Blog

  • Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975

    Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975

    Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975 rất hay, rất có dụng ý rất có ý nghĩa . Người đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn, nếu để ý bạn sẽ thấy cả một chiều dài văn minh 4000 năm lịch sử của nước Việt trên từng bước chân.
    + Khởi đầu từ Bến xe Miền Tây ta sẽ có Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Đà… Bà Triệu… rồi thì có Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục… Tiếp đến là Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh…Lý Chiêu Hoàng. Nhà Trần thì Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo và các tướng quây quần Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư…
    + Các bến sông gồm có Vạn Kiếp, Hàm Tử… Bến cảng lớn nhất thì đặt tên Bạch Đằng…
    + Cứ thế vào càng gần trung tâm thì càng tiệm cận đến hiện tại như Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trãi… rồi tới nhà Nguyễn lại càng gần trung tâm hơn nữa như Nguyễn Hoàng, Minh Mạng, Tự Đức cùng các tướng lãnh như Võ Tánh, Lê Văn Duyệt…
    + Chệch qua phía bắc khu trung tâm (phía Quận 3) ta có triều Tây Sơn và các nhà văn, nhà thơ, học sĩ: Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… cùng với các võ tướng Tây Sơn: Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu…
    Phải nói rằng một người đi từ bến xe vào trung tâm nếu thuộc Sử Việt và để ý tên đường thì rất dễ hình dung mình đang ở khu vực nào trong Thành phố.

    Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975
    Đường phố Sài Gòn xưa

    Tân định thì nhà Trần Cát cứ.

    Phan Chu Trinh & Phan Bội Châu thì ở Chợ Bến Thành

    Con đường nhỏ hơn một chiều, chạy ngang Toà án và cổng chính Dinh mang tên Công Lý (Công Lý thì không thể nào 2 chiều được!). Hai con đường song song với Đại Lộ Thống Nhất được mang tên của hai danh nhân đã tạo ra chữ viết của Việt Nam là Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes với hàm ý biết ơn sâu sắc… đó cũng là cách giáo dục Lịch Sử cho Quốc Dân
    Chỉ cần am hiểu lịch sử bạn sẽ không bao giờ đi lạc.

    Theo : FB/Sài gòn xưa

  • “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa

    “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa

    Cách đây vài tháng ad đã có làm một bài về “Tiếng Lóng” của người dân Sài Gòn Xưa ,nay đang rảnh rổi lang thang búa lua xua nên làm tiếp tập 2 cho quý vị đọc nha ,nhằm ghi nhớ lại những từ mà ngày xưa người Saigon hay dùng như: “Mèn ơi, Nghen, Hén, Hen, Tà Tà, Thềm ba, Cà rịch cà tang, tàn tàn,…”, và những câu thường dùng như : “Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, làm nư, cứng đầu cứng cổ, tháng mười mưa thúi đất, cái thằng trời đánh thánh đâm…v…v…”, sẵn đây quý vị trong Sài Gòn Xưa ai còn nhớ những từ nào thì hãy chung tay góp nhặt ngỏ hầu lưu lại những tiếng gọi, câu nói thân thương của người Saigon và miền Nam trước đây, vì sợ “E RẰNG” một ngày nào đó nó sẽ mai một trong tương lai.

    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa
    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa

    1.Tiếp tục của chương 1 nha

    Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ miền Bắc di cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ Saigon, miền Tây đã tạo nên thêm một phong cách, giai điệu mới … và bài “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ“, hình ảnh cô gái chạy xe chậm rãi tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năn nỉ làm quen không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi nó nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam thì tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Dễ nghe thấy, người Bắc nhập cư nói từ “Xạo ke” dễ hơn là nói “Ba xạo”, chính điều dó đã làm tăng thêm một số từ mới phù hợp với chất giọng hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn mà các Anh Chị đã từng nghe trên các Video chương trình Ca nhạc, kể chuyện, ….,đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văn nói của Saigon miền Nam nếu dùng google dịch thì “qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy” (câu gốc: Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua)nó dịch ra như vầy “through through through through this gaping expression too” Ông Tây đọc hiểu được ý thì chịu chết… Hay như câu “giỏi dữ hôn” thì google dịch cũng ngất ngư con lạc đà… Trong văn nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ cùng nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật đễ tăng cấp độ nhấn mạnh: như bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng (từ bèng beng không có nghĩa),… sai đứt đuôi con nòng nọc,… chắc là phải cả pho sách mới ghi lại hết….Phong cách sử dụng từ như vậy Trường mong sẽ có một dịp nào đó viết một bài về nó, hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm, riêng Miền Nam thì nhiều vô kể ví dụ : Khi nghe ai nói chuyện lập đi lập lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn: ” Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi!”, hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi : “Đêm nay ai đưa em về !” người ngoại quốc ai không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình, như khi nghe ai nói chuyên mà chuyện này ai cũng biết rồi thì lại nói: “Xưa rồi diễm….” với cái giọng Iễm kéo dài tha thướt .

    Tuy nhiên, do những từ này được trình bày bằng chữ nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu: “thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dậy?” cụm từ “thằng cha mầy” kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt (nói): ” Xí! Hổng chịu đâu”,”Xí! Cha già dịch nè !”, ” Sức mấy!, “Ông nói gì tui ưa hổng nổi nha!”, “Cha già khó ưa! ” với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó gần lắm à nghen, nhưng đến khi nghe câu ” tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với Ông nữa đâu đó nghen! ” thì coi chừng … liệu hồn đó, thật ra không phải người Saigon ai cũng xài hết mấy từ này, chỉ có người bình-dân mới dám xài từ như Mả cha, Tổ mẹ để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức ít ai được Ba Má cho nói, nói ra là vả miệng không kịp ngáp luôn, giáo dục ngày xưa trong gia đình rất là khó, nhất là mấy người làm bên nghề giáo dạy con càng khó dữ nữa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói “DM” thậm chí còn không hiểu nó nói gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời: “Đó là nói bậy không được bắt chước đó nghen!”. Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy vô xầm xập hỏi thì cũng bị la rầy liền : “Chổ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa?”. Đến năm 1980 thì giáo dục cũng khác hẳn ngôn ngữ bắt đầu đảo lộn ở cấp tiểu học… tiếng Saigon dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình Game Show chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói: “Mời anh trả lời ạ” “các bạn có thấy đúng không ạ”, ạ… ạ …ạ… cái gì cũng ạ….làm tui thấy lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như không còn dùng những từ ngữ này khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, nên khi coi phim thấy nó lạ lạ làm sao đâu …

