Tag: chiến tranh Việt Nam

  • Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Cuộc chiến ở Việt Nam là nơi sản sinh ra nhiều tên tuổi huyền thoại trong làng phóng viên ảnh chiến trường thế giới.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Eddie Adams (1933 – 2004) là nhiếp ảnh gia người Mỹ được biết đến qua các bức chân dung của nhân vật nổi tiếng, chính trị gia, đồng thời là phóng viên chiến trường, nhà báo ảnh xuất sắc. Ông đã có mặt tại 13 cuộc chiến, từ chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam đến chiến tranh vùng Vịnh năm 1991.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Bức ảnh nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của Eddie Adams được chụp khi ông là phóng viên của hãng thông tấn Associated Press (AP). Đó là bức ảnh Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia của chế độ Sài Gòn Nguyễn Ngọc Loan bắn thẳng vào đầu một chiến sĩ cộng sản trên đường phố Sài Gòn ngày 1/2/1968. Adams đã giành được giải Pulitzer năm 1969 cho hạng mục Ảnh sự kiện và giải thưởng Ảnh Báo chí Thế giới năm 1968 nhờ bức ảnh này.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Françoise Demulder (1947 – 2008) là một nữ phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp. Từng học triết học tại Paris và có thời gian ngắn làm người mẫu, nhưng bà đã bỏ tất cả vì sự đam mê công việc của một phóng viên chiến trường. Bà bắt đầu sự nghiệp năm 1972 tại Việt Nam, ở tuổi 25. Ngày 30/4/1975, Demulder là phóng viên duy nhất chụp được khoảnh khắc chiếc xe tăng Giải phóng húc đổ cổng của Dinh Độc Lập (ảnh đen trắng), đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh Việt Nam. Sau này bà là người phụ nữ đầu tiên giành giải thưởng ảnh Báo chí thế giới (World Press Photo). Ảnh màu: Một chiếc xe tăng khác băng qua cổng chính của Dinh độc Lập ngày 30/4/1975, Françoise Demulder chụp.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Henri Huet (1927 –1971, quốc tịch Pháp, có mẹ là người Việt) là một phóng viên ảnh nổi tiếng của AP trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Đến Việt Nam từ năm 1965, ông đã bị thương nặng vào năm 1967 và đã được AP chuyển về văn phòng tại Tokyo. Nhưng ngay sau đó ông lại yêu cầu được chuyển trở lại chiến trường Việt Nam. Henri Huet mất do tai nạn máy bay trực thăng tại Lào cùng 3 phóng viên khác năm 1971.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Các hình ảnh của Huet có ảnh hưởng mạnh đến dư luận tại Mỹ. Một trong những ảnh đáng nhớ nhất của ông có Binh nhất Thomas Cole, một người cứu thương trẻ của Sư đoàn Kỵ binh I của quân đội Hoa Kỳ, đang săn sóc các binh sĩ bạn mặc dù anh ta cũng đã bị thương.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Horst Faas (người Đức, 1933-2012) là một phóng viên ảnh huyền thoại của hãng thông tấn AP và thế giới nói chung. Ông đến Việt Nam năm 1962 và là người đứng đầu bộ phận ảnh của AP tại Sài Gòn suốt cho đến 1970. Trực tiếp cầm máy trên chiến trường, ông từng bị thương nặng ở chân năm 1967 do bom đạn. Không chỉ chụp ảnh về chiến sự, Faas còn tuyển dụng và đào tạo nhiều tay máy, trong đó có Huỳnh Công Út, nổi tiếng với cái tên Nick Út.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Một tấm ảnh về chiến tranh Việt Nam của Horst Faas đã đoạt giải Pulitzer năm 1965. Bức ảnh ghi lại cảnh một người cha ôm xác con nhìn lên chiếc xe chở lính Sài Gòn. Đứa bé thiệt mạng khi quân lực Sài Gòn tấn công vào một ngôi làng gần biên giới Campuchia.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Hubert van Es (1941 – 2009) là một nhiếp ảnh gia người Hà Lan có mặt tại Việt Nam để làm việc cho hãng thông tấn và United Press International (UPI) vào năm 1975, thời điểm cuộc chiến đã đến hồi kết. Ông là người đã thực hiện bức ảnh nổi tiếng ngày 29/4/1975, ghi lại cảnh đám đông di tản chen nhau lên một máy bay trực thăng đậu trên nóc một tòa nhà của CIA tại Sài Gòn.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Larry Burrows (người Anh, 1926 – 1971) là phóng viên ảnh của tạp chí Life. Đến Việt nam từ năm 1962, ông là một trong những nhiếp ảnh gia có mặt sớm và xây dựng được sự nổi tiếng của mình tại Việt Nam. Ông mất năm 1971 cùng Henri Huet và hai phóng viên khác trong vụ rơi trực thăng ở Lào.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Những phóng sự ảnh của Larry Burrows xuất hiện trên tạp chí Life đã làm bàng hoàng về sự tàn khốc cuộc chiến ở Việt Nam. Một trong những loạt ảnh nổi tiếng nhất của ông xuất bản trên tạp chí LIFE ngày 16/4/1965, có tựa đề “Một ngày bay cùng Yankee Papa 13” đã tái hiện lại một ngày chết chóc của binh sĩ Mỹ tại một đơn vị Trực Thăng ở Việt Nam.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Malcolm W. Browne (người Mỹ, 1933 – 2012) vốn là một nhà hóa học nhưng tham gia quân dịch vào cuối cuộc Chiến tranh Triều Tiên, sau đó gia nhập hãng thông tấn AP và làm trưởng đại diện AP ở Đông Dương từ 1961 – 1968. Ông là một trong những nhà báo đầu tiên thường trú đưa tin về Chiến tranh Việt Nam.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Bức ảnh nổi tiếng làm nên tên tuổi của Browne là ảnh chụp cảnh tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức năm 1963. Bức ảnh giành giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1963 và được đánh giá là bức ảnh làm đổi thay lịch sử. Bức ảnh đã khiến Tổng thống Mỹ giận dữ, mở đường cho việc nước Mỹ chấm dứt sự ủng hộ của mình với chính quyền Ngô Đình Diệm.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Nick Út, tên thật Huỳnh Công Út, (người Mỹ gốc Việt, sinh năm 1951 sinh tại Long An) là phóng viên ảnh cho hãng thông tấn AP tại Việt Nam từ năm 16 tuổi. Anh ruột của ông – Huỳnh Thanh Mỹ cũng là một phóng viên chiến trường làm việc cho AP – đã chết trong Chiến tranh Việt Nam. Bản thân Nick Út cũng bị thương 3 lần trong Chiến tranh Việt Nam.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Ông là người chụp bức ảnh em bé Phan Thị Kim Phúc và những đứa trẻ khác bị bỏng do bom napalm của Mỹ tại Trảng Bàng – Tây Ninh ngày 8/6/1972. Sau khi công bố, bức ảnh trở nên nổi tiếng và mang lại cho ông giải Pulitzer 1973. Bức ảnh này đã đi vào lịch sử với cái tên “Em bé Napalm”, được xếp thứ 41 trong 100 bức ảnh có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 do Đại học Columbia bình chọn.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Philip Jones Griffiths (bên trái ảnh, người xứ Wales, 1936 – 2008) là một trong những phóng viên ảnh chiến trường nổi bật trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đến miền Nam Việt Nam để đưa tin cho hãng thông tấn Magnum (Anh) vào năm 1965, ông đã thực hiện nhiều bức ảnh gây sốc, phơi bày sự thật trần trụi về cuộc chiến phi nghĩa do Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Năm 1971, cuốn sách ảnh Vietnam Inc của ông về cuộc chiến đã tạo ra cú sốc lớn khi cho người xem một góc nhìn chân thực hơn về cuộc chiến khủng khiếp ở Việt Nam. Những bức ảnh đó đã góp phần thức tỉnh trái tim hàng triệu người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ảnh: Một phụ nữ Việt Nam bị thương trong cuộc giao tranh trên đường phố Sài Gòn năm 1968.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Wilfred Graham Burchett (người Australia, 1911- 1983) là một phóng viên cánh tả nổi tiếng, là phóng viên phương Tây đầu tiên có mặt và đưa tin tại Hiroshima, Nhật Bản sau khi Mỹ thả bom nguyên tử. Ông cũng là phóng viên phương Tây hiếm hoi từng sống cùng với bộ đội Việt Nam tại chiến khu Việt Bắc và chiến trường miền Nam trong hai cuộc chiến tranh của người Việt Nam chống lại quân đội Pháp và Mỹ.

    Top 10 PV Ảnh chiến tranh Việt Nam nổi tiếng nhất

    Trong sự nghiệp của mình, Wilfred Burchett đặc biệt gắn bó với Việt Nam. Mặc dù đã 60 tuổi, ông vẫn đi hàng trăm km qua nhiều chiến trường, đã từng ở trong địa đạo Củ Chi với các du kích. Bên cạnh hình ảnh chiến tranh, ông cũng thực hiện nhiều bức ảnh đời thường, ghi lại các góc cạnh đời sống của người dân miền Bắc. Những hình ảnh và bài viết của ông đã tác động mạnh mẽ đến cái nhìn của công chúng thế giới về cuộc chiến giải phóng dân tộc của người Việt Nam.

    Theo KIẾN THỨC

  • 12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    Nhiều vị vua chúa đã được lịch sử Việt Nam ghi danh vởi những chiến công quân sự xuất sắc, trước hoặc sau khi lên nắm quyền.

    12 vị vua chúa giỏi cầm quân nhất trong sử Việt

    An Dương Vương

    An Dương Vương, tên thật là Thục Phán, là vị vua đầu tiên và duy nhất của nhà nước Âu Lạc – nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Theo sử cũ, ông làm vua trong khoảng thời gian từ 257 TCN đến 208 TCN.

    Vào thời kỳ đó, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất Trung Hoa và tiếp tục tham vọng xâm chiếm vùng đất phía Nam của các bộ tộc người Việt. Quân Tần do Đồ Thư chỉ huy đã đánh chiếm nhiều vùng đất của Bách Việt, nhập vào lãnh thổ Trung Hoa.

