Tag: Xe đạp máy xưa

  • Phương tiện di chuyển của người Việt xưa

    Trong suốt chiều dài lịch sử, hàng loạt các loại phương tiện giao thông, cá nhân cũng như công cộng, lần lượt xuất hiện tại Việt Nam. Theo luật đào thải tất nhiên của cuộc sống, chúng cũng lần lượt được thay thế bằng những phương tiện mới hơn nhằm phục vụ cuộc sống tốt hơn. Loạt bài viết này sẽ điểm qua những phương cách di chuyển xưa của người Việt mà cho đến ngày nay đã trở thành quá khứ.

    KIỆU

    Bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn (1802-1945) vua chúa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại. Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng kiệu cùng các nghi trượng đi kèm, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng.

    Dưới triều vua Gia Long (1802 – 1820), xe kiệu của vua có 4 chiếc, gồm 1 chiếc Ngọc lộ, 1 chiếc Kim lộ và 2 chiếc Kim bảo dư. Sang triều Minh Mạng (1820 – 1841), vua có 5 chiếc, được đặt tên là Cách lộ, Kim lộ, Ngọc lộ, Tượng lộ Mộc lộ. Tùy mục đích chuyến đi, nhà vua quyết định dùng loại “xe” nào.

    Sách cũng cho biết khi vua đi chơi thì không thực hiện đầy đủ nghi thức như khi vua đi cúng tế ở các đàn miếu. Lúc này nhà vua chỉ sử dụng 1 chiếc lọng vàng thêu hình rồng để che mưa nắng, có đội quân tiền đạo và hậu hổ đi theo hộ tống. Dưới triều Minh Mạng, nhà vua quy định: ngự giá đi trong phạm vi Hoàng Thành thì phải giảm bớt một nửa số cờ quạt và không cần voi ngựa hộ tống để tránh… “kẹt đường”.

    Kiệu hoàng gia triều Nguyễn
    Kiệu hoàng gia triều Nguyễn

    Kiệu của hoàng thái hậu, gọi là Từ giá, cũng hoành tráng không kém, gồm 1 Phượng dư và 1 Phượng liễn. Lỗ bộ tháp tùng Từ giá có 2 lá cờ rồng, 2 lá cờ phượng, 2 lá cờ thanh đạo, 8 lá cờ phướn, 2 quạt thêu hình rồng phượng màu vàng, 4 quạt thêu hình rồng phượng màu đỏ, 4 quạt thêu hình loan phượng màu xanh và thêm 20 thứ binh khí hộ vệ.

    Kiệu của thái tử chỉ có 1 chiếc, gọi là xe Bộ liễn. Lỗ bộ tháp tùng xe này chỉ có 1 cờ lệnh, 2 cờ xanh, 2 cờ đỏ, 2 cờ vàng, 2 cờ trắng, 2 cờ đen, 8 lá cờ phướn, 1 chiếc tán hình tròn thêu hình 7 con rồng, 4 chiếc tán hình vuông, 4 chiếc lọng màu đỏ, 6 lọng màu xanh vẽ rồng mây…

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Kiệu Vua Duy Tân (ngày 5/9/1907)

    Sang triều Khải Định (1916-1925), nhà vua được người Pháp tặng cho một chiếc xe hơi nhân lễ Tứ tuần Đại khánh (mừng thọ vua 40 tuổi). Từ đó, ngoài việc dùng ngự giá truyền thống trong các dịp tế lễ, đôi khi vua Khải Định còn dùng xe hơi để du ngoạn hay đi săn bắn ở bên ngoài Hoàng Thành.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cựu hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe

    Trước đó, triều đình có cho dựng ở phía trước Ngọ Môn 2 tấm bia đá, trên bia có ghi 4 chữ Hán: Khuynh cái hạ mã, nghĩa là khi đi ngang qua đây thì mọi người phải nghiêng lọng và xuống ngựa. Kể từ khi vua Khải Định dùng xe hơi, thì 2 tấm bia này không còn thích hợp nữa. Vì thế, triều đình đã cho nhổ 2 tấm bia này đưa vào cất giữ trong kho của Bảo tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

    Đây cũng là nơi đang trưng bày chiếc kiệu sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, dùng để đi lại trong phạm vi Hoàng Thành Huế. Ngoài ra, trong kho của Bảo tàng này đang lưu giữ chiếc kiệu mà vua Bảo Đại đã từng dùng khi đi tế Nam Giao vào năm 1935.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Chiếc kiệu chạm rồng, sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

    Sang đến thời kỳ Pháp thuộc, kiệu vẫn được sử dụng nhưng đối tượng dùng kiệu được mở rộng. Vào thời này, kiệu còn dành cho các quan thuộc địa người Pháp cùng gia đình và những chức sắc người bản xứ trong việc đi kinh lý hoặc ngoạn cảnh. Trong những bức hình du ngoạn bãi biển Đồ Sơn dưới đây, người khiêng kiệu đều là phụ nữ bản xứ, họ gánh kiệu trên 2 thanh gỗ ngang và kiệu được đặt trên 2 thanh dọc dài hơn.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Kiệu dành cho người Pháp du lịch bãi biển Đồ Sơn
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Kiệu dành cho… “Ông Tây, Bà Đầm”
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Phu kiệu toàn là phụ nữ người bản xứ
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Kiệu dành cho gia đình quan chức người bản xứ
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Phu kiệu nghỉ ngơi

     

    Trong phim Indochine do đạo diễn Régis Wargnier thực hiện vào tháng 4/1992 với các diễn viên Catherine Deneuve (trong vai Eliane), Vincent Perez (John the Baptist), Linh Dan Pham (Camille), Jean Yanne (Guy Asselin), khán giả được thấy cảnh ngồi kiệu của diễn viên đóng vai John the Baptist. Indochine là một phim hoành tráng mô tả cuộc sống của người Pháp thời đi mở thuộc địa tại Đông Dương. Phim sử dụng tới 1800 bộ y phục của cả người Âu lẫn người bản xứ.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Kiệu trong phim “Indochine” của Régis Wargnier

    Vào thời phong kiến, quan lại triều Nguyễn không được phép dùng kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Tranh xưa vẽ cảnh đi võng

    Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều

    Ngoài ra, những tân khoa thi đỗ đều được dùng võng để về làng “Vinh quy, Bái tổ”. Trong ca dao xưa có câu “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” để mô tả sự vinh quang của người học trò thành đạt.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau

    Tin người đỗ đạt được đưa về làng, hương chức, dân làng họp ở đình, cắt cử người ra gập Tân khoa để ấn định ngày vinh quy, rước về nguyên quán. Thường thì đỗ Tú tài chỉ làng xã rước, đỗ Cử nhân hàng huyện phải rước, đỗ Tiến sĩ thì hương lý, trai tráng hàng tổng đem đủ nghi lễ, cờ quạt đón từ tỉnh rước về làng. Tuy nhiên, những người trong họ quan Tân khoa được miễn làm phu phen đi rước.

    Xe kéo

    Tìm hiểu về lịch sử của chiếc xe kéo, người ta cho rằng loại xe này đã ra đời vào đầu kỷ nguyên Minh Trị tại Nhật Bản, vào khoảng năm 1869. Hồi đó, những gia đình khá giả có thể tậu một chiếc xe do người làm kéo đi những lúc cần di chuyển, thay vì phải đi bộ.

    Theo Wikipedia, xe kéo – tiếng Anh là Rickshaw, tiếng Pháp là Pousse-Pousse – bắt nguồn từ tiếng Nhật “Jinrikisha” trong đó ghép bởi “jin” (con người, nhân), “riki” (sức lực) và “sha” (xe). Như vậy, “Jinrikisha” là loại xe chạy bằng sức kéo của con người.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo xưa trên bưu ảnh của Nhật Bản

    Bắt đầu từ năm 1870, chính quyền thành phố Tokyo cấp giấy phép sản xuất và bán xe kéo cho 3 người được coi là nhà sáng tạo phương tiện vận chuyển “tân kỳ” này: Izumi Yosuke, Takayama Kosuke và Suzuki Tokujiro. Để được phép hoạt động tại Tokyo, xe kéo phải được đóng dấu cho phép của 3 nhà phát minh này.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo tại Nhật năm 1897

     

    Xe kéo lần lượt xuất hiện tại các thành phố châu Á như Trung Hoa (1873), Singapore (1880), Việt Nam (1883) và vào cuối thế kỷ thứ 19 tại Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Indonesia, Hồng Kông, Triều Tiên… Nói chung, xe kéo có mặt khắp lục địa Á Châu là nơi có dân số đông nhất thế giới và cũng là nơi có trình độ phát triển kém hơn châu Âu, châu Mỹ.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo tại Ấn Độ

    Năm 1883, chiếc xe kéo, hay còn gọi là xe tay tại miền Bắc, xuất hiện lần đầu tiên tại Hà Nội do Thống sứ người Pháp, Jean Thomas Raoul Bonnal, cho đem từ bên Nhật qua. Xe kéo Hà Nội xuất hiện một năm sau chiếc xe hơi đầu tiên tại Âu Châu và một năm trước xe tramway, một loại xe do ngựa kéo. Gần 15 năm sau, Sài Gòn mới biết tới loại xe này.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Hình ảnh xe kéo là một trong những sắc thái đặc thù của Đông Dương được họa sĩ Adrien Marie vẽ trong một bức tranh cổ động cuộc đấu xảo năm 1889 tại Pháp

     

    Lịch sử phát triển xe kéo tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1884 khi một nhà thầu người Pháp cho sản xuất khoảng 50 chiếc xe cung cấp cho cả miền Bắc, khi đó còn gọi là Tonkin. Từ đó, chiếc xe kéo dần dần trở nên quen thuộc tại Hà Nội và chỉ dành cho những người có chức, có tiền sử dụng làm phương tiện di chuyển trong khi đi bộ vẫn là phương tiện chính của đại đa số dân chúng.

    Ngồi trên xe kéo nói lên cho sự giàu có và uy quyền của người Pháp và các gia đình quyền quý người bản xứ nhưng trước đó các tiểu thư khuê các Hà Thành thường ít khi dùng đến xe kéo vì sợ hiểu lầm là… Me Tây. Thời đó, phụ nữ người bản xứ khi lấy người Pháp tại thuộc địa thường bị mỉa mai là “Me Tây” cũng như sau này ở Sài Gòn có một số người bị gán cho “danh hiệu”… “Me Mỹ” khi họ kết hôn với người Mỹ.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trước khách sạn Metropole (đường Henri Rivière), Hà Nội

    Một hãng cho thuê xe kéo sau đó được thành lập tại Hà Nội. Những chiếc xe kéo đầu tiên có bánh xe bằng sắt, chạy không êm nhưng hành khách phải giữ chỗ trước một ngày nếu muốn được thuê. Dần dà, bánh xe kéo được bọc cao su nên khi chạy êm hơn và loại xe bánh sắt chuyển ra các vùng ngoại ô.

    Cuộc cách mạng “bánh xe” đã phân chia thành hai loại khách sử dụng: loại bánh cao su được dành cho giới quan chức thuộc địa và gia đình trong khi loại bánh sắt dành cho giới trung lưu người bản xứ.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo Hà Nội (1900)

    Ngay cả những xe kéo với bánh cao su cũng chia ra làm hai loại, loại bình thường và loại của hãng OMIC. Loại nầy có chổ ngồi bằng nhôm trắng bóng và có nệm lò xo cũng được bọc vải trắng, dĩ nhiên đi xe loại nầy thì mắc tiền hơn là đi xe loại thường.

    Hình ảnh về các quan lại, binh lính, chức dịch… thời đại phong kiến dưới triều đại phong kiến qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia người Pháp khi họ đến Đông Dương trong đó có Việt Nam cho thấy một cái nhìn đầy đủ về một thời kỳ đã kéo dài ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Hãng xe kéo Hà Nội

    Chiếc xe kéo được coi là biểu tượng của sự phân biệt giai cấp giữa người lao động phải dùng sức mình để kiếm miếng cơm manh áo và hành khách ngồi phía sau là giới quyền quý, giàu sang. Truyện ngắn Người ngựa – ngựa người của Nguyễn Công Hoan đã nói lên cuộc đời cơ cực của người kéo xe, còn được gọi bằng “cu-li”, giữa khung cảnh đêm 30 Tết.

    Truyện kể anh phu xe đói khách trong đêm giao thừa gặp phải một cô khách tân thời tưởng lắm tiền ai ngờ lại quá keo kiệt, chỉ trả hai hào cho một giờ bao xe. Anh kéo xe giờ cho nên cũng chỉ chạy tà tà, theo cách Nguyễn Công Hoan mô tả: “đít nhổm mạnh, mà bước ngắn”.

    Truyện chỉ có 2 nhân vật và người đọc thoạt đầu cứ tưởng như thuộc hai giai cấp khác nhau nhưng cuối cùng cũng nhận ra họ chỉ là “người ngựa” kéo phía sau là “ngựa người”, một “bà” khách lại là một cô gái “ăn sương” thuê xe kéo để đi kiếm khách trong đêm giao thừa. Đã không có tiền trả anh xe kéo, “bà” khách lại còn mượn anh hai hào để mua gói thuốc lá, bao diêm và cả hạt dưa để cắn!