    2.Nhớ đâu viết đấy …

    À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
    Anh em cột chèo
    Áo thun ba lá = Áo thun ba lổ, Áo May Ô (bắc)
    Áp phe = trúng mánh, (chiều qua trúng áp phe đã nha!)
    Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
    Ăn hàng = ăn uống (sau này trộm cướp cũng xài từ ăn hàng, tức là đi giựt dọc, cướp bóc B4-1975)
    Âm binh = Cô hồn, các đảng, phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách),…
    Ba đía : xạo
    Bà chằn lữa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
    Ba ke, Ba xạo
    Bá Láp Bá Xàm =Tầm xàm – Bá láp
    Bá chấy bù chét
    Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
    Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
    Bảnh tỏn
    Banh ta lông = như hết chuyện (gốc từ cái talon của vỏ xe)
    Banh xà lỏn
    Bành ki = bự
    Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
    Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
    Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
    Bất thình lình = đột ngột, Bất tử
    Bầy hầy : bê bối, ở dơ
    Bẹo = chưng ra, Bệu (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
    Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên, ứa gan
    Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
    Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
    Biết đâu nà, biết đâu nè, = biết đâu đấy
    Biết sao hôn !
    Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện
    Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
    Bít bùng
    Bình thủy = phích nước
    Bình-dân = bình thường
    Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
    Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
    Bỏ thí = bỏ
    Bồ = gọi bạn thân thiết ( Ê chiều nay bồ rãnh tạt qua nhà chở tui đi luôn nghen)
    Bồ đá = bị bạn gái bỏ
    Bồn binh = Bùng binh, vòng xoay (nay)
    Bội phần, muôn phần = gấp nhiều lần
    Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
    Buột = cột
    Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
    Cà chớn cà cháo = không ra gì
    Cà chớn chống xâm lăng. Cù lần ra khói lửa.
    Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
    Cà Na Xí Muội = chuyện không đâu vào đâu
    Cà nhõng = rãnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhõng tối ngày), có khi gọi là nhõng nhõng
    Cà giựt : lăng xăng, lộn xộn
    Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
    Cà rem = kem
    Cà rịt cà tang = chậm chạp.
    Cà tàng = bình thường, quê mùa,….
    Cà tưng cà tửng
    Cái thằng trời đánh thánh đâm
    Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
    Cảo dược
    Còn ai trồng khoai đất này = chính là tôi
    Coi được hông?
    Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
    Cua gái = tán gái
    Cụng = chạm
    Cuốc = chạy xe (tui mới làm một cuốc từ Hocmon dzia Saigon cũng được trăm hai bỏ túi!)
    Cứng đầu cứng cổ
    Chà bá , tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự
    Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
    Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
    Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á ! )
    Chạy u đi
    Chằn ăn trăn quấn = dữ dằn
    Chậm lụt = chậm chạp, khờ
    Chém vè (dè)= trốn trốn cuộc hẹn trước
    Chén = bát
    Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
    Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
    Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
    Chiên = rán
    Chình ình = ngay trước mặt ( Nghe tiếng gọi thằng Tư quay đầu qua thì đã thấy tui chình ình trước mặt)
    Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
    Chói lọi = chói sáng
    Chỏ mũi, chỏ mỏ= xía, xen vào chuyện người khác
    Chỏng mông = mệt bở hơi tai (làm chỏng mông luôn đây nè)
    Chổ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan công tác
    Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
    Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy? )
    Chưn = chân
    Chưng hững = ngạc nhiên
    Chưng ra = trưng bày
    Còn khuya
    Có chi hông? = có chuyện gì không?
    Cô hồn, các đảng
    Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
    Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
    Dấm da dấm dẵng
    Dây, không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
    De kêu = quá , xạo de kêu
    Dễ tào = dễ sợ
    Dì ghẻ = mẹ kế
    Dĩa = Đĩa
    Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)
    Diễu dỡ =????
    Dzọt lẹ
    Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
    Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
    Dô Mánh
    Du ngoạn = tham quan
    Dù = Ô
    Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
    Dùng dằng = ương bướng
    Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
    Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
    Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
    Đá cá lăn dưa = lưu manh
    Đa đi hia = đi chổ khác.
    Đã nha! = Sướng nha!
    Đài phát thanh = đài tiếng nói
    Đánh đàn đánh đọ = Đánh đàn (học thì lo học không “đánh đàn đánh đọ” nhe hông) một cách để chê việc đánh đàn bằng cách ghép thêm hai từ láy đánh đọ phía sau
    Đàng = đường
    Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
    Đầu đường xó chợ
    Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
    Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
    Đi bang bang = đi nghênh ngang
    Đi bụi
    Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
    Đi mần = đi làm
    Địa cớm
    Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy
    Đồ bỏ đi = đồ hết xài (người gì xài hổng dô, đúng là đồ bỏ đi mà)
    Đồ già dịch = chê người mất nết
    Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
    Đờn = đàn
    Đùm xe = Mai-ơ
    Đừng có mơ,
    Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
    Già dịch = Già dê
    Gần xịt = thiệt là gần
    Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
    Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
    Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
    Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc! )
    Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
    Hay như = hoặc là
    Hầm = nóng (trời hầm quá ngồi không mà người nó đổ mồ hôi ướt nhẹp)
    Hầm bà lằng (gốc tiếng Quảng Đông);
    Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
    Héo queo
    Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
    Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
    Hờm = chờ sẵn ( tui hờm sẵn rồi chỉ chờ thằng kia nó chạy ra là tui cho nó một đá cho nó lăn cù mèo luôn)
    Hớt hơ hớt hãi = hấp tấp và sợ hãi ( nó hớt hơ hớt hãi chạy vào báo tin …. )
    Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
    Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
    Hổng có chi! = không sao đâu
    Hổng chịu đâu
    Hổng thích à nhen!
    Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
    Hợp gu = cùng sở thích
    Ì xèo = tùm lum, …
    năn nỉ ỉ ôi
    Kẻo = coi chừng (Trời ui ui! giờ không đi sớm kẻo trời nó mưa là ướt chèm nhẹp luôn đó nhe)
    Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
    Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
    Không thèm = không cần (làm gì dữ dạ tui đâu có thèm đâu mà bày đặt nhữ qua nhữ lại trước mặt tui? )
    Khỉ đột
    Khỉ khô
    Khỉ gió
    Lanh chanh
    Lạnh xương sống
    Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
    Làm (mần) dzậy coi được hông?
    Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
    Làm gì mà toành hoanh hết zậy
    Làm nư = lì lợm, Làm cho lợi gan
    Làm um lên = làm lớn chuyện
    Láng coóng
    Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
    Lặc lìa lặc lọi = ?
    Lăn cù mèo = lăn long lóc, té ngữa
    Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
    Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
    Lấy le = khoe đồ
    Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
    Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
    Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
    Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
    Lên bờ xuống ruộng
    Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
    Liệu = tính toán
    Liệu hồn = coi chừng
    Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
    Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
    Lộn xộn = làm rối
    Lục cá nguyệt: sáu tháng. Ví dụ: Nộp báo cáo sáu tháng một lần: Nộp báo cáo lục cá nguyệt.
    Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
    Lùm xùm = rối rắm,
    Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
    Lừng mặt = quen quá không còn sợ nữa (Chơi với nó riết nó lừng mặt mình luôn nhen)
    Má = Mẹ
    Ma lanh, Ma le
    Mã tà = cảnh sát
    Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
    Mari sến = sến cải lương
    Mát trời ông địa = thoải mái
    Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
    Mắc cười = buồn cười
    Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
    Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
    Mần ăn = làm ăn
    Mần chi = làm gì
    Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
    Mè nheo = Mèo nheo
    Mét = mách
    Miệt = kèm theo để chỉ một vùng đất, địa danh Miệt Hóc Môn, Miệt dưới, Miệt vườn
    Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
    Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
    Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
    Mồ tổ! = câu cảm thán
    Mả = Mồ
    Muỗng = Thìa, Môi
    Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
    Nam Tàu Bắc Đẩu
    Nào giờ = từ trước tới nay
    Niềng xe = vành xe
    Ngang Tàng = bất cần đời
    Nghen, hén, hen, nhen
    Nghía gái
    Ngó lơ = làm lơ, nhìn chổ khác không để ý tới ai đó
    Ngoại quốc = nước ngoài
    Ngon bà cố = thiệt là ngon
    Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
    Ngồi chồm hỗm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
    Ngủ nghê
    Nhá qua nhá lại
    Nhan nhãn = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt
    Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
    Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
    Nhiều chiện = nhiều chuyện
    Nhí nhảnh
    Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
    Nhóc, đầy nhóc : nhiều
    Nhột = buồn
    Nhữ qua nhữ lại = đưa qua đưa lại cái gì đó trước mặt ai (tương tự nhá qua nhá lại nhưng cấp độ mạnh hơn)
    Nhựt = Nhật
    Ngựa đực, Ngựa cái = xãnh xẹ
    Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
    Nổ banh xác = nói láo
    Nổ dữ dội= quăng lựu đạn (ngày xưa có chuyện hay chọi “lụ đạn” vô chợ khủng bố dân lành)
    Nước lớn, nước xuống, nước rồng (thủy triều)
    Ớn ăn
    Ồng Cò = cảnh sát
    Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
    Ông bà bô = ba má
    Ông bà ông giải
    Phê = mệt
    Phi cơ, máy bay = tàu bay
    Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
    Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
    Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
    Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
    Quá xá quà xa = quá nhiều
    Quắc cần câu = nhậu say hết biết đường
    Quăng lựu đạn (ngày xưa hay có chuyện quăng “lựu đạn” vô chợ khủng bố dân lành)
    Quần què = ????
    Quấy = làm sai – dùng cho con nít thì lại khác, có ý là vừa quậy phá vừa khóc (thằng nhóc này hay khóc quấy quá!)
    Quê một cục
    Quê xệ
    Quởn,
    Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hồng rành đường này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
    Ráo = hết
    Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)
    Rân trời = Rần trời, um sùm
    Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
    Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
    Ruột xe = xăm
    Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
    Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
    Sạp = quầy hàng
    Sến = cải lương màu mè (mặt đồ gì sến quá trời dậy cha?) nhạc sến lại có ý nghĩa khác không phải là nhạc cải lương
    Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.
    Sên xe = xích
    Sếp phơ = Tài xế
    Sống lây lất qua ngày
    Sức mấy,
    Sườn xe = khung xe
    Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
    Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
    Tàng tàng = bình dân
    Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
    Tàu hủ = đậu phụ
    Tạt qua = ghé qua
    Tả Pín Lù : Hầm bà lằng (gốc Quảng Đông)
    Tầm xàm bá láp
    Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
    Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
    Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
    Tía, Ba = Cha
    Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
    Tò te tí te = Nói chuyện – “Coi đó! nó xẹt qua tò te tí te với tui mấy câu thì xẹt đi mất tiêu”
    Tòn teng = đong đưa, đu đưa
    Tổ cha, thằng chết bầm
    Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
    Tới chỉ = cuối (Hôm nay chơi tới chỉ luôn!)
    Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính
    Tốp nhỏ = nhóm người nhỏ tuổi ( thường chỉ có người lớn tuổi gọi như vậy “Tốp nhỏ tụi bây coi dẹp đồ chơi cho lẹ lo rữa tay rồi lên ăn cơm nhen”)
    Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
    Tui, qua = tôi
    Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
    Tức cành hông = tức dữ lắm
    Tháng mười mưa thúi đất
    Thảy hàng
    Thầy chạy
    Thắng = phanh
    Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
    Thậm thụt
    Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
    Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
    Thấy gớm = thấy ớn
    Thèo lẽo = mách lẽo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
    Thêm thắc
    Thềm ba, hàng ba
    Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
    Thí dụ = ví dụ
    Thí cô hồn
    Thiệt hôn? = thật không?
    Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
    Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
    Thôi hén!
    Thơm = dứa, khóm
    Thúi = hôi thối,
    Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
    Trà = Chè
    Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
    Trật chìa, trật đường rầy, trật dây nịt = sai giờ giấc ( Hẹn cho đã rồi không ra làm trật chìa hết trơn hết trọi)
    Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
    Trọ trẹ = giọng nói không rỏ ràng
    Trời ui ui = trời hơi tối tối
    trụi lũi = nhẵn thín ( cạo râu trụi lũi)
    Trừ phi
    Trực thăng = máy bay lên thẳng
    Um xùm
    Ướt chèm nhẹp
    Ướt như chuột lội
    Ứa gan = chướng mắt
    Vè xe = chắn bùn xe
    Vỏ xe = lốp
    Xả láng sáng về sớm = Cứ thoải mái không lo gì hết
    Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
    Xà quần
    Xài = dùng, sử dụng
    Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
    Xe cam nhông = xe tải
    Xe hơi = Ô tô con
    Xe nhà binh = xe quân đội
    Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
    Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
    Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)
    Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
    Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
    Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
    Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
    Xía = chen vô (Xí! cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
    Xĩa răng = không đủ chi phí (Làm muốn chỏng mông mà hổng đủ xĩa răng nữa)
    Xĩa xói = châm chọt
    Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
    Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
    Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
    Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
    Xụi lơ
    Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa TCS)

