc vô cương”’. Đến 22h ngày 14 tháng Giêng, lễ khai ấn được bắt đầu với nghi thức rước hòm ấn từ nội cung đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường. Sau khi lễ khai ấn được thực hiện bởi 14 cụ cao niên thôn Tức Mặc (phường Lộc Vượng) kết thúc, khách thập phương vào đền Thiên Trường để tế lễ, xin lá ấn với mong muốn một năm mới thành đạt và phát tài.

    XIN ẤN PHẢI HIỂU Ý NGHĨA

    Không phải ai về xin ấn đền Trần cũng hiểu được hết ý nghĩa của nghi lễ này. Bản chất của bốn chữ “Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn phẩm chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng bền vững. Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn. Ý nghĩa của ấn chỉ đơn giản như vậy nhưng không phải ai cũng hiểu mà vẫn còn một số lầm tưởng rằng, xin ấn để cầu “thăng quan, tiến chức”. Vì vậy, những ai cầm ấn trong tay mà không hiểu bản chất ý nghĩa sâu sắc đó thì ấn cũng chẳng có giá trị gì.

    Hình ảnh Việt Nam.com sưu tầm

  • Vì sao gọi người Nghệ An là dân “cá gỗ”

    Vì sao gọi người Nghệ An là dân “cá gỗ”

    Ngày nhỏ, cứ nghe thấy ai đó nói giọng “trọ trẹ” là người ta lại bảo, đấy là dân “cá gỗ”. Lấy làm lạ, chưa hiểu “tại sao lại thế?”, “cá thật chẳng ăn ai, lại là cá gỗ”. Rồi tò mò, tôi đi hỏi người lớn, người lớn kể cho tôi nghe câu chuyện dân gian xưa:

    người Nghệ An là dân "cá gỗ"
    CHO KHÁT NƯỚC… CHẾT LUÔN

    Một anh hà tiện thuộc loại vắt cổ chày ra nước, không bữa cơm nào mà dám mua thức ăn. Anh ta treo một con cá gỗ lơ lửng ở giữa nhà, dặn các con khi ăn cơm thì nhìn lên cá gỗ, chép miệng một cái rồi và cơm, coi như là đã được ăn cơm với cá rồi. Đứa con út mới lên bốn tuổi, háu ăn, nhìn lên con cá gỗ chép miệng luôn mấy cái mới và cơm. Thằng lên sáu trông thấy liền mách bố: – Thằng này nó chép miệng mấy cái liền mới và cơm đó bố ạ! Anh ta mắng: – Cứ để nó ăn mặn cho khát nước chết luôn!!!

    Hình ảnh người Xứ Nghệ trong tôi ngày ấy là “keo kiệt” lắm. Và, tại sao phải khổ thế…!!!

    Lớn lên… đi học, tôi có thêm những người bạn có cha mẹ là người gốc Xứ Nghệ ra sống và làm việc ở Hà Nội, tôi theo bạn đến nhà ăn, ngủ, học ở đấy, rồi tiếp xúc với họ. Tôi có thấy người Nghệ “keo kiệt” đâu, chỉ thấy họ nói to, giọng thì “nặng trình trịch” và rất hay có những cuộc gặp gỡ đồng hương, giao lưu, vui vẻ và hào phóng. “Ào ào như cơn lốc” ngay từ ngoài cổng.

    Khi tôi vào đại học, trong lớp có những người bạn quê ở vùng Thanh – Nghệ Tĩnh, tôi làm lớp trưởng – trách nhiệm là luôn phải quan tâm đến mọi người… Trong số ấy, những người bạn đến từ vùng đất miền Trung nắng cháy, họ hiện thân trong tôi là anh học trò nghèo ngày xưa: nghèo mà hiếu học, thông minh, chăm chỉ, chịu khó, nghĩ sao nói vậy, không “lắt léo”, “loằng ngoằng”, “nhì nhằng” trong ứng xử, quan hệ…

    Hè, chúng tôi dong duổi đi chơi, theo những người bạn ấy vào Thanh, Nghệ An, Hà Tĩnh (phần này tôi đã có dịp tâm sự). Cũng “ba cùng” với những người bạn ấy và gia đình của họ.

    Vẫn giọng “trọ trẹ” khó nghe, nhưng phát âm rất chuẩn từ chữ “tr”, “ch”, “r”, “s” và “x”… vẫn “ăn to, nói lớn”, cứ “oang oang” mà không “nhỏ nhẹ” (kể cả con gái).

    Gia đình các bạn tôi từ Diễn Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương (Nghệ An) đến Nghi Xuân, Can Lộc (Hà Tĩnh)… vùng quê nào, ngôi nhà nào chúng tôi đến cũng đầy ắp tiếng cười, lòng người cứ chân chất, “thẳng tưng như ruột ngựa”, chẳng “úp úp mơ mở”, chẳng “quanh co, lòng vòng”, nói là làm, nghĩ sao nói vậy… Và, hơn hết là “tính hiếu khách” của gia chủ, “yêu” và “ghét” rất rõ ràng.

    Thế đấy, người Xứ Nghệ cứ đẹp dần lên trong mắt tôi, đẹp dần lên trong những lời nhận xét của tôi khi có ai đó hỏi tôi về họ.

    Cái nghề nghiên cứu của tôi đã cho tôi được đi và đến nhiều vùng miền trên đất nước, tiếp xúc với nhiều người, tìm hiểu thêm về nhiều vùng đất dưới góc nhìn của văn hóa… tôi trân trọng hai từ “cá gỗ”. Lâu rồi, “cá gỗ” trở thành một đại từ chỉ người Xứ Nghệ, như đã là thế, như không thể khác được.

    Người Nghệ tự hào vì hai từ ấy! Người Nghệ luôn tự mình hơn người bởi hai từ ấy…!

    Tôi hoàn toàn đồng tình. Bởi, phải hiểu xuất phát điểm của cụm từ này là từ một vùng quê “nghèo mùng tơi chưa kịp rớt”, mới hiểu người Xứ Nghệ đã phải “gồng mình đi lên như thế nào” để “vượt khó, vượt khổ”. Trong cái “gian lao” ấy, tâm hồn và ý thức của họ thật lớn, con “cá gỗ” của anh học trò nghèo Xứ Nghệ ngày xưa chỉ còn trong tiềm thức, trong lời nói của sinh viên Xứ Nghệ ngày nay. Cuộc sống ngày một đổi thay… hình ảnh “cá gỗ” mãi là niềm tự hào, bởi trong cái sự “nghèo túng” ấy, người Xứ Nghệ đã biết “ước mơ”, biết “khao khát” từ những việc tưởng như rất nhỏ hàng ngày, ẩn chìm và hiển hiện trong mỗi bữa cơm ăn, trong nỗi lo thường nhật. Nhưng là khát vọng để vươn tới, để cố gắng.

    Xin cảm ơn câu chuyện dân gian, cảm ơn anh học trò nghèo Xứ Nghệ, cảm ơn những con người Xứ Nghệ qua nhiều thế hệ vẫn mãi giữ được truyền thống “nghèo mà hiếu học”, vẫn giữ được hai chữ “cá gộ” nghe sao thấy tội tội sao mà thương, mà quý, để mãi… nâng niu!

    Bài được đăng bởi: Cafe sách hội nghị
  • Một số dạng hình tượng sư tử Việt nam qua các thời đại

    Một số dạng hình tượng sư tử Việt nam qua các thời đại

    sư tử trên ngói thời Lý
    sư tử trên ngói thời Lý
    sư tử thời Trần Hồ
    sư tử thời Trần Hồ
    sư tử trung thu làng Việt Hùng, Tỉnh Thái Bình
    sư tử trung thu làng Việt Hùng, Tỉnh Thái Bình
    sư tử thời Nguyễn trong sách Biểu tượng An Nam
    sư tử thời Nguyễn trong sách Biểu tượng An Nam
    sư tử thời Lý
    sư tử thời Lý
    sư tử thời Nguyễn
    sư tử thời Nguyễn
    sư tử đá ở Lam Kinh
    sư tử đá ở Lam Kinh
    sư tử thời Lê trung Hưng
    sư tử thời Lê trung Hưng
    sư tử chùa Bút Tháp
    sư tử chùa Bút Tháp
    sư tử thời Lê trung Hưng
    sư tử thời Lê trung Hưng

     
    Theo Group Đại Việt Cổ Phong

  • Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam – Beautiful Vietnam!

    Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam – Beautiful Vietnam!

    Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi

    Việt Nam đất nước ta ơi
    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
    Cánh cò bay lả rập rờn
    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
    Quê hương biết mấy thân yêu
    Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
    Mặt người vất vả in sâu
    Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
    Đất nghèo nuôi những anh hùng
    Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
    Đạp quân thù xuống đất đen
    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
    Việt Nam đất nắng chan hoà
    Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
    Mắt đen cô gái long lanh
    Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
    Đất trăm nghề của trăm vùng
    Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem
    Tay người như có phép tiên
    Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ
    Nước bâng khuâng những bến đò
    Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi
    Đói nghèo nên phải chia ly
    Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường
    Ta đi ta nhớ núi rừng
    Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ
    Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô
    Bát cơm rau muống quả cà giòn tan…

    Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty Ngỡ ngàng vẻ đẹp Việt Nam - Beautiful Vietnam ! Vietnam beauty

     

  • Bộ sưu tập tiền giấy Việt Nam từ xưa tới nay

    Hình ảnh Việt Nam xin gửi tới các bạn bộ sưu tập tiền giấy từ xưa tới nay.

    Lịch sử tiền giấy Việt Nam, xem ở đây

    Một vài dấu mốc đáng chú ý:

    Đồng tiền giấy đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Việt Nam là “Thông bảo hội sao” (1396) do Hồ Quí Ly phát hành. Hơn 6 thế kỷ sau, tiền giấy kia ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống, kinh tế Việt Nam.