    Trước tình hình này An Dương Vương đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tần của quân dân Âu Lạc. Khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, Nhân dân Việt làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần dần lâm vào tình trạng suy yếu do thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã kiệt sức thì quân Âu Lạc xuất trận. Đồ Thư mất mạng, quân Tần thua to, phải bỏ chạy về phương Bắc.

    Sau chiến thắng, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự. Tòa thành này có cấu trúc độc đáo, theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, được củng cố bởi mạng lưới hào nước liên kết với nhau chạy dưới chân thành. An Dương Vương cũng phát triển thuỷ binh và cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho Cổ Loa.

    Ít lâu sau, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc. Nhờ sự chuẩn bị quân sự tốt và ưu thế của thành Cổ Loa, An Dương Vương đã chống cự hiệu quả cuộc xâm lược này.

    Triệu Đà buộc phải dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai mình, Trọng Thủy, và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm được bí mật quân sự của An Dương Vương thông qua con trai, Triệu Đà đã thành công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và tự tử, kết thúc thời kỳ An Dương Vương.

    Lý Nam Đế

    Lý Nam Đế (503–548) tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, sinh ra trong hoàn cảnh nước Việt bị nhà Lương đô hộ. Có tư chất thông minh, thể chất mạnh khỏe từ nhỏ, khi lớn lên Lý Bí trở thành một người văn võ song toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.

    Ông được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác nên bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ.

    Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh và thu phục được nhiều nhân vật xuất chúng như tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, Tinh Thiều, lão tướng Phạm Tu…

    Lý Bí đã liên kết với các châu lân cận và cuối năm 541 chính thức khởi binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh. Tiêu Tư liệu không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được tha chạy thoát về Quảng Châu để quân của Lý Bí chiếm thành Long Biên.

    Tháng 4/542, vua Lương Vũ Đế sai quân từ phường Bắc kết hợp với quân của các châu còn kiểm soát ở phía Nam tạo thành gọng kìm đánh Lý Bí. Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía Nam đánh lui cuộc phản công của nhà Lương, làm chủ toàn bộ Giao Châu.

    Cuối năm 542, quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh khiến quân xâm lược thảm bại, 10 phần chết đến 6-7 phần. Sau chiến thắng này, Lý Bí kiểm soát thêm quận Hợp Phố (thuộc Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay).

    Trong khi Lý Bí bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía Nam, vua nước Lâm Ấp “đục nước béo cò”, đem quân đánh Giao Châu vào tháng 5/543. Lý Bí sai Phạm Tu cầm quân đánh Lâm Ấp và thắng lớn.

    Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội).

    Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục.

    Triệu Việt Vương

    Triệu Quang Phục (?-571) là con Triệu Túc, tù trưởng huyện Chu Diên. Ông cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.

    Năm 546, sau khi Lý Nam Đế thua trận phải lui về động Khuất Lạo, Triệu Quang Phục được ủy thác việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương.

    Tháng 1/547, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết.

    Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, và dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp lương thực vũ khí làm kế cầm cự lâu dài.

    Năm 550, nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về. Triệu Quang phục tận dụng thời cơ tung quân ra đánh. Quân Lương tan vỡ chạy về nước. Triệu Quang Phục vào thành Long Biên và xưng làm Triệu Việt Vương.

    Đến năm 571, một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30 năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602.

    Ngô Quyền

    Ngô Quyền (898 – 944) sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm. Ông lớn lên khi chính quyền đô hộ của nhà Đường đang suy yếu và tan rã, khó lòng khống chế các thế lực hào trưởng người Việt ở địa phương, do đó dẫn tới sự xác lập quyền lực của họ Khúc ở phủ thành Đại La vào năm 905 và họ Dương vào năm 931.

    Sau khi trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được tin cậy giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ để chiếm quyền, nhưng lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc nên đã cầu cứu nhà Nam Hán để bảo vệ quyền lực của mình.

    Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy.

    Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp.

    Khi cuộc chiến diễn ra, Ngô Quyền đã nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Kết quả, quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lược.

    Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, kết thúc hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam. Ông không có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô Vương. Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một nghìn năm trước.

    Đinh Tiên Hoàng

    Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình) vào thời kỳ đất nước bị nhà Ngô đô hộ. Ông là con của Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ. Từ bé ông đã mê đánh trận giả và tỏ ra là người có khả năng chỉ huy.

    Sau các biến động chính trị dồn dập, tình hình đất nước trở nên rối loạn và từ năm 966 hình thành 12 sứ quân cát cứ nhiều vùng, sử gọi là loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư, cùng con trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình).

    Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác. Chỉ trong vài năm, ông lần lượt đánh thắng 11 sứ quân khác, được xưng tụng là Vạn Thắng Vương.

    Sau khi xóa bỏ tình trạng cát cứ, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, niên hiệu Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Ông là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì thế mà ông còn được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử.

    Đinh Tiên Hoàng ở ngôi đến năm 979 thì mất. Theo chính sử, một viên quan là Đỗ Thích mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.

    Lê Đại Hành

    Lê Hoàn sinh năm 941, quê quán chưa được xác định rõ ràng. Mồ côi từ nhỏ, ông được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi, lớn lên đi theo đội quân của Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn, lập được nhiều chiến công.

    Sau khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm 968, Lê Hoàn được giao chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc đó ông mới 27 tuổi.

    Năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính cho Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua. Tranh chấp quyền lực đã xảy ra giữa phe của Lê Hoàn và một số đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng. Lê Hoàn đã giết chết các đối thủ và củng cố sự kiểm soát triều đình.

    Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt, nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng.

    Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga cùng các tướng lĩnh và triều thần đã tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn lên ngôi (sử thường gọi là Lê Đại Hành), lấy niên hiệu là Thiên Phúc.

    Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân sang đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành đã lãnh đạo quân dân đánh bại quân Tống ở các trận Bạch Đằng, Tây Kết, giết và bắt sống nhiều tướng giặc chủ chốt, khiến quân Tống phải tháo chạy về nước.

    Trong vòng 26 năm trị vì, Lê Đại Hành là người đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía Nam. Ông đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự lớn, đích thân cầm quân đánh dẹp sự nổi dậy của các thế lực cát cứ và xâm lấn, không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới, mà còn trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt. Lê Đại Hành mất năm 1005, thọ 65 tuổi.

    Lý Thánh Tông

    Lý Thánh Tông (1023 – 1072) là vị vua thứ ba của nhà Lý. Ông tên thật là Lý Nhật Tôn, là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai Thị. Không chỉ nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam, ông còn là một nhà quân sự lỗi lạc.

    Trong thời kỳ trị vì của vua cha Lý Thái Tông, Lý Nhật Tôn đã nhiều lần cầm quân đi dẹp loạn, bảo vệ biên cương và lập nhiều chiến công, được sử sách ghi nhận như dẹp bạo loạn ở Lâm Tây năm 1037, khi mới 15 tuổi, đánh châu Văn năm 1042, châu Ái năm 1043.

    Sau khi Lý Thái Tông băng hà năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi, tiếp tục ổn định tình hình trong nước và chú trọng mở rộng cương thổ. Quân đội dưới thời gian ông trị vì được tổ chức rất chặt chẽ và quy củ, có tiếng thiện chiến, nhiều lần đánh đuổi quân Tống ở biên cương phía Bắc vào các năm 1059-1060, khiến nhà Tống phải nể sợ.

    Do nước Chiêm Thành phía Nam hay sang quấy nhiễu, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, ông đem quân trở về. Đi nửa đường vua nghe thấy nhân dân khen bà Nguyên phi Ỷ Lan (vợ thứ của vua) ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, liền nghĩ bụng: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm sao?”. Vua lại đem quân trở lại đánh và bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ.

    Chế Củ đã phải dâng đất ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (ngày nay thuộc các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị) cho Đại Việt để chuộc tội.

    Trần Nhân Tông

    Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần. Ông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần Thị Thiều, được vua cha nhường ngôi vào năm 1278.

    Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và có vai trò lãnh đạo quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2 và 3.

    Trong cả 2 lần kháng chiến vào các năm 1285 và 1288, vua Trần Nhân Tông đã đóng vai trò của một ngọn cờ đoàn kết dân tộc, lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt nhiều thời khắc khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi cuối cùng. Trong các cuộc chiến này, nhà vua đã nhiều lần trực tiếp cầm quân đánh trận như một vị tướng dũng cảm, vừa đưa ra được những quyết sách đúng đắn trong vai trò của một nhà chiến lược tài giỏi.

    Ngoài cuộc đối đầu với người Mông Cổ, vào năm 1290, nhà vua cũng thân chinh đi đánh dẹp quân Ai Lao, những kẻ thường hay quấy nhiễu biên giới, bảo vệ vững chắc bờ cõi phía Tây.

    Vua Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.

    Lê Thái Tổ

    Lê Lợi sinh năm 1385 ở vùng đất Lam Sơn, Thanh Hóa, vào cuối đời nhà Trần – giai đoạn lịch sử rối ren của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế Truất nhà Trần, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ. Năm 1407 nhà Hồ sụp đổ trước sự xâm lược của quân Minh, nước Việt một lần nữa nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc.

    Năm 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng chính thức phất ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn, kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước.

    Trong những năm đầu tiên, cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, Lê Lợi và nghĩa quân thường phải lẩn trốn trong rừng núi. Năm 1424, khi quân lực được củng cố, Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Sau nhiều trận thắng, đến cuối năm 1425, ông làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.

    Từ tháng 8/1426, Lê Lợi cho quân tiến ra Bắc. Đội quân của ông thắng lớn ở Tốt Động, Chúc Động và vây hãm thành Đông Quan.

    Cuối năm 1427, vua Minh điều một lực lượng viện binh lớn sang nước Việt. Lê Lợi chủ động đánh chặn các đạo quân này và giành thắng lợi lớn trong trận Chi Lăng – Xương Giang. Các cánh viện binh còn lại nghe tin, hoảng hốt rút về phương Bắc.

