Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, Sài Gòn đón nhận nhiều dòng chảy văn hóa khác nhau, và cũng là nơi tụ hội nhiều tinh hoa ẩm thực nhất.
Qua những khung ảnh xưa, chúng ta có thể cảm nhận nhiều sắc thái văn hóa khác nhau tại Sài Gòn. Tất cả tạo nên một bản sắc thú vị của ẩm thực Sài Gòn mà không nơi nào có được.
Một xe mì tại vào những năm cuối thế kỷ thứ 18Trong một trà quán của người Hoa ở Chợ Lớn những năm 1920Một xe mì của người Hoa gần kênh Tàu HủMột hàng quán tạm bợ những năm 20 thế kỷ trướcNgày đó việc trang trí, bày biện tiệm ăn rất đơn giảnTrong một tiệm ăn ở gần chợ Gò Vấp năm 1920Công chức Sài Gòn thời đó rất thích các tiệm mì của người HoaTrong một quán cà phê ngó ra đường Catinat (Đồng Khởi) bây giờ. Ảnh chụp năm 1948Cà phê bên hồ bơi Tao Đàn năm 1948 (Cung Văn hóa Lao Động bây giờ)Tiệm bánh mì Hòa Mã năm 1960 trên đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu, quận 03 ngày nay). Sau tiệm dời về đường Cao Thắng ở gần đó.Một tiệm mì trong Chợ Lớn năm 1961Các món mì và hủ tiếu của người Hoa là một phần quan trọng trong đời sống ẩm thực Sài GònKem Bạch Đằng ở ngã tư Lê Lợi – Pasteur những năm 60Đường Tôn Thất Đạm (quận 01) tập trung rất nhiều quán ăn nổi tiếngNhà hàng nổi Mỹ Cảnh (ngày nay Saigon Tourist vẫn duy trì mô hình này)Phở Con Voi – cũng là một quán nhậu khá nổi tiếngTiệm cà phê rang xay trên đường Hai Bà Trưng (quận 01)Tiệm phở Đô Thành trên đường Võ Tánh (đường Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận ngày nay)Tiệm heo quay, vịt quay trên đường Hàm NghiMột sạp bún riêu trong chợSạp cơm bên cạnh khu kios đường Nguyễn HuệKhu nhà hàng trên đường Hai Bà TrưngNhà hàng, vũ trường Maxim’s lừng danh một thời trên đường Đồng Khởi
Qua nét vẽ Nancy Dương, chúng ta có thêm cái nhìn về sự thay đổi kiểu dáng, màu sắc, chất liệu của áo dài Việt Nam.
Từ 2000 năm TCN cho đến thế kỷ 21: sự “tiến hóa” của trang phục người phụ nữ Việt Nam qua nét vẽ quyến rũ và thú vị của Nancy Duong.
Nancy Duong là một nghệ sỹ ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa châu Á. Cô đặc biệt yêu thích kết hợp công nghệ kĩ thuật số với nghệ thuật truyền thống để thu được kết quả tuyệt vời nhất. Các tác phẩm của cô đã được đăng trên Exotique, Curvy và nhiều báo khác.
“Tôi yêu thích những trang phục truyền thống Việt Nam và chứng kiến sự phát triển của nó theo thời gian. Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ thông tin của tôi về trang phục truyền thống của người việt nam còn rất ít, chủ yếu là do thiếu thông tin. Tôi đã đọc được nhiều thông tin qua cuốn “Searching for Vietnamese Clothing” (tuyển tập thông tin nghiên cứu về trang phục việt nam của các nhà làm phim) và qua mạng. Tôi tổng hợp và tạo ra bài viết này để có một cái nhìn khách quan để nhìn thấy sự khác biệt của trang phục người Việt qua dòng thời gian.