    Nếu không kể đến tờ tiền giấy thất bại của Hồ Quý Ly thì giấy bạc Đông Dương được xem là tờ tiền đầu tiên của Việt Nam. Đồng Đông Dương mệnh giá 100 đồng bạc được người Pháp phát hành và lưu thông trong thời gian từ 1885 đến năm 1954. Trên tờ tiền có in hình 3 thiếu nữ với trang phục truyền thống của Lào, Campuchia và Việt Nam.

    Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, tiền đồng cũng chính thức được in và lưu thông. Mặt trước tiền đồng có dòng chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” in bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán và hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt sau in hình Công – Nông – Binh. Các con số ghi mệnh giá theo số Ả-Rập hoặc chữ Hán, Lào, Campuchia. 

    Tiền giấy của Việt Nam Cộng Hoà: Từ 1954 đến 1975, nước ta bị phân chia thành hai hai miền Nam – Bắc, mỗi miền lại có một loại tiền riêng nhưng vẫn gọi chung là “tiền đồng”

    Sau giải phóng đất nước 30/4/1975, tiền lưu hành ở miền Nam mất giá và được đổi tên thành tiền giải phóng. Đến năm 1978, sau khi Nhà nước ổn định và thống nhất về tài chính, tiền Việt Nam tiếp tục thay đổi.  

    Hiện nay, tờ tiền mệnh giá 100 đồng không còn được phát hành nữa!

  • Việt Nam có bao nhiêu họ?

    Số Tên Họ Tại Việt Nam

    Việt Nam là nước đa sắc tộc, trong đó 88% là người Kinh, tức Việt. Hiện nay, các nhà nghiên cứu, kể cả chính quyền, chưa có con số thống kê chính thức về tên họ, chỉ có những con số của một vài tác giả. Dĩ nhiên, những con số này không phản ảnh đúng tình hình tên họ. Muốn có danh sách đầy đủ, ta phải cậy nhờ vào chính quyền qua các cuộc kiểm kê dân số.

    Vào năm 1949, ông Nguyễn Bạt Tụy, trong bài Tên Người Việt Nam, cho biết có 308 tên họ. Ông Bình Nguyên Lộc liệt kê 147 tên họ. Ông Dã Lan viết có chừng 300 họ. Ông Vũ Hiệp viết: Khối người kinh có khoảng 150 tên họ, không kể các dân tộc thiểu số thì chưa có thống kê rõ về con số dòng họ, có lẽ độ 109 dòng họ của dân tộc thiểu số mà thôi. Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, trong bài Vietnamese Names and Titles, cho biết Việt Nam có khoảng 300 họ. Giáo sư dựa vào tài liệu của nhà địa lý học Pierre Gourou cho rằng đồng bằng Bắc Việt có 202 dòng họ. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cho là Việt Nam có khoảng 300 tên họ, nhưng thông dụng chỉ khoảng vài mươi. Giáo sư Hà Mai Phương và Bảng Phong, trong bài Lược Khảo Về Tên, Họ Người Việt Nam đưa ra danh sách 351 tên họ. Năm 1992, Tiến sĩ Lê Trung Hoa, trong sách Họ Và Tên Người Việt Nam, tạm đưa ra danh sách 931 họ.

    Tại các nước tây phương, nhờ các cuộc kiểm kê dân số, người ta biết được có bao nhiêu tên họ, họ nào ở đâu có đông người, và mỗi họ chiếm bao nhiêu phần trăm dân số. Ngoài ra, các nhà tính danh học tây phương còn biết được lịch sử, ý nghĩa và xuất xứ của đa số tên họ. Đối với Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ, sau mỗi cuộc kiểm kê dân số, chính quyền nên để ý đến vấn đề thống kê tên họ. Với cá nhân, khi làm công tác nghiên cứu này, lẽ ra chúng tôi phải đến mọi vùng đất nước, nhất là các vùng có người thiểu số để thu thập dữ kiện. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh chưa cho phép, nên xin tạm đưa ra danh sách tên họ, dựa trên tài liệu thâu thập được trong thực tế và trong sách vở. Ước mong quý vị thức giả, nhất là các nhà dân tộc học, xin để ý đến vấn đề ý nghĩa và xuất xứ tên họ để một khi có đủ tài liệu, ta biết được lịch sử, ý nghĩa, và sự phân phối các dòng họ Việt Nam như thế nào.

    Ðể độc giả biết các sắc tộc tại Việt Nam có họ như thế nào, chúng tôi liệt kê tên họ theo sắc tộc. Chọn lựa này giúp độc giả biết mỗi sắc tộc có họ gì, nhưng cũng dễ làm ta lẫn lộn người sắc tộc này với sắc tộc khác, vì nhiều sắc tộc khác nhau có cùng họ. Ví dụ: sắc tộc Bố Y, Thổ, Trung Hoa, Kinh (Việt) đều có họ Phan. Sắc tộc Bố Y, Cao Lan, Chàm, Trung Hoa, Kinh đều có họ Dương, rất nhiều sắc tộc có họ Hoàng v.v…

    TÊN HỌ VIỆT NAM XẾP THEO SẮC TỘC.

    Sắc tộc Bố Y: Dương (Zàng), Lỗ (Lồ), Lục (Lù), Ngũ (Ngủ, U), Phan (Phán), Vi (Vầy),Vủ (Vù).

    Sắc tộc Brâu : Kía.

    Sắc tộc Cao Lan – Sán Chỉ : Chu, Dương, Ðàm, Hà, Hoàng, La, Lý, Liêu, Lương, Ninh, Nông, Tiêu, Trần, Trưởng, Vi.

    Sắc tộc Co : Ðinh, Hồ, Lê, Trương.

    Sắc tộc Côống: Chang, Chảo, Hù, Ly, Lò, Lùng.

    Sắc tộc Cơ Ho (Chil): Adat, Buôr, Bondưng, Bontô (buolto), Brôl, Bullya, Chifichoreo, Chil, Chilyú, Chil Mup, Ðayout, Ðayk, Ðazur, Ðakriêng, Ðé, Ðoắt, Ðưngur, Kơ, Kdun, Klong, Kon Sar, Kơpa, Kơsă, Kơsar,Kơsor,Kơsơ,Krazanh, K’tol, Lâm Biêng, Lémou, Liêng Hót, Liêng Zarang, Lơmu, Mơ Bon (Mbon), Păng Tin, Próc, Rglê, Rờ Ô (Rơ Ô, Rờ Ôn), Sarem, Sơ Ao, Sơ Kết, Srê.

    Sắc tộc Cơ Tu : A Chuếch (nước), A Dốt (vượn), A Mu (chó), A Rắt (con cuốc), Drâm (cái đầu), Nđnok (con bò), Prông (con sóc), Vọt (con khỉ).

    Sắc tộc Cờ Lao : Cáo, Chảo, Chéng, Hồ Lý, Min, Sáng, Sềnh, Sú, Vần.

    Sắc tộc Chàm (Chăm): Bá, Bạch, Báo, Bố, Châu, Chế, Chiêm, Cửu, Dụng, Dương, Ðàng, Ðạo, Ðạt, Ðổng, Fatimah, Hàm, Hán, Hứa, Kiều, Kim La, Lâm, Lộ, Lưu, Ma, Mahomach, Mang, Mân, Miêu, Nại, Não, Nguyễn, Ông (Ôn), Phú, Qua, Quảng Ðại, Sa Mách, Tài, Từ, Thành, Thập, Thị, Thiên Sanh, Thiết, Thổ, Thuận, Trà, Trương, Trượng, Văn.

    Sắc tộc Chu Ru : B’nahria, Crugiang, Dnơng Sang, Ðơ Lơng, Ya, K’bao, B’nuh, Ma, M’hỏi.

    Sắc tộc Dao : Bạch, Bàn, Bao, Ðối, Ðường, Lan, Lý, Mãn, Mùng, Phùng, Phương, Trần, Triệu.

    Sắc tộc Ðan Lai : Da, La, Lê, Vi.

    Sắc tộc Ê Ðê : Adrâng (adrơng), Ayun, Ayun Cư, Ayun Tul H’wing, Arul, Atul, Buôn Yah (Yă), Buôn Krông, Duốt, Eban, Eban Rah Lan, Emô, Enuol, (Ênuôn), Êman, Êmê, H’dơk, H’druê, Hmok, Hwing, Jdrơng, Kbul, Kêbour, Knul, Kpă, Kpơr, Ksor, Ktla, Ktub, Ktul, Mjâo, Mlô Ðuôn Ðu, Mlô Hut, Mlô Ksêi, Niê Blô, Niê Buôn Ðáp, Niê Buôn Rip, Niê Căm, Niê Gok, Niê Kđăm, Niê Hrak, Niê Mhiêng, Niê Mkriêk, Niê Mla, Niê Mlô, Niê Siêng, Niê Sơr, Niê Suk, Niê Tô, Niê Tray.

    Sắc tộc Gia Rai : Hieu, Kpa, Ksor, Nây, Pui, Rahlan, Ramah, Rchom, Rơô, Siu.

    Sắc tộc Giáy : Vùi.

    Sắc tộc Giê – Triêng : Bluông, Bruôt, Căp Năng, Ê Duốt (tên loài chim) Khoông, Kriêng, Na Xó (vùng đất đỏ).

    Sắc tộc Hà Nhì : Bờ, Có (cáo), Chu, Lò, Ly, Lỳ, Phà, Phu, Sần, Sờ, Toán, Vù.