    Nguồn : http://www.sggdpost.com/

  • Em, Sài Gòn

    Em, Sài Gòn

    Em sinh ra tại Sài Gòn, nên em cũng rất giống Sài Gòn. Ngày như hoa, đêm như lệ. Cảm xúc lúc gắt như nắng lúc ủ dột như mưa. Nói chung là em cười rồi em mếu ngay cũng được. Chiều được em khó lắm rồi, giữ được em lại càng không dễ.

    Sài Gòn về đêm . Nguồn: internet
    Sài Gòn về đêm . Nguồn: internet

    Em sinh ra tại Sài Gòn, nên em cũng rất giống Sài Gòn.

    Em nhận mình là người đỏng đảnh, là cô gái được nuông chiều. Em quen sống trong tình yêu của gia đình, sự quan tâm của bạn bè, và cả sự tử tế của xã hội. Em chưa từng vấp phải cú ngã nào đau thật đau, cũng chưa từng phải chịu một nỗi đau nào thật sâu. Em nhận mình là người may mắn, là cô gái sống vốn trong yêu thương.

    Nhưng cũng như Sài Gòn là một vùng trời riêng, em có lòng tự tôn của riêng em. Em được cưng chiều, nhưng em có tiếng nói của em. Em sống trong yêu thương nhưng em hiểu thế nào là mất mát. Em thành công nhưng em cũng đã thất bại. Có chăng em cũng như Sài Gòn, qua bao gian nan vẫn không dừng lại.

    Sài Gòn là một thành phố của những sự đối lập. Và em cũng vậy.

    Em đủ ngoan và cũng đủ hư vì chẳng ai là người hoàn hảo. Em dịu dàng nhưng em cũng rất dễ nóng giận, đặc biệt là với những người em yêu thương nhất. Em thoải mái nhưng em cũng có những quy tắc khó bỏ. Em có thể rộng lòng nhưng chẳng bao giờ em quên. Cũng như Sài Gòn qua mấy mươi năm, người ta vẫn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ Chí Minh. Chẳng vì lý do gì, chỉ là một thói quen khó bỏ. Em rạng rỡ nhưng em vẫn u sầu. Em tươi mới nhưng trong em vẫn còn những kỷ niệm xưa. Những chuyện đã qua chưa bao giờ nhạt, nhưng em cũng chẳng vì những lối cũ mà bỏ qua những con đường khác.

    Sài Gòn nắng gay gắt và mưa dai dẳng. Em thương nhiều nhưng giận cũng thật lâu.

    Sài Gòn xa hoa, ngày rộn ràng còn đêm phủ đầy những sự lấp lánh. Nhưng Sài Gòn cũng tàn nhẫn, ngày ướt mồ hôi còn đêm vật vã trong cái lạnh. Em ấm áp nhưng em cũng lạnh lùng. Em có thể cười đó, nhưng nụ cười của em không dành cho người. Em có thể yêu dài lâu, nhưng sẽ không đậm sâu.

    Sài Gòn là nơi mọi người đều muốn đến, nhưng lại không phải là nơi an toàn. Người sống ở Sài Gòn luôn nằm trong sự dè dặt, cẩn trọng. Em sinh ra tại Sài Gòn, nên em cũng rất giống những người ở Sài Gòn khác. Em phải tự bảo vệ mình, phải cẩn trọng với tất cả mọi thứ xung quanh em, kể cả đó là người em thương. Trong em luôn cần sự an toàn, và chưa bao giờ em cảm thấy đủ.

    Sài Gòn là nơi em được sinh ra. Em lớn lên cùng Sài Gòn, đi nơi xa cũng về lại Sài Gòn. Em vẫn vậy và cũng sẽ mãi như vậy. Dù Sài Gòn có đổi thay thì vẫn là Sài Gòn, còn em có khác biệt thế nào thì em vẫn chỉ là em.

    Võ Mỹ Văn <3

  • Tản mạn về nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

    Tản mạn về nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

    Tản mạn về nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75, trước biến cố tháng 4/1975, nhạc nhẹ nói chung và nhạc rock nói riêng gần như chỉ có ở duy nhứt ở Miền Nam, Sau 30/04/1975, làn sóng nhạc nhẹ tràn ra miền Bắc và dấy nên một trào lưu nhạc nhẹ rộng khắp, thu hút đông đảo thanh niên vốn trước đó chỉ tiếp xúc với những ban nhạc theo kiểu thính phòng hoặc các ban “nhạc nhẹ” đánh theo tổng phổ, năm 1954, dù người Pháp rút khỏi Việt Nam, nhạc Pháp vẫn còn hằn sâu trong sinh hoạt âm nhạc xã hội, nhưng khi người Mỹ đổ quân đến miền Nam thì nhạc Pháp cũng lùi dần nhường bước cho làn sóng văn hóa Mỹ, uối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960 có thể nói nhạc trẻ Sài Gòn đã hình thành, nhưng nó thật sự gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng trẻ là từ năm 1963.

    Một số bức ảnh cắt ra từ báo chí thời bấy giờ:

    nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

    1.Âm nhạc phương tây du nhập vào Saigon

    Cũng từ cái mốc năm 1963 cho đến trước ngày 30/4/1975, Sài Gòn nhộn nhịp với những đại nhạc hội. Đại nhạc hội thời ấy có hai loại: đại nhạc hội dành cho giới bình dân, biểu diễn tại rạp Quốc Thanh và rạp Hưng Đạo vào mỗi buổi sáng Chủ nhật với sự tham gia của các ca sĩ nổi tiếng thời đó như: Chế Linh, Duy Khánh… Hát nhạc kích động “bình dân” tiêu biểu có Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Khánh Băng – Phùng Trọng với những bản nhạc twist, agogo như Một trăm phần trăm, Gặp nhau trên phố… mà những ban nhạc rock “tinh tuyền” gọi là rock “dởm”. Ngoài ra, có một đại nhạc hội khác gọi là đại nhạc hội kích động nhạc, tiền thân của nó là những ban nhạc học sinh của trường Taberd (nay là trường Trần Đại Nghĩa – 20 Lý Tự Trọng, quận 1). Đại nhạc hội kích động thường được tổ chức tại trường Taberd, Thảo cầm viên hoặc sân vận động Hoa Lư. Đây là nơi trình diễn của những ban nhạc trẻ không hát những loại nhạc “bình dân” và trong đó có những ban nhạc rock thực thụ, giai đoạn đầu các ban nhạc trẻ nói chung chủ yếu là hát nhạc ngoại quốc bằng tiếng Anh hoặc Pháp, các ban nhạc rock thì cover lại những bản nhạc chủ yếu của Anh, Mỹ.