    Anh phu xe thì hí hửng khi giờ khắc giao thừa đến gần: “Mười lăm phút nữa, mình sẽ có sáu hào. Sáu hào với hai hào là tám. Thế nào ta cũng nài thêm bà ấy mở hàng cho một hào nữa là chín. Chín hào! Mở hàng ngay từ lúc năm mới vừa đến. Thật là may! Mới năm mới đã phát tài! Thôi, sang năm tất là làm ăn bằng mười bằng trăm năm nay”.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo Hà Nội

    Nguyễn Công Hoan dẫn người đọc đến một đoạn thật hấp dẫn sau khi anh phu xe đã kéo “bà” khách đi khắp phố phường Hà Nội gần 2 giờ đồng hồ trong đêm giao thừa:

    – Này, anh đỗ xuống tôi bảo. Tôi nói thực với anh nhé. Bây giờ đã về sáng rồi, chắc anh kéo tôi mãi cũng đến thế mà thôi. Tôi thì thực không có tiền giả anh đâu. Tôi gán cho anh khăn, áo, đồng hồ mà anh không lấy, thì tôi chả biết nghĩ thế nào cho phải cả. Thôi thì anh kéo tôi ra chỗ kín, vắng, anh muốn bắt tôi gì tôi xin chịu.

    – Tôi bắt gì cô mà tôi bắt!

    Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười:

    – Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh với tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm gì tôi cũng bằng lòng.

    – Ối thôi! Tôi lạy cô. Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì tôi bỏ mẹ tôi.

    – Không sợ, tôi mới khám bệnh hôm qua.

    – Thôi, tôi chắp tay tôi van cô, cô có thương tôi thì mời cô xuống xe cho tôi về, và xin cô tiền xe!

    – Thế thì anh cứ kéo tôi về nhà tôi, xem có đồ đạc gì đáng giá, thì anh cứ việc lấy.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trên đường Paul Bert, ngày nay là phố Tràng Tiền, Hà Nội (1915)

    Đến cửa một nhà săm, cô ả bảo anh xe kéo ghé vào để hỏi vay tiền. Mệt lử nên trong khi chờ khách vay tiền anh phu xe ngủ gật. Khi pháo giao thừa nổ vang anh mới tỉnh dậy. Vào hỏi thăm anh bồi “săm” mới biết là cô gái đã chuồn mất bằng cổng sau. Và đây là đoạn kết:

    “Anh xe nghiến răng, cau mặt, lủi thủi ra hè, cầm cái đệm quật mạnh vào hòm đánh thình một cái! Anh móc túi lấy bao diêm đốt vía, rồi khoèo bàn chân, co cái càng lên, đưa tay ra đỡ, thủng thẳng dắt xe đi… Tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng toạch toạch”.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Phu xe “đói” khách

    Như đã nói ở phần trên, Sài Gòn xưa vào năm 1898 mới làm quen với xe kéo, khoảng gần 15 năm sau Hà Nội. Lý do cũng dễ hiểu là xứ thuộc địa chính thức của người Pháp có phương tiện di chuyển duy nhất là những chiếc xe do ngựa kéo mà người Pháp gọi là “Malabar” hay “Boîte d’allumettes” (vì xe có dáng dấp như một hộp diêm).

    Một đặc điểm của xe kéo Sài Gòn vào đầu thập niên 1920 là mỗi chiếc đều được cấp phát số xe gồm 4 chữ số để dễ kiểm soát khi lưu thông, trong khi đó, xe kéo Hà Nội không có. Dưới đây là một số hình ảnh về xe kéo tại miền Nam:

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo và xe ngựa trước chợ Bến Thành đầu thập niên 1920
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo và xe hơi trước “Hôtel de Ville”
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trước Nhà hát Thành phố
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trước Nhà thờ Đức bà
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trên đường Catinat (ngày nay là Đồng Khởi)
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe kéo trong Chợ Lớn

    Xe ngựa

    Thời cổ, giới quyền quý Trung Hoa dùng xe do ngựa kéo mỗi khi di chuyển. Thời trung cổ, tại Pháp và một số nước châu Âu giới quý tộc thường đi loại xe do hai ngựa kéo, xe song mã thể hiện đẳng cấp của những người thuộc gia đình quyền quý. Ngày nay các loại xe song mã chỉ còn được dùng trong việc đưa khách du lịch đi ngoạn cảnh.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe song mã phục vụ khách du lịch tại Melbourne, Úc châu

    Tại miền Nam vào những năm 1880 của thế kỷ 18, xe ngựa là phương tiện đi lại bình dân và phổ biến ở vùng Sài Gòn-Gia Định. Đây là loại xe do một ngựa kéo được bắt nguồn từ kiểu cỗ xe song mã sang trọng của Pháp được người dân miền Nam chế tác cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và địa hình của Việt Nam.

    Trước đó, người Pháp đã đưa xe ngựa vào Đông Dương làm phương tiện vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa. Người Pháp gọi xe ngựa ở thuộc địa là “Malabar” và sau này còn có tên “Boîte d’allumettes” vì hình dáng giống như một hộp diêm quẹt.

    Một trong những hình ảnh được coi là xưa nhất của xe ngựa tại Sài Gòn là chiếc xe của Nhà máy Sản xuất Thuốc phiện (Manufacture d’Opium) được chụp vào khoảng đầu thập niên 1980.

    Có thể thấy dòng chữ bằng tiếng Pháp trên thành xe ghi rõ là xe của nhà máy. Phía bên trái là hình của một người phu xe kéo đứng nhìn chiếc xe ngựa, hình như anh rất ngạc nhiên với hình ảnh một chiếc xe do ngựa kéo được người Pháp đưa vào Đông Dương.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa trước Nhà máy Sản xuất Thuốc phiện tại Sài Gòn

    Xe ngựa dưới dạng xe “cải tiến” đơn giản còn được dùng trong hoạt động của quân đội viễn chinh Pháp tại thuộc địa Đông Dương. Loại xe này dùng để chuyên chở quân trang, quân dụng trong lực lượng võ trang của quân đội thuộc địa.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa dùng trong quân đội thuộc địa

    Loại xe ngựa cầu kỳ hơn được dùng để chuyên chở hành khách là những viên chức thuộc địa và gia đình. Những chiếc xe này mang dáng dấp của loại xe song mã thường thấy tại Âu châu với “xà ích” là người bản xứ.

    Như vậy, ngay trong giới lái xe người bản xứ cũng phân chia nhiều đẳng cấp tùy theo mức độ sang trọng của phương tiện: thấp nhất là phu xe kéo (còn được gọi là cu-li), kế đến là “xà ích” (người điều khiển xe ngựa) và cao nhất là tài xế xe hơi (chaffeur).

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Hình ảnh các phương tiện giao thông trước Nhà thờ Đức Bà vào những năm 1920s

    Đặc điểm của thời kỳ xe ngựa mới du nhập vào Đông Dương là loại song mã hoặc chỉ có một ngựa kéo. Riêng phần thân xe được đặt trên 4 bánh, hai bánh sau có đường kính lớn hơn hai bánh trước để giữ đối trọng với ngựa chạy phía trước, khác hẳn với xe ngựa do người Việt chế tạo sau này chỉ với hai bánh.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa tại chợ Bến Thành
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa bên Nhà thờ Đức Bà
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa Sài Gòn khoảng 1930
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe ngựa Chợ Lớn
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Chiếc Malabar một ngựa
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe song mã tại Hải Phòng

    Tại miền Bắc, khi đó còn được gọi là Tonkin, người Pháp cũng sử dụng xe ngựa cho các quan chức thuộc địa nhưng số lượng không đáng kể so với miền Nam, còn có tên là Cochinchine.

     

    Trước những loại xe ngựa sang trọng của Pháp, người Việt đã mày mò sáng tạo ra loại xe một ngựa đơn giản và bình dân hơn để đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. Loại xe một ngựa này còn có một cái tên khác là xe thổ mộ.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe thổ mộ chuyên chở hàng hóa giữa Sài Gòn

    Có rất nhiều cách giải thích về xuất xứ về tên gọi xe thổ mộ tại miền Nam. Có người nói thổ mộ vốn có mái che khum khum giống hình ngôi mộ nên người bình dân gọi là… “thổ mộ”. Giải thích mang tính cách ngôn ngữ học cho rằng “thổ mộ” là chữ đọc trại từ “thảo mã” hay “thụ mã” theo tiếng của người Quảng Đông vốn là số đông người Hoa sinh sống tại miền Nam.

     

    Lại có ý kiến cho rằng “thổ mộ” chính là chữ đọc trại từ Thủ Dầu Một, thuộc tỉnh Bình Dương, nơi được coi là “cái nôi” của của xe thổ mộ. Để dẫn chứng giả thuyết này, người ta dẫn chứng một bài vè cổ về 47 chợ tại miền Nam:

    … Khô như bánh tráng là chợ Phan Rang,

    Xe thổ mộ dọc ngang là chợ Thủ Dầu Một

    Chẳng lo ngập lụt là chợ Bưng Cầu…

    Vào những thập niên 40 và 50 là giai đọan phát triển của xe thổ mộ. Tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ hoạt động nhộn nhịp, có khi lên đến trên 50 chiếc. Không chỉ vậy, Thủ Dầu Một còn có nhiều trại mộc đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe “Thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp” của mình.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe thổ mộ nhìn từ phía sau

    Để làm một chiếc xe thổ mộ đòi hỏi nhiều yêu cầu khắt khe chứ không đơn giản như người ta tưởng. Kích thước về chiều dài, chiều rộng, chiều cao của thùng xe phải cân bằng khi di chuyển trên mọi địa thế. Thùng xe được đặt trên hai thanh nhíp gồm 4 lá thép để giảm độ  sóc khi xe chạy trên đường. Nói chung, từng chi tiết của xe phải chính xác để tạo sự an toàn khi chuyển động.

    Gỗ làm xe thổ mộ phải là loại tốt như Giáng Hương, Căm Xe, gỗ mít… không bị mối mọt. Quan trọng nhất là cặp bánh xe vì là phần chịu tải chính nên được làm rất cẩn thận, trục ngang của xe bằng ống thép chịu lực cho thùng xe nhưng lại không dùng bạc đạn mà chỉ có ổ trục.

    Mỗi bánh xe được ghép từ sáu mảnh gỗ gắn với 12 chiếc căm cắm vào trục bánh xe. Sau đó, một vòng sắt quấn quanh bánh xe để bảo vệ phần gỗ và cuối cùng một lớp nệm cao su được nịt chặt ở vòng ngoài.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe thổ mộ trên đường phố

    Thùng xe được thiết kế thoáng mát, tạo sự thoải mái cho hành khách nhưng có vẻ hơi cao so với mặt đường trong khi chỉ có một miếng sắt để khách lên xuống xe. Đây cũng là điểm yếu của xe thổ mộ nhưng một số người lại thích ngồi vắt vẻo trên xe với hai chân đong đưa để ngắm nhìn đường phố.

    Bên trong thùng xe, khách ngồi trên chiếu đâu mặt nhau, guốc dép máng ở hai cọc sắt phía sau hai góc thùng. Nếu vắng thì khách ngồi thòng chân ở phía có bàn đạp lên, xuống. Hai vè bên thùng xe uốn gợn sóng có thể dùng để gác hàng hóa. Và trên cùng là cái mui uốn cong, lợp thiếc, nhô ra tới nửa mình ngựa, khum lại giống như mui chiếc ghe bầu nhưng cũng trông tựa một cái… mả nên nới gọi là thổ mộ (?).

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Ngựa, xà ích và hành khách

    Âm thanh của chiếc thổ mộ với những tiếng kêu “lóc cóc, lọc cọc” phát ra từ móng ngựa được bọc sắt tiếp xúc với mặt đường nhựa cũng trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ người miền Nam. Có nhiều xe còn gắn lục lạc cho ngựa nên khi chạy trên đường tiếng lục lạc hòa lẫn tiếng lọc cọc, cộng với tiếng “họ, họ” điều khiển ngựa của người xà ích tạo thành một bản nhạc đặc thù của xe ngựa Sài Gòn xưa.

    Về sau, có dòng xe thổ mộ “văn minh” hơn, được cải tiến từ bánh xe gỗ sang bánh xe bằng cao su bơm hơi với đường kính nhỏ hơn và do đó thùng xe cũng thấp hơn. Loại xe này giúp hành khách lên xuống thoải mái, an toàn. Khi chạy trên đường, lốp xe cao su êm hơn nhưng ngược lại, “tiếng nhạc” thổ mộ vốn có mất dần đi khiến những người “hoài cổ” không tìm lại được cái thú của ngày nào.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Dòng xe thổ mộ có bánh xe cao su

    Ngựa kéo xe thổ mộ thường là những con ngựa đua đã có tuổi, không còn đủ sức vẫy vùng trên đường đua nhưng vẫn còn có thể di chuyển giữa lòng đường phố nhộn nhịp xe cộ. Bộ yên lưng bằng da có hai quai lồng vào hai càng xe đặt hai bên vai ngựa. Sợi yên lưng còn lồng vào đuôi ngựa để khi xuống dốc có tác dụng kềm ngựa. Lại còn có dây bụng nâng ngực ngựa khi xe chạy. Người xà ích đôi khi xếp khách ngồi dịch lên hoặc lùi xuống là để cho ngựa không bị sức nặng đè vai hoặc bó chặt ngực khó chạy.