    Sắc tộc Hàng Tổng : Cảnh, Cầm, La, Lang, Lê, Lô, Lộc, Lự, Lưu, Mạc, Nà, Núi, Nguyễn, Phùng, Trần, Trịnh, Vi, Vũ.

    Sắc tộc Hmông : Giàng, Ly, Thào, Và, Vàng.

    Sắc tộc Trung Hoa (ở Việt Nam): An, Âu, Âu Dương, Bá, Bạch, Bàng, Bành, Bao, Bì, Bồ, Bùi, Cái, Cam, Can, Cao, Cáp, Cát, Cổ, Công, Cung, Chân, Chu, Chúc, Chử, Dao, Diệc, Diệp, Doãn, Dư, Dương, Ðái, Ðàm, Ðan (Ðơn) Ðào, Ðặng, Ðậu, Ðịch, Ðiền, Ðiêu, Ðinh, Ðoàn, Ðỗ, Ðông, Ðồng, Ðường, Giản, Giang, Giáp, Hà, Hạ, Hàn, Hán, Hạng, Hầu, Hinh, Hình, Hoa, Hoàng, Hoắc, Hồ, Hồng, Hùng, Hứa, Hướng, Kỉ, Kiều, Kim, Kha, Khoan, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khứa, Khưu, Khương, La, Lã (Lữ), Lạc, Lai, Lao, Lăng, Lâm, Lê, Lệ, Lý, Liên, Lô, Lộ, Lôi, Lu, Lục, Lư, Lương, Ma, Mã, Mạc, Mạch, Mai, Mạnh, Mao, Mẫn, Mộc, Mục, Ninh, Ngạc, Ngô, Ngũ, Ngụy, Ngươn, Nguyễn, Nghê, Nghị, Nghiêm, Nhan, Nhâm, Nhữ, Ô, Ông, Phạm, Phan, Phàn, Phó, Phù, Phú, Phùng, Phương, Quách, Quan, Quản, Quang, Sầm, Si, Sĩ, Sở, Sử, Tạ, Tả, Tào, Tăng, Tân, Tần, Tất, Tiêu, Tô, Tôn, Tống, Từ, Tưởng, Thái, Thang, Thành, Thẩm, Thân, Thiệu, Thời, Thường, Toàn, Trác, Trang, Trần, Triệu, Trình, Trịnh, Trương, Ung, Uông, Văn, Vân, Vu, Vũ, Vương, Vưu, Xa.

    Sắc tộc Kinh (Việt) : A, Ai, An, Áo, Ân, Âu, Bá, Bà, Bạc, Bạch, Bàn, Bàng, Bành, Bảo (Bửu), Bạt, Bằng, Bê, Bế, Bi, Bì, Bia, Biên, Biện, Bình, Bố, Bồ, Bổ, Bôi, Bông, Bu, Bùi, Ca, Cả, Cai, Cái, Cam, Cảm, Can, Càng, Cánh, Cảnh, Cao, Cáo, Cáp, Cát, Căn,Cắt, Cầm, Cần, Cấn, Chan Chàng, Châm, Chân, Châu, Chế, Chi, Chim, Chiêm, Chiều, Chu (Châu), Chúc, Chung, Chuyên, Chử, Chức, Chương, Cô, Cố, Cổ, Cốc, Công, Công Huyền, Công Nữ, Công Tằng Tôn Nữ, Công Tôn, Cống, Cù, Cung, Cự, Cửu, Dã, Danh, Dân, Dì, Dị, Diệc, Diệp, Diêu, Diệu, Doãn, Dụ, Dung, Duy, Dư, Dương, Ða, Ðác, Ðái, Ðàm, Ðan (Ðơn), Ðào, Ðạo, Ðắc, Ðằng, Ðặng, Ðấu, Ðẩu, Ðậu, Ðèo, Ðiêm, Ðiền, Ðiệp, Ðiêu, Ðiều, Ðiểu, Ðiệu, Ðịch, Ðinh, Ðình, Ðịnh, Ðoái, Ðoàn, Ðồ, Ðỗ, Ðối, Ðôn, Ðông, Ðồng, Ðống, Ðổng, Ðức, Ðường, Gan, Giao, Giản, Giang, Giáng, Giao, Giáp, Giệp, Gioãn, Giốc, Gương, Hà, Há, Hạ, Hai, Hàm, Hàn, Hán, Hang, Hàng, Hạnh, Hào, Hảo, Hạp, Hâm, Hầu, Hê, Hi, Hinh, Hình, Hò, Hoa, Hoài, Hoan, Hoàng (Huỳnh), Hoắc, Hồ, Hội, Hồng, Hung, Hùng, Hui, Huy, Hứa, Hương, Hướng, Kan, Kem, Kha, Khả, Khâm, Khâu, Kheo, Khiên, Khiếu, Khôi, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khương, Khưu, Kiên, Kiện, Kiều, Kiệu, Kim, Kỷ, La, Lã, (Lữ), Lại, Lại, Lang, Lanh, Lãnh, Lão, Lăng, Lâm, Lầu, Lê, Lều, Lịch, Liêm, Liên, Liêng, Liêu, Liễu, Linh, Lĩnh, Liu, Lò, Lô, Lỗ, Lộ, Lộc, Lôi, Lợi, Lù, Lục, Luyện, Lữ, Lương, Lưu, Lý, Ma, Mã, Mạc, Mạch, Mai, Man, Mang, Mạnh, Mao, Mẫn, Mật, Mậu, Mẫu, Mị, Miên, Minh, Mục, Mùi, Nan, Nga, Ngạc, Ngân, Nghê, Nghi, Nghĩa, Nghiêm, Nghiên, Ngọ, Ngọc, Ngô, Ngũ, Ngụy, Nguyễn, Ngư, Ngưu, Nhã (Nhữ), Nham, Nhan, Nhạn, Nhâm, Nhân, Nhất, Nhiếp, Nhung, Niên, Ninh, Nông, Nung, Nùng, On, Ong, Ô, Ôn, Ông, Phạm, Phan, Phàn, Phẩm, Phí, Phó, Phòng, Phô, Phù, Phú, Phúc, Phùng, Phương, Quách, Quan, Quản, Quang, Quảng, Quấc (Quốc), Quân, Quất, Quyên, Quyến, Quyền, Quỳnh, Roãn, Sa, Sái, Sam, Sâm, Sầm, Sẩm, Sĩ, Sở, Sơn, Sử, Sưu, Tạ, Tán, Tang, Tào, Tạo, Tảo, Tắc, Tăng, Tân, Tần, Tất, Teo, Tha, Thạc, Thạch, Thái, Thang, Thanh, Thành, Thảo, Thẩm, Thân, Thê, Thể, Thềm, Thi, Thiên, Thiện, Thiết, Thiệt, Thiều, Thiệu, Thịnh, Thông, Thôi, Thủ, Thục, Thượng, Ti, Tích, Tiên, Tiến, Tiệt, Tiêu, Toàn, Tô, Tôn, Tôn Thất (Tôn Nữ) Tống, Tuyên, Trà, Trác,Trang, Trầm, Trần, Tri, Trí, Triển, Triệu, Trình, Trịnh, Trong, Tru, Trung, Trừ, Trực, Trưng, Trương, Trượng, Tuân, Tuấn, Tùng, Tư, Từ, Tường, Tướng, Tưởng, Tượng, U, Ủ, Uất, Ung, Uông, Uyển, Ưng, Ứng, Ửng, Vạn, Văn, Vân, Vận, Vầu, Vệ, Vi, Viêm, Viên, Viết, Vinh, Vĩnh, Vịnh, Vu, Vũ (Võ), Vòng, Vỏng, Vô, Vù, Vương, Vưu, Vỹ, Xa, Xuân, Yết.

    Sắc tộc Khơ Me : Bàn, Binh, Chanh, Chau (Chao, Châu), Chiêm, Danh, Dương, Ðào, Ðiều, Ðoàn, Ðỗ, Hoàng (Huỳnh), Hứa, Kỳ, Kim, Khan, Khum, Khưu, La, Lâm, Lê, Lý, Liêu, Lộc, Lục, Lưu, Mai, Néang (Neong, Nương), Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Phạm, Sơn, Tăng, Tô, Từ, Tưng, Thạch, Thị, Thuận, Trà, Trần, U, Uônth, Xanh, Xath, Xum.

    Sắc tộc Khơ Mú : Chưndre, Di Vê, Goi, Hrlip, Ho Họa, Hual, Ir Glaa, Kưmbur, Khư Tlốc, Klảng, Lang Tu, Ma, Moong, Ôm Cô Tlê, Ôm Lít Praga, Rét, Ric, Rivi, Rvai Deer, Rvai Tlăp, Rvai Veng Ung, Rvai Xênh Khương, Tgoóc Xloóc Ôm, Tiác, Thrăng, Tmoong Hol, Tmoong Rung, Tong, Tvạ Ngăm, Tvạ Tờ Rông Blai, Tvạ Vơor, Xoong.

    Sắc tộc La Chí : Ly, Lùng, Tận, Vương.

    Sắc tộc La Hủ : Cha, Chang, Giàng, Hoàng, Ky, Ly, Lò, Pờ, Phản, Phù, (Lo Phù), Thàng, Vàng.

    Sắc tộc Lào : Ca, Lò, Lường, Vi.

    Sắc tộc Lô Lô : Bàn, Cáng, Cổ, Chi, Chông, Dào, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lồng, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thồ, Vàng, Văn.

    Sắc tộc Lữ : Lò, Tao, Vàng.

    Sắc tộc Mày : Cao, Hồ.

    Sắc tộc Man Thanh : Chưởng, Kha, Lang, Lò, Lô, Lộc, Lư, Ngân, Quang, Vì.