Tôi đã tổng hợp tất cả và trình bày cùng với một số tư liêu tham khảo (qua tranh ảnh, tác phẩm điêu khắc, và những bức ảnh được chụp tại thời điểm đó…) Tôi đã cố gắng giữ những hình ảnh đó theo nguyên bản ban đầu, nhưng ở một số điểm tôi đã sửa đổi nhằm giúp đỡ các bạn tiện quan sát hơn. Một số tác phẩm nghệ thuật có những chi tiết rất khó để giải mã (đứng từ quan điểm Phật giáo học) và không thể giải thích một cách chi tiết bằng những cơ sở khoa học mà ta đã biết. Một số tác phẩm điêu khắc không màu tôi đã phối lại để các bạn tiện nhìn nhận. Rất tiếc khi tôi đã phải bỏ qua một số triều đại do những tác phẩm này thường thất lạc hoặc bị cách điệu hóa so với nguyên mẫu của nó.
Sau khoảng thời gian 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, trang phục Việt Nam có nhiều nét tương đồng với Han Fu (một loại quần áo cổ trang của Trung Quốc, từ thời cổ đại hoàng đế cách đây 21 thế kỷ đến thời nhà Minh, là một trong những trang phục lâu đời nhất thế giới). Văn hóa Đông Sơn là triều đại duy nhất không chịu ảnh hưởng này.
Những màu sắc và dệt may trong ảnh 1 phần lớn là dựa trên phỏng đoán. Tôi có cảm giác rằng văn hóa Đông Sơn có nét giống với các bộ lạc dân tộc Việt Nam và đã lấy cảm hứng từ đây. Họa tiết trên khăn quàng vai vàng ấy bắt nguồn từ áo dài và tình cờ giống với hoa văn trên Trống đồng Đông Sơn. Đó chính là một vòng tròn.
Trung bình mọi người mặc 3-5 lớp quần áo. Thời tiết có thể lạnh (Những vùng phía Bắc) Từ thế kỷ 16 -18, khăn quàng cổ và găng tay đã ra đời và được sử dụng triệt để.
Tay áo dài 40cm và dài từ cằm đến hông vào thời Lê.
Váy bị cấm vào năm 1826 vì chúng bị cho là “khó coi”. Không phải tất cả phụ nữ đều cho rằng mặc váy dễ làm việc hơn mặc quần.
Cổ áo và cúc áo xuất hiện vào thế kỉ 19 (sớm nhất là cuối thế kỉ 18). Điều thú vị là sự thay đổi này có vẻ trùng với sự ra đời của Chủ nghĩa đế quốc/ thực dân đế quốc Pháp. Cổ áo ban đầu khá thấp nhưng dần đã cao lên và gần nhau hơn.
Áo Tứ Thân vẫn còn tồn tại nhưng không phát triển từ thế kỉ 20 nên tôi quyết định tập trung vào áo dài.
Nón rơm được đàn ông sử dụng (có thể thấy trong những bức ảnh quân lính triều Nguyễn) và trở thành 1 phần trong trang phục phái nữ vào thế kỷ 20.
Triều Lê có lối ăn mặc phong cách và đa dạng nhất.”