    XÍCH LÔ

    “Xích-lô”, suất xứ từ tiếng Pháp “cyclo”, là một phương tiện giao thông sử dụng sức người, di chuyển trên 3 bánh dùng để chở khách hoặc hàng hóa. Người lái xe cũng vận hành cyclo như một chiếc xe đạp nên còn được gọi là “xích-lô đạp” và sau này được cải tiến với động cơ xe gắn máy để thành “xích-lô máy”.

    Cũng áp dụng cách vận hành tương tự như cyclo, còn có xe ba gác với thùng xe đặt ở phía trước để chở đồ đạc cồng kềnh và sau này xe ba gác lại được cải tiến thành xe ba gác máy với động cơ của xe gắn náy.

    Ngược lại với cyclo, ở miền Tây, hay còn gọi là Lục Tỉnh, có loại xe đạp kéo thùng chở khách đằng sau được gọi là xe lôi, rất phổ biến ở các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long. Dần dà người ta lại dùng xe máy để kéo, cũng tương tự như người anh em là chiếc cyclo máy.

     

     

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe lôi miền Tây

    Chiếc cyclo đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn năm 1938 nhưng mẫu thiết kế lại không do người Việt vẽ kiểu mà lại là “tác phẩm” của một người Pháp. Lịch sử chiếc cyclo lại còn ly kỳ hơn, chiếc cyclo đầu tiên chính thức được nhà cầm quyền bảo hộ cấp phép lưu hành không phải là ở Sài Gòn mà là Phnom Penh, thủ đô của xứ Chùa Tháp trong Đông Dương thuộc Pháp gồm Việt Nam, Cao Miên và Lào.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cyclo Phnom Penh năm 1938

    Xích lô xuất hiện vào khoảng năm 1938 tại Phnom Penh. Chiếc đầu tiên do một người Pháp, dân miền Charente tên là Coupeaud, một người đam mê thể thao vẽ kiểu. Phải vất vả lắm Coupeaud mới vận động Bộ Công chánh công nhận sáng chế và cấp phép lưu hành, sau khi đã tham khảo ý kiến của hai nhà vô địch Tour de France là Georges Speicher và Le Grèves.

    Để “tiếp thị” chiếc xe chở khách chạy bằng 3 bánh và người lái ngồi phía sau xe, Coupeaud đã tổ chức một cuộc hành trình “giới thiệu sản phẩm” dài gần 200km từ Phnom Penh đến Sài Gòn do hai người thay phiên nhau đạp xe trong thời gian 17 giờ 23 phút!

    Và cyclo đã chinh phục Sài Gòn xưa với 40 chiếc vào năm 1939, nhưng chỉ một năm sau, năm 1940, Sài Gòn đã có khoảng 200 chiếc cyclo chạy trên đường phố.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cyclo Saigon 1950

    Nhìn khái quát, cyclo là sự kết hợp và gắn nối của các ống sắt đủ loại, đủ kích cỡ, từ thanh bảo vệ hành khách ở phía trước đến phần ngồi của người điều khiển phía sau. Hai phần này được nối với nhau bằng một trục nằm dưới gầm xe, phía dưới chỗ ngồi của khách, có tác dụng giúp người lái xe có thể quẹo phải, trái hay đi thẳng về phía trước.

    Phần yên xe của người điều khiển cũng là một kết cấu đơn giản với thắng tay nằm ngay phía dưới qua hình thức một chiếc vòng sắt hoặc một thanh ngang để người lái có thể kéo lên mỗi khi muốn giảm tốc độ hoặc dừng xe.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Thắng tay nằm ở ngay dưới chỗ ngồi của người điều khiến

    Lái cyclo không phải dễ như mọi người tưởng. Yên xe rất cao nên những người “thiếu thước tấc” rất khó “leo” lên, đó là chưa kể khi leo được lên yên chưa chắc đã đạp được hết vòng nếu chân quá ngắn.

    Phần sau của xe được nối với thùng xe bằng một trục thẳng đứng nên khi cua ngặt sẽ khiến xe mất thăng bằng, dễ bị lật. Tuy nhiên, tôi đã có lần được chứng kiến “cao thủ” cyclo biểu diễn chạy xe bằng… 2 bánh. Có nghĩa là nghiêng hẳn một bên xe, và dĩ nhiên là trên xe không có khách.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cyclo trước Tòa Đô Chánh (Hình do R. Cauchetier chụp năm 1955)

    Khi khách bước lên hoặc xuống xe, người điều khiển phải kềm phần sau vì nếu khách thuộc loại “nặng ký” sẽ khiến đuôi xe chống ngược. Lại nữa, người lái cyclo phải là tay giỏi… “thương lượng” vì khách trước khi lên xe bao giờ cũng kỳ kèo mặc cả. Tùy hoàn cảnh, người lái xe có thể chấp nhận cái giá mà khách trả hay xách xe không kiếm mối khác!

    Chân dung người đạp xích lô cũng muôn hình vạn trạng. Đó có thể là người trên đầu đội chiếc nón lá, quần ống thấp ống cao, lep kẹp đôi dép lộ rõ mười ngón chân cáu bẩn. Buổi trưa nắng gắt bác cyclo tìm một chỗ dưới gốc cây, đánh một giấc ngay trên xe để lấy sức tiếp tục rong ruổi trên đường phố kiếm cơm.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Giấc ngủ trưa của người đạp cyclo

    Có sự phân biệt rõ ràng giữa cyclo Sài Gòn và cyclo Hà Nội. Trong khi cyclo Sài Gòn chỉ ngồi được một người (nếu cần có thể “nhét” thêm một khách nữa) thì cyclo Hà Nội có thể chở được hai người ngồi một cách thoải mái.

    Cyclo Sài Gòn là phương tiện chuyên chở bình dân nên trông cũ kỹ với mui xe, hai bên hông và phía trước được che bằng vải bạt khi trời mưa… trong khi cyclo Hà Nội sinh sau đẻ muộn nên được o bế một cách diêm dúa, mui xe làm như cái lọng của vua chúa… thường được dùng để phục vụ khách du lịch

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cyclo Hà Nội

    Theo sự tiến bộ của khoa học, chiếc cyclo máy được ra đời vào đầu thập niên 1960. Những người đến Sài Gòn lần đầu tiên đều rất thích thú được ngồi trên phương tiện chuyên chở độc đáo này để ngắm nhìn đường phố. Cyclo máy chạy nhanh hơn cyclo đạp và người điều khiển thường là những thanh niên khỏe mạnh trong khi cyclo đạp thường do những người nhiều tuổi hơn điều khiển.

    Cyclo máy được lắp ráp ngay tại miền Nam, với những phụ tùng, linh kiện nhập cảng từ Pháp: động cơ cuả hãng xe mô tô Peugeot, loại 125 phân khối, dùng xăng pha nhớt. Đây là loại động cơ 2 thì nên khi nổ máy khói phun mịt mù, tiếng máy của xe cũng thuộc loại gây “ô nhiễm tiếng ồn”.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Cyclo máy Sài Gòn

    Cyclo máy ra đời vào thời kỳ chiến tranh leo thang với sự xuất hiện của quân đội đồng minh, nhất là lính Mỹ rất thích phương tiện chuyên chở này. Có người nước ngoài còn nói đi cyclo máy Sài Gòn còn thú vị hơn ngồi xe hơi mui trần “convertible”.

    Một anh lính Mỹ viết thư về nhà mô tả chiếc cyclo máy, đại khái như “một con quái vật há mồm, hùng hổ trên đường”… “ngồi cyclo máy tựa như phi thuyền phóng lên mặt trăng”… Tuy nhiên, họ cũng nhìn thấy sự nguy hiểm rình rập khi ngồi trên chiếc cyclo máy chạy nhanh, nếu tai nạn xảy ra, hành khách là người bị nặng nhất còn người lái xe ngồi ở mãi phía sau.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Lính Mỹ trên chiếc cyclo máy
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    “Siêu” cyclo

    Xe Lam

    Sang đến thời kỳ “văn minh xe máy”, ban đầu Sài Gòn xuất hiện cyclo máy với 2 bánh phía trước và một bánh phía sau rồi dần dà chuyển sang loại xe ba bánh ngược lại với cyclo và cyclo máy, một bánh trước và hai bánh sau, được gọi là xe lam.

    Xe lam là loại xe chuyên chở công cộng phổ biến được du nhập Sài Gòn và các tỉnh miền Nam vào thập niên 1960 để đáp ứng nhu cầu đi lại của giới bình dân. Đây là loại xe có cấu trúc tương tự như xe “tuktuk” hiện còn đang được sử dụng tại các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh… Người ta giải thích cái tên “tuktuk” là do tiếng nổ của động cơ khi chạy trên đường.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe Tuktuk tại Thái Lan

    Tại miền Nam, thuật ngữ “xe lam” có xuất xứ từ Lambretta và Lambro là nhãn hiệu xe của nhà sản xuất “Innocenti do Ferdinando Innocenti” sáng lập tại Ý từ năm 1920. Ngoài xe hơi, Innocenti còn sản xuất loại xe hai bánh mang nhãn hiệu Lambretta trong khoảng thời gian từ 1947 đến 1971. Năm 1996 Innocenti nhập vào hãng xe Fiat và chấm dứt các dòng sản phẩm riêng.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Lambretta và Vespa trên đường phố Sài Gòn

    Ngoài xe 2 bánh Lambretta, Innocenti còn sản xuất động cơ cho loại xe 3 bánh như ta thấy xuất hiện trên đường phố Sài Gòn xưa. Đó là các dòng xe Lambretta FD với dung tích xy lanh 123 hoặc 150 cc và FLI cải tiến với 175 cc, sau đó là Lambro 200, Lambro 550 đều có dung tích 198 cc.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Bến xe lam tại Quảng Lợi, Bình Long
    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe Lambro 550 tại chợ Bến Thành

    Hãng Vespa cũng sản xuất loại xe 3 bánh và Sài Gòn đã nhập một số xe Vespa 3 bánh có hình dáng và cấu trúc giống Lambretta và Lambro. Với số lượng ít ỏi hơn, Vespa 3 bánh cũng được gọi chung là xe lam. Chúng tôi sưu tầm được một tấm hình xe Vespa 3 bánh thuộc loại “cổ lỗ sĩ” nằm trong một tiệm chuyên sửa và sơn xe… Lambretta:

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe Vespa 3 bánh

    Vespa là thương hiệu nổi tiếng của hãng Piaggio, Ý, được ra đời từ sau Thế chiến thứ hai với của dòng sản phẩm xe gắn máy yên thấp, bánh nhỏ còn gọi là xe scooter. Rinaldo Piaggio (1864-1938) thành lập Công ty Piaggio tại Genoa năm 1884 với chức năng ban đầu chuyên sản xuất các trang thiết bị cho tàu thuỷ, tàu hỏa và máy bay.

    Đến năm 1946, những chiếc xe scooter đầu tiên mang nhãn hiệu Vespa được thiết kế bởi kỹ sư Corradino D’Ascanio, ông tạo kiểu dáng khung xe vuốt tròn và tiếng máy nổ khác biệt: “Sembra una vespa!” (Nó cứ như con ong ấy). Vespa tiếng Ý là con ong và thương hiệu Vespa ra đời từ đó.

    Vespa ba bánh sử dụng động cơ của xe scooter Vespa có dung tích lớn hơn và Sài Gòn có thêm xe lam mang nhãn hiệu Vespa bên cạnh xe Lambretta và Lambro.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Vespa 3 bánh thời hoàng kim

    Các dòng xe lam lần lượt được nhập vào miền Nam để thay thế xe thổ mộ, hay còn gọi là xe ngựa. Đặc biệt loại xe lam khi nhập không ở dạng “đóng thùng”, việc đóng thùng xe được thực hiện tại Sài Gòn. Theo thống kê, trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có gần một nửa (khoảng 17.000 chiếc) được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

    Khoảng những năm 1966-1967, chính phủ VNCH đã tiến hành một chương trình mang tên “Hữu sản hoá” nhằm cung cấp phương tiện hành nghề chuyên chở công cộng cho những lao động cần việc làm và cũng để cải thiện đời sống giới thợ thuyền, phát triển hạ tầng cơ sở vận tải … Và đó là cơ hội để xe lam thâm nhập vào thị trường miền Nam.