    Sắc tộc Mèo : Cù, Giàng, Hản, Hầu, Lâu, Ly, Lù, Lùng, Mã, Mùa, Pa, Sùng, Tẩn, Thào, Thèn, Tráng, Vàng, Vù.

    Sắc tộc Mnông : Ba Sưr, Bing, Byang, Bu Ðăm, Bu Ðớp, Bu Sor, Bu Tông, Bun Ô, Bun Tol, Buôn Krông, Chín, Ðak Cat (Ðắc Chắt), Ðinh Ðrang, Ja, Kliêng, Liêng, Liêng Hot, Long Ding, Lưk, Mbuôn, Mdrang, Mok, Nđu, Nong, N’tơr, Ong, Pang Pé, Pang Sur, Pang Ting, Pang Trong, Phi Mbre, Phok (Phôk), Rche, Rchil, Riam (Ryam), Rlăk, Sruk, Tơr, Tu Mol, Triek (Triếc) Uê Dak, Vmăk.

    Sắc tộc Mường : Bạch, Bùi, Cao, Ðinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh, Xa.

    Sắc tộc Nguồn : Cao, Ðinh, Hồ, Ngô, Nguyễn, Thái, Trương.

    Sắc tộc Nùng: Lành, Long, Mông, Vòng.

    Sắc tộc Ơ Ðu : Khăm, Lò.

    Sắc tộc Pà Thẻn : Ðờ (Ca Ðo) Hưng, Làn (Ca La Me), Lìu (Dìu), Phù (Ca Bô), Sình ( Ca Sơ),Táy, Tảy, Tấn, Tẩn, Vàn.

    Sắc tộc Pu Nà : Chảo (Triệu), Giàng (Dương), Phán (Phan), Trần, Vàng (Vương)

    Sắc tộc Pu Péo : Củng, Chồ, Chúng, Giàng, Lèng, Lù, Lùng, Ka Bởng, Ka Bu, Ka Căm, Ka Cung, Ka Chăm, Ka Rảm, Ka Ru, Ka Rựa, Ka Sô, Pề, Phủ, Thào, Tráng, Vàng,

    Sắc tộc Phù Lá: A Sí, Nhơ Hê

    Sắc tộc Quỉ : Hữu Vi, Lò Khăm (Sầm), Mướn Quán (Lang).

    Sắc tộc Raglai : Ba Rau, Bo Bo, Catơ (Katơr), Cà Mau, Copuró, Chamalé, Chip, Do, Hà Dài, Jarao, Lao, Man, Patau Axá, Pateh, Pinăng, Pupor.

    Sắc tộc Rhadé : Ayun, Buôn Driêng, Buôn Krong, Éban, Hdok, Mlô, Niê Kdam, Niê Hrah, Niê Kriêng, Niê Siêng.

    Sắc tộc Sán Dìu : Diệp, Lê, Lý, Ninh, Tạ, Từ, Trần, Trương.

    Sắc tộc Si La : Hù, Pồ (Bờ).

    Sắc tộc Stiêng : Ðiểu

    Sắc tộc Tà Ôi : Avét, Hoa Hăr.

    Sắc tộc Tày Mười : Anh, Kha, Lô, Lộc, Lương, Núi, Ngân, Vàng, Xay, Xền.

    Sắc tộc Tày Pọng : La, Viềng

    Sắc tộc Tu Dí : Cháng, Dì, Giàng, Hoàng, Lồ, Nùng, Phố, Phùng, Thàng, Vàng, Vùi.

    Sắc tộc Thái : Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà, Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Ðèo, Ðiều, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm),Lý, Lò (Lô, La), Lộc, Lự, Lường (Lương), Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Ðào), Tạo, Tòng (Toòng) Vang, Vì (Vi, Sa) Xa, Xin.

    Sắc tộc Thổ : Bùi, Cao, Chu, Hoàng, Hồ, Lê, Nguyễn, Phạm, Phan, Trần, Trương.

    Sắc tộc Thủy : Bàn, Lý, Mùng

    Sắc tộc Xá Khmú : Co, Cút, Hùng, Lự, Moong, Xeo.

    Sắc tộc Xinh Mun: Cút, Hoàng, Lò, Lường, Mè.

    Nguyễn Long Thao
    VietCatholic News (Chúa Nhật 19/12/2004)
  • “Tiếng Lóng” Slang của người Saigon xưa và người Hoa

    “Tiếng Lóng” Slang của người Saigon xưa và người Hoa

    Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian, tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”, những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn bị tạm chiếm, Tây – Mỹ nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn, thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là “mã tà”, vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”.

    Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới, thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”, hách dịch tự cao gọi là “chảnh”.

    Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình, ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

    Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la… ghi” tức uống café thiếu ghi sổ…Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi “nhật trình”. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là “tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là “tin chó cán xe”, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là “tin vơ-đét” vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là “xào bài”, truyện tình cảm dấm dớ gọi là “tiểu thuyết 3 xu”, các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là “báo lá cải”. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”.

    hinh anh cho lon sai gon xua

    Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là “tịch”, “hai năm mươi”, “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư, thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là “vòng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần” tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là “Đoàn Chỉnh Thuần” tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé… Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng “ăn theo” mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng “OK Salem”, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là “sén” hay “chó lửa”, dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu” còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ “dân chơi cầu ba cẳng” thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”?

    Đó cũng là lúc các tiếng lóng như “dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
    Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xô xích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm “lu xu bu” nại lý do không rõ ràng để trốn việc. Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm bình dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là “dở hơi”…

    Nguồn:Facebook

  • Phong tục xem bói của người Sài Gòn xưa

    Hôm nay chúng ta cùng nhau quay trở về Sài Gòn trước năm 1975 xem phong tục xem bói của người xưa cũng như các thầy bói năm xưa ra sao nhé.

    “Mỗi năm, hoa đào nở,
    Lại thấy ông đồ già,
    Bày mực tàu giấy đỏ,
    Trên phố đông người qua.

    Năm nay đào lại nở,
    Chẳng thấy ông đồ xưa,
    Những người muôn năm cũ,
    Hồn ở đâu bây giờ !”

    Hai đoạn thơ giản dị của Vũ Đình Liên không ngờ ở lại với đời lâu đến thế, lâu đến nỗi, hầu như mỗi lần Tết đến, có dịp viết bài về xuân, là mỗi lần ‘các nhà văn’ lại nhớ đến hoa đào nở với ông đồ già như biểu tượng một cài gì đẹp đẽ nhất đã đi qua, và không bao giờ trở lại, ngày Tết, nhớ ông đồ già. Nhớ những ông đồ già, những cụ đồ già với mực tàu giấy bản, với ngọn bút lông. Đó là các cụ xưa kia đã ngồi bên lề đường để viết câu đối bán cho khách mang về treo trong ba ngày Tết. Nhưng không phải chỉ có thế. Hình ảnh ấy còn gợi cho ta nhớ đến các ông thầy, thầy đoán mạng, thầy coi số, coi tướng, gọi chung là thầy bói, đã hàng chục năm hành nghề ở quê hương xưa, đã từng tạo nên một phong trào vô cùng phát đạt, đặc biệt tại Sài gòn, ngày Xuân đi lễ Lăng Ông là một hình ảnh đẹp làm sống lại cảnh phồn vinh đã thực sự có một thời tại miền Nam thân yêu. Ghi lại đầy đủ, càng đầy đủ càng hay, về các vị thầy bói đã một thời tạo nên một phong trào phát đạt như đã nói trên, cũng là một đóng góp đáng kể vào ‘công cuộc bảo tôn văn hóa’ vậy.

    1.Các Thầy tại Lăng ông :

    Lăng Ông là lăng đức Tả Quân Lê Văn Duyệt ở Gia Định, còn gọi là Lăng Ông Bà Chiểu. Lăng không phải chỉ là một nấm mộ được xây thành chung quanh, mà là cả một dinh cơ rộng lớn, kiểu như lăng các vua nhà Nguyễn ngoài Huế vậy : lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức…Tại đây có rất nhiều thầy bói hành nghề. Có những người đi lại ngay trong lăng, giữa lúc thiện nam tín nữ nhân ngày xuân đi lễ đình chùa, và nhất là đến Lăng để xin xăm, gieo quẻ, cầu nguyện hôn nhân. Thường các thầy bói trong Lăng ngồi rải rác khắp nơi và tự động di chuyển. Trải ra một chiếc chiếu hoa và đặt ‘đồ lề’ lên trên. Có khi bày ra một chiếc bàn nhỏ với vài chiếc ghế nhẹ, phần đông các thầy bói đều thuộc lớp các cụ xưa, mặc áo dài đen và đội khăn đóng. Nhưng cũng có người muốn tỏ ra thuộc giới có tân học, mặc đồ tây và đeo kính ‘trí thức’. Cũng có người mặc bộ bà ba bình dân cho thoải mái và có vẻ ‘bất cần đời’. Tuy ăn mặc khác nhau, nhưng đã gọi là thầy bói thì vị nào cũng bày ra chỗ hành nghề các thứ giống nhau: một bộ bài tây, ít quyển sách chữ Hán, những xâu chân gà luộc phơi khô, cái mu rùa để bốc. Ngoài ra còn có đèn nhang, giấy màu đỏ và bút lông, mực xạ, các ông thầy này đón khách ngay cửa vào Lăng, trong khi các vị thầy khác đều có chỗ ngồi nhất định. Những chỗ ngồi này đều có đóng thuế môn bài hàng năm khoảng chừng một ngàn đồng cho chính phủ, và vì vậy họ có kê được bàn ghế đàng hoàng, có tấm ‘tăng’ để che mưa nắng, có khi còn có mái lợp như một phòng nhỏ, trên bãi cỏ. Bên hông trái Lăng Ông, trên một phía lề đường Trịnh Hoài Đức là nơi họ tập trung, chừng 20 vị. Thường là họ đoán vận mạng, tình duyên cho khách theo thẻ xăm rút được.