Ðường qua ải Nam QuanCác vị sưMột ngôi chùa ở Hải PhòngMột ngôi chùa ở Hưng YênMột ngôi chùa ở Hải PhòngVịnh Hạ LongMũi Ðồ SơnHòn GaiMiền quê Nam ÐịnhẢi Nam QuanRuộng lúaSơn TâyThái HàMột làng bị ngậpHải Phòng ngày xưaBức tượng Jules Ferry (1904)Bức tượng Jules FerryÐại lộ Paul-Bertmiền quê Hải PhòngÐiệu múa dân tộcMột bến tàuPhố người Tàu ở Hải PhòngThành Phố Hải Phòng thời PhápTrường đua ngựa tại Hải PhòngThành Phố Cảng Hải PhòngĐua tàu tại Hải PhòngThành Hà nội xưaBưu điện Hà NộiTrường đua ngựa Hà NộiTriển lãm Hà Nội (1902)Triển lãm Hà Nội (1902)Nhà Ga Hà NộiGa Hà NộiChợ Đồng XuânThảo cầm viên Hà NộiThảo cầm viên ngày xưaPhố Huế ở Hà NộiHồ GươmTượng “La France” tại Hà NộiVăn miếu Quốc Tử GiámNhà sàn nổi trên sông tại Hà Nội xưaPhố hàng nónCầu Long Biên thời PhápMột khu phố tại Hà NộiMột-khu-phố-Hà-Nội-thời-PhápNhà hát lớn Hà NộiÐường Paul BertXe điện tại Việt Nam thời Pháp thuộc 1901Tháp Hòa Phong, di tích còn lại của chùa Báo ÂnNhà hát xưaPhố cờ đenPhố hàng quạtRước kiệu quan lớnCảnh ngoài đền Ngọc Sơn
Luật pháp nước ta ngày xưa rất nghiêm, tội nhân có thể bị trừng phạt bằng 5 cách:
1-Suy (đánh bằng roi), 2-Trượng (đánh bằng gậy), 3-Ðồ (bắt đi làm việc công) 4- Lưu (đầy đi xa), 5- Tử (chết)
Một toà án ngày xưaHỏi cungthú tộiTội nhân nghe tuyên ánMột ông quan đang xửăn cắp bị phạt đònăn cắp bị phạt đònăn trộm bị phạt đòn (vở kịch)tù nhân bị đi đàytội tử hình
Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.
Tưởng cũng nên có đôi dòng về chiếc Solex của thời Sài Gòn những năm 1960′ s. Ði Solex là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo vì phía đầu xe rất nặng. Ấy thế mà những cô gái Sài Gòn vẫn tha thướt trên chiếc Solex trước những cặp mắt mê mẩn của cánh đàn ông.
Vào những năm đầu thập niên 60′ s, hình ảnh những nữ sinh ngồi trên chiếc xe Solex đen bóng có lẽ vẫn luôn là những ấn tượng không thể nào quên của một thế hệ thanh niên thời đó. Solex cũng là biểu hiện của sự sang trọng vì nữ sinh có xe Solex thường thuộc con nhà khá giả. Nói chung, Solex là sự duyên dáng, phô trương kín đáo của người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài mà vạt sau được gài trên yên xe, không che kín toàn vẹn
Người đẹp & Velo Solex ( ngày nay)Nữ sinh Sài Gòn với chiếc Velo Solex bên phải và chiếc Mobylette bên tráiSolex trên đường phố Sài GònÁo dài, nón lá trên chiếc SolexMột thời VelosolexMột thời Velosolex – Sài gòn 1961Những nhà buôn xe moped thời đó đã tập trung khai thác vào phụ nữ…Ngay từ năm 1956, VeloSoleX đã được phụ nữ sử dụng.
Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.
Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.
Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.
Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.
Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.
Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ.
Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.
Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.
Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú – Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.
Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia… và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.
Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.
Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời.
Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!
Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:
Nỏ Cổ Loa với lẫy nỏ được tán bằng đồng6 lưỡi kiếm của nghĩa quân Lam Sơn đào được ở Tân Kì-Nghệ An.
Theo phong tục Việt Nam “hồn” có ba phần: Tinh, Khí và Thần. Người làm kiếm, đao, hoạc gươm làm lễ cúng Thần và đọc chú đem Khí vào. Cái Khí đó được hấp thụ bởi từ người làm, từ Khí của nhân liệu, của củi hay nhân liệu dùng đốt, của đất và nước dùng, của cách Cúng và Kiến trong lúc làm. Vì thế “Binh Khí” là vật linh thiên. Vì thế trong kiếm, roi hai các binh khí của Việt Nam, binh khí pháp có cách thức Kiến Roi (thí dụ) để nhập Thần và Khí của Tiên Tổ trước khi tập. Đây là văn hóa tinh túy của Việt Nam theo phong tục Tứ Trụ Văn Hóa Việt (là Đình Đền Chùa Miếu).