    Ngoài việc “hữu sản hóa” xe taxi sơn màu vàng trên mui và xanh dưới thân, một số người thuộc giới tài xế xe lam cũng là những đối tượng của chương trình hữu sản hóa, trong số đó có không ít người từ xà ích xe ngựa trở thành tài xế xe lam. Họ ký kết những hợp đồng trả góp để có thể làm chủ một chiếc xe lam ngày ngày chạy trên đường phố kiếm cơm.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe lam và xe taxi trên đường phố Sài Gòn

    Giá chiếc xe lam vào thập niên 60 khoảng 30 cây vàng nhưng vàng hồi đó còn rẻ chứ không “leo thang” như ngày nay. Có tài xế xe lam còn khoe: “Chạy một ngày, ăn cả tháng chưa hết”. Nói vậy có lẽ hơi quá, nghề nào cũng có những gian nan, khổ cực của nó, nhưng câu nói đó cho thấy nghề tài xe lam thời hoàng kim là một trong những nghề “hot”…

    Đặc điểm của xe lam là tính “cơ động”, hành khách có thể lên xuống xe tại bất cứ chỗ nào dọc theo tuyến mà không cần trạm lên xuống như xe buýt. Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh leo thang, xe lam cũng là phương tiện “chạy giặc” hữu hiệu vì gọn nhẹ lại chở được nhiều đồ đạc như bức hình dưới đây:

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe lam “chạy giặc”

    Sau biến cố 30/4/1975 xe lam vẫn tiếp tục tồn tại trong khi taxi phải mất nhiều năm mới khôi phục vào thời kỳ Đổi Mới với những chiếc taxi sơn màu vàng mang thương hiệu Vinataxi, một liên doanh với Hồng Kông. Xe lam trong thời kỳ này được dùng làm phương tiện đi lại phổ biến, rẻ tiền và dĩ nhiên vẫn giữ được “thời vàng son” của nó.

    Lúc đó, chỉ riêng thị xã Biên Hòa, có 6 hợp tác xã xe lam với khoảng 1.000 đầu xe đăng ký chở khách chính thức, với hàng triệu lượt khách mỗi năm. Cũng vì thế mà có thời Biên Hòa được ví như là “thủ phủ xe lam”. Sau này, những chiếc xe lam đã “có tuổi” nhưng vẫn được đem ra miền Bắc để giải bài toán giao thông ngày càng phức tạp tại các đô thị lớn.

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe Lam đậu cạnh “người anh em” Lambretta sau năm 1975

    Xe lam là loại xe có một cabin phía trước dành cho tài xế và một thùng xe có thể chở hành khách và hàng hóa. Khách ngồi trên băng ghế dài, dọc theo hai bên thùng xe với sức chứa trên 10 người, đó là chưa kể trường hợp đặc biệt, 2 người khách nữa có thể ngồi 2 bên tài xế trong khoang lái!

    Động cơ xe nằm ngay dưới yên dành cho tài xế. Khi xe chết máy, bác tài phải nhảy xuống đường, giở yên xe lên, chùi lại bu-gi, dùng một sợi dây thừng kéo cho máy nổ hoặc dùng bàn đạp khởi động lại máy xe.

    Gặp khi đông khách, bác tài cũng sẵn sàng ngồi thu gọn lại ngay giữa yên để có thêm chỗ cho hai khách ngồi ké vào hai bên. Chuyện kể một chuyến xe đang chạy ngon trớn bỗng động cơ xe ngừng hoạt động. Bác tài nói với 2 bà ngồi hai bên: “Hai bà làm ơn xuống xe cho tôi đạp máy”.

    Vốn là người miền Nam nên bác tài phát âm “đạp máy” nghe như “đạp mái” khiến một bà lên tiếng: “Cái ông này ‘dê đạo lộ’. Xe chết máy không lo sửa mà lại còn đòi… đạp mái. Vô duyên!”

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Chuyến xe… bão táp

    Bên trong xe lam là cả một kho truyện tình cảm “lâm li bi đát” nhưng cũng có khi là những chuyện “trời ơi đất hỡi” đáng ghi nhớ. Những chuyến xe đông người có thể trà trộn khách thuộc loại có “bàn tay nhám” hay “diệu thủ thơ sinh” chuyên nghề móc túi. Lại còn có những “bóng hồng” hành nghề “bỏ bùa mê” để trộm cắp tài sản của khách trên xe.

    Hành khách ngồi “chen vai thích cánh” trên xe cũng dễ nảy sinh tình cảm bất ngờ nhưng lại cũng dễ xảy ra.. tai họa. Có trường hợp chàng trai bị cô gái “hớp hồn” trên xe lam nhưng khi xuống xe cái bóp đã… “không cánh mà bay”.

    Cũng có thể là một chuyện tình lãng mạn của đôi trai gái đi chung một chuyến xe lam như nhà thơ Trần Thanh kể lại trong bài Trên chuyến xe lam:

    “Tôi vẫn nhớ mùa thu năm ấy

    Tôi quen nàng trên chuyến xe lam

    Nàng nhìn tôi đôi mắt mơ màng

    Tôi bẽn lẽn nhìn sang không nói…

    “Ông vua nhạc sến” Vinh Sử có bài Chuyến xe lam chiều (*) với những ca từ rất bình dân kể lại một mối tình của đôi trai gái quen nhau trên một chuyến xe lam. Mối tình sau này tan vỡ không phải vì nàng bỏ đi lấy chồng mà là chàng “tham phú phụ bần” lấy con gái nhà giàu:

    “Trên chuyến xe lam đông người chiều nao

    Xui mình không quen mà ngồi bên nhau

    Trời mang nhiều trớ trêu chi

    Người chưa hề biết quen gì

    Sao ngồi gần như tình nhân si…

    ….

    Ngờ đâu yêu đương như đám lục bình

    Trôi theo con nước vô tình

    Anh lấy vợ người ta giàu có

    Tình em như cát dã tràng biển đông

    Em muốn tìm chồng cho xong

    Nhưng ngại thêm gặp kẻ bạc lòng…

    Phương cách di chuyển người Việt xưa
    Xe lam chở nữ sinh

    Một thời đã qua kéo theo nhiều kỷ niệm từ các phương tiện di chuyển công cộng tại Sài Gòn xưa. Loạt bài viết này chỉ mới ghi lại một phần nhỏ trong những sinh hoạt hàng ngày khi đi lại. Có lẽ những thế hệ trẻ ngày nay không ngờ lớp cha, ông đã trải qua nhiều thời kỳ lý thú đến như vậy. Biết đâu chừng con cháu lại thấy cha ông mình sao… khổ quá!

    (*) Video clip Chuyến xe Lam chiều, Nhạc Vinh Sử, Ca sĩ Phi Nhung:

    http://www.youtube.com/watch?v=3jsPsiD_zuA

     

    Theo Blogger Nguyễn Ngọc Chính

  • Xe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe lôi là đặc sản riêng của người miền Tây. Từ những chiếc xe lôi bộ vốn đã lùi vào quá khứ, phát triển thành xe lôi đạp, rồi cải tiến lên xe lôi máy. Giờ thì xe lôi máy cũng chẳng còn do nghị định cấm xe ba gác, xe tự chế. Nên nhiều du khách khi đến miền Tây cũng hụt hẫng vì rất hiếm thấy hình ảnh xe lôi bon bon trên đường.

    Nếu cấm xe lôi, sẽ thật buồn. Còn đâu cái tình người lái xe. Còn đâu cảm giác thú vị khi ngồi chồm hổm trên xe lôi với những câu chuyện khám phá tính cách hào sảng của anh hai, anh ba miền sông nước….

    Xe lôi - xe đạp kéo - xe thồ

    Xe lôi ở miền Nam Việt NamXe lôi ở miền Nam Việt Nam

    Xe đạp lôi - đồng hành với người nghèo - Ảnh: Nguyễn Công Thành
    Xe đạp lôi – đồng hành với người nghèo – Ảnh: Nguyễn Công Thành
    Nhưng có một nơi mà xe lôi vẫn hiện diện khắp nơi. Trước cửa khách sạn, bên quán ăn, ở chợ, rìa các quán cóc vỉa hè… đâu đâu cũng có xe lôi. Nơi ấy là nơi sản sinh ra chiếc xe lôi và cũng là nơi đang cố níu kéo sản phẩm đặc trưng vùng miền của mình. Đó là Châu Đốc – An Giang, quê hương của những câu chuyện ly kỳ về bà chúa Xứ ở núi Sam hay  lăng mộ Thoại Ngọc Hầu và phu nhân. Đây là nơi có nhiều xe lôi nhất miền Tây Nam Bộ.
    Cơn lốc đô thị hóa, hiện đại hóa, cơn lũ xe máy giá rẻ “made in china” hầu như không ảnh hưởng đến những con người vốn mưu sinh trên 3 bánh xe lôi nơi này. “Chạy xe lôi vất vả thật, nhưng gắn bó với nghề rồi, không làm sao bỏ được. Mà bỏ rồi mần gì mà ăn”, bác tài vui tính sún răng làm nghề lái xe lôi tâm sự.
    Nhà bác 5 miệng ăn đều trông chờ vào chiếc xe cà tàng này. Mỗi ngày cố gắng lắm bác cũng chỉ kiếm chừng 150.000, cơm mắm muối hết phần ba, còn dành dụm cho bọn nhỏ vào năm học mới. Vậy mà một khi thích, bác có thể đưa bạn đi chơi khắp Châu Đốc mà nhất định không chịu lấy tiền. Con người nơi đây là thế.
    Xa miền Tây rồi, lại nhớ em gái miệt vườn, nhớ tiếng bành bạch của ghe thuyền, tiếng nước vỗ bờ ì oạc ì oạc và nhớ lắm hình ảnh bác tài và chiếc xe lôi.
    Vài hình ảnh về xe lôi trước năm 1975 tại Sài Gòn và các tỉnh Miền Tây:
    Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam Xe lôi ở miền Nam Việt Nam
  • Xe xích-lô máy Sài Gòn

    Xe xích-lô máy Sài Gòn

    Những hình ảnh và thông tin thú vị về xe xích lô máy Sài Gòn trước năm 1975

    Một phương tiện di chuyển tương đối rẻ tiền tại Sài Gòn là xe xích-lô máy, thông thoáng dưới ánh nắng nóng nực của thành phố so với cung cách ngồi xe Taxi Renault 4CV không có máy điều hoà không khí, với tiếng nổ của động cơ 2 thì dùng xăng pha nhớt nhả khói – là hình ảnh đặc biệt khó quên của Sài Gòn, sau ngày thành phố được giải phóng vào tháng tư 1975, những chiếc xe xích-lô máy cũng biến mất như số phận của những chiếc xe Taxi Sài Gòn xưa.

    Xem thêm :

    Xe xích-lô máy Sài Gòn
    Xe xích-lô máy Sài Gòn

    Sơ lược về xe 3 bánh Peugeot

    Được sản xuất vào năm 1939 dựa trên kiểu xe mô-tô Peugeot 100cc Type 53, vì nhu cầu vận chuyển hàng hoá vào những con đường phố cổ chật hẹp mà xe ô-tô vận tải khó lưu thông và khối lương hàng hoá tương đối nhỏ, không cần đến những phương tiện vận tải lớn.

    Xe mô-tô Peugeot 125cc kiểu 55 GLT 1932
    Xe mô-tô Peugeot 125cc kiểu 55 GLT 1932

    Kiểu xe 3 bánh Triporteur Peugeot đầu tiên là kiểu 53 TN, vay mượn cổ máy 100cc 2-thì của xe Type 53 cùng nhiều cơ phận khác của xe nầy ngoại trừ bộ khung xe khác biệt. Động cơ được thiết kế đằng sau thùng chở hàng nên ngăn cản không khí làm mát máy, do đó trên cổ máy được thiết kế thêm một quạt máy nằm bên cạnh. Với sức mạnh 4 mã lực, hộp số gồm 3 số với cần sang số bên cạnh bình xăng, xe 3 bánh có thể chở 100 kilô hàng hoá với tốc độ tối đa 45 Km/giờ.

    Kiểu xe 3 bánh Triporteur Peugeot
    Kiểu xe 3 bánh Triporteur Peugeot
    Kiểu xe Triporteur Peugeot 55TN sản xuất sau chiến tranh tại Pháp Quốc
    Kiểu xe Triporteur Peugeot 55TN sản xuất sau chiến tranh tại Pháp Quốc

    Nhưng ưu điểm của xe Triporteur Peugeot so với những xe 3 bánh tải hàng hoá vào thời điểm ấy là bộ phận cơ khí tay lái điều khiển xe, được thừa hưởng từ thiết kế xe ô-tô Peugeot, bộ cơ khí tay lái điều khiển được đơn giản hoá với trục bánh trước độc lập rất tiện nghi và bẻ lái dể dàng. Về bộ khung trục bánh trước được thiết kế 2 vè chắn bùn bằng thép lá rập khuôn, ốp lấy thùng chở hàng hoá có cánh cửa mở về phía trước.

    Triporteur Peugeot 55TN
    Triporteur Peugeot 55TN
    Triporteur Peugeot 55TN với 3 phiên bản khác nhau trong tài liệu của Peugeot
    Triporteur Peugeot 55TN với 3 phiên bản khác nhau trong tài liệu của Peugeot

    Sau Đệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, việc sản xuất xe Triporteur Peugeot được khởi động lại một cách khiêm nhượng với kiểu xe biến cải đôi chút, kiểu xe 54 TN, nhưng phải chờ đến năm 1949 mới thấy xuất hiện kiểu xe với động cơ 125cc, Triporteur 55 TN.