    Sau thất bại này, quân Minh xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi muốn giữ hòa khí nên đồng ý để quân xâm lược về nước và sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáođể báo cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh.

    Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên vương triều nhà Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh vào năm 1430. Lê Thái Tổ băng hà năm 1433, hưởng thọ 49 tuổi.

    Lê Thánh Tông

    Lê Thánh Tông (1442 – 1497) tên thật là Lê Tư Thành, là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê. Tư Thành là con thứ 4 của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Ông lên ngôi năm 1460, sau cuộc đảo chính do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu, giết chết vua Lê Nghi Dân.

    Trong thời gian trị vì, Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị minh quân, người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông đã để lại nhiều dấu ấn trên phương diện quân sự trong lịch sử Việt Nam.

    Sau khi lên ngôi, vua ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Ông thường thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi, trở thành tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị.

    Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ, kết hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh.

    Đó là cơ sở để vua Lê Thánh Tông giành những thắng lợi quan trọng trong các hoạt động quân sự của mình. Đó là công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi Đại Việt bằng cách đánh chiếm kinh đô của vương quốc Chiêm Thành năm 1471, sáp nhập một phần lãnh thổ Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt; đồng thời có cuộc hành quân toàn thắng về phía Tây đất nước vào năm 1479.

    Năm 1497 vua Lê Thánh Tông băng hà vì lâm bệnh nặng.

    Chúa Nguyễn Hoàng

    Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) là con trai thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim, sinh ra ở Thanh Hóa. Ông là vị chúa đầu tiên trong số 9 chúa Nguyễn trước khi nhà Nguyễn hình thành.

    Dưới triều Lê trung hưng, Nguyễn Hoàng là một tướng tài lập nhiều công lớn. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm. Sau này, anh ruột của ông là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết.

    Do lo sợ bị sát hại, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Năm 1558, ông cùng gia quyến và một số người dân Thanh – Nghệ đi vào Nam. Ông xưng chúa, lập thủ phủ ban đầu là xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.

    Từ đó cho đến đầu những năm 1600, Nguyễn Hoàng lo phát triển và củng cố lực lượng, từng bước trở thành một thế lực độc lập với họ Trịnh.

    Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 ông đã thực hiện cuộc Nam tiến, chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa đang suy yếu, lập thành phủ Phú Yên. Trong thời gian Nguyễn Hoàng tiến hành Nam tiến, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), bây giờ là vùng cực Nam Phú Yên.

    Các sử gia đời sau coi Nguyễn Hoàng là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương Nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập vương triều nhà Nguyễn.

    Năm 1613, ông lâm bệnh nặng và qua đời. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

    Hoàng đế Quang Trung

    Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 – 1792) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn. Ông cùng hai người anh Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ là con của Nguyễn Phi Phúc một người chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt.

    Năm 1771, lấy lý do chống lại sự áp bức của quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ cất binh khởi nghĩa, xây dựng căn cứ chống chính quyền chúa Nguyễn tại Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã chứng tỏ được tài quân sự xuất chúng của mình trong cuộc chiến này, giúp quân Tây Sơn đánh bại Chúa Nguyễn đầu những năm 1780.

    Dưới danh nghĩa “Phù lê diệt Trịnh”, quân của Nguyễn Huệ cũng tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn họ Trịnh, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía Nam.

    Sau các thất bại lớn, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm dẫn đến Trận Rạch Gầm – Xoài Mút đầu năm 1785. Đây là một trận đánh lớn trên sông giữa liên quân Xiêm-Nguyễn và quân Tây Sơn tại khúc sông Rạch Gầm-Xoài Mút (Tiền Giang) với kết quả toàn thắng thuộc về quân Tây Sơn.

    Sau khi Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, đưa quân Thanh về cướp nước, ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và ngay hôm sau thực hiện một cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc để đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn tiến như vũ bão và đánh bại kẻ thù trong trận quyết chiến ở Ngọc Hồi – Đống Đa vào đầu xuân Ký Dậu 1789.

    Sau khi đẩy lùi quân xâm lược phương Bắc, hoàng đế Quang Trung dốc sức cho cuộc chiến cuối cùng với Nguyễn Ánh để thống nhất đất nước. Kế hoạch này đã không bao giờ được hoàn thành do ông đột ngột qua đời năm 1792 ở tuổi 40. Sau cái chết của hoàng đế Quang Trung, nhà Tây Sơn suy yếu và nhanh chóng sụp đổ

    Chưa từng biết đến thất bại trên chiến trận, hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi nhận như một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất của lịch sử Việt Nam.

    Theo KIẾN THỨC

  • Bộ ảnh bí mật chiến tranh Việt Nam chưa từng được công bố

    Bộ ảnh bí mật chiến tranh Việt Nam chưa từng được công bố

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Võ Anh Khánh: Các cán bộ cách mạng gặp nhau trong rừng Năm Căn. Họ phải che mặt để giấu kín thân phận, không cho người khác biết về mình, nhằm đề phòng tình huống bị bắt giữ và thẩm vấn. Theo nhiếp ảnh gia Võ Anh Khánh, chuyển ảnh từ nơi này ra miền Bắc là công việc rất khó khăn. Đôi khi các bức ảnh bị thất lạc hoặc bị tịch thu trong lúc đang trên đường ra Bắc.

    Rất nhiều bức ảnh nổi tiếng đó là tác phẩm của các phóng viên ảnh, hãng tin phương Tây, hoạt động bên cạnh lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng hòa. Nhưng quân giải phóng cũng có hàng trăm phóng viên ảnh chiến trường của riêng họ và những người này đã ghi lại nhiều góc cạnh của cuộc chiến, dưới những điều kiện nguy hiểm nhất.

    Gần như các tay máy của quân giải phóng đều tự học và họ làm việc cho Thông tấn xã Việt Nam, Mặt trận giải phóng dân tộc, quân đội hoặc nhiều tờ báo khác nhau. Nhiều người đã giấu tên hoặc dùng tên giả khi gửi về các cuốn phim, với suy nghĩ rằng mình cũng chỉ là một phần nhỏ bé của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vốn lớn hơn nhiều.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 7/1967, Bảo Hạnh: Tân binh kiểm tra sức khỏe ở Hải Phòng. Hệ thống tuyển quân dựa trên sự tình nguyện của miền Bắc đã chuyển thành chế độ nghĩa vụ quân sự vào năm 1973, khi tất cả nam giới có khả năng chiến đấu đều phải nhập ngũ. Từ một lực lượng chỉ 35.000 người vào năm 1950, quân giải phóng đã tăng số lượng lên hơn nửa triệu người vào giữa những năm 1970. Đây là lực lượng được chính quân đội Mỹ thừa nhận là thuộc hàng tinh nhuệ bậc nhất thế giới.

    Trang thiết bị và nguồn vật liệu tạo ảnh rất hiếm hoi. Hóa chất xử lý ảnh thường được trộn trong các ấm trà, cùng với nước suối. Phim đã chụp chỉ được rửa vào ban đêm. Một phóng viên ảnh, ông Trần Ấm, chỉ có một cuộn phim duy nhất, với 70 bức ảnh, để sử dụng trong suốt thời gian chiến tranh diễn ra.

    Đối mặt với nguy cơ thiệt mạng do trúng phi pháo, trúng đạn hay từ môi trường độc hại, các nhiếp ảnh gia ấy vẫn không ngại khó khăn, vượt qua hiểm nguy gian khổ để ghi lại đời sống chiến đấu dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh; các phong trào kháng chiến ở đồng bằng sông Mekong và tác động đẫm máu từ cuộc chiến lên dân thường vô tội.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1973, Lê Minh Trường: Một cô du kích đứng gác ở đồng bằng sông Mekong. Nhiếp ảnh gia Lê Minh Trường cho biết: “Bạn có thể tìm thấy những người phụ nữ như thế này ở gần như mọi nơi trong chiến tranh. Cô ấy mới 24 tuổi, nhưng đã mất chồng 2 lần. Cả 2 người chồng của cô ấy đều là quân nhân. Tôi thấy cô ấy là hiện thân của một nữ du kích lý tưởng, người đã có những hy sinh vĩ đại cho đất nước”.

    Một số chụp ảnh để ghi lại lịch sử và số khác dùng máy ảnh của họ làm vũ khí trong cuộc chiến tuyên truyền. Do phải chụp ảnh trong bí mật ở miền Nam, phóng viên ảnh Võ Anh Khánh đã không thể đưa ảnh ra Hà Nội. Nhưng ông triển lãm các bức ảnh ngay trong những cánh rừng đước ở đồng bằng sông Mekong để truyền cảm hứng cho lực lượng kháng chiến.

    Nhiều bức ảnh trong số này hiếm khi được nhìn thấy ở Việt Nam, chưa nói tới thế giới. Trong những năm 1990, các phóng viên ảnh lừng danh Tim Page và Doug Niven đã bắt đầu lần theo những nhiếp ảnh gia của quân giải phóng còn sống.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1970, Lê Minh Trường: Một người du kích chèo thuyền trên sông qua rừng đước ở đồng bằng sông Mekong. Người Mỹ dùng các loại chất độc diệt cỏ để phá hoại lớp vỏ che chắn tự nhiên của đối phương. Nhiếp ảnh gia Lê Minh Trường đã cảm thấy kinh khủng trước những gì ông chứng kiến, bởi người Việt coi các cánh rừng đước là khu vực có tiềm năng tốt cho hoạt động nông nghiệp và đánh bắt cá.

    Một trong số đó vẫn còn giữ một chiếc túi lầm bụi, chứa các cuốn phim âm bản chưa từng được rửa ảnh. Người khác thì giấu các cuộn phim dưới chậu rửa mặt trong buồng tắm. Võ Anh Khánh giữ các thước phim của ông trong một hộp đạn Mỹ, có sử dụng gạo để chống ẩm.