    Lăng Ông nổi tiếng với vụ này đến nỗi trong một bài hát của ban hợp ca AVT có đoạn rất tếu :
    “Năm mới đừng để vợ la / Đừng chơi cờ bạc đừng ra bót nằm / Chi bằng đi lễ Lăng Ông / Đầu Xuân năm mới xin xăm cầu tài / Mồng một đi lễ Lăng Ông / Cầu anh đắc lộc bằng trăm ngày thường.”

    2.Các Thầy Bói Người Tàu (Hoa)

    Tại một số khách sạn sang trọng ở Chợ Lớn xưa kia như Bát Đạt, Phượng Hoàng, Đồng Khánh, có một số các ông thầy người Trung Hoa nổi tiếng đặt trụ sở hành nghề và cũng thu hút khách người Việt thuộc giới ‘tư sản mại bản’ ! Họ có những cái tên nghe thật quyến rũ (về phương diện huyền bí) như : Sơn Đầu Bạch Vân Đại Sư, Đại Lục Tiên, Hà Thiết Ngôn Đại Sư…,các vị bốc sư người Trung Hoa này thường tự xưng là bốc sư đại tài từ Hồng Kông sang và tự tạo cho mình một vẻ tiên phong đạo cốt đặc biệt. Tuy vậy, một khi họ đã đặt trụ sở hành nghề thì điều trước tiên để đến với….các tiên ông vẫn là tiền! Các thầy này không biết nói tiếng việt nên tất nhiên phải có thông dịch viên nếu không phải là người Tàu. Ngoài ra, còn có mấy vị nữa cũng mang những đại danh rất là kiếm hiệp như : Sơn Đầu Mã Ngọc Long, Mã Cơ Sanh!..,khoảng năm 1971, 1972 quý vị thầy này chỉ coi tay tài lộc trong hai năm cũng đòi năm ngàn, chọn ngày làm ăn buôn bán thì mười ngàn, lấy số tử vi thì ba chục ngàn. Họ xưng danh đại sư từ bên ‘đại quốc’ qua, và dù chỉ một lần, họ cũng hấp dẫn được khách hiếu kỳ hay hữu sự tìm đến họ. Họ sống một cuộc đời sung túc, vương giả, bay từ nước nọ qua nước kia, suốt đời ở khách sạn, ăn cao lương mỹ vị tại các đại tửu lầu, thật ra các vị thầy Tàu này đến Việt Nam hay các nước vùng Đông Nam Á thì có thể bịp được, chứ riêng dân Trung Hoa ở Chợ Lớn thì không tin. Họ cho rằng đó chỉ là những tên vô tài bất tướng, không có nghề nghiệp gì để sống bên chính quốc nên mới phải đi tha phương cầu thực như vậy.

    3.Thầy bói của các nhân vật chính trị:

    Vào khoảng năm 65-67 tại Sài gon, hễ dở những tờ báo ở trang quảng cáo ra, ai cũng phải để ý đến những dòng bốc thơm các vị thầy bói. Nào là ‘giáo sư thần học’, ‘chiêm tinh gia’, ‘maitre’, ‘quỷ cốc đại sư’…Họ làm ăn phát đạt, có uy thế mạnh mẽ, được trọng vọng nể vì bởi chính các nhân vật hàng đầu của quốc gia,không ai không biết chuyện đầu năm Nhâm Tý, đại tá Trần Văn Lâm giám đốc Việt Tấn Xã đã long trọng mời ba ông thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Cũng không ai quên (nếu đã được biết) thầy Vũ Hùng ở đường Nguyễn Trãi Sàigòn đã treo tại phòng khách của thầy một bức tranh sơn mài tuyệt đẹp, có khắc hàng chữ :’Ông Nguyễn Bá Lương, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, kính tặng nhà tướng số Vũ Hùng’..,người ta cũng được nghe nhiều giai thoại về những cuộc tiếp đón các nhân vật lớn của chính quyền miền Nam của một ông thầy nổi tiếng ở Cao Nguyên. Ông thầy Chiêm còn trẻ và không mặc áo dài, đội khăn xếp như ai. Ông mặc Âu Phục đúng mốt nhưng kiểu trẻ và luôn luôn diện kính ‘mát’, trông rất ‘bô trai’ .Nếu không biết ông từ trước thì khó ai trông thấy ông đi bát phố (khu Hòa Bình) mà lại ngờ được đó là một ông thầy bói! ông tỏ ra là một người khôn ngoan lanh lợi. Tuy vậy, với tư cách thầy bói, ông đã xử sự như người đời xưa, như trong chuyện Tàu. Người ta đồn rằng chính ông đã được hân hạnh đón tiếp các nhân vật lừng danh : Cụ Phan, ông Nguyễn, ông Hà… và đã làm một cử chỉ rất điệu là là sụp xuống lạy và nói : ‘Ngài quả là có chân mạng đế vương !’ Người ta cũng ghi nhận rằng do lời tiên đoán và sự xuất khấu đầu đảnh lễ của ông thầy, trong một năm nào đó , tại miền Nam, đã có tới 11 vị có chân mạng đế vương ra tranh chức tổng thống! chừng đó, đủ chứng tỏ uy tín của ông thầy Chiêm lớn lao như thế nào, cũng không phải chỉ riêng ở nước ta, mà hình như ở đâu thì chính khách cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề bói toán. ‘Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.’ Không tin hẳn, nhưng nếu cứ bói thử thì vẫn còn hơn là tự quyết định vận mệnh quốc gia. Có lẽ ở quốc gia nào, dù Tây phương hay Đông phương, thì mỗi chính khách đều có riêng một ông thầy, cũng như một ông bác sĩ tư, một bà bí thư riêng nữa vậy!

    Với các chính khách, các thầy không những bấm độn, coi tướng, mà còn đưa ra những lời khuyên để thay đổi tướng mạo cho được ông thành danh toại hơn. Ví dụ, một vị tướng có một khuôn mặt quá ngắn và lưỡng quyền cao, thì được ông thầy cho hay như vậy phúc đức sẽ từ lưỡng quyền trôi tuốt luốt hết. Muốn cho công danh phát triển được lâu bền thì phải làm cho khuôn mặt dài ra, bằng cách để một chòm râu thòng xuống. Quả nhiên khi để râu dài như vậy, khuôn mặt tướng quân thon hơn, tướng mạo đổi khác nhiều lắm. Cũng có trường hợp một chính khách đầu đã bạc phải nhuộm, nhưng ông thầy cho biết nếu nhuộm tóc sẽ ảnh hưởng xấu đến cái tướng đang phát rất tốt đẹp. Vì vậy nhà chính khách đành buộc lòng để nguyên đầu tóc bạc phơ, trong lòng buồn vô hạn!..,những anh em, phần lớn là văn nghệ sĩ, nhà báo, hay ngồi ở quán Givral ngày xưa còn nhớ chuyện người ta kháo nhau rằng đáng lẽ cuộc đảo chánh hay ‘cách mạng’ năm 1963 phát động sớm hơn, nhưng vì các thầy đã bấm độn thấy là không được, nên đã phải dời qua ngày 1/11/63 đấy !..,cũng có vị chính khách được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời. Những giai thoại trên chứng tỏ rằng ở một giai đoạn lịch sử đã qua, các vị thầy bói đã có ảnh hưởng thật lớn, nếu không nói là đã đóng những vai tro quan trọng trên chính trường.

    4.Các thầy bói nổi tiếng nhất xưa nay:

    Lẽ tất nhiên, chúng ta không ai có thể dám nói rằng mình biết được hết tên tuổi các vị thầy bói Giao Chỉ, dù chỉ riêng tại Sài gòn và phụ cận, chứ đừng nói là ở khắp nước Việt Nam
    ================
    Sau đây cũng chỉ là một số tên tuổi lẫy lừng nhất được nhiều người biết, trước hết phải kể đến các Bà Thầy: Bà Anna Phán, dường như xưa kia có chồng là người Pháp, đã nổi tiếng một thời từ ngoài Bắc, Hà nội. Khi bà theo làn sóng di cư trôi vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng lộc thánh hãy còn, trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà hình như là người Pháp và cũng mang cái tên rất đầm : Madame Claire.

    Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá.

    Cô Bích, một thiếu phụ nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng, là người Đà Nẵng. Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi đồng lên, cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 80, nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở Đường Đinh Công Tráng thuộc quận Tân Định. Vào khoảng cuốn năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi, hình như bà đã trúng tuyển kỳ thi hoa hậu do báo Đời Mới của ông Trần Văn Ân Tổ chức, cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao. Tuy các bà thầy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng ít hơn. Người ta còn nhớ tại Sàigòn có các thầy nổi tiếng như : Gia Cát Hồng, giáo sư Khánh Sơn, thầy Nguyễn Huy Bích, thầy Minh Lộc, thầy Minh Nguyệt, thầy Lanh, thầy Diễn và thầy Ba La.

    Thầy Gia Cát Hồng tên thật là Phạm Bảo, nguyên là công chức thuộc nha cảnh sát công an Bắc Việt trước 1954. Sau khi di cư vào Nam, ông Bảo thôi nghề công chức, sau đó một thời gian mới mở văn phòng đoán vận mệnh tại đường Trần Quốc Toản, gần Việt Nam Quốc Tự. Thầy tự quảng cáo là nhà tiên tri xem tử vi, chữ ký. Nổi tiếng về tài xem tử vi mà nói đúng được diên mạo người xem, tầm vóc, lớn nhỏ, nghề nghiệp, màu da…mà không cần trông thấy mặt, ngoài việc bói toán, thầy Gia Cát Hồng kiêm luôn nghề thầy thuốc chữa những bệnh như: kinh phong, phong ngứa, phong tình…kết quả rất tốt. Thầy làm ăn phát đạt đến nỗi chẳng mấy chốc đã trở nên chủ nhân ông nhiều tài sản lớn.