    Cổ máy 125cc vay mượn từ xe mô-tô Peugeot Type 55, với sức mạnh 4,5 mã lực cho phép xe 3 bánh tải một trọng lượng đến 150 Kg do đó bánh xe được nâng lên với kích cở 550×85 để chịu sức tải nặng và mầu sơn từ mầu xám xưa cũ chuyển sang mầu ngà.xe mô-tô Peugeot Type 55

    Kiểu xe Triporteur Peugeot cuối cùng 57 TM
    Kiểu xe Triporteur Peugeot cuối cùng 57 TM năm 1954
    Vài chi tiết kỹ thuật cơ khí: động cơ 125cc một xi-lanh 2-thì mát máy bằng quạt, hộp số gồm 3 số tay bên cạnh bình xăng, 4,5 mã lực với vòng quay máy 4.000 vòng/phút, bộ chế hoà khí Gurtner RN 17, bộ đánh lửa Volant SAFI SSY 40W, bánh xe 550×85, dài 2,35 mét, rộng 1,15 mét, cân nặng 120 Kilô.

    Kiểu cuối cùng của loại xe Triporteur Peugeot là kiểu 57 TM được ra mắt vào cuộc triển lãm xe vào năm 1954 tại Pháp Quốc. Với động cơ vẫn là cổ máy 125cc nhưng bộ dàn xe với 2 vè chắn bùn phía trước được thiết kế bằng thép lá uốn thẳng góc, giúp cho việc chuyển vận hàng hoá dể dàng hơn, 2 đèn phía trước được thay bằng một đèn duy nhất lớn hơn và chiếu sáng hơn. Kiểu 57 TM được trình làng với 3 phiên bản: khung trơn không thùng chở hàng (57 TN), thùng chở hàng có cửa mở phía trước (57 TNO) hoặc thùng chứa hàng với nắp đậy (57 TNC).

    Xe xích-lô máy tại Việt Nam

    Tại Việt Nam sau khi quân đội Hoàng Gia Nhật Bản thua trận phải đầu hàng và rút về nước năm 1945, ở Sài Gòn quân đội Anh Quốc đến tiếp quản rồi giao lại cho chính quyền thuộc địa Pháp. Nhu cầu vận tải hàng hoá rất cần thiết nên đã nhập cảng những phương tiện chuyên chở mà chiếc xe 3 bánh Triporteur Peugeot đã được đưa vào Sài Gòn.

    Từ chiếc xe 3 bánh chở hàng hoá, xe Triporteur Peugeot được cải tiến thành xe xích-lô máy
    Từ chiếc xe 3 bánh chở hàng hoá, xe Triporteur Peugeot được cải tiến thành xe xích-lô máy

    Đa số kiểu xe được sử dụng tại Sài Gòn là kiểu Triporteur Peugeot 55 TN với động cơ 125cc – thoạt đầu được sử dụng để vận tải hàng hoá nhưng sau đó được biến cải thành xe xích-lô máy. Trong thập niên 1930, Sài Gòn đã có những chiếc xích-lô đạp thay thế cho những phu xe kéo, qua thập niên 1940 đã có khoảng trên 6.500 xe xích-lô đạp nhưng số dân cư Sài Gòn ngày một tăng lên, xe xích lô đạp không đáp ứng lại nhu cầu vận chuyển vì lẽ dùng sức người, tốc độ chậm và quảng đường ngắn – trong khi xe Taxi đáp ứng lại nhu cầu về tốc độ và khoảng cách xa nhưng giá cả khá cao, khách đi xe xót ruột khi thấy đồng hồ taximètre cứ nhảy số tiền phải trả ngay cả khi xe dừng ở đèn lưu thông…

    Xe xích-lô máy và Taxi Renault 4CV là 2 biểu tượng của Sài Gòn xưa
    Xe xích-lô máy và Taxi Renault 4CV là 2 biểu tượng của Sài Gòn xưa
    Xích-lô máy là một phương tiện di chuyễn nhanh chóng và mát mẽ dưới nắng Sài Gòn
    Xích-lô máy là một phương tiện di chuyễn nhanh chóng và mát mẽ dưới nắng Sài Gòn

    Do đó từ một xe 3 bánh chở hàng hoá – gọi theo tiếng việt thời ấy là xe ba-gác máy (từ chử bagages = hành lý) – đã được cải tiến thành xe xích-lô máy. Rập theo cấu trúc của xích-lô đạp, người ta đặt lên khung xe một cái nôi bằng thép uốn với băng ghế nệm, dưới ghế nệm biến thành khoang chứa dụng cụ bảo trì xe cùng xăng nhớt, ruột lốp xe và tấm bạt để che phía trước hành khách khi trời mưa. Bên cạnh 2 hông ghế là bộ khung thép bọc mái che bằng vải dầu gấp xếp lại được, dùng để che nắng và mưa.

    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành
    Hình ảnh quen thuộc xe xích-lô máy chạy quanh Công trường Diên Hồng xưa, trước trạm xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng đối diện với Chợ Bến Thành

    Trong cuối thập niên 1940 qua đầu thập niên 1950, có khoảng 1.800 xe xích-lô máy hoạt động quanh Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định và là biểu tượng duy nhất của thành phố Sài Gòn không có nơi nào khác.

    Dòng xe xích-lô máy Sài Gòn biến mất dần sau ngày miền nam Việt Nam được giải phóng vào tháng tư 1975, xăng dầu vào lúc ấy trở thành khan hiếm và được xem là “vật tư chiến lược” của chính quyền mới, những xe xích-lô máy cũng cùng số phận với những xe Taxi Sài Gòn xưa.

    Hình ảnh xe xích-lô máy Sài Gòn theo thời gian

    Xích-lô máy và ông Pierre Coupeaud, ngưới sáng chế xe xích-lô đạp đầu tiên ở Phnom Penh trước nhà hàng khách sạn Continental Sài Gòn
    Xích-lô máy và ông Pierre Coupeaud, ngưới sáng chế xe xích-lô đạp đầu tiên ở Phnom Penh trước nhà hàng khách sạn Continental Sài Gòn
    Hai bà "đầm" trên một xe xích-lô máybiến cải từ xe Triporteur Peugeot 54 TN
    Hai bà “đầm” trên một xe xích-lô máybiến cải từ xe Triporteur Peugeot 54 TN
    Hai người lính gendarmes Pháp ở Sài Gòn
    Hai người lính gendarmes Pháp ở Sài Gòn
    Một thiếu nữ Pháp kiều tại Sài Gòn
    Một thiếu nữ Pháp kiều tại Sài Gòn
    Một bến xe xích-lô máy
    Một bến xe xích-lô máy
    Chờ khách...
    Chờ khách…
    Một lính Mỹ thích thú trên xe xích-lô máy Sài Gòn
    Một lính Mỹ thích thú trên xe xích-lô máy Sài Gòn

    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc

    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Hình ảnh xe Triporteur Peugeot ngày nay ở Pháp Quốc
    Vài xe Triporteur Peugeot được tân trang và trưng bày trong các lể hội
    Vài xe Triporteur Peugeot được tân trang và trưng bày trong các lể hội
    Một người bán hạt dẻ rang nóng trên đường phố Paris
    Một người bán hạt dẻ rang nóng trên đường phố Paris

    Theo http://hoangkimviet.blogspot.ch/

  • Người đẹp Sài Gòn xưa: Chiếc Solex và tà áo dài

    Người đẹp Sài Gòn xưa: Chiếc Solex và tà áo dài

    Một thời Velosolex

    Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.

    Tưởng cũng nên có đôi dòng về chiếc Solex của thời Sài Gòn những năm 1960′ s. Ði Solex là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo vì phía đầu xe rất nặng. Ấy thế mà những cô gái Sài Gòn vẫn tha thướt trên chiếc Solex trước những cặp mắt mê mẩn của cánh đàn ông.

    Vào những năm đầu thập niên 60′ s, hình ảnh những nữ sinh ngồi trên chiếc xe Solex đen bóng có lẽ vẫn luôn là những ấn tượng không thể nào quên của một thế hệ thanh niên thời đó. Solex cũng là biểu hiện của sự sang trọng vì nữ sinh có xe Solex thường thuộc con nhà khá giả. Nói chung, Solex là sự duyên dáng, phô trương kín đáo của người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài mà vạt sau được gài trên yên xe, không che kín toàn vẹn

     

    Người đẹp & Velo Solex ( ngày nay)
    Người đẹp & Velo Solex ( ngày nay)
    Nữ sinh Sài Gòn với chiếc Velo Solex bên phải và chiếc Mobylette bên trái
    Nữ sinh Sài Gòn với chiếc Velo Solex bên phải
    và chiếc Mobylette bên trái
    Solex trên đường phố Sài Gòn
    Solex trên đường phố Sài Gòn
    Áo dài, nón lá trên chiếc Solex
    Áo dài, nón lá trên chiếc Solex
    Một thời Velosolex
    Một thời Velosolex
    Một thời Velosolex - Sài gòn 1961
    Một thời Velosolex – Sài gòn 1961
    Những nhà buôn xe moped thời đó đã tập trung khai thác vào phụ nữ...
    Những nhà buôn xe moped thời đó đã tập trung khai thác vào phụ nữ…
    Ngay từ năm 1956, VeloSoleX đã được phụ nữ sử dụng.
    Ngay từ năm 1956, VeloSoleX đã được phụ nữ sử dụng.

    Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.

    Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.

    Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.

    Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.

    Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.

    Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ.

    Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.

    Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.

    Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú – Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.

    Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia… và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.

    Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.

    Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời.

    Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.

    Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!

    Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:

    “Quay đều, quay đều, quay đều, mối tình ngày xưa yêu dấu
    Quay đều, quay đều, quay đều, thương hoài những vòng xe…”

    Hinhanhvietnam.com tổng hợp từ Tạp ghi của Huy Phương

  • Xe gắn máy ở Sài Gòn trước năm 1975

    Xe gắn máy ở Sài Gòn trước năm 1975

    Người Sài Gòn trước năm 1975 đi xe máy loại nào?

    Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số  tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện  di chuyển được nhiều người sử dụng nhất . Bài này xin nhắc lại một số  xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.

    Nói đến xe gắn máy thì chắc là mọi người sống tại miền Nam trước đây  đều biết đến xe Mobylette. Vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên hãng  Motobécane của Pháp, chế tạo ra chiếc Mobylette, đương nhiên là hiện  diện trên thị trường Việt Nam. Nhưng nhiều người biết đến tên  Mobylette hơn là Motobécane. Xe Mobylette ở Việt Nam có loại Mobylette  vàng và Mobylette xanh. Cả hai đều dùng động cơ 49,99cc để được xếp  vào loại vélomoteur, không cần bằng lái, nhưng Mobylette vàng thì nhỏ  hơn, chỉ có ống nhún phía trước, còn Mobylette xanh thì lớn, nặng hơn  có ống nhún ở cả bánh trước lẫn bánh sau nên đi êm hơn và giá cao  hơn .

    Xe gắn máy tại miền Nam trước 75
    Một thời đáng nhớ – Xe gắn máy tại miền Nam trước 75

    Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số  tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện  di chuyển được nhiều người sử dụng nhất . Bài này xin nhắc lại một số  xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.

    Nói đến xe gắn máy thì chắc là mọi người sống tại miền Nam trước đây  đều biết đến xe Mobylette. Vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên hãng  Motobécane của Pháp, chế tạo ra chiếc Mobylette, đương nhiên là hiện  diện trên thị trường Việt Nam. Nhưng nhiều người biết đến tên  Mobylette hơn là Motobécane. Xe Mobylette ở Việt Nam có loại Mobylette  vàng và Mobylette xanh. Cả hai đều dùng động cơ 49,99cc để được xếp  vào loại vélomoteur, không cần bằng lái, nhưng Mobylette vàng thì nhỏ  hơn, chỉ có ống nhún phía trước, còn Mobylette xanh thì lớn, nặng hơn  có ống nhún ở cả bánh trước lẫn bánh sau nên đi êm hơn và giá cao  hơn .

    Xe Mobylette ở Việt Nam
    Xe Mobylette ở Việt Nam
    Xe Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại
    Xe Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại

    Xe Mobylette xem chừng ra không thay đổi nhiều lắm qua nhiều năm. Xe  Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại. Qua  thập niên thì thân làm bằng tôn ép. Màu sắc cũng ít thay đổi. Có lúc  Mobylette vàng đổi thành Mobylette xám. Xe Mobylette được chế tạo để  dễ sử dụng. Xe không cần sang số mà dùng embrayage automatique, vặn ga  lớn thì xe chạy nhanh, vặn ga nhỏ lại thì xe chạy chậm và đứng lại.  Khi muốn nổ máy thì chỉ cần đạp cho nhanh là xe nổ máy. Đạp hoài không  nổ thì chỉ gần gạt môt cái chốt ở đĩa có dây couroie ăn vào động cơ để  tách rời động cơ và bánh sau thì có thể đạp bộ về nhà.

    Xe velosolex
    Xe velosolex
    Xe Velo Solex 1951
    Xe Velo Solex 1951

    Nếu có khi nào trong lúc bạn đạp xe đạp rồi nghĩ bụng sao không gắn  một cái động cơ nhỏ lên xe đạp để khỏi phải đạp thì ý nghĩ đó đã có  người nghĩ đến và chế tạo ra chiếc Vélosolex. Xe Vélosolex là một
    chiếc xe đạp có gắn động cơ lên bánh trước. Động cơ này làm lăn một  cục đá tròn phía dưới . Khi người lái kéo cái cần trước mặt thì cục đá  dở hổng lên khỏi bánh trước và có thể đạp như xe đạp. Khi đạp đến một  tốc độ nào đó, hạ cần xuống thì tốc độ của xe làm cho động cơ nổ máy  và động cơ kéo chiếc xe đi bằng bánh trước. Khi xe đã chạy ngon trớn  thì người lái có thể rút chân lên miếng để chân nhỏ ở giữa xe mà ngồi  một cách thoải mái. Từ một ý kiến rất giản dị phát xuất giữa thế kỷ  20, xe Vélosolex vẫn còn tồn tại qua đến đầu thế kỷ 21.