    Khoảng 180 bức ảnh chưa từng công bố đó và câu chuyện về những con người can đảm đã làm ra chúng vừa được tập hợp trong cuốn sách Another Vietnam: Pictures of the War from the Other Side (tạm dịch Một Việt Nam khác: Các bức ảnh về cuộc chiến tranh chụp từ phía bên kia).

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1974, Lê Minh Trường: Phụ nữ vất vả kéo lưới trên thượng nguồn sông Mekong. Họ đảm nhận một công việc thường chỉ do đàn ông thực hiện.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    9/1972, Đoàn Công Tính. Dân quân lục soát tại bãi xác một chiếc máy bay của Hải quân Mỹ bị bắn rơi ở ngoại ô Hà Nội. Đây có vẻ như là mảnh vỡ của chiếc A-7C Corsair II do phi công, Đại úy Hải quân Stephen Owen Musselman điều khiển. Chiếc máy bay này đã trúng tên lửa phòng không (SAM) ngay tại khu vực phía Nam Hà Nội khi đang bay hỗ trợ một nhiệm vụ ném bom của máy bay B-52 trong ngày 10/9/1972. Musselman đã nhấn nút phóng khẩn cấp ra khỏi máy bay trước khi nó đâm xuống đất. Anh bị đưa vào diện mất tích trong lúc làm nhiệm vụ cho tới ngày 1/3/1978, khi bộ trưởng Hải quân phê chuẩn văn bản cho rằng anh đã chết. Ngày 7/7/1981, di cốt được cho là của Musselman đã được chính phủ Việt Nam trao trả lại cho phía Mỹ.

    Trong cuốn sách, các phóng viên ảnh đã chia sẻ khá nhiều về công việc của họ. Ông Lâm Tấn Tài cho biết: “Cánh rừng tối đen đó chính là phòng tối khổng lồ của tôi. Vào buổi sáng, tôi thường rửa ảnh tại một con suối rồi phơi chúng trên cây cho khô. Vào buổi chiều, tôi sẽ cắt ảnh và viết chú thích. Sau đó tôi bọc các bức ảnh và phim âm bản trong giấy rồi để gần thân mình. Làm như thế, ảnh sẽ luôn được khô ráo và có thể dễ dàng được tìm thấy nếu tôi bị giết”.

    “Tại thời kỳ Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, tôi đã chụp được các bức ảnh đáng nhớ nhất của mình. Tôi chụp được cảnh chiếc máy bay của Thượng nghị sĩ John McCain rơi trên bầu trời Hà Nội. Tôi rất tự hào về bức ảnh đó và muốn nó chuyển tải thông điệp về lòng yêu nước trước mối đe dọa ngoại xâm”, ông Vũ Ba nói.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Lê Minh Trường. Du kích canh gác một tiền đồn trên biên giới Việt Nam – Campuchia, được bảo vệ bởi các ống tầm vông tẩm độc. Tầm vông thường được vót nhọn rồi làm cho cứng lại bằng lửa, trước khi được ngụy trang để bẫy kẻ thù. Những cái bẫy như thế chỉ nhằm gây thương thích chứ không giết chết nạn nhân, bởi người lính bị thương sẽ làm chậm tốc độ của đồng đội và hoạt động cứu thương sẽ làm lộ vị trí của đơn vị.

    “Chúng tôi thậm chí còn sáng tạo ra một dạng chụp ảnh bằng đèn flash mới để mô tả những người lính và dân làng của chúng tôi đang sống trong các hầm, hào tránh bom. Chúng tôi chế đèn flash bằng cách đổ thuốc súng vào một thiết bị cầm tay nhỏ rồi dùng diêm đốt thuốc súng. Khi cháy, thuốc súng sẽ tạo đủ lượng ánh sáng mà chúng tôi cần”, phóng viên ảnh Mai Nam chia sẻ.

    Nhiếp ảnh gia Dương Thanh Phong thì chia sẻ: “Tôi không chụp ảnh vì giá trị thẩm mỹ. Tôi không nghĩ về vẻ đẹp. Những ngôi nhà cháy nham nhở và các xác chết rõ ràng không đẹp. Bất kỳ giá trị thẩm mỹ nào đó xuất hiện đều sẽ bị thay thế bởi các mục đích của chúng tôi trong việc ghi lại cuộc chiến”.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Ngày không rõ, Hoàng Mai. Quân giải phóng chiến đấu mặt đối mặt với đối phương, tại khu vực dường như là đồng bằng sông Mekong. Bức ảnh hiếm hoi này cho thấy cả hai bên trong chiến trận, với bóng dáng lính Việt Nam Cộng hòa ở góc trên của ảnh và quân giải phóng ở phía dưới. Những người lính giải phóng đã tấn công đối phương từ cả hai cánh trái và phải, có nghĩa đơn vị này của Việt Nam Cộng hòa sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 9/1965, Minh Đạo. Sử dụng bia tự chế, một đơn vị dân quân đang tập bắn máy bay ở Thanh Trì. Dù sử dụng các khẩu súng trường cổ lỗ có từ thời Thế chiến 2 như thế này, người Việt Nam vẫn có thể bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Đơn vị dân quân này, thuộc Đại đội 6 của làng Yên Mỹ, đã giành danh hiệu Lực lượng Dân quân xuất sắc trong 3 năm liên tiếp.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1973, nhiếp ảnh gia vô danh. Công nhân xây dựng đang thảo luận cách sửa chữa cầu Hàm Rồng. Do đây là tuyến đường duy nhất để máy móc và xe tải hạng nặng đi qua sông Mã nên nó được bảo vệ rất gắt gao. Vài chiếc máy bay Mỹ đã bị bắn rơi gần đó. Một đội tìm kiếm người mất tích của Mỹ đã tìm thấy một số di cốt của các phi công tại đó.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1966, Lê Minh Trường. Binh lính hành quân trên đường mòn Hồ Chí Minh trong dãy Trường Sơn chạy dọc theo Việt Nam. Với quân giải phóng, đường mòn Hồ Chí Minh còn được gọi là đường Trường Sơn.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 3/1971, Đoàn Công Tính. Du kích Lào dùng voi và sức người kéo hàng tại khu vực gần đường 9 ở Nam Lào, trong thời kỳ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tìm cách kiểm soát cung đường này. Màn tấn công của quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong chiến dịch Lam Sơn 719, nhằm kiểm tra khả năng của lực lượng này trong bối cảnh sự hỗ trợ từ Mỹ đang giảm dần. Tuy nhiên chiến dịch đã kết thúc trong thảm họa, với nhiều người lính Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy trong hoảng sợ.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    15/9/1970, Võ Anh Khánh. Một nạn nhân của hoạt động ném bom do Mỹ thực hiện, anh du kích người Campuchia có tên Danh Son Huol, đang được đưa tới phòng phẫu thuật nằm trong một cánh rừng đước ở Cà Mau. Đây thực sự là một ca phẫu thuật đang diễn ra, không phải một chiêu chụp ảnh để tuyên truyền. Tuy nhiên người phóng viên ảnh thấy rằng bức ảnh rất ấn tượng nên đã không in nó ra.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Nguyễn Đình Ưu. Binh lính quân giải phóng băng qua một vùng đất trống gần Đường 9 nam Lào trong Chiến dịch Lam Sơn 719, nỗ lực thất bại của quân Việt Nam Cộng hòa nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    30/4/1975. Giày lính bị bỏ lại la liệt trên con đường nằm ở ngoại ô Sài Gòn. Binh lính Việt Nam Cộng hòa đã vứt bỏ những đôi giày cùng bộ quân phục của họ nhằm che giấu thân phận. “Tôi không bao giờ quên những đôi giày và âm thanh lụp bụp vang lên khi chúng tôi chạy xe qua chúng”, Dương Thanh Phong nhớ lại. “Nhiều thập kỷ chiến tranh đã kết thúc và cuối cùng chúng tôi đã có hòa bình”.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 5/1975, Võ Anh Khánh. Người già từ miền Nam và miền Bắc Việt Nam ôm nhau. Họ đã sống đủ lâu để chứng kiến Việt Nam thống nhất và không còn bóng dáng của các lực lượng ngoại xâm.

    Hương Giang (Theo Mashable)

  • Những lần quân Việt tiến qua biên giới đánh quân Tàu

    Những lần quân Việt tiến qua biên giới đánh quân Tàu

    Những lần trong lịch sử nước Việt, chúng ta  tiến qua biên giới đánh quân Tàu

    Đám đông thường được tinh thần dân tộc dẫn dắt theo cùng một hướng “cứ địch là toàn sang đánh ta, còn cứ ta thì chống trả và đánh lại”. Lịch sử cho thấy còn có những trường hợp ngoại lệ hơn chục lần quân Việt đã tấn công qua biên giới phía Bắc, được nêu dưới đây như một vài sự kiện cần nghiên cứu sâu hơn để làm rõ…

    Lý Thường Kiêt đánh Tống bên kia biên giới. Tranh minh họa
    Lý Thường Kiêt đánh Tống bên kia biên giới. Tranh minh họa

    Các thời Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh vì lòng tham đã xâm chiếm, uy hiếp đã bị người Giao Chỉ đánh cho hao binh tổn tướng, khiếp hãi dăm bẩy phen. Các bậc anh hùngNgô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ đã làm các triều đại bên Tàu phải chịu đớn hèn.

    Tổ tiên ta cũng từng dăm phen nuôi chí đánh sang Trung Quốc. Tiền nhân coi Triệu Đà (Nam Việt Vũ Đế – vua nước Nam Việt) là vua nước ta, đóng đô ở Phiên Ngung, thành Quảng Châu ngày nay. Đến triều Đông Hán năm 43, đánh bại Hai Bà Trưng, tướng Mã Viện bèn dựng cột trụ đồng phân giới nhà Hán Giao Chỉ, khắc chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng đổ thì người Giao Chỉ tuyệt diệt). Theo sách An Nam chí lược đời Trần thì Cột đồng nằm ở Khâm Châu, trước thuộc Quảng Đông nay thuộc Quảng Tây. Bởi vậy, các tiền nhân ôm mộng kéo Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) trở về với người Việt.