Kiếm người Kinh thật ra giống Japanese Jokoto thời Cổ. Người Việt dùng một lưỡi từ thời Đông Sơn. Hơn 1000 năm sau người Việt dùng thêm kiếm của Nhật.
Vũ khí người Việt cổVũ khí người Việt cổVũ khí người Việt cổVũ khí người Việt cổVũ khí người Việt cổRìu đồng – văn hóa Đông SơnRìu đồng – văn hóa Đông SơnSúng cầm tay, 1 vũ khí thời vua Quang TrungVũ khí Đông Sơn: dao găm- đoản kiếmVũ khí người Việt cổMô hình nỏ thần An Dương VươngCọc gỗ Bạch Đằng – Hưng Đạo Đại Vương diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằngcâu liêm – vũ khí người Việt cổSúng lệnh thời Quang TrungKhiên, giáo chống Tàulưỡi qua là phát minh đặc trưng của người Việt và đc người TQ sử dụng rất nhiều trên chiến trườngKhuôn đúc mũi tên đồng tìm thấy trong hố khai quật Đền Thượng, Cổ LoaVũ khí bằng đồng trong văn hóa Đông SơnBao chân, bao tay bằng đồng giai đoạn Đông SơnNhững chiếc mũi tên đồng thường có cấu tạo độc đáo ba cạnh với khả năng sát thương rất lớn. Kẻ bị bắn trúng mũi tên này sẽ không dám rút mũi tên ra bởi chúng sẽ xé nát thịt, gây mất máu và dẫn đến tử vong nhanh.Các tấm che ngực có hình vuông hay hình chữ nhật, có hoa văn trang trí đúc nổi thời Hùng VươngKhẩu súng thần công của Việt Nam đúc năm 1659
Đầu năm 2015, toàn bộ các gian hàng tại Thương xá Tax sẽ được dẹp bỏ và bàn giao cho đơn vị thi công tòa tháp 40 tầng trên nền đất cũ.
Hình ảnh tòa nhà GMC những năm 1940
Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời, từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố… góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.
Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.
Hình ảnh giai đoạn sau khi cải tạo mặt tiềnHình ảnh Thương xá Tax năm 2003
Cửa hàng bách hóa tổng hợp thành phố những năm 1981-1990
Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.
Hình ảnh thiếu nữ với khăn quàng đỏHình ảnh có Tháp đồng hồ cổ kínhHình ảnh tòa nhà Thương xá Tax vào những năm 60 của thế kỷ 20Khung cảnh nhộn nhịp, đông vui tại Thương xá Tax đón xuân Canh Dần năm 2010Hình ảnh Thương xá Tax những năm 1950
Dân gian ta có câu “Tết cả năm không bằng rằm tháng bảy” – đây là Đại Lễ Báo Hiếu Ông Bà, Cha Mẹ, Tổ Tiên – một tập tục đáng quý của người Việt. Nhân dịp Đại Lễ này, các bạn hãy cùng HinhanhVietNam.com tìm hiểu về “Sự Tích Ngày Lễ Vu Lan” nhé!
Sự Tích Ngày Lễ Vu Lan
Hàng năm cứ vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch, người dân Việt theo đạo Phật có một ngày lễ lớn gọi là ngày lễ Vu Lan hay còn có tên gọi khác là Tết Trung Nguyên. Lễ Vu Lan là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo vì vậy mà dân gian ta có câu “Tết cả năm không bằng rằm tháng bảy”. Đây là đại lễ báo hiếu ông bà, cha mẹ, tổ tiên – một tập tục đáng quý của người Việt, thể hiện truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật.
Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng huệ nhãn tìm kiếm. Thấy mẹ vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của Mục Liên khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi, tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy thức ăn đã hóa thành lửa đỏ khi đưa lên miệng.