    Quảng cáo xe Mobilette
    Quảng cáo xe Mobilette
    Hình xe Mobylette trên tem thư Cộng Hòa Pháp
    Hình xe Mobylette trên tem thư Cộng Hòa Pháp

    Vì cách sử dụng giản dị, trọng lượng nhẹ nhàng nên các xe Mobylette,  Vélosolex thông dụng trong giới sinh viên, học sinh và phái nữ.

    Xe Vespa
    Xe Vespa
    Xe Lambretta
    Xe Lambretta

    Ở một hạng cao hơn là các xe scooter của Ý: Vespa, Lambretta. Các xe  scooter này vì lòng máy lớn hơn 50 cc, nhỏ nhất là 125 cc hoặc 150 cc  hoặc 200 cc tùy theo kiểu, nên không còn được xếp vào loại vélomoteur.  Người sử dụng phải trên 18 tuổi và phải có bằng lái. Vì thế, những  người đi xe Vespa, Lambretta thường là ở tuổi trung niên và có đời  sống cũng tương đối khá vì xe scooter đắt hơn. Xe Vespa hàng chục năm  nay không thay đổi mấy. Thân xe làm băng tôn ép. Có lẽ vì thế nên làm  hình tròn như quả trứng để chịu lực tốt hơn. Máy được đặt ở chỗ phình  bên phải, còn bên trái là ngăn để chứa đồ. Vì thế xe Vespa khi chạy  hơi nghiêng về phía phải vì bên này nặng hơn. Xe Lambretta tuy trông  bề ngoài giống Vespa nhưng cấu tạo lại khác. Khung xe bằng ống sắt hàn  lại, máy đặt ở giữa khung và che bên ngoài bằng lớp vỏ sắt. Xe  Lambretta hồi đâu thập niên 1960 có đường nét cong. Cuối thập niên 60,  qua đầu thập niên 70 thì kiểu dáng thẳng, theo như mốt của thời đó,  nên trông thanh nhã. Cả hai đều sang số bằng tay, bóp embrayage vào và  vặn để đổi số.

    Vespa Sprint 1974
    Vespa Sprint 1974
    Xe Lambretta 1974
    Xe Lambretta 1974

    Từ cuối thập niên 1950, miền Nam cũng nhập cảng các xe gắn máy Đức như  Goebel, Sachs, Puch. Các xe này đều có chung đặc điểm là có bình xăng  đặt trước người lái, sang số bằng tay, có ống nhún cả trước lẫn sau,  và máy đều là 50cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng  lái. Mỗi xe lại có những đặc điểm riêng như máy xe Puch luôn luôn được  bọc trong lớp vỏ bằng nhôm, có quạt chạy để làm mát. Như thế có lợi  điểm là máy xe được làm mát ngay cả khi ngừng đèn đỏ. Vì là xe có sang  số nên tuy chỉ có 50cc, xe gắn máy Đức có sức kéo mạnh hơn các xe  Mobylette ở số 1, 2, nên cũng được dùng để kéo xe lôi, có thể kéo được  thêm được bốn năm hành khách và hàng hóa phía sau. Hãng Puch và Sachs  ngày nay vẫn còn tồn tại.

    Xe Goebel
    Xe Goebel
    Xe Puch
    Xe Puch
    Xe Sachs
    Xe Sachs
    Puchmoped
    Puchmoped
    Goebel
    Goebel
    Xe 3 bánh gắn máy Sachs/Goebel
    Xe 3 bánh gắn máy Sachs/Goebel

    Vào khoảng 1965 thì thấy nhắc đến tên Honda, với một số kiểu xe mới lạ  xuất hiện. Một số xe Honda đầu tiên do người Mỹ mua đem sang Việt Nam  để đi làm việc rồi khi họ về nước thì để lại, lọt ra ngoài thị trường  người Việt mua được. Một trong những công dụng của xe Honda là các phi  công Mỹ dùng để di chuyển giữa chỗ đậu phi cơ và doanh trại. Từ doanh  trại ra chỗ đậu thường xa, đi bộ cũng mất vài phút đến vài chục phút.  Có xe Honda phóng thì thu ngắn thời gian nhất là khi có báo động thì  phóng xe Honda ra máy bay nhanh hơn là chạy bộ. Xe Honda S90 có lẽ là  chiếc được ưa chuộng nhất trong số các xe Honda trước 1965 vì kiểu đẹp  và máy mạnh, tiếng nổ ròn. Các kiểu xe kia là C110, S65 (thường được  gọi là S50), P50, C50. Xe P50 có cấu tạo đặc biệt với máy nằm ở sát  bánh sau và truyền động thẳng vào bánh chứ không qua dây xích. Cách  đặt máy này có lợi là khỏi bị mất lực khi truyền qua dây xích và giảm  bớt số bộ phận nhưng có khuyết điểm là xe dễ bị mất thăng bằng vì đầu  nhẹ, đuôi nặng. Lại thêm khi đi xuống ổ gà vì không có ống nhún nên  sức va chạm có thể làm vỡ răng cưa ở vành bánh xe. Xe Honda dame C50  trước 1965 có chiếc đã có bộ đề bằng điện, khỏi cần đạp. Trong khi  chiếc Honda dame nhập cảnh hàng loạt sau này phải đạp máy nổ bằng  chân.

    Honda Dame C50
    Honda Dame C50
    Honda P50 1967
    Honda P50 1967
    Honda PC50 1968
    Honda PC50 1968

    Chiếc xe Honda được chính thức nhập cảng để bán cho người tiêu thụ là  xe Honda Dame năm 1965. Hãng Honda thì gọi là kiểu C50, nhưng mọi  người thường gọi là Honda Dame. Có Honda Dame nhưng không ai gọi Honda  Homme, mà gọi là Honda đàn ông. Những chiếc xe Honda Dame đầu tiên  xuất hiện tại Sài Gòn thu hút được sự chú ý của người đi đường. Những  ngày đầu tiên xe bán ra ngoài, trên các nẻo đường phố người ta nhìn  thấy các chiếc xe Honda Dame màu đỏ hay xanh lá cây nhạt. Có người bị  tắt máy xe, hý hoáy nhìn xuống chân vì chưa quen với cách sang số bằng  chân. Sang lộn số có thể làm xe tắt máy. Khi thấy có một số người dắt  xe Honda đi bên đường, có người nói hãng Motobécane của Mobilette thuê  người dắt xe Honda Dame đi khắp các đường phố để người dân thấy xe  Nhật dở, bị chết máy hoài, sợ không dám mua. Không biết là có đúng hay  không. Một số người lúc đó nói là hàng Nhật không bền, chỉ vài năm là  hỏng và tiên đoán rằng chừng năm mười nữa thì các xe gắn máy Pháp, Đức  vẫn còn chạy, còn xe Nhật thì lúc

    Honda SS90
    Honda SS90

    đó vứt đi. Những người đó có lẽ căn  cứ vào phẩm chất hàng hóa của Nhật trước thập niên 1960. Nhưng qua  thập niên 1960, các hãng xe gắn máy Nhật đã trải qua những năm cạnh
    tranh khốc liệt trong nước. Vào đầu thập niên 1960, nhiều hãng xe gắn  máy ào ạt ra đời tại Nhật, cuối cùng theo luật thư hùng đào thải chỉ  có những hãng có khả năng cải tiến mới sống còn. Lúc xe Nhật sang Việt  Nam cũng là lúc các hãng xe gắn máy Nhật bắt đầu tung ra thế giới với  nhiều cải tiến làm cho phẩm chất xe Nhật vượt hẳn các xe Tây phương.

    Honda SS50 69-72
    Honda SS50 69-72

    Xe Honda Dame được làm để cho phái nữ đi nên dùng ambrayage tự động,  khi sang số chân không cần phải bóp embrayage tay mà chỉ cần giảm ga.  Các hiệu xe Suzuki Dame, Yamaha Dame cũng giống thế. Còn các xe gắn  máy Nhật kiểu đàn ông được vẽ kiểu giống như những chiếc mô tô phân  khối lớn ở chỗ không có pédale mà có cần đạp cho nổ máy, hai bên có  thanh ngang để chân, bên phải là thắng chân, bên trái là cần sang số,  embrayage tay trái, thắng trước tay phải, bình xăng phía trước. Các xe  này còn giống mô tô ở chỗ hai bên bình xăng có hai miếng cao su để đầu  gối áp vào cho êm. Điều đáng kể là yên xe thấp vừa với chiều cao người  Á Châu khiến cho việc leo lên xe, chống xe dễ dàng hơn khi sử dụng các  xe gắn máy Tây phương. Tay ga vặn nhẹ nhàng chứ không nặng như xe Tây  phương. Máy đạp nhẹ nhàng và dễ nổ.  Nói tóm lại, các nhà chế tạo Nhật  khiến cho các chiếc xe gắn máy sử dụng dễ dàng, tiện nghi hơn khiến  cho người dùng thấy rất thoải mái khi đi xe.

    Sau chiếc xe Honda Dame là sự xuất hiện của Honda đàn ông 66 (SS50).  SS là chữ viết tắt của Super Sport. Chiếc Honda 66 xuất hiện vào năm  1966, với màu đỏ hay đen, tay lái ngắn ngủn để người lái thu hẹp khoảng cách hai tay, giảm tiết diện cản gió, xe không có đèn signal,  hộp số có năm số và có thể đạt đến tốc độ tối đa đáng nể là 90km/giờ  đối với một chiếc xe máy 50 cc. Đó là một chiếc xe được vẽ kiểu với các đặc tính của xe đua. Tuy nhiên chiếc xe này không tiện dụng trong  thành phố vì tay lái quá ngắn nên khó điều khiển. Sang năm 1967, Honda  sửa lại kiểu xe cho tay lái rộng hơn, hộp số có năm số, sơn đen hoặc  đỏ, có đèn signal, ống nhún trước có bọc cao su, tốc độ tối đa 80k/  giờ. Kiểu xe 67 (SS50E) đã đi vào lịch sử vì máy mạnh, chạy nhanh,  được nhiều người ưa chuộng và có lẽ là được sử dụng nhiều nhất tại  miền Nam cùng với xe Honda Dame. Về sau Honda có ra các kiểu khác  nhưng Honda 67 vẫn được nhiều người biết đến nhất. Vì máy mạnh nên  chiếc Honda 67 được dùng để kéo xe lôi thay cho các hiệu xe Đức trước  đây.

    Honda Dame C50
    Honda Dame C50
    Honda SS50 - 1967
    Honda SS50 – 1967

    Cả tứ đại gia của làng xe gắn máy Nhật, Honda, Yamaha, Suzuki,  Kawasaki đều có mặt tại miền Nam lúc đó. Hãng Suzuki tung ra kiểu xe  nam M15 và M12 và xe Suzuki Dame, M31. Hai kiểu xe nam đại khái giống  nhau, dùng cùng một động cơ nhưng kiểu thể thao có ống pô vắt cao và  vè trước ngắn để trông có vẻ thể thao hơn.

    Suzuki Dame 1968
    Suzuki Dame 1968
    Suzuki M15 - 1965
    Suzuki M15 – 1965
    Suzuki M12-1967
    Suzuki M12-1967
    Kawasaki 1965
    Kawasaki 1965

    Hãng Yamaha có hai kiểu xe đàn ông, trong đó có kiểu YF5, và một kiểu  Yamaha Dame. Xe Yamaha đàn ông kiểu đẹp, nhiều bộ phận xi bóng loáng.  Yamaha Dame sơn màu xanh da trời, với đường cong dịu dàng, trông rất  mỹ thuật. Các xe Yamaha xem ra không được ưa chuộng bằng Honda vì máy  không mạnh bằng.

    Yamaha YL1 1968
    Yamaha YL1 1968
    Yamaha Dame
    Yamaha Dame

    Xe Suzuki Dame và Yamaha Dame đèn trước thấp hơn xe Honda Dame, trông  vẻ nhu mì thích hợp với các cô mặc áo dài.

    Kawasaki là hãng nhỏ nhất trong các hãng xe Nhật lúc đó, chỉ đưa sang  một kiểu xe đàn ông. Xe Kawasaki chạy tuy tốt nhưng bị chê là nặng và  máy yếu. Xe Kawasaki đem sang Việt Nam là kiểu dùng sườn của xe 80 cc,  thay vào đó bằng động cơ 50 cc để được xếp vào loại vélomoteur, không  cần bằng lái.