    *) Lần 1: Theo Đại Việtsử ký toàn thư. Năm 542, vua Lương sai 2 tướng Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đem quânsang xâm lược nước ta. Hai tướng giặc sợ nên chỉ tiến quân dùng dằng, tốc độ rất chậm. Khi chúng mới kéo đến quận Hợp Phố (Quảng Đông) thì bị Lý Bí (tức Lý Nam Đế) đã cho quân chủ động sang tận Hợp Phố tấn công, khiến quân Lương mười phần chết đến sáu, bảy nên tan rã và phải bỏ mộng xâm lược. Chiến thắng đã giúp Lý Bí kiểm soát được toàn bộ Giao châu cộng thêm quận Hợp Phố (Quảng Đông)

    *) Lần 2: Vào thời Tiền Lê, năm 995, hơn 100 chiến thuyền của Đại Cồ Việt đã tiến sang bờ biển nướcTống, đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, sau đó rút quân. Khi nhà Tống gửi thư trách, vua Lê Đại Hành đã trả lời đầy thách thức rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Nhung,thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?”.

    *) Lần 3: Đến mùa hè năm 995, 5.000 hương binh châu Tô Mậu (Lạng Sơn) của Đại Cồ Việt đã tấn côngvào Ung Châu rồi lui binh.

    *) Lần 4: Đến nhà Lý, năm 1022 vua Lý Thái Tổ đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh dẹp giặc Đại Nguyên Lịch. Quân Đại Việt đã đi sâu vào trấn Như Hồng của đất Tống, đốt kho tàng kẻ thù rồi rút về.

    *) Lần 5: Năm 1052, thủlĩnh Nùng Trí Cao của người dân tộc Tráng (Tày – Nùng) ở Cao Bằng đem quân đánh vào miền Nam Trung Quốc, khiến vua Tống lo sợ. Vua Lý Thái Tông gửi chiếu đề nghị đưa quân sang giúp nước Tống, nhưng tướng Địch Thanh của nhà Tống can ngăn vì sợ người Việt lợi dụng việc này mà lấn chiếm lãnh thổ.

    Tháng 10/1053, lấy danh nghĩa là ứng cứu cho nhà Tống, quân Đại Việt tiến vào đất Tống để tiếp ứng cho Nùng Trí Cao, nhưng tới nơi thì Nùng Trí Cao đã thua nên đành rút quân về.

    *) Lần 6:  Mùa xuân năm 1059, vua Lý Thánh Tông cho quân đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc, khiến quân Tống nể sợ.

    Năm 1060, vua Lý sai châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống, bắt được tướngTống là Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về. Quân tống phản công nhưng thất bại, đành phái sứ giả sang điều đình. Tuy nhiên, phía Đại Việt quyết không trả tù binh.

    *) Lần 7:  Năm 1073, vua Thần Tôn nhà Tống cử Thẩm Khởi làm Tri châu Quế Châu cốt mưu toan việc đánh lấy nước Nam ta, vì nghe lời một quan biên thần dâng sớ về tâu nên chiếm Giao Chỉ: “Một vạn quân đem đánh đủ lấy được Giao Chỉ dễ dàng như chơi”.

    Thẩm Khởi đến Quế Châu, đêm ngày lo việc luyện quân đóng thuyền, rèn luyện thủy chiến, sửa soạntấn công nước ta; lại dung nạp bọn Nùng Thiện Mỹ là tù trưởng dân Mường ở mạn ngược ta cho sang bên Tàu ở, chủ ý để dò binh tình và địa thế, phòng nay mai đi đánh thì dùng bọn ấy làm hướng đạo.

    Vua Tống thấy Khởi làm hấp tấp, lộ chuyện quá liền vội bãi chức gọi về và sai Lưu Di xuống thay. Lưu Di muốn lập công nhanh chóng nên càng hăng hơn, ngoài việc xây đắp đồn lũy, dò la tình thế, lại đóng cửa biên giới, không cho dân sở tại vãng lai buônbán với ta…

    Đầu năm 1075 ,Nhân Tôn bàn việc với Thái sư Lý Đạo Thành:

    Quân Tống thế thì láo thật. Dễ thường nó nghĩ nước ta không có gươm sắc để chặt bay đầu chúng nó chẳng? Việc này mẫu hậu và Thái sư định đối phó thế nào?

    Thái sư Lý Đạo Thành tâu xin cho quân lên án ngữ biên giới, hễ binh nhà Tống ngó thấy ta phòngbị, tất không dám manh tâm quấy nhiễu ta nữa.

    Nhân Tôn gạt mưu kế ấy:

    –   Không! Chúng nó đã rắp tâm đánh ta thì ta đánh nó trước. Sang tận nhà chúng nó mà đánh một chuyến cho biết tay. Xin mẫu hậu nghe con, Trung Quốc chỉ to xác đông người,chứ binh lực nhà Tống chưa chắc hơn ta.

    Ỷ Lan Thái Phi nghĩ thầm con mình thông minh anh dũng, bàn có lẽ phải, bèn hỏi Lý ĐạoThành:

    Ta cũng nghĩ thế: phải đánh Tống một phen, cho họ bớt thói ngạo nghễ khinh khi tiểu quốc đi. Trong các võ thần nước ta, nên chọn ai đi làm tướng, theo ý ta quan Thái sư Lý Thường Kiệt được chăng?

    Lý Đạo Thành tâu:

    –  Tướng tài nước ta hiện nay trừ Lý Thường Kiệt không ai đương nổi trọng nhậm này.

    Năm 1075-1076, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản khởi binh mười vạn, chia làm ba đạo quân kéo sang nước Tàu đánh đòn phủ đầu.

    Đạo thứ nhất, nhì đánh hai châu Khâm, Liêm đất Quảng Đông.

    Đạo thứ ba đánh Ung Châu đất Quảng Tây.

    Lý Thường Kiệt đánh có mấy ngày, chiếm luôn cả Liên Châu và Khâm Châu, giết quân Tống và thổdân hơn tám nghìn người, tiêu hủy các thành lũy, phá kho lương dự trữ. Kéo tiếp một cánh quân chặn đánh viện binh nhà Tống ở Ải Côn Luân (gần Nam Ninh nay) phávỡ tan hoang và chém chết tướng địch Trương Thủ Tiết giữa trận.

    Đạo binh Tôn Đản tiến đánh Ung Châu, vây Ung Châu hơn 40 ngày rồi trèo lên Thành Võ, Tháithú Tô Đạm tự thiêu mà chết, thành Ung Châu bị hạ.

    Sử ta chép rằng từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau, lính và dân Tàu bj chém giết tửthương hơn 10 vạn, bắt sống mấy trăm dân ba châu đem về. Đạo binh ung dung kéo về, quân Tống khiếp vía không dám đuổi theo, binh lực suy yếu.

    *) Lần 8: Sang đờinhà Trần, năm 1241, vua Trần Thái Tông thấy một số tộc người ở nước Tống thường hay quấy nhiễu biên giới đã sai đốc tướng Phạm Kính Ân đem quân vượt biên giớiđánh vào hang ổ của chúng rồi về.

    Cũng trong năm này 1241, vua thân chinh cầm quân vượt qua châu Khâm, châu Liêm đi đánh cáctrại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ. Vào địa phận nước Tống, vua tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ. Người châu ấy không biết là ai, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là vua Việt,mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, vua sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về, rồi ung dung đi theo đường bộ về nước mà không sợ hãi lúng túng.

    *) Lần 9: Đến mùa hạnăm 1242, vua Trần Thái Tông lại sai tướng Trần Khuê Bình đem quân trấn giữ biên giới phía Bắc, đánh vào lộ Bằng Tường của nước Tống để dẹp loạn.

    *) Lần 10: Vào đời vua Trần Thánh Tông, đầu năm 1266, thủy quân Đại Việt tấn công rồi đánh đến tận núi Ô Lôi ở phía Đông Nam huyện Khâm (Quảng Đông), nhờ đó biết được quân Nguyên cóâm mưu xâm lược nước ta.

    *) Lần 11: Sử nhà Nguyên ghi rằng, vào năm 1313, hơn 3 vạn quân Đại Việt đánh vào Vân Động, châu Trấn Yên, sau đó tấn công các xứ Lôi Động, Tri Động và châu Quy Thuận, cuối cùng là châu Dưỡng Lợi (nay thuộc Quảng Tây). Về sau nhà Nguyên phải cho sứ đến thương lượng quân Đại Việt mới rút lui.

    *) Lần 12: Theo sử nhà Minh, năm 1438, thổ quan châu Tư Lang của Đại Việt đem quân đánh hai châu An Bình và Tư Lăng (nay thuộc Quảng Tây), vua Minh phải sai sứ sang nước ta thương thuyết.

    *) Lần 13: Năm 1480, tổng binh tri Bắc Bình của Đại Việt là Trần Ao sai Đào Phu Hoán đem 600 quân đánh vào Cảm Quả, chiếm được ải Thông Quang (thuộc Quang Lang, Ôn Châu, Trung Quốc)rồi tiến vào Ban Động dựng rào chắn, sau đó tâu về triều đình. Vua Lê ThánhTông sau đó cho người lên biên giới “biện bạch phải trái với nhà Minh”.
    *) Lần 14: Cuối đời Minh Sùng Trinh, nhà Minh suy vi, loạn lạc lan tràn khắp đất Tàu. Nhà Đại Thanhở Mãn Châu nhân đấy tràn qua dẹp loạn đồng thời lật nhà Minh giành quyền thống trị. Dòng dõi chót nhà Minh là Quế Vương cùng cựu thận về Triều Khánh (QuảngTây) dựng triều đình Vĩnh Lịch Đế. Quân Thanh rượt theo triệt hạ buộc vua Vĩnh Lịch trốn về Quế Lâm, rồi Vân Nam. Khoảng 1646-1647, Vĩnh Lịch Đế muốn nhờ binh lực nước ta nên phong vua Lê Thân Tông làm An Nam quốc vương, Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng làm Phó vương, làm mồi hư danh để cầu viện binh An Nam.