Quá thương cảm, xót xa Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát”.
Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.
Ngày lễ Vu Lan bởi thế không chỉ có ý nghĩa là ngày cúng lễ tưởng nhớ ông bà tổ tiên, cúng cho các vong hồn cô quạnh mà sâu xa hơn, nó nhắc nhở người ta biết trân trọng những gì mình đang có: cha mẹ, gia đình, người thân. Vào ngày lễ Vu Lan nếu ai còn mẹ thì được cài lên áo bông hồng màu đỏ, người đó sẽ thấy tự hào khi mình còn có mẹ. Những ai không còn mẹ thì được cài lên áo bông hoa màu trắng. Người được cài bông hoa màu trắng sẽ cảm thấy xót xa, nhớ thương người mẹ đã mất. Người được cài bông hồng màu đỏ thì sẽ thấy sung sướng, nhớ rằng mình còn có mẹ bên cạnh và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai mẹ không còn, dẫu có khóc than cũng chẳng còn kịp nữa.
Ý nghĩa lễ Bông hồng cài áo
“Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa”. (Theo tản văn Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
Tháng 7, mùa Vu Lan về cùng với ngày Rằm xá tội vong nhân mà người ta còn gọi là ngày tết Trung Nguyên. Theo sách nhà Phật, ngày này các vong vong nhân không có nơi nương tựa, không có thân thích trên cõi trần gian để thờ phụng hay những linh hồn vì một oan khiên nào đó vật vờ sẽ được xá tội. Ngày lễ Vu Lan hay Tết Trung Nguyên là ngày lễ hội truyền thống “ân tình, nghĩa cảm” của nhân dân ta. Một tấm lòng trong vạn tấm lòng bao dung – một nét đẹp trong văn hoá dân tộc Việt đã được gìn giữ bao đời nay.
The Sri Vu Lan Day
Every year on July 15 of the lunar calendar, Buddhist Vietnamese people have a big feast called the Vu Lan holiday or also known as Tet Trung Nguyen. Vu Lan ceremony is one of the major Buddhist holidays so that people have the time, “not by the fifteenth annual festival in July”. This is the festival signaling grandparents, parents, ancestors – a precious tradition of Vietnamese people, expressing moral tradition “remember who planted fruit trees.”
Vu Lan ceremony derived from the integration of filial piety of Mr. Ma Ha A La Aging Characteristics, often referred to as the Great Moggallana, referred to as Section Union. Capital is a leading religious other, the following Section Lien refuge and became a great disciple of Buddha, achieved six magic and miracles listed in First class in every disciple of the Buddha.
Having attained Arhat, Section Contact remember and now his mother wants to know how to use search insight. Seeing mom as causing bad karma should fall into Avici Hell devil, starving tortured, he was brought down to the realm of demons rice offered to the mother. However, due to prolonged hunger of the mother should have used Section Lien eating a bowl of rice covered his hand away, avoiding her for another soul to scramble, so feed into flames when put to my lips .
Too pity, pity Section Lien returned to find a way to save the mother asked Buddha to Buddha taught that: “Despite his generosity to where miracles are not enough to save his mother anywhere. The only way thanks to the power of the monks around ten new desire to be rescued. On the full moon day in July is appropriate. Yes on the fifteenth day of July, the younger man up in prayer. Prior to real life, this position will follow the teachings of the Buddha that he would pray for the parents and grandparents of seven lifetime benefactor is transcendence. ”
Section Union did as the Buddha’s teachings. Indeed he was dying form of escape from the hungry ghost that lives in the realm of healthy living. Method of offering to pray that called legal Ullambana tub, ritual is called Vu Lan Tank Assembly, and the economic record of the above analysis, it is called economic Ullambana tub.