    Thời gian cuối thập niên 1960 và nhất là vào đầu thập niên 1970, nhạc trẻ Sài Gòn có một sự chuyển biến đáng chú ý: đó là trào lưu “Việt hóa” các ca khúc Âu – Mỹ. Mở đầu cho trào lưu này có thể nói đến nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng, anh đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc được nhiều người yêu mến như: Búp bê không tình yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock Three Times), Chuyện Phim Buồn (Sad Movies), Lãng du (L’Avventura), Anh thì không (Toi Jamais) v.v… Sau đó nhiều ban nhạc, nhiều nhạc sĩ khác cũng đã soạn lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại quốc khác, trong đó có cả nhà báo Trường Kỳ…,nhưng trong trào lưu “Việt hóa” có lẽ điều đáng chú ý nhất là các nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà, với ban nhạc Phượng Hoàng, đã đi một bước xa hơn là sáng tác những ca khúc nhạc trẻ Việt Nam đầu tiên với những bài hát đi vào lòng người như Hãy ngước mặt nhìn đời, Tôi muốn… đặt nền móng đầu tiên cho những ca khúc nhạc trẻ Sài Gòn, về các ban nhạc trẻ, một trong những ban nhạc gây ấn tượng nhất đó là Strawberry Four gồm Tuấn Ngọc (guitar), Đức Huy (guitar), Tiến Chỉnh (bass, trước đó là Billy Chane), Tùng Giang (trống). Đây được xem là ban nhạc “nhà giàu” với những chiếc đàn, amplie Fender làm “lé mắt” dân chơi nhạc, trên sân khấu họ toàn bận complet lịch lãm và nhất là tạo được “danh giá” khi Trawberry Four là ban nhạc Việt Nam đầu tiên và duy nhất được lên đài truyền hình Mỹ (phát tại Sài Gòn).

    2.Phong trào nhạc ‘HIPPY’ theo mô hình Woodstock 1969 và Đại hội nhạc trẻ Hoa Lư & Trường Lasan Taberd

    Nhạc rock đã xuất hiện trong bối cảnh của nhạc trẻ Sài Gòn như trên. Tuy nhiên, lịch sử nhạc rock Sài Gòn có liên hệ mật thiết đến sự có mặt của quân đội Mỹ, những club mọc lên như nấm của người Mỹ tại Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng nhạc rock, nhất là từ năm 1965 khi người Mỹ có mặt thật đông đảo tại “hòn ngọc Viễn Đông” và các tỉnh phụ cận. Đây cũng là giai đoạn chuyển hướng mạnh mẽ nhất của nhạc trẻ Sài Gòn, và là thời điểm xuất hiện khá nhiều ban nhạc chơi rock Mỹ, khác với trước đó dân chơi nhạc và nghe nhạc vẫn còn yêu chuộng những ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ Việt Nam như Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước… và các ca khúc Pháp, tuy nhiên dấu mốc phát triển của rock có thể kể đến sự kiện đại nhạc hội kích động nhạc do”Trường Kỳ-Nam Lộc- Tùng Giang” tổ chức sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm … Đại hội kích động nhạc này được tổ chức tại Đại Thế giới (nay là Trung tâm Văn hóa Q.5) vào năm 1963, qui tụ hầu hết các ban nhạc trẻ đang hoạt động tại Sài Gòn thời ấy và đây cũng là một tiền đề để sau đó những đại hội kích động nhạc được tổ chức thường xuyên ,những ban nhạc “thuần” rock như “The Peanuts Company,The Black Caps, The Rockin’ Stars, The Interprise, Les Pénitents, The Crazy Dog, CBC…” ,trong đó The Rockin’ Stars và The Black Caps được xem như những ban nhạc rock đầu tiên của Sài Gòn, thì hai ban nhạc “The Peanuts Company và CBC được xem là 2 ban nhạc “đệ nhất kích động nhạc” thời ấy”.

    Thêm vài hình ảnh:

    nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

    3.Nhạc Rock và những bản tình ca thuần việt

    Ca sĩ Elvis Phương thành viên của Rockin’ Stars cho biết: “Ban nhạc thành lập năm 1960 với thành viên: Nguyễn Trung Lang (bass guitar), Nguyễn Trung Phương (rythm guitar), Jules Tampicanou (lead guitar), Đặng Hữu Tòng (tenor saxophone), Lưu Văn Hùng (trống) và Elvis Phương (ca sĩ). Năm 1961 có thêm 2 thành viên mới là Jean jacques Cussy va Nicole. Cuối naăm 1961 có thêm ca sĩ Billy Shane. Ban nhạc The Black Caps ra đời vào cuối năm 1960 với: Thanh Tùng (guitar), Paul Doãn (ca sĩ)… Phong trào nhạc trẻ hình thành trong giới học sinh của trường trung học Jean Jacques Rousseau (nay là trường cấp 3 Lê Quý Đôn), vì vậy hai ban nhạc này đa số là học sinh của Jean Jacques Rousseau chỉ có Nicole là của Marie Curie và Billy Shane là của Taberd”.

    Các ban nhạc rock trước giải phóng chủ yếu là cover các bản nhạc rock Mỹ, cũng có một số ca khúc được những “rocker” Việt sáng tác, nhưng chủ yếu là viết lời bằng tiếng Anh để trình diễn trong những club của Mỹ”. Ban nhạc Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà ra đời khá trễ (1970). Tuy nhiên đây có thể nói là một ban nhạc “Việt hóa” triệt để: sáng tác ca khúc Việt cho rock, hát lời Việt và cái tên cũng “thuần Việt” giữa vô vàn các tên ban nhạc bằng tiếng Anh đang hiện hành. Ca khúc rock viết bằng tiếng Việt của Nguyễn Trung Cang, được nhiều người biết đến đó là bản Mặt trời đen, đây có thể xem là bản nhạc rock Việt đầu tiên khá tiêu biểu của giới rock Sài Gòn.

    Nguồn :FB/ Sài Gòn xưa

  • Tủ sách Tuổi Hoa Sài Gòn xưa

    Tủ sách Tuổi Hoa được thành lập trước năm 1975 và do những cây bút chuyên viết cho các tạp chí như Thiếu Nhi, Thằng Bờm, Tuổi Hoa cộng tác.

    Các tác phẩm của Tủ sách Tuổi Hoa được chia làm 3 loại :
    * Loại hoa đỏ: phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám
    * Loại hoa xanh: tình cảm nhẹ nhàng như tình gia đình, bạn bè
    * Loại hoa tím: dành cho tuổi 16 – 18

    Những tác phẩm này đã từng một thời là “món ăn tinh thần ” của thanh thiếu niên Việt Nam vì nó không những giáo dục những đức tính tốt cho con người mà còn giúp thanh thiếu niên tập trau chuốt lời văn để học văn tốt hơn, ngoài ra, Bán Nguyệt San Tuổi Hoa cũng là một tờ báo đã đi vào lòng của thanh thiếu niên Việt Nam vào thập niên 60, đầu thập niên 70, những giá trị tinh thần do Bán Nguyệt San Tuổi Hoa đem lại rất nhiều và hầu như các truyện dài được đăng trong Bán Nguyệt San Tuổi Hoa đều được Nhà xuất bản Tuổi Hoa in thành sách, chính là các truyện loại hoa đỏ, hoa xanh và hoa tím mà chúng ta đang sưu tầm, có lẽ đến một ngày nào đó sẽ không ai còn nhớ Tủ Sách Tuổi Hoa và Bán Nguyệt San Tuổi Hoa, không còn biết trong văn hóa Việt Nam có một giai đoạn thịnh hành của sách báo Thiếu Nhi, đã góp phần trong việc giáo dục tạo nên một thế hệ Thanh thiếu niên ưu tú. Việc sưu tầm và tái lập Tủ sách Tuổi Hoa cũng như Bán Nguyệt San Tuổi Hoa sẽ giúp chúng ta ghi dấu lại giai đoạn đáng nhớ đó và mặc dù hiện giờ các tác phẩm của Tủ Sách Tuổi Hoa và các Bán Nguyệt San Tuổi Hoa bị thất lạc rất nhiều nhưng mong rằng với thời gian và với công sức của tất cả những người đã, đang và sắp là fan của Tuổi Hoa, chúng ta sẽ cùng nhau tái lập lại đầy đủ các tác phẩm, các tập san của Tuổi Hoa khi xưa, cám ơn quý tác giả của Tủ sách Tuổi Hoa, dù không trực tiếp gửi sách nhưng những giá trị tinh thần của các tác phẩm mà quý vị cho ra đời thật là vô giá. Mong rằng quý vị sẽ thông cảm và bỏ qua cho việc không xin phép của chúng tôi khi đưa các tác phẩm của quý vị vào website bởi vì sau bao nhiêu sự thăng trầm, khó mà tìm lại được xin cám ơn quý vị và có thể nói tạp chí Tuổi Hoa thật sự đã góp phần nuôi dưỡng một thế hệ thiếu nhi Việt Nam trở nên người đàng hoàng, hữu ích cho xã hội.