    Chúa Trịnhtuy chẳng thừa binh lực nhưng cũng suy xét nhân cơ hội này có quyết toán được khoản nợ hơn nghìn năm: thu lại Lưỡng Quảng về nước ta không?

    Đầu tháng 6 năm Đinh Tỵ (1647) ở Phủ Liêu có cuộc họp mặt quan trọng. Trịnh Tráng đặt vấn đề:

    Có phải bờ cõi nước ta nguyên xưa gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây không? Ấy thế mà xưa nay không ai nghĩ đến sự thu phục đất cũ đó về cho nước nhà! Nay nhà Minhs uy vi, nước Tàu rối loạn, ta định thừa cơ lấy lại Lưỡng Quảng, các ngươi tínhsao?

    Tiền quận công Lê Văn Hiếu nói:

    –  Điện hạ làm được việc này sẽ ghi công nghiệp với quốc gia, hậu thế thật không phải nhỏ.

    Tướng quân Trịnh Đào lắc đầu:

    – Nhưng đất Quảng Tây hiện còn Vĩnh Lịch Đế nhà Minh đóng đô, chả lẽ ta vừa mới thụphong lại giở mặt chiếm lấy chỗ đất dung thân của vua”

    Chúa Trịnh chấpnhận:

    – Thôi hãy để Quảng Tây đó cho vua nhà Minh dung thân, sau này sẽ tính. Nhưng còn QuảngĐông, ta nên thừa cơ quân Thanh chưa xuống đến nơi mà lấy ngay đi mới được.

    Ninh quận công Trịnh Toàn, con Chúa Trịnh can ngăn:

    -Con tưởng không nên, cứ xem sự thể Trung Quốc tất về Thanh triều làm chủ, rồi họ lấyuy lực trách vấn ta việc ấy, e đến sinh sự lôi thôi, thì làm thế nào.

    Chúa Trịnh nói:

    -Việc đời cứ “tiên phát chế nhân” (Nắm trước để ngăn người ta) là hơn. Khi quân Thanhxuống đến nơi, thấy sự dĩ nhiên, có lẽ phải chịu. Mà nếu họ muốn lôi thôi trách vấn ta chăng nữa, ta cũng có lý sự để phân giải. Họ bất quá là người ở bộ lạcTường Bạch trên Mãn Châu, bỗng thừa thời tràn xuống chiếm cả Trung Quốc, còn được thay huống hồ khi tay lấy một xó Quảng Đông mà chỉ là thu lại đất cũ của ta.

    Trịnh Toàn lại nói:

    –  Bẩm kể lý sự thì đành như thế, nhưng còn sức mạnh nữa. Từ khi quân Thanh kéo vào cửaải, quân dân tướng sĩ nhà Minh theo hàng tấp nập. Con thiết tưởng đất QuảngĐông lúc này cũng đã có kẻ giữ hộ quân Thanh rồi. Việc thật khó khăn, cúi xinphụ vương suy nghĩ lại cho kỹ.

    Trịnh Tráng quắc mắt trả lời cương quyết:

    –    Ta há không biết là việc khó khăn ư? Ở đời cứ thấy việc khó không làm thì cổ laibao nhiêu việc khó ai chịu làm bao giờ! Ý ta đã quyết rồi, không ai được bàn lảng ra. Ta cứ sai mấy đạo binh thuyền đi liệu để lấy được thì lấy, không thì kéo quân về, phỏng có làm sao?

    Liền Chúa Trịnh hạ lệnh cho 2 tướng lĩnh Trịnh Lãm và Ngô Sĩ Vinh đem quân sĩ và ba trăm binh thuyền ra cửa Vân Đồn. Dù không lấy được toàn tỉnh cũng thu phục mấy châu quận ven biển, gần biên giới ta hơn hết.

    Chúa Trịnh dặn riêng 2 tướng: – Hai ngươi đến đó, nếu thấy quân Thanh phòng bị rồi thế là họn hanh chân đến trước thì ta nên tìm lối nói khéo mà lui quân, đừng sinh sự tranh chiến…

    Tướng Trịnh Lãm thưa: –   Chúa thượng cho phép chúng tôi vì quốc thể, giao chiến với quân Thanh một phen,không lẽ gặp họ chưa chi mình đã tự lui? Chúng tôi có binh lực trong tay không phải ít.

    Chúa Trịnh lắc đầu: – Không được, hai người trung dũng can đảm như thế, thật đáng ngợi khen, nhưng phải biết quân mình ở xa đến, vạn nhất đánh mà bất lợi, thêm thù oán với nhà Thanh sẽ liên lụy cho nước ta không nhỏ. Hiện nay họ Mạc trên Cao Bằng chưa trừ xong, mà họ Nguyễn Đàng Trong tất phải đánh tới, trong nước đã có haimũi giáo bên nách rồi, ta không thể rước thêm một mũi giáo ở ngoài đến, nhất lànhà Thanh. Vậy hai ngươi phải thể tất ý ta làm việc này cho cẩn thận nghe!

    Sáng hôm sau,hơn ba trăm chiếc thuyền Việt Nam kéo buồm ra khơi rời bến Vân Đồn nhằm hướng Liêm Châu. Lịch triều hiến chương quyển 48 của Phan Huy Chú ghi chép rằng: “…Bọn Lãm đi qua Tây Đông ba thôn rồi đến Liêm Châu. Không ngờ nhà Thanh đã sai đô đốc đến làm tổng trấn ở đó rồi… Binh ta bèn rút về trước…”

    *) Lần 15: Sau khi đuổi xong quân Thanh, vua Quang Trung nghĩ đến việc chuẩn bị binh lực, mưu sang đánhTrung Quốc. Ông nói với Ngô Thời Nhiệm: “Đánh xong trận này, ta muốn phiền ông sang dùng lời nói sao cho khéo để chỉ việc chiến tranh. Đợi mười năm nữa nướcta dưỡng sức phú cường rồi, bấy giờ ta không cần sợ nó nữa…

    Quang Trung trực tiếp chăm nom, tuyển binh bắt linh, rèn đúc binh khí, tập luyện chiến trận. Nhân giặc Tầu đảng Thiên Địa Minh “Phản Thanh, phục Minh”, ông hỗ trợ cho quấy rối quân Thanh vùng giáp ranh. Năm Nhân Tí (1792), mọi việc chuẩn bị xong xuôi, Quang Trung sai sứ đem lễ vật sang Bắc Kinh cầu hôn một công chúa Mãn Thanh và xin trả lại Việt Nam đất tỉnh Lưỡng Quảng làm của hồi môn.

    Cố nhiên, đó là cớ để danh chính ngôn thuận khởi binh, chỉ chờ sứ bộ là Võ Huy Tấn trở về làphát lệnh tiên phát. Không may, nhà vua bất ngờ lâm bệnh rồi thăng hà, thọ bốnmươi tuổi. Dự định ấp ủ cũng bị xấu số trôn vùi.

    *) Lần 16: Chiến dịchThập Vạn Đại Sơn là một chiến dịch quân sự diễn ra trong thời gian từ tháng 6 đếntháng 10 năm 1949 do liên quân giữa bộ đội Việt Nam và Quân Giải phóng nhân dânTrung Quốc thực hiện tại  khu biện giớiViệt – Quế chống lại quân đội của Quốc Dân Đảng.

    Mục tiêu củachiến dịch là mở rộng vùng giải phóng tại khu vực dãy núi Thập Vạn Đại Sơn tại3 huyện Ung Châu, Long Châu và Khâm Châu giáp biên giới với vùng Đông Bắc Việt Nam, tạo điều kiện phát triển lực lượng phối hợp với đại quân của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc khi đó đang ào ạt tiến về phía Nam.

    Lực lượng Việt Minh tham gia liên quân là theo đề nghị của phía Trung Quốc. Năm 1949, theo đềnghị của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tư lệnh Biên khu Việt – Quế (QuảngĐông – Quảng Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân ViệtNam phái một lực lượng vũ trang sang giúp Trung Quốc “xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung–Long – Khâm liền với biên giới Đông Bắc ta, thông ra bể, tạo điều kiện khuếch trương lực lượng, đón Đại quân Nam Hạ” (Mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1949).

    Chiến dịch có hai hướng: Khâm Châu và Long Châu.

    Trên hướng Long Châu, bộ đội Việt Nam đánh chiếm Bằng Tường, Thuỷ Khẩu (ngày 12 tháng 6),Hạ Đống (ngày 13 tháng 6). Ngày 18 tháng 6, diệt viện binh Quốc dân Đảng từ Long Châu xuống và tiến đánh Ninh Minh.

    Trên hướngKhâm Châu, trong thời gian từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 7, liên quân Trung-Việtđánh thị trấn Trúc Sơn (Zhushan) (trên đường Đông Hưng – Phòng Thành) nhưng không thành công. Ngày 25 tháng 7, liên quân chuyển sang tấn công quân Quốc dânĐảng tại Voòng Chúc, Mào Lêng, rồi tiến sát Phòng Thành. Quân Quốc dân Đảng phảirút khỏi các đồn bốt nhỏ, tập trung về các thị trấn Long Châu, Nà Lương, PhòngThành, Đông Hưng.