    Thầy Nguyễn Huy Bích : Cũng chánh quán Bắc Việt, là người bị mù từ thuở sơ sinh, đã hành nghề từ phố Huế Hà nội 36 năm, sau mới vào sàigòn theo đợt di cư. Trong các thầy lừng danh, cụ Bích nổi tiếng là người hiền lành đứng đắn. Cụ rất ngại mở rông sự giao tiếp, dù rằng thân chủ tìm đến rất đông. Cụ cũng chỉ xem cho người quen, để có thể nói thật mà không sợ mất lòng hay gây thù oán. Nhiều nhà văn ở Sàigòn là bạn thân của thầy Bích. Ngoài ra cụ Bích cũng là bạn thân của đạo sĩ Ba La. Không chủ trương kiếm nhiều tiền, cụ Bích không có của chìm của nổi như thầy Gia Cát Hồng.

    Thầy Minh Nguyệt, không như thầy Gia Cát Hồng tự xưng là nhà tiên tri, thầy Minh Nguyệt tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ. Đặc biệt, riêng thầy Minh Nguyệt còn biết đủ thập bát ban võ nghệ, ngoài tài tử vi và xem chỉ tay, nhiều đồng hương đến nay đã ra nước ngoài mà xưa kia đã từng đến coi bói tại văn phòng giáo sư Minh Nguyệt vẫn nhớ giọng nói miền Nam rất vui vẻ của ông – giống như kịch sĩ Tùng Lâm – và cũng nhớ căn phòng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam trở về cố quốc. Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Trong số hàng chục ngàn thân chủ, có cả hàng chục cô mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư ‘Sáng Như Mặt Trăng’, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ ‘trăng hoa.’

    Thầy Minh Lộc : cũng sinh quán từ Bắc Việt di cư vào Nam, mở văn phòng tại đường Lê Văn Duyệt Sàigòn. Thầy là người đã hành nghề lâu năm trước, từ ngoài Bắc, và có thụ giáo với một số thầy khác. Điểm đặc biệt là thầy Minh Lộc rất khó tính, nghĩa là nói thẳng, nói ngang, nói như tát nước vào mặt người đến năn nỉ xin thầy xem giúp. Đây cũng là đặc điểm chung của các thầy muốn tỏ ra tự trọng, áp dụng câu châm ngôn rút ra từ truyện Kiều : ‘Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm vàng’. Lắm khi thầy mắng người ta đến xấu hổ và xua tay đuổi như đuổi tà, nhiều người giận bỏ về, nhưng rồi lại cứ mò tới !..,tự trọng và treo giá là phải, vì thầy đoán rất hay. Có người đã tắt thở, thân nhân đã đặt hòm, mà thầy vẫn xem tử vi và bấm độn quả quyết số này chưa mãn. Quả nhiên người ấy hồi sinh, và thân nhân trả hòm lại mà không lấy tiền về, xem như là để ăn mừng vậy. Và cũng như phần đông các thầy đã nổi tiếng, thầy Minh Lộc không chạy được ra nước ngoài vào đợt di tản 30-4., kể cả thầy Chiêm và thầy Khánh Sơn cũng không !

    Thầy Nguyễn Văn Canh, cũng là người sinh quán tại Bắc Việt (Nam Định). Thầy Canh cũng mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai. Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà nội, và đã di cư vào Nam sau 1954. Điểm đặc biệt của thầy Canh là có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy là một nghề rất sáng giá tại quê nhà, vào thời buổi ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri, dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khoẻ dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào. Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao! Đến nay, tại Mỹ, nhiều người còn nhớ được câu ‘mệnh vô chính diệu đắc tam không’ là nhờ học được của thầy Canh.

    Thầy Lê Văn Diễn. Người viết bài này không dám tin chắc họ của thầy Diễn là họ Lê, chỉ nhớ là ngưòi ta đã gọi vậy, nhưng phần đông đều chỉ gọi là thầy Diễn. Không như các thầy ở ngoài Bắc di cư vào Nam, thầy Diễn là công chức miền Nam đã về hưu. Nhà riêng ở đường Hiền Vương gần đất Thánh Tây, nhưng thầy ít khi tiếp khách tại nhà, mà thường thân chủ muốn rước thầy phải hẹn trước hàng tháng, hàng tuần,và thỉnh thầy về nhà một cách long trọng, thầy không nổi tiếng với khoa tướng số tử vi hay bấm độn, hay bói tướng, mà tự nhiên có thể xuất thần nói được những điều huyền bí, tiên tri ghê gớm về quá khứ vị lai. Tây phương gọi loại thầy tiên tri này là Medium, điểm đặc biệt của thầy cũng lại là khó tính. Thầy tối kỵ nhận tiền bạc hay lễ lạc của thân chủ, dạy rằng nếu được trả tiền thì bao nhiêu cái hay sẽ mất hiệu nghiệm và việc làm của các thầy sẽ không còn phải là cứu nhân độ thế nữa. Mỗi khi khách có tang gia bối rối, lần mò vào được nhà thầy, liền bị người nhà ra mời đi, nói rằng thầy lúc này đã muốn nghỉ ngơi, các quý khách đã rước thầy đi ngao du sơn thủy, đâu có ở nhà mà giúp bà con được! Nhưng rồi cuối cùng thầy cũng giúp cho, và thân chủ phải nghĩ sao cho phải thì thôi, để gọi là lòng thành lễ bạc! Nhiều giai thoại về tàihấy vị lai của thầy đã được truyền tụng. Ngoài ra, thầy Diễn còn có tài địa lý, nhìn hướng nhà mà biết nhà có hợp để ăn nên làm ra không, cửa trổ về hướng nào thì có lợi. Những giai thoại về thầy Diễn cũng nhiều, nhưng xét ra cũng tương tự như các thầy khác, điểm đặc biệt là thầy được coi như một người có khả năng xuất hồn, chứ không phải chỉ bói toán tử vi hay địa lý. Cũng như thầy Chiêm ở Đà Lạt, thầy Diễn xuất hồn để tiếp xúc với hồn người quá vãng. Thầy Chiêm cầm ống điện thoại cũng kêu hêlô, hêlô và hai bên đối thoại, có cả những tiếng OK,OK nữa. Còn thầy Diễn thì thế nào, kẻ viết bài này chưa được chứng kiến.

    Thầy Khánh Sơn : Có lẽ so với tất cả các thầy đã được kể trên, thì thầy Khánh sơn là người nổi tiếng nhiều nhất và lâu nhất, từ những năm nước nhà còn Pháp thuộc, các bậc tiên sinh đã nghe danh thầy, tự xưng là Mét (Maitre). Mét Khánh Sơn. Báo chí thời tiền chiến đã đăng hình thầy: đẹp trai, đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí chăng? Mét đã hành nghề đâu từ những năm 40-45 xa xưa, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số các ông ở bên Tàu qua, như đã nói ở trên, kẻ viết bài này còn nhớ đã đọc đâu đó trên báo chí, hồi còn ở quê nhà, nhiều giai thoại đặc biệt về thầy Khánh Sơn. Nào là, thầy là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền dễ dàng nên đã sống cuộc đời của một Don Juan! của một công tử Bạc Liêu! của một ông hoàng! Mặc dầu có gia đình và những ngưòi con cũng rất đàng hoàng, thầy Khánh sơn vẫn được rất nhiều các bà, các cô mê mệt! Nào là, thầy đã từng xem quẻ mà cứu được mấy nhân vật trong chính giới thoát chết của viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936. Theo lời các cụ kể lại thì Mét Khánh sơn đã đưa ra một câu sấm như thế này để giải đoán trường hợp ông toàn quyền năm xưa :

    “Bao giờ hai bảy mười ba
    Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây”

    Đại khái thầy Khánh Sơn cho rằng Tám Gà là Bát Kê, và trên mây là máy bay. Sau đó, máy bay trên có viên toàn quyền bay về Pháp đã bốc cháy và đốt cháy không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ. Chuyện khó tin, nếu mà đúng thế thì quả cái tài của Mét Khánh Sơn thật là vô địch. Sợ rằng sấm chỉ ra đời sau khi sự việc đã xảy ra. Dầu sao, cũng có tài liệu ghi chép rằng chính ông Pasquier đã được nghe câu sấm và lời giải đáp tại một phiên chợ ở Hà nội, trước khi tai nạn xảy ra. Thời gian hành nghề hốt bạc của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu. Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu hoàng Sihanouk…,cho đến năm Nhâm Tý 1972, cá thầy Khánh sơn, Minh Nguyệt, và Huỳnh Liên được mời lên tivi tiên đoán vận mệnh nước nhà, thì cả ba đều nói những điều tốt đẹp, nhìn thấy hòa bình tiến lại gần, thật gần cho nhân dân miền Nam ! Tiếc thay, không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để mà tháo chạy!