Vu Lan holiday therefore not only meaningful remembrance day for worship of ancestors, offerings to the lonely souls that deeper, it reminds us to appreciate what we have: parents , family and loved ones. On Vu Lan ceremony if one is set up, the mother also rose red shirt, he will see his proud mother also. The mother who is no longer installed on the shirt white flowers. The white flowers are set to aches, missed mother died. The red rose is set and you will find happiness, remember that you still have mom side and tries to please his mother, lest a future mother no longer, though there is no more weeping too late.
Meaning rose ceremony dress set
“If the mother is still alive, he would wear a red flower on the shirt, and his mother would be proud. But if he loses his mother, he will be set on a white flower dress. The white flowers suffer, do not forget to miss her mother, though dead. The commission will gladly remember that his mother and tries to please his mother, lest a mountain Those who wear she is no longer keep up. ” (According to Rose brooches prose of Thich Nhat Hanh)
July, along with the Buddhist celebration of the full moon day of death far but people called Tet Trung Nguyen. According to Buddhist books, this day of death without dying person helpless, like no body on earth or earth to worship the spirits as a shield falsely pretending that animals will be absolved. Vu Lan holiday, or Tet Trung Nguyen is the traditional festival “gift of love, the sense” of our people. A thousand hearts in big heart – a beauty of Vietnamese ethnic culture has been preserved for centuries.
HinhanhVietNam.com xin gửi tới các bạn bộ sưu tập ảnh dùng làm hình đại diện ( avatar), ảnh bìa ( cover), hình nền mang phong cách rất Việt.
Bộ ảnh dùng làm Avatar, hình nền, cover đậm chất Việt Nam!
Hình ảnh đẹp Avatar lá cờ Việt Nam phù hợp cho các bạn làm ảnh đại điện Facebook, Yahoo, Google Plus,… vào những ngày lễ lớn của Việt Nam như: Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán, 30/4, 1/5, Quốc Khánh,… Hay vào những sự kiện hoặc vấn đề về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Avatar hướng về Biển Đông bên dưới đây.
1. Avatar, cover hình lá cờ Việt Nam được cách điệu
Tìm hiểu văn hóa ẩm thực dịp lễ Trung thu của các nước châu Á
Dù có khác biệt về chúng tộc, văn hóa hay lịch sử phát triển, các quốc gia Châu Á đều có một điểm tương đồng lớn: ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh lúa nước. Theo tập quán trồng trọt này, tháng Tám hàng năm là thời điểm thu hoạch và cũng là lúc người dân được hưởng thụ, nghỉ ngơi sau một thời gian dài lao động vất vả. Tháng Tám cũng là lúc trăng tròn đẹp nhất, và với những điều kiện ấy, khoảng thời gian giữa tháng Tám âm lịch trở thành dịp lễ hội ca ngợi sức lao động, gia đình quanh quần bên nhau, vui chơi, ăn uống và thưởng ngoạn ánh trăng tuyệt đẹp.
Có thể xem Trung thu là dịp lễ quan trọng thứ hai sau Tết âm lịch ở Châu Á. Thông qua không gian lễ hội nói chung và ẩm thực ngày Trung thu nói riêng, những đặc trưng về văn hóa sinh hoạt, lao động, tín ngưỡng và quan điểm thẩm mỹ của từng dân tộc hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết. Dù ngày 15-8 âm lịch được coi là ngày lễ Trung thu chính thức (khi trăng tròn và đẹp nhất), nhưng tùy mỗi quốc gia, thời gian này có sự xê dịch. Ý nghĩa của lễ Trung thu ở Châu Á cũng rất đa dạng và tùy thuộc vào văn hóa từng nước. Đó có thể là ngày lễ trẻ em, ngày lễ ăn mừng mùa vụ, thậm chí gắn liền với những truyền thuyết huyền ảo về các mĩ nhân hay anh hùng lịch sử…
Tết Trung Thu Nhật Bản
Ở Nhật, ngày lễ Trung thu được gọi là Tsukimi hoặc Otsukimi, có nghĩa là “ngắm trăng”. Ra đời từ thời kì Heian với sự thịnh vương về kinh tế và phát triển rực rỡ về văn hóa tinh thần, lễ Tsukimi đã phản ánh phần nào quan điểm duy mĩ và gắn bó với thiên nhiên của xứ Phù Tang. Vào lễ Tsukimi, người Nhật chuẩn bị mâm cỗ thịnh soạn và tinh tế dâng lên trăng để thể hiện lòng thành kính với cái đẹp, và cũng dưới bóng trăng vàng ruộm của tháng Tám, gia đình bạn bè cùng quay quần bên nhau uống trà ăn bánh, chuyện tròn và ngâm thơ.