    Chiến dịch kết thúc vào tháng 10 khi cánh quân từ phía bắc của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm Nam Ninh. Đến đây, liên quân Trung-Việt đã chiếm được 10 trên 12 vị trí thuộc 3 huyện Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành, mở rộng vùng kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh chiếm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.
    Nguồn tham khảo:
    1- Wikipedia
    2- Con trời ngã xuống bùn đen, NXB Người Bốn Phương, Hà Nội 1941, Đào Trinh Nhất

    Nguồn: Bùi Quang Minh

  • Tổng hợp các cuộc chiến tranh trong sử Việt

    Tổng hợp các cuộc chiến tranh trong sử Việt

    Danh sách các cuộc chiến tranh trong sử Việt (từ Ngô Vương giành tự chủ đến khi Gia Long thống nhất đất nước)

    Nhà Ngô (938 – 967)

    • Loạn 12 sứ quân (944-968)
    • Cuộc tranh chấp ngôi báu trong cung đình thời Dương Tam Kha (944-950)
    • Cuộc chiến giành ngôi báu sau cái chết của Ngô Xương Văn (965)

    Lăng Ngô Quyền
    Lăng Ngô Quyền

    Nhà Đinh (968 – 980)

    • Cuộc nổi dậy chống Lê Hoàn của các cựu thần nhà Đinh (979)
    • Cuộc hành thích Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn của Đỗ Thích (979)
    • Cuộc hành quân của Chiêm Thành đánh sang Đại Cồ Việt (980)

    Người Hùng Nước Việt : Đinh Bộ Lĩnh
    Người Hùng Nước Việt : Đinh Bộ Lĩnh

    Nhà Tiền Lê (981 – 1009)

    • Chiến tranh Tống – Việt, 981
    • Chiến tranh Việt-Chiêm (982-983)
    • Cuộc phản loạn của Dương Tiến Lộc ở 2 châu Hoan, Ái (989)
    • Cuộc xâm nhập cướp phá đất Tống của 5000 hương binh châu Tô Mậu – Lạng Sơn (995)
    • Cuộc bình định phản loạn ở Cử Long (1001)
    • Chiến tranh kế vị thời Tiền Lê (1005)
    • Cuộc hành quân chinh phạt châu Hoan Đường và châu Thạch Hà của Lê Ngọa Triều (1009)

    Tổng hợp các cuộc chiến tranh trong lsử Việt
    Vua Lê Đại Hành (941-1005)
                                                        

    Nhà Lý (1009 – 1225)

    • Cuộc hành quân dẹp tan giặc Cử Long ở Ái Châu (1011)
    • Cuộc sát nhập vùng Hà Giang vào lãnh thổ Đại Việt (1014)
    • Cuộc tấn công Diễn Châu của Khai Thiên Vương Lý Phật Mã (1026)
    • Cuộc hành quân công phá châu Thất Nguyên của Khai Thiên Vương Lý Phật Mã (1027)
    • Cuộc phản loạn của Đông Chinh vương Lý Lực (1028)
    • Cuộc nổi loạn của Giáp Đãn Nãi thuộc Ái Châu (1029)
    Cuộc nổi loạn của cha con họ Nùng
    • Cuộc nổi dậy thành lập nước Trường Sinh của Nùng Tồn Phúc (1038-1039)
    • Cuộc nổi dậy thành lập nước Đại Lịch của Nùng Trí Cao (1041)
    • Chiến tranh Việt-Chiêm 1044
    • Cuộc nổi loạn lần thứ hai của Nùng Trí Cao (1048)
    • Cuộc nổi dậy thành nước Đại Nam của Nùng Trí Cao (1052-1055)
    • Cuộc cướp phá sang Khâm Châu đất Tống (1059)
    • Cuộc sát nhập vùng Hoàng Liên Sơn vào lãnh thổ Đại Việt (1059)
    • Quân Tống xâm lấn biên giới (1060)
    Xung đột Đại Việt – Chiêm Thành
    • Nước Chiêm Thành xua quân quấy nhiễu biên cương lần thứ nhất (1068)
    • Chiến tranh Việt-Chiêm 1069
    • Nước Chiêm Thành xua quân quấy nhiễu biên cương lần thứ hai (1074)
    • Lý Thường Kiệt đem binh tấn công Chiêm Thành (1075)
    Chiến tranh Tống-Việt, 1075-1077
    • Nhà Lý đưa quân tấn công đánh phá sang đất Tống 1075-1076
    • Quân Tống tiến đánh Đại Việt (1077)

    Vua Lý Thái Tổ tin rằng muốn cho con cháu đời sau xây dựng được cuộc sống ấm no thì phải dời đô từ miền núi chật hẹp Hoa Lư về Đại La , một vùng đồng bằng rộng lớn màu mỡ này.
    Vua Lý Thái Tổ tin rằng muốn cho con cháu đời sau xây dựng được cuộc sống ấm no thì phải dời đô từ miền núi chật hẹp Hoa Lư về Đại La , một vùng đồng bằng rộng lớn màu mỡ này.

    Những cuộc chiến loạn khác sau này

    • Vụ nổi loạn của Lý Giác ở Diễn Châu (1103)
    • Lý Thường Kiệt đem quân đánh bại Chiêm Thành, lấy lại 3 châu Địa Lý (1104)
    • Cuộc nổi loạn của Bình Vương Thân Lợi (1140-1141)
    • Cuộc xâm nhập lãnh thổ Đại Việt của Đàm Hữu Lượng (1145)
    • Cuộc cướp phá xứ Nghệ An của người Chân Lạp (1150)
    • Cuộc phản loạn của Ung Minh Ta Điệp (tức Vangsaraja) chống lại vua Chế Bì La Bút (tức Jaya Harivarman I) ở Chiêm Thành (1152)
    • Quân Chiêm Thành cướp phá miền Ô Lý (1166)
    • Cuộc hành quân đánh sang Chiêm Thành của Thái uý Tô Hiến Thành (1167)
    • Cuộc phản loạn của người giáp Cổ Hoằng (1192)
    • Cuộc cướp phá của người Chiêm Thành ở vùng biển Nghệ An (1203)
    • Cuộc nổi dậy của Phí Lang và Bảo Lương ở Thanh Hóa (1203-1206)
    • Cuộc nổi loạn của người Man ở núi Tản Viên (1207)
    • Cuộc khởi nghĩa của Đoàn Thượng và Đoàn Chủ (1207-1209)
    • Cuộc nổi loạn của Phạm Du (1207-1209)
    • Loạn Quách Bốc (1209)
    • Cuộc nổi dậy của Nguyễn Nộn (1213-1219)
    • Cuộc nổi dậy lần thứ hai của Đoàn Thượng (1214-1217)

    Nhà Trần (1225 – 1400)

    • Cuộc tiến công đánh Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng của Trần Thủ Độ (1226)
    • Cuộc xung đột giữa Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng (1228)
    • Cuộc nổi loạn của An Sinh Vương Trần Liễu (1237)
    • Cuộc hành quân bình định Chiêm Thành của vua Trần Thái Tông (1252)

    Tranh truyền thân Hưng Đạo Vương
    Tranh truyền thân Hưng Đạo Vương

    Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt

    • Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 1 (1258)
    • Cuộc sát nhập man Ngưu Hống vào lãnh thổ Đại Việt (1280)
    • Chiến tranh Nguyên Mông-Chiêm Thành (1282-1283)
    • Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 (1284-1287)
    • Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 3 (1288)
    • Cuộc chiến tranh với Ai Lao của Phạm Ngũ Lão (1294)

    Xung đột Đại Việt-Chiêm Thành

    • Cuộc ngự giá thân chinh sang Chiêm Thành của vua Trần Anh Tông (1311 – 1312)
    • Cuộc can thiệp quân sự sang Chiêm Thành đánh đuổi vua Chế Năng (1318)
    • Bình định cuộc biến loạn của Xa Phần (1337)
    • Cuộc tranh giành ngôi báu ở Chiêm Thành giữa Chế Mộ và Trà Hòa Bố (1342)
    • Cuộc can thiệp quân sự sang Chiêm Thành cứu giúp vua Chế Mộ (1353)
    • Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1361)
    • Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ hai của người Chiêm Thành (1362)
    • Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ ba của người Chiêm Thành (1365)
    • Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ tư của người Chiêm Thành (1366)

    Chiến tranh Việt-Chiêm 1367-1396

    • Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ nhất của Đại Việt (1367-1368)
    • Biến loạn Đại Định trong nội bộ vương thất nhà Trần (1369-1370)
    • Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ hai của Đại Việt (1371)
    • Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ ba của Đại Việt (1376-1377)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1377)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ hai của người Chiêm Thành (1378)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ ba của người Chiêm Thành (1380)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ tư của người Chiêm Thành (1382)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ năm của người Chiêm Thành (1383)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ sáu của người Chiêm Thành (1389)
    • Cuộc bắc tiến lần thứ bẩy của người Chiêm Thành (1390)
    • Cuộc xung đột biên giới Đại Việt-Chiêm Thành lần thứ nhất (1391)
    • Cuộc xung đột biên giới Đại Việt-Chiêm Thành lần thứ hai (1396)
    • Cuộc chiến chống giặc cỏ áo đỏ ở chấn Tuyên Quang của Phạm Cự Luận (1397)

    Nhà Hồ (1400 – 1407)

    • Chiến tranh Việt-Chiêm 1400-1407
    • Chiến tranh Minh-Đại Ngu (1406-1407)

    Bắc thuộc lần 4 (1407 – 1427)

    • Chiến tranh Minh-Việt (1407-1414)
    • Cuộc nổi dậy của Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn (1410)
    • Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427)

    Nhà Lê sơ (1428 – 1527)

    • Cuộc nổi dậy của người Thái Trắng (1431-1432)
    • Cuộc cướp phá lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1434)
    • Cuộc cướp phá lần thứ nhì của người Chiêm Thành (1439)
    • Cuộc tạo phản của các Thổ tù ở Tuyên Quang (1448)
    • Cuộc chính biến của Quý Do lật đổ vua Ma Ha Quý Lai ở xứ Chiêm Thành (1449)
    • Binh biến Diên Ninh (1459-1460)
    • Chiến tranh Việt-Chiêm 1471
    • Chiến tranh Đại Việt – Lan Xang (1467-1480)
    • Cuộc nổi loạn ở hạt Nghệ An – Thuận Hoá (1497)
    • Cuộc nổi dậy lật đổ Quỷ Vương Lê Uy Mục (1509)
    • Cuộc khởi nghĩa của Phùng Chương ở Tam Đảo
    • Cuộc khởi nghĩa của Trần Tuân (1511-1512)
    • Cuộc khởi nghĩa của cha con Trần Cảo-Trần Thăng (1516 – 1521)
    • Cuộc nổi loạn của hoàng thân quốc thích và họa quyền thần thời Lê mạt (1518-1526)