    Thầy Ba La : Danh xưng Ba La gợi nên hình ảnh một vị bốc sư Ấn Độ, hay Hồi Giáo, đầy vẻ huyền bí của xứ Nghìn Lẻ Một Đêm. Thật ra thầy Ba La cũng sinh quán ở Bắc Việt Nam, và cũng di cư vào Sài gòn sau năm 1954. Trước đó, thầy đã nổi danh tại miền Bắc lâu lắm rồi, vì đến nay, nếu thầy còn trường thọ ở quê nhà thì thầy đã ngoài 110 tuổi! Trước 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán tại đường Nguyễn Phi Khanh, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu, thầy Ba La chuyên về tử vi, bói dịch, nhưng cũng nổi tiếng như một nhà tiên tri vì thầy hành nghề quá lâu năm, tài nghệ không như những thầy tử vi, bói dịch thường tình. Thầy cũng bị lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống, và bởi vậy nghề của thầy có căn bản vững vàng, sở học tinh thông. Thông thạo Hán văn và là tiên chỉ trong làng, nên thầy rất được nể trọng bởi người cùng giới cũng như thân chủ, đồng bào nói chung. Có đến văn phòng thầy Ba La để thấy thầy tiếp khách, toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư, mới biết cái giá trị của người bói toán ở nước ta thời ấy như thế nào. Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Cụ Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ. Ai cần là cụ sẵn sàng xem cho, trong ý hướng giúp đỡ. Nhưng cụ khó tính trong cái nghĩa là hết sức thận trọng khi đặt một lá số, khi gieo một quẻ bói. có khi kéo dài rất lâu, nghiên cứu rất tỉ mỉ.

    Mỗi vị thầy bói đều có riêng những giai thoại về mình. Cụ Ba La thì được nhiều người thành tâm khâm phục vì đích thân chứng kiến tài năng của cụ, đích thân là người được cụ cứu thoát chết nhờ chỉ dẫn cách sinh sống sao cho hợp với tướng số của mình v.v…
    =================================
    Cũng trên một giai phẩm nào đó, người ta được biết một giai thoại ly kỳ về tài năng xuất chúng của cụ về giải đoán số tử vi, một thanh niên người miền Bắc, con của một gia đình giầu có nhưng bà mẹ chỉ sinh được một lô con gái, vào thời buổi mà xã hội còn đánh giá người đàn bà thật thấp với câu: ‘Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô’ (một con trai cũng đáng kể là có, mười con gái có thể coi là số không). Vì lo toan không có con trai nối dõi tông đường sẽ cam tội bất hiếu, ông bà liền đi lễ chùa Hương để cầu tự. Trải qua nhiều năm tháng, chứng tỏ lòng thành, ông bà đã được toại nguyện. Trời Phật ban cho một đứa con trai. Mặc dầu được nuôi nấng cẩn thận, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, nhưng năm lên ba tuổi cậu bé cầu tự này bỗng nhiên bị bệnh nhẹ mà mất, làm cho cả đại gia đình vô cùng thương tiếc, đau khổ, họ không nản lòng, lại tiếp tục ngày đêm cầu nguyện, lòng thành dâng lễ vật lên chư vị thánh thần tại chùa Hương để xin các ngài xét lại, tha thứ cho những lỗi lầm đã phạm, nếu có, và xin được ‘trả lại’ đứa con trai cầu tự. Ba năm sau, nhờ ơn Trời Phật, bà mẹ lại sinh được một đứa con trai, mà cả nhà xem như là chính người con trước đã tái sinh. Mà họ tin như vậy là phải, vì dung mạo người em như khuôn đúc từ người anh, không khác một điểm nào, kể ca û nốt ruồi son ngay giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sanh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù rằng họ cách nhau ba tuổi, cậu bé lớn lên, học hành đỗ đạt, và vì biết chuyện đã xảy ra cho bản thân mình đầy tính cách mê tín dị đoan, huyền bí, khó tin, nên cậu ngày đêm thắc mắc muốn tìm ra sự thật. cậu một mình trôi dạt vào Nam, người thanh niên phải trải qua những năm tháng vật lộn với đời sống phồn hoa để sống còn. Người thanh niên, tạm gọi là anh X. luôn luôn nghĩ đến chuyện tìm đến một vị thầy tử vi, một nhà bói toán hay để nhờ giải đáp bài toán của cuộc đời mình.

    Chính tại Sàigòn mà anh X. được nghe danh nhà tiên tri Ba La. Chẳng những đã đỗ cử nhân Hán học, cụ còn là một nhà ái quốc từng tham gia các phong trào chống Pháp. Được biết cụ Ba La không phải mù lòa từ thuở sơ sinh mà chỉ bị mù sau khi trèo đèo lội suối vô cùng gian khổ tại núi Ba Vì, lòng anh X. vô cùng cảm xúc ngưỡng mộ người thầy bói có một quá khứ đẹp và anh tin tưởng người ấy nhất định không dối gạt, anh X. tìm gặp được cụ Ba La tại Sàigòn. Anh đưa trình lá số tử vi của người anh đã chết để nhờ thầy giải đoán. Thầy Ba La càng coi kỹ lá số càng tháo mồ hôi, miệng không ngớt kêu : ‘lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng ://”- Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba !”

    Thầy Ba La xem kỹ các vì sao chỉ tướng mệnh, rồi gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm : có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vó cao lớn như thế này…không ? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực ? Cụ Ba La lập lại :..”- Có nốt ruồi đỏ thật à ? Thế thì lạ quá ! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh. Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác !”..,trên nét mặt ông thầy đượm vẻ buồn và bực tức. Cụ Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật, anh X. cảm phục đến sợ hãi, lòng ăn năn vì đã dám thử thách một bậc tiền bối khả kính. Cuối cùng anh X. đã trở lại lần nữa, thành tâm xin lỗi cụ và trình ra lá số tử vi thật. Từ đó, anh hoàn toàn tin tưởng ở khoa tử vi như là một khoa học huyền bí, chứ không phải là một trò mê tín dị đoan, tiếc thay, cụ Ba La đã không được mời lên tivi tiên đoán vận mạng đất nước vào năm Nhâm Tý 1972, để nói những lời tiên tri xác thực hơn các vị đã được mời năm ấy.

    Chiêm tinh gia Huỳnh Liên; Nhắc đến thầy Huỳnh Liên sau hết, không phải vì thầy ít nổi tiếng hơn các vị kia. Trái lại là khác. Nhưng để dành phần sau hết nói về thầy là vì trong số các nhà tử vi, tướng số lừng danh miền Nam trước năm 75, ông Huỳnh Liên là người duy nhất được báo chí Việt ngữ ở nước ngoài biết được tin tức ‘động trời’ về ông, qua một cái chết bất đắc kỳ tử gây ngạc nhiên và xúc động cho bà con ở bên này, số là, vào đầu tháng 10/1992, nhiều báo Việt ngữ ở đây loan tin về cái chết của ông, qua một hàng tít giật gân : ‘Thầy bói Huỳnh Liên bị cháu vợ giết chết để cướp của’. Tin này được truyền miệng nhanh chóng, và những người theo dõi, tò mò, đều tưởng rằng chuyện mới xảy ra ở Sàigòn. Về sau mới biết đó chỉ là tin viết lại từ báo Sông Bé, tờ báo xuất bản tại huyện Lái Thiêu tỉnh Bình Dương. Bài viết đầy đủ chi tiết về cái chết, về cuộc sống đã qua, mang hình thức một thiên phóng sự, có điều đáng tiếc là từ đầu đến cuối không thấy nói ngày kẻ cướp vào nhà sát hại ông là ngày nào, năm nào !

    5.Kết Luận

    Theo bài này thì trong những năm làm ăn phát đạt ở Sàigòn xưa kia (trước 1975), ông Huỳnh Liên có tậu một khu vườn-nhà ở làng Vĩnh Phú – Lái Thiêu – để khi rảnh rỗi ông từ sàigòn về đây vui thú với bà vợ nhỏ, trong khi bà cả vẫn đóng đô ở ngôi nhà chính trên đường Phan Thanh Giản Sàigòn, sau năm 1975, nghề coi bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên cũng như tất cả các thầy khác, đều tỏ ra thức thời, viết bài cảnh tỉnh chối bỏ quá khứ để nạp cho nhà cầm quyền, hứa rằng ‘Từ nay thôi không lừa bịp bà con nữa’. Từ đó ông về ở hẳn với bà vợ nhỏ, một cuộc sống cũng lạnh lẽo đìu hiu như với bà vợ lớn vậy, vì cả hai bà đều không có con. Rồi thì, sau giai đoạn đầu hăng say của ‘cách mạng’, đâu lại vào đấy, bà con lại tìm đến các thầy bói để giải quyết những vấn nạn của đời sống, theo báo Sông Bé thì ông Huỳnh Liên không tin tưởng bà vợ nhỏ lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại trên lầu bị hư, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa cho chắc ăn. Tới chiều, hai anh thợ điện mới lên tới nhà và bảo ông Huỳnh Liên là bà ở lại Sàigòn chơi đến mai mới về. Vừa đến nhà, hai anh thợ điện liền xem xét chiếc xe hơi của ông chủ nhà nằm trong ga ra đã lâu năm coi còn tốt không. Sau đó, họ theo ông chủ lên lầu lo sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại thì nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên lầu thì thấy một cảnh tượng hãi hung : Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không la lối gì được. Chị bếp bỏ chạy xuống đường, vừa lúc gặp hai xe bộ đội từ chiến trường Tây Nam trở về, lính trên xe bắn súng chỉ thiên chơi. Hai tên giết người nghe súng nổ, tưởng rằng công an đã đến nơi, vội vàng lên xe tháo chạy.

    Trong lúc quýnh quáng, chúng quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà. Chị giúp việc chạy đi cầu cứu. Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết. Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó mà công an khỏi phải mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ở Sàigòn ngay trong đêm, b;ài phiếm vãn về thầy bói này, có đoạn về thầy Ba La, thầy Lê Văn Diễn thì dài, về các thầy khác thì ngắn, vì người viết được biết về các thầy nhiều ít khác nhau. Hiện nay, sống trên đất Mỹ, được biết ‘càng ngày càng nhiều tài tử, ca sĩ, diễn viên và người mẫu Hollywood quay trở về với khoa học huyền bí, theo nhiều hệ phái và tín ngưỡng khác nhau’. Huống nữa là người Việt Nam, sao lại không thích chuyện thầy bói ?