    Kawasaki 1960's
    Kawasaki 1960’s
    Bridgestone 1968
    Bridgestone 1968

    Hiệu xe ít người nhớ đến có lẽ là Bridgestone. Bridgestone là hãng  chuyên chế tạo vỏ bánh xe nhưng lúc đó cũng có một phân bộ chuyên sản  xuất xe mô tô để đua. Kiểu Bridgestone đem sang Việt Nam năm 1966 có  máy 65 cc. Vì thế xe Bridgestone vọt rất mạnh. Đặc điểm của  Bridgestone là hộp số có bốn số quay vòng giống như các xe đua, nghĩa  là sang đến số bốn thì nhấn thêm sẽ trở về số một mà không phải trả số  ngược lại. Xe Bridgestone chìm vào quên lãng của người Việt khi phân  bộ xe mô tô của hãng đóng cửa năm 1967 vì lý do là nếu sản xuất xe đua  thì các hãng xe gắn máy Nhật khác không muốn mua vỏ xe của hãng kình  địch với mình trong các cuộc đua.

    Honda-Scrambler-CL50-1969
    Honda-Scrambler-CL50-1969
    Honda Scrambler CL50 70's
    Honda Scrambler CL50 70’s

    Không như các hãng xe châu Âu giữ các kiểu xe y nguyên nhiều năm, các  hãng Nhật ào ạt tấn công thị trường Việt Nam với các kiểu xe mới ra  mỗi năm. Qua 1968, Honda tung ra xe CL50. CL là chữ viết  tắt của  Scrambler. Đó là kiểu xe được chế tạo để chạy các đường đất lồi lõm  nên chỉ có bốn số, xe kéo mạnh ở số một và số hai, nhưng tốc độ tối đa  kém xe Honda 67. Ống pô vắt cao để khỏi va chạm vào mô đất hay ngập  nước. Qua 1969, Honda tung ra kiểu SS50M. Cũng dùng cùng máy và sườn  như xe Honda 67 nhưng bình xăng dài hơn cho có vẻ thể thao. Qua năm  1970, Honda đưa sang kiểu CD50. Xe này cũng dùng cùng loại sườn và  động cơ như SS50 nhưng bình xăng và hộp đựng đồ phụ tùng vẽ kiểu khác  nên trông bề ngoài khác hẳn. Xe được chế tạo để chạy trong thành phố  nên chỉ có bốn số với các số đầu kéo mạnh, thích hợp với cách chạy xe  trong thành phố phải luôn luôn dừng lại đèn đỏ rồi lại bắt đầu vọt  lên. Cùng là kiểu SS50E, đến 1971, 1972, Honda tung ra kiểu xe với sơn  đỏ metal và vè xi bóng, ghi đông cao kiểu sừng bò trông rất hấp dẫn.  Honda thay đổi hình dáng bề ngoài thu hút thêm khách hàng mới. Năm  1969, Suzuki cũng tung ra kiểu xe mới AS50 trông rất thể thao và rất  đẹp. Ngoài các kiểu xe Honda chính thức nhập cảng, trên đường phố Sài  Gòn thỉnh thoảng xuất hiện một số kiểu xe Honda lạ như Honda Monkey,  nhỏ xíu như xe con nít, hoặc Honda CT50, CT70, với chữ T là viết tắt  của Trail, loại xe Honda dùng để đi dạo chơi ở đồng quê, trên các  đường mòn nhưng tại Việt Nam trở thành phương tiện để đi học, đi làm  tuốt luốt.

    Honda SS50E 1970
    Honda SS50E 1970
    Suzuki AS50 Maverick 1969
    Suzuki AS50 Maverick 1969
    Honda SS50 1967 keo xe lôi
    Honda SS50 1967 keo xe lôi

    Trong tất cả các loại xe Nhật, chỉ có Honda là dùng loại động cơ bốn  thì, với xăng và nhớt chứa riêng còn các hãng kia dùng loại động cơ  hai thì, chạy xăng pha nhớt.

    Với các đủ loại xe tung vào thị trường, đường phố miền Nam trở nên  nhộn nhịp với các loại xe đủ màu sắc. Đường phố Sài Gòn náo nhiệt với  các coureurs cúi rạp trên con ngựa sắt ra sức phóng, lạng, máy nổ ròn,  đinh tai nhức óc. Đúng ra máy xe Honda chạy rất êm. Nhưng vì nhiều  người đã tháo bỏ ốm tiêu hãm thanh gắn ở đầu ống khói nên máy nổ lớn.  Ống này nhỏ như ống tiêu, với thân có đục nhiều lỗ, dài khoảng gang  tay. Chỉ cần tháo con vít nhỏ ở đầu ống khói là kéo ông tiêu ra được.  Lý do tháo ốm hãm thanh là vì người dùng thấy xe chạy vọt hơn.

    Sài Gòn nhiều xe hơn và cũng nguy hiểm hơn vì các xe Nhật đều chạy  nhanh, vọt mạnh. Vì thế, một số phụ huynh lo ngại không muốn  mua cho  con mình chiếc xe quá mạnh. Hãng Honda tung ra loại xe PC50, cũng dùng  động cơ 50 cc nhưng không cần sang số, và không vọt mạnh như các loại  xe có sang số. Tốc độ khi chạy nhanh cũng có thể đến 60 km/giờ. Xe  PC50 là kiểu P50 cải tiến lại với động cơ đặt vào giữa cho xe được  thăng bằng hơn và có nhún cả ở bánh trước lẫn bánh sau. Cách sử dụng  xe PC50 cũng giản dị như xe Mobylette chỉ cần đạp nổ máy rồi vặn ga  phóng đi.

    Mini Cady 1969
    Mini Cady 1969

    Hãng Motobécane cũng tung ra kiểu xe Cady nhỏ nhắn thích hợp với giới  học sinh. Cái tên Cady có lẽ từ chữ Cadet, cho biết đây là kiểu em út  trong gia đình Motobécane. Tuy cũng dùng động cơ 50 cc nhưng xe chỉ  chạy được tối đa 40km/giờ. Chạy chậm có vẻ là một khuyết điểm của xe  cộ nhưng đây lại là ưu điểm vì nó là lý do để các bậc phụ huynh chọn  mua xe cho con mình để được an tâm hơn. Với khuynh hướng design nhiều  màu sắc vào đầu thập niên 1970, xe Cady lúc đầu sơn nâu, hay xám, về  sau sơn các màu xanh đỏ vàng sặc sỡ. Cùng với sự xuất hiện của mini  jupe, đường phố Sài Gòn thấy xuất hiện xe mini Cady với hai bánh xe  nhỏ trông rất xinh xắn, đồng thời mini xe đạp cũng xuất hiện và các cô  nữ sinh áo dài mini trông trẻ trung, tươi tắn tung tăng trên các loại  xe mini đủ màu sắc.

    Xa lộ Biên Hòa, ngày nay gọi là xa lộ Hà Nội, thời đó còn rất ít xe  nên trở thành đường thử và đua xe gắn máy. Các loại xe gắn được đem ra  chạy hết tốc độ vào giờ ít xe. Tuy không có tạp chí phê bình, điểm các  loại xe gắn máy nhưng ưu khuyết điểm của các loại được truyền miệng  rộng rãi. Các loại xe máy hai thì tuy có thể chạy nhanh nhưng khi chạy  với tốc độ cao nhiều giờ thì máy bị yếu đi, tốc giảm đi. Chỉ trừ có xe  Honda là được khen là càng nóng máy, càng chạy mạnh. Đúng ra chỉ có xe  Honda sau 1965 mới chạy lâu không bị giảm tốc độ vì Honda cải tiến hệ  thống phun nhớt, làm cho nhớt phun rất nhiều khiến cho khi máy nóng  không bị sức ma sát làm giảm tốc độ. Còn các loại  Honda S65, C110,  tuy có thể chạy được đến tốc độ hơn 100km/giờ nhưng khi nóng máy thì  cũng bị chậm lại.

    Để tăng sức mạnh của xe, xi lanh được xoáy cho rộng thêm từ 50 cc  thành ra 60 cc, 70 cc. Xe xoáy xi lanh chạy nhanh hơn, có thể đến hơn  100km/giờ nếu máy được chỉnh cho đúng.

    Một trò chơi đánh cá thời đó của các yêng hùng xe gắn máy, gọi chệch  từ chữ anh hùng vì đua xe là can đảm nhưng không phải là đáng khen, là  lách dưới xe be. Xe be là xe kéo các xúc gỗ dài năm, bẩy mét. Một đầu  khúc gỗ được cột vào xe vận tải phía trước, đầu phía sau gắn vào  remorque sau, còn giữa xe vận tải và remorque sau không có gì ràng  buộc. Chiều cao từ thân cây đến mặt đường chi hơn một mét. Các tay đua  đánh cá xem ai dám lạng chui dưới gầm xe be từ bên này qua bên kia. Vì  khoảng cách thấp nên không thể chạy thẳng đầu mà người lái phải lạng  cho xe nghiêng đi thì mới đủ thấp mà chui qua. Nếu tính sai thời gian,  người lạng có thể bị hai bánh sau chạy tới đụng và cán chết.

    saigon70s
    saigon70s

    Xe gắn máy là phương tiện di chuyển, nhưng cũng là niềm say mê tốc độ  của tuổi trẻ và sự hấp dẫn của màu sắc, kiểu dáng, tiếng nổ. Niềm say  mê này đã ghi vào ký ức của nhiều người miền Nam lúc đó và tồn tại  không phai nhạt với thời gian.

    ovv's 1966-Honda-CB150
    ovv’s 1966-Honda-CB150

    Nó trở thành kỷ niệm đẹp mỗi khi nhớ  lại giây phút dắt chiếc xe mới toanh đi về nhà và những ngày tháng  rong ruổi trên những con ngựa sắt.

     

  • Bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975

    Bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975

    Tìm thấy một Sài Gòn hoa lệ qua những bức ảnh màu cực đẹp hết sức quý giá.

    Những bức ảnh màu mộc mạc gợi nhớ về một đô thị hoa lệ từng đứng bậc nhất Đông Nam Á. Hình ảnh Việt Nam xin giới thiệu bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975.

    Bán cơm trưa cạnh dãy kiosque trên Đại Lộ Nguyễn Huệ 1966
    Bán cơm trưa cạnh dãy kiosque trên Đại Lộ Nguyễn Huệ 1966
    Bùng binh chợ Bến Thành
    Bùng binh chợ Bến Thành
    Các bác tài xế xích lô máy
    Các bác tài xế xích lô máy
    Các em bé Sài Gòn thật hồn nhiên và dễ thương trong cuộc sống tạm bợ, vất vả giữa cuộc chiến.
    Các em bé Sài Gòn thật hồn nhiên và dễ thương trong cuộc sống tạm bợ, vất vả giữa cuộc chiến.
    Cảng Sài Gòn 1965
    Cảng Sài Gòn 1965
    Trang phục Cảnh Sát Giao Thông ngày xưa
    Trang phục Cảnh Sát Giao Thông ngày xưa
    Chợ Cũ trên Đại lộ Hàm Nghi
    Chợ Cũ trên Đại lộ Hàm Nghi
    Chợ Lớn 1965 – góc Đồng Khánh – Phù Đổng Thiên Vương
    Chợ Lớn 1965 – góc Đồng Khánh – Phù Đổng Thiên Vương
    Chợ trời - nơi buôn bán những hàng hóa cũ
    Chợ trời – nơi buôn bán những hàng hóa cũ
    City Hall – Tòa Đô Chánh 1968
    City Hall – Tòa Đô Chánh 1968
    Công Trường Lam Sơn
    Công Trường Lam Sơn
    Đường Đinh Tiên Hoàng, bên trái là ĐH Canh Nông, bên phải là Đài Truyền Hình
    Đường Đinh Tiên Hoàng, bên trái là ĐH Canh Nông, bên phải là Đài Truyền Hình
    Đường Hai Bà Trưng 1968-1969
    Đường Hai Bà Trưng 1968-1969
    Đường lên sân bay Tân Sơn Nhất, nay là đường Trường Sơn
    Đường lên sân bay Tân Sơn Nhất, nay là đường Trường Sơn
    Đường Nguyễn Văn Thinh 1967, nay là Mạc Thị Bưởi.
    Đường Nguyễn Văn Thinh 1967, nay là Mạc Thị Bưởi.
    Đường Phan Châu Trinh, phía bên trái chợ Bến Thành
    Đường Phan Châu Trinh, phía bên trái chợ Bến Thành
    Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ
    Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ
    Góc đường Tự Do – Thái Lập Thành (nay là Đồng Khởi – Đông Du) – 1974
    Góc đường Tự Do – Thái Lập Thành (nay là Đồng Khởi – Đông Du) – 1974
    Góc Hai Bà Trưng – Hiền Vương (Võ Thị Sáu) – 1968
    Góc Hai Bà Trưng – Hiền Vương (Võ Thị Sáu) – 1968
    Góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão
    Góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão
    Kênh Nhiêu Lộc – trên cầu Công Lý nhìn về phía cầu Trương Minh Giảng, toà nhà cao là ĐH Vạn Hạnh
    Kênh Nhiêu Lộc – trên cầu Công Lý nhìn về phía cầu Trương Minh Giảng, toà nhà cao là ĐH Vạn Hạnh
    Khu vực bùng binh gần Thương xá Tax
    Khu vực bùng binh gần Thương xá Tax
    Kiến trúc bên hông chợ Bình Tây
    Kiến trúc bên hông chợ Bình Tây
    Món ăn “chơi” thịnh hành của dân SG từ xưa đến nay: Bò bía
    Món ăn “chơi” thịnh hành của dân SG từ xưa đến nay: Bò bía
    Một bãi giữ xe chật kín chỗ tại khu vực trung tâm thành phố
    Một bãi giữ xe chật kín chỗ tại khu vực trung tâm thành phố
    Mưa Sài Gòn trên đường Tư do (Đồng Khởi) nhìn từ góc khách sạn Continental ngày nay
    Mưa Sài Gòn trên đường Tư do (Đồng Khởi) nhìn từ góc khách sạn Continental ngày nay
    Ngã 7 Lý Thái Tổ
    Ngã 7 Lý Thái Tổ
    Ngã tư Hồng Thập Tự (1966 - 1972) - Pasteur
    Ngã tư Hồng Thập Tự (1966 – 1972) – Pasteur
    Ngã tư Trần Hưng Đạo – Phát Diệm, nay là Trần Đình Xu
    Ngã tư Trần Hưng Đạo – Phát Diệm, nay là Trần Đình Xu
    Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
    Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
    Nhà hàng nổi tiếng Maxim, đường Tự Do
    Nhà hàng nổi tiếng Maxim, đường Tự Do
    Nữ sinh SG thời xưa trong đồng phục áo dài trắng truyền thống
    Nữ sinh SG thời xưa trong đồng phục áo dài trắng truyền thống
    Phương tiện đi lại thịnh hành là xe vespa
    Phương tiện đi lại thịnh hành là xe vespa
    Quán bar khá nổi thời SG xưa_ Nữu Ước, nằm trên đường Hai Bà Trưng
    Quán bar khá nổi thời SG xưa_ Nữu Ước, nằm trên đường Hai Bà Trưng
    Quang cảnh SG nhìn từ khách sạn Metropole
    Quang cảnh SG nhìn từ khách sạn Metropole
    Rạp Casino Dakao, Đinh Tiên Hoàng 1967-1968
    Rạp Casino Dakao, Đinh Tiên Hoàng 1967-1968
    Rạp chiếu phim Rex
    Rạp chiếu phim Rex
    Rạp hát Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương
    Rạp hát Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương
    Sài Gòn đã lên đèn
    Sài Gòn đã lên đèn
    Sân Phan Đình Phùng, hình chụp góc Công Lý – Trần Quý Cáp
    Sân Phan Đình Phùng, hình chụp góc Công Lý – Trần Quý Cáp
    Sạp báo với chủ nhân nằm dài đánh một giấc ngủ trư
    Sạp báo với chủ nhân nằm dài đánh một giấc ngủ trưa
    Sài Gòn về đêm
    Sài Gòn về đêm
    Tòa nhà Quốc Tế, đường Nguyễn Huệ 1969
    Tòa nhà Quốc Tế, đường Nguyễn Huệ 1969
    Trên đường Tự Do, gần góc đường Gia Long. Nhà tường vàng là bộ kinh tế VNCH
    Trên đường Tự Do, gần góc đường Gia Long. Nhà tường vàng là bộ kinh tế VNCH
    Xe lam chạy lên Chợ Lớn
    Xe lam chạy lên Chợ Lớn
    Xe lam Sài Gòn xưa
    Xe lam Sài Gòn xưa
    Xe Velo Solex được sử dụng rộng rãi
    Xe Velo Solex được sử dụng rộng rãi