Món ăn không thể thiếu trong lễ Tsukimi chính là Tsukimi dango – bánh nếp nhỏ xinh và tròn trịa tượng trưng cho vầng trăng trên trời. Tsukimi dango có công thức tương tự bánh trôi nước, nhưng khác biệt ở chỗ được nướng sơ qua cho nóng giòn. Khi ăn bánh, người ta thường thêm chút mật đường ngọt lịm lên trên. Bánh luôn được đặt trang trọng trên một chiếc kệ nhỏ ngay hiên nhà, thích hợp cho việc vừa ngắm trăng vừa nhâm nhi. Bên cạnh nhân vật chính là Tsukimi dango, lễ Trung Thu ở Nhật còn có sự góp mặt của khoai lang, hạt dẻ, các loại mì như soba, ramen…
Tết Trung Thu Hàn Quốc
Tết Trung thu ở Hàn Quốc được biết đến nhiều hơn với tên gọi Lễ tạ ơn – Chuseok. Khác với ý nghĩa vinh danh cái đẹp và thần đạo của lễ Tsukimi, Chuseok là lời cảm tạ của người Hàn đến với ưu đãi của thiên nhiên, mùa màng bội thu, và đặc biệt là ơn đức của ông bà tổ tiên đời trước. Thể hiện rõ tinh thần hiếu đạo sâu sắc trong văn hóa truyền thống Hàn Quốc, lễ Chuseok kéo dài 3 ngày là khoảng thời gian mọi người nghỉ ngơi và quanh quần bên gia đình, dù con cái ở xa cũng phải quay về đoàn tụ cùng cha mẹ.
Chuseok diễn ra đúng vào dịp thu hoạch vụ mùa, vì thế nhiều loại thực phẩm đặc trưng của mùa lễ này được chế biến từ những sản vật vừa mới thu hoạch. Những cái tên tiêu biểu nhất gồm có bánh Songpyeon (bánh gạo hình bán nguyệt), Taro guk (canh khoai môn), Hwanyang jeok (rau và thịt xiên), Dakjjim (gà luộc). Hấp dẫn và rực rỡ nhất trong các món ăn chính là chiếc bánh Songpyeon. Bánh thơm mùi nếp mới hòa cùng hương lá thông, lại bùi bùi vị đậu, nổi bật với hình dáng vầng trăng khuyết cùng màu sắc tươi vui. Người Hàn quan niệm chiếc bánh đẹp là minh chứng cho sự khéo léo và tinh tế của người phụ nữ đã làm ra nó, những chiếc bánh bé xinh này còn giúp phụ nữ “ghi điểm” khéo tay trong mắt mọi người.
Tết Trung Thu Trung Quốc và Việt Nam
Tết Trung thu ở Trung Quốc và Việt Nam có sự tương đồng rất lớn do đặc điểm giao thoa văn hóa có từ lâu đời giữa hai quốc gia. Truyền thuyết về Trung thu ở hai nước cũng hấp dẫn và ảo diệu như nhau: người Trung Hoa kể nhau câu chuyện vua Đường Minh Hoàng được tiên dẫn đi ngắm trăng vào đúng ngày rằm, trong khi ở Việt Nam ta đã quen thuộc với câu chuyện chú Cuội, cây đa. Dù sao đi nữa, hoạt động văn hóa ẩm thực trong lễ Trung thu của cả hai nước đều xoay quanh việc thưởng bánh trung thu, uống trà trong khi trò chuyện về vẻ đẹp cùng truyền thuyết xoay quanh vầng trăng tháng Tám.