     

    Bán Nguyệt San Tuổi Hoa do một số nhà văn, nhà giáo và linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn chủ trương từ năm 1962 đã từng một thời là “món ăn tinh thần ” của thanh thiếu niên Việt Nam trước 1975, tôi may mắn có người chị cả một thời say mê tạp chí Tuổi Hoa. Hồi đó nhà nghèo (giờ vẫn nghèo Huh ), nên chị mua báo bằng tiền mẹ cho để đi xe, và… đi bộ tới trường. Vì Tuổi Hoa là bán nguyệt san, nửa tháng ra một số, nên chị cũng hơi chật vật về tài chánh ,trước khi đọc một cuốn báo mới, năm chị em tôi hay mân mê cái bìa báo xinh xắn, nhiều màu sắc qua nét cọ tài hoa của họa sĩ Vivi. Hình bìa hầu hết là tác phẩm của Vivi (trừ một số rất ít của các học viên trong Lớp Hội Họa Tuổi Hoa), sau biến cố 1975, người ta phát động phong trào tịch thu sách báo nhằm tiêu hủy hết những gì được cho là phản động và theo họ thì tất cả những văn hóa phẩm của chế độ cũ đều là đồi trụy, phản động, cần được cho lên giàn hỏa thiêu (phần thư nhé, không có khanh nho).

    Bán Nguyệt San Tuổi Hoa đã không là ngoại lệ. Bà chị tôi lúc ấy vừa tốt nghiệp điều dưỡng và đi công tác xa nhà. Mẹ tôi huy động bốn tên nhóc còn lại mang Tuổi Hoa đi giấu dưới… hầm. Hồi sau 1975, hầu hết nhà ai cũng còn lại cái hầm để tránh bom đạn (khu nhà tôi ở gần Quân Đoàn III), người ta không dám dẹp hầm vì sợ lại chiến tranh nữa, tôi ngớ ngẩn hai tay ôm một chồng Tuổi Hoa, chạy ra cửa đứng “xem” các ông bà cán bộ văn hóa làm việc… … Chị cả tôi đi công tác về khóc, tiếc ngẩn ngơ mấy chục số báo bị tịch thu mà không nỡ trách em mình câu nào, một người bạn cũ của chị tôi- cũng trong cái ban đi tịch thu sách báo dạo ấy- sau này kể lại rằng trước khi ngọn lửa kịp lan tới chồng báo Tuổi Hoa của chúng tôi, đã vội vàng xé giữ lại những cái bìa rất xinh, tôi ăn năn mãi về sự hiếu kỳ của mình cộng với sự ngu dốt (tôi chín tuổi cho rằng Tuổi Hoa không đồi trụy). Cán bộ cách mạng đã nói rằng nó đồi trụy, là nó phải thế, người ta là quan.

    Đã vài chục năm trôi qua, thời gian khá dài đủ để cho một thế hệ mới sinh ra và trưởng thành dưới chế độ mới- một mô hình xã hội được cho là tiên tiến, không còn áp bức, bất công, người bóc lột người. Những cuốn báo ít ỏi còn sót lại nhờ công cất giấu của mẹ và các chị em tôi (không có tôi) xa xưa giấy đã ngả màu vàng ố. Mẹ tôi đã khuất núi và chị em tôi cũng hết tuổi đọc sách báo thiếu nhi. Tôi thỉnh thoảng vẫn “cảo thơm lần giở trước đèn”, mở lại từng trang báo cũ vàng ố, mong manh vì thời gian với thái độ nâng niu trân trọng, vẫn tự trách mình ngu dốt và trách người sao mệnh danh là cán bộ văn hóa mà cư xử với sách kém gì…

    Nguồn xem thêm :http://tuoihoa.hatnang.com/

     

  • Những tấm pano quảng cáo Sài Gòn xưa

    Những tấm pano quảng cáo Sài Gòn xưa

    Có ai còn nhớ những tấm pano quảng cáo Sài Gòn xưa không nè ..

    Những biển quảng cáo không thể thiếu trong đời sống người dân Sài Gòn chúng ta thời đó, từ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa (1954 – 1975), ngành hoạt động quảng cáo nở rộ như nấm mọc sau mưa, ngoài đất dụng võ trên các trang báo hay những biển quảng cáo ngoài trời, quảng cáo còn đi vào khai thác trong các lãnh vực “tinh vi” như phát thanh, truyền hình, phim ảnh.

    Bên cạnh đó còn có cách quảng cáo “thô sơ” theo kiểu “sơn đông mãi võ” thường được áp dụng tại các vùng xa xôi, những nơi chưa được tiếp xúc với các tiện nghi văn minh, cũng là một hình thức quảng cáo mà sau này người ta thường thấy trong thể thao, Sài Gòn xưa có đội xe đạp Euquinol của dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều tham gia cuộc đua đường trường mang tên Vòng Cộng Hòa từ năm 1956 trở đi. Các cua-rơ mang áo Euquinol để quảng cáo thuốc ban nóng dạng bột dành cho trẻ em mang tên Euquinol, sự kết hợp giữ thể thao và kinh doanh mang lại một hiệu quả tốt đẹp: các cua-rơ Euquinol rong ruổi trên khắp miền Nam đã tạo một ấn tượng tốt đối với những người xem đứng hai bên đường. Cũng từ đó, thuốc Euquinol có mặt trong hầu hết các gia đình có trẻ nhỏ, hình thức quảng cáo này, ngày nay đã trở thành phổ biến trong thể thao, người ta sẵn sàng bỏ ra khoản tiền lớn để có một hợp đồng với các đội bóng mặc áo mang tên doanh nghiệp hoặc tài trợ cho các giải thi đấu….