    Xem thêm: Người đẹp Sài Gòn xưa: Chiếc Solex và tà áo dài 

    Xe xích lô có mặt khắp nơi
    Xe xích lô có mặt khắp nơi

     

  • “Hot Girl” Sài Gòn trước năm 1975

    “Hot Girl” Sài Gòn trước năm 1975

    Khác với nét đài các của thiếu nữ Hà Nội hay vẻ thùy mị thướt tha của con gái Huế, những thiếu nữ Sài Gòn xưa gây ấn tượng bởi vẻ phóng khoáng, tươi trẻ và tự tin.

    Xem thêm: Phong cách thời trang Sài Gòn xưa

    Đi xe đẹp…

    Hình ảnh người đẹp Sài Gòn rất gắn bó với những chiếc xe “thời thượng”. Thời đó, những chiếc Vespa chạy trên đường đông như mắc cửi. Dù xe do người đàn ông cầm lái  nhưng xe chỉ đẹp khi có các cô gái Sài Gòn trẻ trung, duyên dáng ngồi trên yên sau.

    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa
    Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa

    Phụ nữ Sài Gòn xưa thích trải nghiệm cái mới, chiếc xe Velo Solex, loại xe của Pháp có gắn động cơ phía trước cũng rất được chị em ưa chuộng. Ði Solex là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo vì phía đầu xe rất nặng. Ấy thế mà những cô gái Sài Gòn vẫn tha thướt trên chiếc Solex trước những cặp mắt mê mẩn của cánh đàn ông

    Ði Solex là cả một nghệ thuật

    Thích sống vui vẻ, ưa hưởng thụ

    Phụ nữ Sài Gòn xưa rất thích làm ăn buôn bán kiếm tiền, nhưng tiêu tiền cũng rất “phóng tay”, ưa sống xa hoa, ít chịu tiết kiệm. Bởi thế sự phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn những năm 60 trong mắt nhiều người là “dân chơi thứ thiệt”, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu và dù sống trong khó khăn, nghèo khổ nhưng vẫn giữ cho mình những thú vui giải trí hưởng thụ.

    Trên phố, những cô gái dù buổi sáng tất tả bên quầy bán nước giải khát, buổi chiều vẫn cuốn tóc mặc áo dài thoa môi đỏ đi dạo phố. Mẹ dắt bầy con, đứa chạy trước, đứa theo sau, kêu nhau inh ỏi. Họ rất thích mua sắm, trong những cửa hàng, những cô gái ăn mặc đàng hoàng chen lẫn với những người mặc đồ lao động không chút ái ngại, mà trên mặt ai cũng lộ ra vẻ hân hoan hớn hở.

    Phụ nữ Sài Gòn xưa rất thích làm ăn buôn bán kiếm tiền, nhưng tiêu tiền cũng rất “phóng tay”
    Phụ nữ Sài Gòn xưa rất thích làm ăn buôn bán kiếm tiền, nhưng tiêu tiền cũng rất “phóng tay”

    Những năm 60, ngoài những tầng lớp thượng lưu, con gái Sài Gòn thường làm một nghề rất đặc biệt là nghề gánh nước mướn, trở thành một trong số những nghề có chỗ đứng trong xã hội. Lý do vì Sài Gòn những năm 60 chưa có hệ thống nước kéo vào nhà, đồng hồ nước vào thời điểm đó là một trong số những thứ quá xa xỉ. Người dân muốn có nước thì ra các phông – tên đựng nước được lắp sẵn ở những nơi công cộng. Vậy là nảy sinh nhu cầu gánh nước về tận nhà của những gia đình giàu có.

    Trong số những cô gái gánh nước mướn thời đó có hoa khôi chân đất Bùi Thị Ba. Tuy rất vất vả cực nhọc nhưng vẻ đẹp mỹ miều của cô đã lọt vào mắt xanh rất nhiều công tử con nhà giàu. Ngày ấy, ngắm nhìn nàng quẩy đôi gánh nước đi về mỗi ngày đã làm xốn xang trái tim chàng hắc công tử nổi tiếng miền Nam thời đó.

    Hot girl Sài Gòn xưa

     

    Mang nét tinh nghịch, đáng yêu

    Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần, phụ nữ Sài Gòn nói chung và nữ sinh Sài Gòn nói riêng lại cùng nhau đi dạo bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Họ vừa đi, vừa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Vào dịp giáp tết, các trường hay tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ. Lúc đó, mỗi trường đều làm Nội san Xuân, xong đóng tập đem bán gây quỹ tặng các bạn nghèo. Những nữ sinh xinh xắn và có tài ăn nói được chọn để lập những nhóm đi bán nội san ở các trường khác. Khoảnh khắc đó thật đáng nhớ khi đang giữa mùa mát trời Sài Gòn, các cô gái bất ngờ vào lớp với tập báo trên tay và nụ cười rạng rỡ trên môi khiến các nam sinh đứng ngồi không yên.

    Hot girl Sài Gòn xưaHot girl Sài Gòn xưa

    Phong cách thời trang hiện đại

    Khoảng giữa những năm 60, các mốt thời trang khác như jupe hay mini jupe và các thứ váy đầm cập nhật nhanh chóng. Nhiều người nước ngoài bước chân vào “hòn ngọc Viễn Đông” thời bấy giờ đã ngỡ ngàng khi thấy thời trang Sài Gòn theo sau phương Tây chỉ sau một vài tháng. Tuy cập nhật “mốt” rất nhanh, phụ nữ Sài Gòn xưa vẫn tự gạn lọc và tìm cách tạo nét riêng cho mình chứ không thích mặc giống nhau hay na ná nhau.

    Phụ nữ Sài Gòn xưa với phong cách thời thượng
    Phụ nữ Sài Gòn xưa với phong cách thời thượng

    Hot girl Sài Gòn xưa

     

    Áo dài thướt tha cũng là lựa chọn của nhiều phụ nữ Sài Gòn xưa. Theo những lời kể lại, thì dù có vận áo dài hay đồ tây, phụ nữ Sài Gòn cũng đi lại rất nhanh nhẹn, chân bước dài, tay vung nhẹ nhàng, vừa phải. Dáng đi rất nhanh nhưng vẫn giữ được sự thanh thoát, uyển chuyển.

    Hot girl Sài Gòn xưa

    Với áo dài, váy ngắn, tóc thời trang, các thiếu nữ Sài Gòn xưa quyến rũ, đài các ngay trong cuộc sống đời thường.

    Thời trang của họ ảnh hưởng nhiều bởi thời trang Pháp thời bấy giờ. Vẻ đẹp tổng hòa và độc đáo, cởi mở nhưng không hề dễ chinh phục

    Sài Gòn là mảnh đất phóng khoáng, cư tụ nhiều dân cư khắp nơi trên đất nước đổ về làm ăn, sinh sống. Bởi thế vẻ đẹp của các giai nhân trên đất Sài Gòn là vẻ đẹp tổng hợp từ nhiều vùng miền tạo thành, nhưng vẫn có nhiều nét riêng độc đáo.

    Phụ nữ Sài Gòn xưa giản dị nhưng rất thanh lịch, sang trọng. Vẻ đẹp tươi vui, hiện đại và phóng khoáng của Phụ nữ Sài Gòn xưa là vẻ đẹp hình thành từ cuộc sống nhộn nhịp của Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19, cuộc sống luôn bận rộn trên bến dưới thuỵền và nhiều cơ hội làm ăn. Cũng có thể do Sài Gòn không có một mùa lạnh để mà co ro, lặng lẽ hay trầm ngâm trên đuờng đi. Phụ nữ cũng không chịu nhiều lề thói phong kiến nghiêm khắc, cuộc sống bung ra đường cũng khiến họ thoải mái và tự nhiên

    Hot girl Sài Gòn xưa

    Phụ nữ Sài Gòn xưa không mang nét đẹp hoài cổ, đằm thắm, mà có hơi thở của sự tự tin, trẻ trung và thời thượng
    Phụ nữ Sài Gòn xưa không mang nét đẹp hoài cổ, đằm thắm, mà có hơi thở của sự tự tin, trẻ trung và thời thượng

    Nhưng nếu nhìn vào vẻ bề ngoài cởi mở mà đánh giá tính cách phụ nữ Sài Gòn xưa thì rất sai lầm. Phụ nữ Sài Gòn ngày ấy có thể ngồi ăn hàng ngoài đường rất hồn nhiên nhưng cử chỉ không hề suồng sã. Họ cũng có thể ăn mặc thoáng mát với quần short, áo không tay hay váy ngắn nhưng không có nghĩa là chơi bời buông thả. Họ có thể không ngại chạy thử một lọai xe mới, đánh tennis, bơi thuyền thậm chí tham gia một trận đá bóng nhưng không hề cố tỏ mình là “có cá tính” như các “Hot Girl” bây giờ. Họ dễ bắt chuyện nhưng không dễ làm thân, rất cởi mở vui vẻ khi làm quen nhưng không dễ “cưa đổ” như nhiều chàng tưởng bở.

    Nếu những giai nhân Hà thành mang vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, e lệ, đoan trang, với nét duyên thầm thì nhan sắc Sài Gòn đẹp rất đỗi tự nhiên pha chút hoang dại, vừa phóng khoáng lại vừa kiêu sa. Phụ nữ Sài Gòn xưa không mang nét đẹp hoài cổ, đằm thắm, mà có hơi thở của sự tự tin, trẻ trung và thời thượng.

    Thời nay, phụ nữ Sài Gòn vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng, như chính đặc trưng của vùng đất ấm áp mến khách này, họ luôn đẹp một vẻ đẹp thông minh, cá tính và phóng khoáng. Tuy thế, ngắm lại những tà áo dài, những tấm lưng ong, những mái tóc bồng bềnh của một thời nhan sắc Sài Gòn đằm thắm ngày xưa, chúng ta cũng không khỏi một thoáng bồi hồi thương nhớ.

    Nguồn: http://www.saigontrongtoi.com/