    Nam Bắc phân tranh lần thứ nhất (1527-1802)

    Chiến tranh Lê – Mạc giai đoạn một (1527-1592)

    • Cuộc nổi dậy của Lê Ý chống lại nhà Mạc (1529-1530)
    • Cuộc tấn công nhằm khôi phục nhà Hậu Lê của Nguyễn Kim (1531)
    • Cuộc hành quân của nhà Lê tiến đánh vùng Tây Nam (1540)
    • Cuộc nổi dậy của Mạc Chính Trung chống lại Mạc Tuyên Tông (1546-1547)
    • Cuộc cướp phá sang Trung Quốc nhằm giải cứu Mạc Chính Trung (1549)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ nhất (1551)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ hai (1554)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ ba (1555)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ tư (1557)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ năm (1559-1562)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ sáu (1564-1565)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ bảy (1570)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ tám (1571)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ chín (1572)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười (1573-1574)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười một (1575)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười hai (1576)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười ba (1577)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười bốn (1578-1579)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười năm (1580-1583)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười sáu (1584-1585)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười bảy (1587)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười tám (1588)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười chín (1589)
    • Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ hai mươi (1592-1593)

    Chiến tranh Lê-Mạc giai đoạn hai (1593-1677)

    • Nhà Mạc tái chiếm Thăng Long lần thứ nhất (1600-1601)
    • Giặc thổ ở Lộc Châu là Vi Đạt Lễ, xâm phạm châu Tư Lăng của Trung Quốc (1605)
    • Thái phó Thanh quận công Trịnh Tráng đem binh đánh dẹp các xứ Yên Quảng để mở rộng bờ cõi (1614)
    • Thái bảo Trấn quận công Trịnh Lâm cầm quân đi đánh đảng ngụy ở Vũ Nhai (1618)
    • Quân Lê – Trịnh do Thanh quận công chỉ huy tấn công Cao Bằng (1621)
    • Vạn quận công Trịnh Xuân tranh ngôi nổi loạn (1623)
    • Nhà Mạc tái chiếm Thăng Long lần thứ hai (1623)
    • Quân Lê Trịnh tấn công Cao Bằng – bắt Mạc Kính Cung (1625)
    • Cuộc xung đột dai dẳng với quân Lê-Trịnh của họ Mạc khi cát cứ Cao Bằng (1638-1677)

    Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627-1672)

    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ nhất (1627)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ hai (1633)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ ba (1643)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ năm (1655-1660)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ sáu (1661-1662)
    • Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ bẩy (1672)

    Nội loạn và Khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài

    • Cuộc nội loạn trong phủ chúa của Trịnh Lịch và Trịnh Sầm (1645)
    • Loạn kiêu binh lần thứ nhất (1674)
    • Cuộc khởi nghĩa Tam Đảo của hoà thượng Nguyễn Dương Hưng (1737)
    • Cuộc tạo phản của giặc Ngân Già Vũ Đình Dung (1739-1740)
    • Cuộc khởi nghĩa của Đô Tế và Nguyễn Danh Phương (1739-1751)
    • Cuộc khởi nghĩa của chúa Mường Thanh Hoàng Công Chất (1739-1769)
    • Cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật (1740-1770)
    • Cuộc chính biến lật đổ chúa Trịnh Giang (1740)
    • Loạn kiêu binh lần thứ hai (1741)
    • Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ và Nguyễn Hữu Cầu (1741-1743)
    • Cuộc hành quân của Nguyễn Bá Lân đánh đuổi giặc Mạc Tam cướp phá Cao Bằng (1746)

    Các cuộc xung đột ở Đàng Trong

    • Cuộc hành quân đánh tan sự cướp phá của người Lan Xang (1621)
    • Cuộc tấn công đánh bại Chiêm Thành mở mang bờ cõi lần thứ nhất (1629)
    • Xung đột Công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Trong (1641-1643)
    • Cuộc tấn công đánh bại nước Chiêm Thành mở mang bờ cõi lần thứ hai (1653)
    • Cuộc can thiệp vào công việc nội bộ của Thủy Cao Miên (1658)
    • Cuộc chiến tranh quy mô lớn bình định Chân Lạp của chúa Nguyễn (1689-1690)
    • Cuộc chiến tranh xóa sổ hoàn toàn nước Chiêm Thành trên vũ đài lịch sử (1692-1693)
    • Cuộc phản công giành lại vùng đất Sài Gòn-Gia Định của người Chân Lạp (1699)
    • Cuộc can thiệp sang nội bộ Chân Lạp giúp Nặc Yêm lên ngôi (1711-1714)
    • Cuộc nổi dậy giành giật lại khu vực Cửu Long Giang của người Chân Lạp (1729-1735)
    • Chiến tranh Cao Miên-Chúa Nguyễn (1755-1756)
    • Cuộc can thiệp quân sự của chúa Nguyễn sang Cao Miên lần thứ hai (1757)
    • Cuộc kháng cự chống quân Xiêm La của Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên (1769)
    • Xung đột Xiệm La-Chúa Nguyễn (1771-1772)
    • Khởi nghĩa Chàng Lía

    Chiến tranh thời Tây Sơn

    • Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn, 1771-1785
    • Cuộc nam tiến của chúa Trịnh chống quân Tây Sơn (1774-1775)
    • Loạn kiêu binh lần thứ ba (1782-1786)
    • Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Trịnh lần thứ nhất (1786)
    • Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Trịnh lần thứ hai (1786)
    • Cuộc biến loạn của Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm (1786-1788)
    • Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn, 1787-1802
    • Chiến tranh Việt – Xiêm (1784)
    • Cuộc chiến tranh nội bộ của anh em nhà Tây Sơn (1787)
    • Chiến tranh Thanh-An Nam (1788-1789)
    • Cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa các tướng lĩnh nhà Tây Sơn (1795)
    Theo : Fb/nghiên cứu lịch sử

  • Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu

    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu

    Đây có thể coi la phi vụ “ném bom” kỳ quái nhất trong chiến tranh Việt Nam năm 1965 của không lực Hoa Kỳ.

    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    Trong chiến tranh Việt Nam, không quân Mỹ từng thực hiện một phi vụ cực kỳ quái đản: Ném một chiếc… toilet năm 1965.
    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    Phi vụ này được các phi công chiến đấu của Phi đoàn cường kích 25 trên tàu sân bay USS Midway thực hiện nhằm kỷ niệm để đánh dấu cột mốc 6 triệu cân Anh bom đã được thả kể từ khi tham chiến ở Việt Nam.
    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    “Quả bom toilet” này vốn là một chiếc toilet trong nhà vệ sinh của tàu sân bay. Nó đã hỏng và đáng ra phải bị ném xuống biển. Tuy nhiên, một sĩ quan của tàu sân bay USS Midway đã nảy sinh ý tưởng kỳ quặc khiến nó bất đắc dĩ đi vào lịch sử.
    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    Chiếc toilet đã được “chế” thành một quả bom với kíp nổ và các cánh đuôi. Nó còn được gắn phù hiệu của Phi đoàn cường kích 25 trước khi gắn lên giá bom của một chiếc Máy bay Skyraider A-1H mang biệt danh “Con Hổ Giấy II”.
    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    Phi vụ ném toilet được tiến hành vào ngày 4/11/1965. Phi công lái máy bay thực hiện phi vụ này là Clarence W. Stoddard, Robin Bacon.
    Quả bom kỳ quái nhất chiến tranh Việt Nam: Chiếc bồn cầu
    Dù không được nhiều người biết đến, nhưng phi vụ ném bom lạ lùng này trong chiến tranh Việt Nam năm 1965 của không quân Mỹ quả thực là một sự kiện hi hữu trong lịch sử chiến tranh của thế giới.
    Theo Tách Cà Phê
  • Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Đây là giai đoạn mà Hoa Kỳ đưa quân dụng, quân khí vào Miền Nam Việt Nam.

    Hàng chục máy bay chiến đấu “diễu hành” trên đường phố là hình ảnh độc nhất vô nhị từng được ghi nhận ở Sài Gòn năm 1951. Những hình ảnh này được trang web Ecpad.fr của Pháp giới thiệu.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài GònNgày 26/1/1951, tàu sân bay hộ tống USS Windham Bay (CVE 92) của Mỹ đã cập cảng Sài Gòn cùng hàng chục chiếc máy bay chiến đấu Grumman F8F “Bearcat”.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Những chiếc máy bay được gấp cánh, nằm san sát trên sàn tàu.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Các nhân viên quân sự tháo bỏ vỏ bọc và kiểm tra tình trạng của những chiếc Grumman F8F “Bearcat”.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Chúng sẽ được dỡ xuống cảng theo chương trình viện trợ cho quân Pháp nhằm củng cố sức mạnh quân sự của người Pháp ở Đông Dương.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Một chiếc cần cẩu bắt đầu việc vận chuyển những chiếc máy bay xuống cảng trong sự giám sát của các sĩ quan Mỹ.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Một chiếc máy bay được nhấc ra khỏi sàn đỗ.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    …Và đặt xuống cầu cảng.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Công việc được tiến hành ngay cạnh nơi sinh sống của những người dân chài.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Máy bay được đẩy ra ngoài bến cảng để chuyển đến sân bay Tân Sơn Nhất.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Đoàn máy bay “diễu hành” trên đường phố, một cảnh tượng “độc nhất vô nhị” ở Sài Gòn.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    USS Windham Bay là tàu sân bay hộ tống thuộc lớp Casablanca của hải quân Mỹ, bắt đầu hoạt động từ năm 1944.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Nhiệm vụ chính của con tàu này là vận chuyển máy bay qua lại giữa các hải cảng khác nhau.

    Những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên của Mỹ ở Sài Gòn

    Sau khi thực hiện nhiệm vụ ở Sài Gòn, Windham Bay sẽ di chuyến tới Manila (Philippines) rồi trở về nước Mỹ.

    Theo KIẾN THỨC