Món ăn chính trong lễ Trung thu ở hai nước là bánh nướng, riêng ở Việt Nam, mùa Trung thu còn có sự góp mặt của món bánh dẻo. Bánh nướng bắt nguồn từ Trung Quốc và tham gia vào một “phi vụ” đối quân sự nổi tiếng: Tướng Trương Sĩ Thành, người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Nguyên, nhận thấy phong tục tặng bánh cho nhau vào Trung thu của nhân dân bèn làm một loại bánh có nhét một mảnh giấy bé ghi chữ “Bát nguyệt thập ngũ dạ sát Thát tử” (đêm 15 tháng 8 giết giặc Thát Đát – tức quân Nguyên). Dân chúng truyền tay nhau, hẹn nhau cùng giết giặc và giành chiến thắng. Bánh nướng hình tròn có ý nghĩa “đoàn tụ”, “đoàn viên” cũng là vì vậy.
Bên cạnh bánh nướng thừa hưởng từ đất nước láng giềng, người Việt đã sáng tạo ra bánh dẻo như một nét độc đáo của riêng mình. Bánh dẻo giản dị mà tinh tế với mùi hương hoa bưởi thoang thoảng của vùng quê Bắc Bộ, vị đỗ xanh nhẹ nhàng của buổi chớm thu, tạo ra mùi vị thanh tao khó quên. Cũng như bánh nướng vàng ươm màu nắng, bánh dẻo là sự kết tinh những gì tươi đẹp và thơm lành nhất của mùa lá rụng.
“Trung thu” – “ở giữa mùa thu” – là cái tên giản dị không chút màu mè. Song chứa trong từng chiếc bánh, từng chén trà hay từng món ăn của lễ hội đêm trăng này là tinh túy ẩm thực của từng quốc gia, là văn hóa trồng trọt và sinh hoạt của mỗi đất nước trên khắp Châu Á. Điểm qua vài món ăn ngày lễ Trung Thu của các vùng đất phương Đông, ta phần nào đã hiểu thêm về những đặc trưng thú vị, độc đáo của nền văn minh lúa nước lâu đời.
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường.
Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, giới sử gia miền Bắc vào thập niên 1960 phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.
Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh để lập Đại Việt thống nhất bao gồm cả vùng đất phía Nam. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.
Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ.
Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.
Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.
Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư -水书) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.
Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.
Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!
Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước! Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên. Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Bởi vậy, thiết nghĩ, chúng ta cần có những nghiên cứu nghiêm túc và kĩ càng về vấn đề này và các vấn đề khác của lịch sử dân tộc.
Ảnh chế vui: Những đôi dép huyền thoại tại Việt Nam
Dép của hãng AdidasDép của hãng Converse(2010) Những quai chéo làm bằng chất liệu da bò nạm bạch kim trông rất nữ tính,mặt đế trên chân dép được rải bởi đá shaphie vàng vàng đỏ đỏ trông rất lạ mắt. khuyết điểm của đôi dép này là đi mà dậm phải phân thì lấy tăm cạy rất mệt.Thương hiệu nổi tiếng luôn đi đôi với những sản phẩm độc đáo và lạ mắt ! Đế dép được đính hơn 300 viên kim cương khác nhau,mặt dép lỗ lỗ là mốt hiện nay của không ít những ca sỹ và diễn viên nổi tiếng khắp thế giới. Tuy sinh sau đẻ muộn(2004)nhưng với puma tổ ong fashion thì không bao giờ lỗ thời.Dép của hãng Gucci. Làm bằng chất liệu da cá sấu,những vết nứt đầy sang trọng và sành điệu,đế dép đen xì còn là mốt hiện nay của giới trẻ !