    1.Vài Biển quảng cáo quen thuộc trên đường phố Sài Gòn Người Sài Gòn không thể nào quên cái tên BGI trong ngành rượu bia đã một thời làm bá chủ lãnh vực nước giải khát. Tiền thân của BGI là cái tên Brassèries et Glacières de L'Indochine (Nhà máy làm nước đá ở Đông Dương) của ông chủ Victor Larue, người Pháp, nổi tiếng từ năm 1909. Cũng vì thế trên nhãn của BGI còn ghi hàng chữ Pháp: Bière Larue. A.Bia Larue Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam vào cuối thập niên 1900 chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952. B.Quảng cáo Bia 33 của hãng BGI Sở dĩ có cái tên “Bia 33” vì dung tích chai đựng bia là 33 centilitres, một cách đặt tên khá thú vị và thiết thực của BGI. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát. C.Mẫu quảng cáo của BGI BGI có lịch sử từ năm 1927, ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp) ...BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)… D.Bia 33 và 5 châu lục Nếu bia là độc quyền của BGI tại miền Nam, thuốc lá lại là mặt hàng có nhiều nhà sản xuất và được quảng cáo rất mạnh vì luôn ở tư thế cạnh tranh giành thị phần. Ngoài các loại thuốc lá ngoại nhập như Pall Mall, Salem, Lucky Strike, Philip Morris, Camel, Winston, Marlboro… có rất nhiều nhãn hiệu thuốc được sản xuất tại Sài Gòn. E.Mélia “vàng” Mélia “vàng”, còn gọi là “Mélia Jaune”, là một trong những nhãn hiệu thuốc lâu đời nhất. Vào lúc mới tung ra sản phẩm, mỗi gói thuốc Mélia đều có một tấm hình chụp một cặp Tây Ðầm hôn nhau rất tình tứ, đó cũng là một cách tiếp thị! Chỉ có các ông Giáo sư và các thầy Thông, thầy Phán có tiền rủng rỉnh mới hút thứ thuốc “sang trọng” đó. F.Thuốc Cotab Nếu Mélia được coi là “sang trọng” thì Cotab được quảng cáo là “thuốc của giới ưu tú” (La cigarette de l’élite) còn Bastos “xanh” và Mic được coi là loại thuốc “đen”, nặng của giới lao động, thợ thuyền. E.Thuốc Batos “xanh” Thuốc lá ngày xưa chưa được phát hiện có hại cho sức khỏe nên được quảng cáo rầm rộ, trong khi quảng cáo các loại sữa cũng xuất hiện với mức độ ít hơn. Sài Gòn xưa có các loại sữa bột như Guigoz, SMA và sữa đặc có đường như Con Chim (Nestlé), Ông Thọ (Longevity), Bông Trắng (Cal-Best)... Cái tên Cal-Best là chữ tắt của California’s Best xuất hiện trễ nhất, được quảng cáo là “Giúp cho trẻ em mạnh khỏe và chóng lớn”.
    Vài Biển quảng cáo quen thuộc trên đường phố Sài Gòn
    Người Sài Gòn không thể nào quên cái tên BGI trong ngành rượu bia đã một thời làm bá chủ lãnh vực nước giải khát. Tiền thân của BGI là cái tên Brassèries et Glacières de L’Indochine (Nhà máy làm nước đá ở Đông Dương) của ông chủ Victor Larue, người Pháp, nổi tiếng từ năm 1909. Cũng vì thế trên nhãn của BGI còn ghi hàng chữ Pháp: Bière Larue.

    Xà bông là mặt hàng được sản xuất tại Việt Nam rất sớm do ông Trương Văn Bền (1883 - 1956) một kỹ nghệ gia đồng thời là một chính trị gia gầy dựng qua nhãn hiệu Xà bông Việt Nam hay còn gọi là Xà bông Cô Ba. “Cô Ba” là một bức ảnh bán thân của người phụ nữ búi tóc theo kiểu miền Nam, in nổi trên mỗi cục xà bông, trụ sở và xưởng sản xuất xà bông nổi tiếng của ông Trương Văn Bền trong những thập niên giữa thế kỷ 20 nằm ngay trên đường Kim Biên (rue de Cambodge) nơi có chợ Kim Biên trong Chợ Lớn ngày nay Lối quảng cáo của Savon Vietnam rất bình dị qua cách hành văn xưa: “Trên 20 năm danh tiếng - Ai cũng công nhận TỐT HƠN HẾT”. Hai bên bức hình một cục xà bong có dòng chữ “Bọt nhiều” và “Ít hao”, phía dưới cùng là câu “CỦA NGƯỜI VIỆT NAM CHẾ TẠO”, từ quảng cáo các mặt hàng tiêu dùng như sữa, rượu bia, thuốc lá, thuốc tây, thuốc cao đơn hoàn tán, xà bong… ngành quảng cáo còn mạnh dạn tung ra một mặt hàng mà ít người dám nói đến chứ chưa nói gì đến việc quảng cáo rùm beng. Đó là việc mua hòm cho thân nhân khi mãn phần của Nhà hòm Tobia.
    Xà bông là mặt hàng được sản xuất tại Việt Nam rất sớm do ông Trương Văn Bền (1883 – 1956) một kỹ nghệ gia đồng thời là một chính trị gia gầy dựng qua nhãn hiệu Xà bông Việt Nam hay còn gọi là Xà bông Cô Ba. “Cô Ba” là một bức ảnh bán thân của người phụ nữ búi tóc theo kiểu miền Nam, in nổi trên mỗi cục xà bông, trụ sở và xưởng sản xuất xà bông nổi tiếng của ông Trương Văn Bền trong những thập niên giữa thế kỷ 20 nằm ngay trên đường Kim Biên (rue de Cambodge) nơi có chợ Kim Biên trong Chợ Lớn ngày nay
    Lối quảng cáo của Savon Vietnam rất bình dị qua cách hành văn xưa: “Trên 20 năm danh tiếng – Ai cũng công nhận TỐT HƠN HẾT”. Hai bên bức hình một cục xà bong có dòng chữ “Bọt nhiều” và “Ít hao”, phía dưới cùng là câu “CỦA NGƯỜI VIỆT NAM CHẾ TẠO”, từ quảng cáo các mặt hàng tiêu dùng như sữa, rượu bia, thuốc lá, thuốc tây, thuốc cao đơn hoàn tán, xà bong… ngành quảng cáo còn mạnh dạn tung ra một mặt hàng mà ít người dám nói đến chứ chưa nói gì đến việc quảng cáo rùm beng. Đó là việc mua hòm cho thân nhân khi mãn phần của Nhà hòm Tobia.
    Một số quảng cáo "HÒM TOBIA" chắc quý vị còn nhớ Ông chủ trại hòm Tobia cũng khéo đặt tên cho dịch vụ chăm sóc người chết vì Tobia vốn là tên một nhân vật giàu lòng nhân ái trong Kinh Thánh Cựu Ước, chuyên lo việc hậu sự. Trại hòm của ông nằm tại số 114 đường Hai Bà Trưng, phía bên kia nhà thờ Tân Định, những người yếu bóng vía thường có cảm giác sờ sợ mỗi khi đi ngang qua đây. Đó cũng là lẽ thường tình, ai mà chẳng sợ chết! Trại hòm Tobia nhấn mạnh trong mục quảng cáo: “Lòng hiếu thảo của dân Việt: SỐNG MỘT CÁI NHÀ, THÁC MỘT CÁI HÒM”. Có điều chưa thấy xuất hiện quảng cáo… “mua một tặng một”! Quảng cáo Hòm Tobia trên báo Không những quảng cáo trên báo, hòm Tobia còn xuất hiện trên xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn. Giữa các sản phẩm như Thuốc xổ Nhành Mai, Thuốc lá Jean Bastos người ta còn thấy dòng chữ “Hòm Tobia danh tiếng nhất” ngay trên đầu xe (*). Quả là một bước ngoặt ngoạn mục trong ngành quảng cáo của Sài Gòn xưa. Quảng cáo hòm Tobia trên đầu xe điện Nổi bật nhất trên thị trường quảng cáo trên báo chí lẫn quảng cáo ngoài trời phải nói đến các loại kem đánh răng, trong đó có Hynos, Perlon và Leyna... Kem đánh răng Hynos với hình ảnh anh Bảy Chà da đen, miệng cười hết cỡ khoe hàm răng trắng tinh xuất hiện khắp nơi.
    Quảng cáo Hòm Tobia trên báo
    Không những quảng cáo trên báo, hòm Tobia còn xuất hiện trên xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn. Giữa các sản phẩm như Thuốc xổ Nhành Mai, Thuốc lá Jean Bastos người ta còn thấy dòng chữ “Hòm Tobia danh tiếng nhất” ngay trên đầu xe (*). Quả là một bước ngoặt ngoạn mục trong ngành quảng cáo của Sài Gòn xưa.
    Quảng cáo hòm Tobia trên đầu xe điện
    Nổi bật nhất trên thị trường quảng cáo trên báo chí lẫn quảng cáo ngoài trời phải nói đến các loại kem đánh răng, trong đó có Hynos, Perlon và Leyna… Kem đánh răng Hynos với hình ảnh anh Bảy Chà da đen, miệng cười hết cỡ khoe hàm răng trắng tinh xuất hiện khắp nơi.
    Quảng cáo Hynos ngoài trời Ngoài các hình thức quảng cáo trên báo chí, quảng cáo ngoài trời, dùng loa phóng thanh hoặc dùng phim ảnh, Sài Gòn xưa còn có lối quảng cáo mà người ta gọi là “sơn đông mãi võ”. Họ là những nhóm người đi về những miền xa xôi để bán các loại “cao đơn, hoàn tán”… những lời quảng cáo thuốc được phụ họa bằng từng hồi trống và phèng la, để thu hút đám đông, họ luôn luôn có những màn trình diễn võ thuật, biểu diễn nội công xen kẽ giữa những màn quảng cáo bán thuốc. Con nít xem trầm trồ thán phục và người lớn bỏ tiền ra mua thuốc để phòng khi trái nắng trở trời. Đám “sơn đông mãi võ” di chuyển nhiều nơi và cuộc đời của họ phiêu linh khắp chốn cũng vì miếng cơm manh áo. Họ chính là những “quảng cáo viên” đích thực!
    Quảng cáo Hynos ngoài trời. Ngoài các hình thức quảng cáo trên báo chí, quảng cáo ngoài trời, dùng loa phóng thanh hoặc dùng phim ảnh, Sài Gòn xưa còn có lối quảng cáo mà người ta gọi là “sơn đông mãi võ”. Họ là những nhóm người đi về những miền xa xôi để bán các loại “cao đơn, hoàn tán”… những lời quảng cáo thuốc được phụ họa bằng từng hồi trống và phèng la, để thu hút đám đông, họ luôn luôn có những màn trình diễn võ thuật, biểu diễn nội công xen kẽ giữa những màn quảng cáo bán thuốc. Con nít xem trầm trồ thán phục và người lớn bỏ tiền ra mua thuốc để phòng khi trái nắng trở trời. Đám “sơn đông mãi võ” di chuyển nhiều nơi và cuộc đời của họ phiêu linh khắp chốn cũng vì miếng cơm manh áo. Họ chính là những “quảng cáo viên” đích thực!