  • Cụ Rùa Hồ Gươm bao nhiêu tuổi?

    Cụ Rùa Hồ Gươm bao nhiêu tuổi?

    Rùa Hồ Gươm hay còn được gọi là Cụ Rùa là con rùa đã từng sống tại Hồ Gươm, chết vào ngày 19 tháng 1 năm 2016

    Có thông tin cho rằng, cụ Rùa Hồ Gươm đã 700 tuổi, nhưng kết quả phân tích ADN lại cho thấy, cụ Rùa Hồ Gươm mới chỉ hơn 100 năm.

    Khoảng 16h30 ngày 19/1, các lực lượng quản lý hồ Gươm đã phát hiện cụ rùa hồ Gươm chết và nổi ở trong hồ gần khu vực đường Lê Thái Tổ.

    Đây là một tin rất đáng buồn đối với nhiều người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung, bởi hình ảnh “cụ rùa” và Hồ Gươm từ lâu nay vẫn gắn bó với những hoài niệm về một Hà Nội giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, xã hội.

    Ngay khi phát hiện, các ngành chức năng của thành phố Hà Nội đã mời giáo sư Hà Đình Đức tới để cùng các ngành chức năng của thành phố bàn giải pháp.

    PGS.TS Hà Đình Đức, người nhiều năm nghiên cứu về rùa Hồ Gươm cho biết, cá thể rùa duy nhất tại Hồ Gươm là loài đặc biệt quý hiếm, trên thế giới chỉ có 4 cá thể, trong đó 1 ở Hồ Gươm, 1 ở Đồng Mô (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) và 2 cá thể ở thượng Hải (Trung Quốc).

    Cụ Rùa Hồ Gươm. (Ảnh: Tiền Phong)
    Cụ Rùa Hồ Gươm. (Ảnh: Tiền Phong)

    Được biết, lần nổi lên gần đây nhất của cụ Rùa Hồ Gươm là vào trưa ngày 21/12/2015. Khi đó, “cụ” rùa nổi lên ở gần khu vực đối diện đường Lê Thái Tổ (Hoàn Kiếm – Hà Nội). Ở lần đó, cụ rùa nổi trong hơn hai tiếng từ 10h sáng đến hơn 12h. Ở lần nổi lên cuối cùng ngày, “cụ” xuất hiện với mai bóng nhẫy, trơn mượt.

    Vào năm 2011, cụ Rùa có cân nặng 169kg, chiều dài của mai Rùa 1,3m. Cũng trong năm này, Hà Nội đã đưa cụ Rùa lên khám bệnh và chữa trị trong hơn 3 tháng.

    Trước đó, báo giới trong nước đã từng đưa thông tin về tuổi của cụ Rùa. Tuy nhiên, các thông tin chưa nhất quán. Trong đó, có thông tin nói rằng cụ Rùa đã 700 tuổi song cũng lại có thông tin cho rằng cụ Rùa chỉ mới hơn 100 tuổi.

    Trong bài viết có tựa đề ““Giáo sư rùa” Hà Đình Đức” đăng trên tờ Người Lao Động có viết: “Theo nghiên cứu của PGS Hà Đình Đức, cụ Rùa Hồ Gươm ước đã 700 tuổi, nặng chừng hai tạ”.

    Thế nhưng, tháng 4/2011, hội đồng chữa trị cho cụ Rùa Hồ Gươm đã tiến hành phân tích ADN cho cụ Rùa và khẳng định, Rùa Hồ Gươm là rùa cái, tuổi thọ có thể hơn 100 năm.

    TS Bùi Quang Tề (trưởng nhóm chẩn đoán và chữa trị Rùa Hồ Gươm) thông tin trên tờ Tuổi Trẻ sau khi tiến hành phân tích ADN cho cụ Rùa như sau:

    “Qua lấy mẫu phân tích, có thể khẳng định Rùa Hồ Gươm là một loài mới khác hoàn toàn với loài rùa Thượng Hải, đồng thời cũng không cùng loài với rùa Đồng Mô”.

    Các nhà khoa học của Viện Công nghệ Sinh học khẳng định trên tờ Tiền Phong: “Cụ Rùa hiện sống tại Hồ Hoàn Kiếm là cùng loài với rùa thu thập tại Quảng Phú (Thanh Hóa), Suối Hai, Hương Ký (Hà Nội), đây là loại rùa lớn mai mềm nước ngọt đặc hữu của Việt Nam.

    Theo Phununews.vn

    Truyền thuyết “Trả Gươm”

    Truyện xưa kể rằng, khi dấy binh khởi nghĩa, Lê Lợi đã được Đức Long Quân cho mượn thanh Bảo Kiếm. Sau khi đánh đuổi hết quân xâm lược, giành lại giang sơn xã tắc, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế.

    Truyền thuyết "Trả Gươm"

    Một hôm nhà vua ngự trên thuyền rồng cùng bá quan văn võ du ngoạn  ngắm cảnh vật bên hồ Lục Thủy giữa kinh thành Thăng Long. Bỗng nhiên thần Kim Quy xuất hiện bơi đến trước mũi thuyền và tâu với nhà vua rằng:

    – Việc lớn đã xong xin Người hãy hoàn lại thanh Bảo Kiếm cho Đức Long Quân.

    Thanh Thần Kiếm vẫn bên mình nhà vua từ ngày dựng cờ khởi nghĩa bỗng rùng rùng rồi vút bay khỏi vỏ hướng đến  Rùa Vàng. Nhanh như chớp, thần Kim Quy đớp ngang lưỡi kiếm và lặn sâu xuống hồ. Từ đó một vệt sáng xanh ngắt bay vút thẳng lên trời. Khi đó thuyền của bá quan văn võ cũng vừa tới. Nhà vua liền phán:

    – Khi ta dựng cờ khởi nghĩa Đức Long Quân đã cho ta mượn  thanh Bảo Kiếm, nay việc lớn đã xong Người sai phái sứ thần đến đòi  ta đã trao trả lại.

    Kể từ đó hồ Lục Thủy đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm) hay Hồ Gươm.

  • A brief description of the Vietnamese folk beliefs

    Since ancient times, with the prosperous natural conditions, Vietnamese people’s livelihoods had long been dependent upon the gifts of nature. Thus, the worship of nature was soon to become the oldest tradition and an important aspect of Vietnamese indigenous religion. Moreover, Vietnam is the at the gate of an open sea where many peoples and cultures gathered. Each religion being introduced into Vietnam was modified to be more familiar with the customs and indigenous ideology.
    Tháp Chàm Ninh Thuận
    Tháp Chàm Ninh Thuận

    Classification of Vietnam’s folk beliefs

    Fertility rites made an early appearance in Vietnamese history. With the importance of the agriculture and farming, the Vietnamese worshiped the symbol of yin-yang, the harmonious balance of heaven and earth, and the prosperity of beings. Fertility rites are found in Dong Ho folk paintings from Bac Ninh province, with images of buffalo, pigs, chickens, fish; or in the ancient cultural products such as the imagery of sexual intercourse on bronze drums found in the village of Dao Thinh (Yen Bai), dating back to 500 BC. The custom of “mortar pounding to welcome the bride” is also an expression of traditional belief; mortar and pestle are symbols of male and female and of natural production.
    Nature worship: Nature is the Great Mother of the Vietnamese people, the image of an omnipotent goddess bringing prosperity, fortune, and protection for everyone. This ideology appeared in the systematic mother goddess cult, formed upon the impact of Chinese Taoism, combined with the Goddess worship tradition from prehistoric times. The fact that women were being worshiped is something very unique when put into the context of the country under the teachings and rituals of Confucianism.
    – Three – Four Palaces: Mother of Heaven (or Mau Thuong Thien), Mother of Grand Forest (or Mau Thuong Ngan), Mother of Water (or Mau Thoai) and Mother of Underworld.
    – Four natural elements:
    Goddess of clouds – worshiped at the temple Bà Dâu
    Goddess of rains – worshiped at the temple Bà Đậu
    Goddess of thunder – worshiped at the temple Bà Tướng
    Goddess of lighting – worshiped at the temple Bà Dàn
    – Animals and plants worship: Unlike the many different cultures that worship the powerful animals such as tigers, lions, falcons, etc. Vietnamese people worship animals such as buffalo, snakes, rats, dogs, cats, elephants, these animals are very familiar to the lives of people of an agricultural society.
    Veneration of the dead: The Vietnamese people have great respect to the realms of life and death. They believe that the human body consists of two parts: body and soul. The 3 parts of the Soul include Consciousness (the mastery of awareness), Energy (energy causes the body to operate) and Shen (spirit of life). The folk saying, “The livings with wisdom are sacred after death,” explains the fundamental causes for the Vietnamese beliefs and rituals.
    “Better to be blind and keep the orders within the household
    Than to have clear sight but do not worship your ancestors.” (Nguyen Dinh Chieu, Luc Van Tien)
    Although the Vietnamese keep their rituals and forms of worship, but most of the population do not follow a particular doctrine or religion. Would the mixture of religious and folk beliefs, with the vague interpretation of beliefs and disbelief, become a problem for the nation? Or would it be the necessary space for the economic development and integration in terms of knowledge? Ultimately, the worship of nature brings a solid ethical foundation for a sustainable developing society. Likewise, being grateful and showing respect to ancestors and national heroes are the basis of the tradition “when drinking water, remember its source” – which is a valuable quality of the people of Vietnam.
    Source:
    Wikipedia
    Trịnh Khánh Linh (THE PAVONIS ORGANIZATION)