     

    Quảng cáo của Hynos trên báo Cái khéo của Hynos là thực hiện thêm nhiều biển quảng cáo ngoài trời tại những nơi có đông người qua lại nên đạt hiệu quả rất cao. Vào dịp Tết Nguyên Đán, tại chợ Bến Thành, lúc nào gian hàng Hynos cũng vang lên điệp khúc “Hynos cha cha cha, cha cha cha Hynos…” át hẳn gian hàng của khô nai Ban Mê Thuột, khô cá thiều Phú Quốc với lời phóng đại “nướng bên này đường, bên kia đường uống rượu cũng thấy ngon”!, hơn thế nữa, ông Nghĩa còn đi đầu trong việc làm phim quảng cáo kem đánh răng Hynos. Ông bỏ tiền làm một đoạn phim ngắn tại Hồng Kông, ký hợp đồng với tài tử ăn khách nhất Hồng Kông thời bấy giờ là Vương Vũ. Phim chỉ vài phút diễn cảnh các nhân vật đi “bảo tiêu” một thùng hàng, khi mở ra trong thùng chỉ chứa… toàn kem đánh răng Hynos với hình anh Bảy Chà cười toe toét! Phim được chiếu tại các rạp ciné trước khi vào xuất chính và khán giả thích thú dù biết đó là phim quảng cáo.
    Quảng cáo của Hynos trên báo
    Cái khéo của Hynos là thực hiện thêm nhiều biển quảng cáo ngoài trời tại những nơi có đông người qua lại nên đạt hiệu quả rất cao. Vào dịp Tết Nguyên Đán, tại chợ Bến Thành, lúc nào gian hàng Hynos cũng vang lên điệp khúc “Hynos cha cha cha, cha cha cha Hynos…” át hẳn gian hàng của khô nai Ban Mê Thuột, khô cá thiều Phú Quốc với lời phóng đại “nướng bên này đường, bên kia đường uống rượu cũng thấy ngon”!, hơn thế nữa, ông Nghĩa còn đi đầu trong việc làm phim quảng cáo kem đánh răng Hynos. Ông bỏ tiền làm một đoạn phim ngắn tại Hồng Kông, ký hợp đồng với tài tử ăn khách nhất Hồng Kông thời bấy giờ là Vương Vũ. Phim chỉ vài phút diễn cảnh các nhân vật đi “bảo tiêu” một thùng hàng, khi mở ra trong thùng chỉ chứa… toàn kem đánh răng Hynos với hình anh Bảy Chà cười toe toét! Phim được chiếu tại các rạp ciné trước khi vào xuất chính và khán giả thích thú dù biết đó là phim quảng cáo.
    pano quang cao sai gon xua (12) A.Bia Larue Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam vào cuối thập niên 1900 chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.
    A.Bia Larue Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam vào cuối thập niên 1900 chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.
    pano quang cao sai gon xua (10) B.Quảng cáo Bia 33 của hãng BGI Sở dĩ có cái tên “Bia 33” vì dung tích chai đựng bia là 33 centilitres, một cách đặt tên khá thú vị và thiết thực của BGI. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.
    B.Quảng cáo Bia 33 của hãng BGI Sở dĩ có cái tên “Bia 33” vì dung tích chai đựng bia là 33 centilitres, một cách đặt tên khá thú vị và thiết thực của BGI. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.
    pano quang cao sai gon xua (14) F.Thuốc Cotab Nếu Mélia được coi là “sang trọng” thì Cotab được quảng cáo là “thuốc của giới ưu tú” (La cigarette de l’élite) còn Bastos “xanh” và Mic được coi là loại thuốc “đen”, nặng của giới lao động, thợ thuyền.
    F.Thuốc Cotab Nếu Mélia được coi là “sang trọng” thì Cotab được quảng cáo là “thuốc của giới ưu tú” (La cigarette de l’élite) còn Bastos “xanh” và Mic được coi là loại thuốc “đen”, nặng của giới lao động, thợ thuyền.
    pano quang cao sai gon xua (5) E.Thuốc Batos “xanh” Thuốc lá ngày xưa chưa được phát hiện có hại cho sức khỏe nên được quảng cáo rầm rộ, trong khi quảng cáo các loại sữa cũng xuất hiện với mức độ ít hơn. Sài Gòn xưa có các loại sữa bột như Guigoz, SMA và sữa đặc có đường như Con Chim (Nestlé), Ông Thọ (Longevity), Bông Trắng (Cal-Best)... Cái tên Cal-Best là chữ tắt của California’s Best xuất hiện trễ nhất, được quảng cáo là “Giúp cho trẻ em mạnh khỏe và chóng lớn”.
    E.Thuốc Batos “xanh” Thuốc lá ngày xưa chưa được phát hiện có hại cho sức khỏe nên được quảng cáo rầm rộ, trong khi quảng cáo các loại sữa cũng xuất hiện với mức độ ít hơn. Sài Gòn xưa có các loại sữa bột như Guigoz, SMA và sữa đặc có đường như Con Chim (Nestlé), Ông Thọ (Longevity), Bông Trắng (Cal-Best)… Cái tên Cal-Best là chữ tắt của California’s Best xuất hiện trễ nhất, được quảng cáo là “Giúp cho trẻ em mạnh khỏe và chóng lớn”.
    pano quang cao sai gon xua (11)
    Mẫu quảng cáo của BGI. BGI có lịch sử từ năm 1927, ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp) …BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)… .Bia 33 và 5 châu lục. Nếu bia là độc quyền của BGI tại miền Nam, thuốc lá lại là mặt hàng có nhiều nhà sản xuất và được quảng cáo rất mạnh vì luôn ở tư thế cạnh tranh giành thị phần. Ngoài các loại thuốc lá ngoại nhập như Pall Mall, Salem, Lucky Strike, Philip Morris, Camel, Winston, Marlboro… có rất nhiều nhãn hiệu thuốc được sản xuất tại Sài Gòn.
    pano quang cao sai gon xua (6)
    Mélia “vàng” Mélia “vàng”, còn gọi là “Mélia Jaune”, là một trong những nhãn hiệu thuốc lâu đời nhất. Vào lúc mới tung ra sản phẩm, mỗi gói thuốc Mélia đều có một tấm hình chụp một cặp Tây Ðầm hôn nhau rất tình tứ, đó cũng là một cách tiếp thị! Chỉ có các ông Giáo sư và các thầy Thông, thầy Phán có tiền rủng rỉnh mới hút thứ thuốc “sang trọng” đó.
    pano quang cao sai gon xua (3)
    Một số quảng cáo “HÒM TOBIA” chắc quý vị còn nhớ.  Ông chủ trại hòm Tobia cũng khéo đặt tên cho dịch vụ chăm sóc người chết vì Tobia vốn là tên một nhân vật giàu lòng nhân ái trong Kinh Thánh Cựu Ước, chuyên lo việc hậu sự. Trại hòm của ông nằm tại số 114 đường Hai Bà Trưng, phía bên kia nhà thờ Tân Định, những người yếu bóng vía thường có cảm giác sờ sợ mỗi khi đi ngang qua đây. Đó cũng là lẽ thường tình, ai mà chẳng sợ chết! Trại hòm Tobia nhấn mạnh trong mục quảng cáo: “Lòng hiếu thảo của dân Việt: SỐNG MỘT CÁI NHÀ, THÁC MỘT CÁI HÒM”. Có điều chưa thấy xuất hiện quảng cáo… “mua một tặng một”!

    pano quang cao sai gon xua (9) pano quang cao sai gon xua (8)

    Theo Fb/ Sài Gòn Xưa

  • Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc.

    Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
    Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
    Bắc mang thai, Nam có chửa
    Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi

    Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
    Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
    Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
    Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ

    Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
    Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
    Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
    Bắc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre

    Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
    Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
    Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
    Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng

    Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
    Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
    Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
    Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê

    Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
    Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
    Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
    Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh

    Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
    Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
    Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
    Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo!

    Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi.
    Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
    Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn!
    Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác

    Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
    Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
    Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay
    Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó

    Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
    Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
    Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi!
    Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội

    Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
    Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
    Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
    Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy

    Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá!
    Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
    Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
    Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng

    Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
    Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
    Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
    Nam mê phiếm, Bắc thích đùa

    Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
    Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam: Thơm Thơm đậu phọng
    Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
    Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

    Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả”
    Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia”
    Nam mỉa “tên cà chua”, Bắc rủa “đồ phải gió”
    Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

    Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
    Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
    Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm
    Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan

    Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực!”,
    Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!”
    Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
    Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu

    Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc. Tiếng Việt dễ thương Nam Bắc.

    Nguồn: Sưu Tầm

  • Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu
    “Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu. Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.
    Trong căn nhà trọ nhỏ ở thị xã Bạc Liêu, ông Trần Trinh Đức – con trai của Công tử Bạc Liêu buồn bã ngắm nhìn cô con gái bị bệnh tâm thần phân liệt, cứ vô tư ngồi cười hềnh hệch. Bằng giọng trầm nhỏ, người đàn ông tuổi đã quá 60 cho hay, cuộc sống của gia đình ông hiện tại là chạy cơm mỗi bữa, tài sản duy nhất là chiếc xe máy để chạy xe ôm kiếm sống.
    Theo ông Đức, dòng họ ông bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế từ khi cha ông mất. Anh em ông bán căn biệt thự ở đường Nhất Linh, nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Gò Vấp, TP HCM để chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về ở nhờ nhà vợ tại đường Huỳnh Tịnh Của, quận 3. Dù buôn bán lặt vặt ở đất Sài Gòn nhưng nhờ được kế thừa một phần tài sản của Công tử Bạc Liêu nên cuộc sống tạm ổn. Thế rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền dẫn đến mắc nợ và bị bệnh tâm thần phân liệt. Vợ chồng ông phải bán hết tài sản còn lại để trả nợ cho con nhưng vẫn không đủ đành dắt díu nhau sang Campuchia lánh nợ với đủ thứ nghề.

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu
    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại TP HCM sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

    Nguồn: FB

  • Xe nước giải khát góc Gia Long – Đồn Đất

    Xe nước giải khát góc Gia Long – Đồn Đất

    Xe nước giải khát góc Gia Long - Đồn Đất
    “Các bạn có thấy sợi dây đen sau lưng bà không? Cụ đang để đại tang đấy, ba năm mới bỏ ,áo xống không được màu mè, lệ của người miền Bắc xưa đấy. (Mẹ tôi đã từng để tang ông Nội tôi như thế) ” Theo FB/Nguyễn Ngọc Điệp : https://www.facebook.com/profile.php?id=100009056557619

    Saigon 1965. Xe nước giải khát góc Gia Long – Đồn Đất, phía trước nhà thương Grall (BV Đồn Đất). Robert Gauthier’s Gallery. Phía bên trái của hình Thư viện Trung tâm Văn Hóa Pháp, đường Gia Long.
    Đậu đỏ bánh lọt, sương sa, sương sáo, nước ngọt con Cọp, …
    Còn nhớ câu :
    ” Nước ngọt con Cọp ở đâu ”
    ” Đây nguồn khỏe mạnh ”
    ” Sống lâu, yêu đời ”
    Một tấm hình thiệt đẹp. Xe chè sạch sẽ, trang trí tranh kiếng điển tích truyện Tàu (thường là Tam Quốc), dòm là muốn ăn. Người phụ nữ Bắc bên mặt tính ra tới thời điểm này là 11 năm kể từ năm di cư mà vẫn chưa quên gốc gác qua cánh áo the, đầu vấn khăn, tay cái bóp đầm… giản dị mà lịch sự. Và cô bán chè cũng thiệt là đẹp !

    Xe nước giải khát góc Gia Long - Đồn Đất
    Nguồn: https://www.facebook.com/quan.nguyenthanh.35

  • Phát âm miền Tây Nam Bộ

    Phát âm miền Tây Nam Bộ

    Chuyện cười.
    Phát âm miền Tây Nam Bộ.
    Tại một cơ quan nọ có 3 người đàn ông mang 3 cái tên: Hoan, Quan và Quang, mà theo giọng của người miền Tây Nam Bộ thì chỉ có duy nhất kiểu phát âm là “Wang”.
    Một hôm, có một cô gái trẻ là dân Nam Bộ chính hiệu, đã đến gõ cửa cơ quan gặp ông bảo vệ và nói:
    – Bác ơi, làm ơn cho con gặp anh Wang!
    – Wang nào? Ở đây có 3 Wang:
    Wang không có cu (Q) cũng không có dê (g);
    Wang có cu có dê
    và Wang có cu không dê.
    Cô kiếm Wang nào?
    – Dạ, con kiếm anh Wang có cu mà không dê đó bác!
    Một anh người Bắc tình cờ đi ngang qua có nghe mẩu đối thoại đó, lầm bầm:
    – Mịa nó, có cu mà không dê thì kiếm nó làm quái gì chứ!
    Nguồn: FB/Quan Nguyen Thanh

    con de saphong sai gon xua
    Một mẫu quảng cáo Xà phòng ở Sài Gòn xưa.
  • Cà phê Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn Xưa & Nay
    Cà phê Sài Gòn Xưa & Nay

    Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.

    Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

    cafe-sai-gon-xua-1975

    Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

    Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

    Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.
    Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức)- đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài. Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?

    Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

    Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường. Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.
    Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất … Đa La. Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

    Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si. Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.
    Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai ; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.

    Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý. Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu. Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt hành, Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái Mơ. Đại bác ru đêm sánh vai với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế! Che Guervara, Garcia Lorca. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.

    Lương Thái Sỹ – An Dân
    Vài hình ảnh cảnh quán xá Cafe Sài Gòn xưa:

    Cà phê Sài Gòn xưa
    Siêu đựng cà phê trong các tiệm cà phê của người Tầu vamột quán cà phê người Tàu của Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn xưa
    Siêu đựng cà phê trong các tiệm cà phê của người Tầu vamột quán cà phê người Tàu của Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa Cà phê Sài Gòn xưa

    Nguồn chủ yếu từ Blog Nam Ròm !

  • Mưa ngập Sài Gòn trước năm 1975

    Mưa ngập Sài Gòn trước năm 1975

    Mưa Sài Gòn trước năm 75 ,xem lại vài hình coi có khác với thời nay hay không…

    Sài Gòn cái gì cũng nhanh, ngay cả những cơn mưa cũng vậy, nhanh đến mà cũng nhanh đi. Tưới mát cho Sài Gòn độ khoảng nửa giờ hoặc có thể ngắn hơn, mưa tạnh, trời lại trở về với cái nắng thường thấy ở Sài Gòn.  Đường lại ráo như mưa chưa từng đến.

    Cơn mưa sài gòn xưa, trước năm 1975, mưa to là sài gòn cũng bị ngập lụt
    Cơn mưa sài gòn xưa, trước năm 1975, mưa to là sài gòn cũng bị ngập lụt
    Cơn mưa sài gòn xưa, trước năm 1975, mưa to là sài gòn cũng bị ngập lụt
    Cơn mưa sài gòn xưa, trước năm 1975, mưa to là sài gòn cũng bị ngập lụtCơn mưa sài gòn xưa, trước năm 1975, mưa to là sài gòn cũng bị ngập lụt

    Ngập lụt trước Bưu điện Q.1, góc Lê Lợi-Pasteur.
    Ngập lụt trước Bưu điện Q.1, góc Lê Lợi-Pasteur.

    mua-sai-gon-ngay-xua

    Một tuyến đương bị ngập sau mưa vào năm 1967. Ảnh của Donald Jellema.
    Một tuyến đương bị ngập sau mưa vào năm 1967. Ảnh của Donald Jellema.

    Tổng hợp từ Nam Ròm, Google,…

    Mời bạn đóng góp để làm phong phú thêm nguồn tài liệu ảnh mưa Sài Gòn xưa! email của nhóm admin: Hinhanhvietnam84@gmail.com !