Blog

  • Những poster du lịch rất độc đáo ở Đông Dương thời thuộc địa

    Những poster du lịch rất độc đáo ở Đông Dương thời thuộc địa

    Loạt poster du lịch rất sinh động này được in vào những năm 1930-1931 nhằm giới thiệu những nét hấp dẫn của Đông Dương thời thuộc địa.

    Hình ảnh được giới thiệu trên trang Picturethiscollection.com

    Tấm áp phích này khắc họa nét thơ mộng của Huế với những công trình kiến trúc cổ cùng tà áo dài duyên dáng của thiếu nữ xứ Kinh Kỳ.

    Nét hoang sơ của vịnh Hạ Long, kỳ quan số một của xứ Đông Dương thời thuộc địa.

    Khung cảnh đồng bằng sông Hồng hiện lên cùng những cô thôn nữ gánh gạo – sản vật nổi tiếng với chất lượng cao ở vùng đất này.

    Tấm áp phích này thể hiện những nét đặc trưng của xứ Nam Kỳ với những hàng dừa soi bóng bên bến sông.

    Nét đặc sắc của Phnompenh, Campuchia với những điệu múa Khmer, chùa tháp cổ kính cùng những chú voi diễu hành trong mùa lễ hội.

    Một hình ảnh mang tính biểu tượng khác của Campuchia: Ngôi đền Bayon cổ kính.

    Nghi lễ rước tượng đầu năm mới ở Wat Si Saket, một ngôi chùa Phật giáo ở Viêng Chăn, Lào. Được xây dựng vào năm 1818, đây là ngôi chùa cổ nhất còn lại ở Vientiane thời điểm đó.

  • Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Ngày 10/10/1954, Hà Nội như bừng tỉnh trong niềm vui của mọi tầng lớp nhân dân cùng sắc màu tươi thắm của lá cờ độc lập.

    Bầu không khí rộn ràng, phấn khởi ở Hà Nội khi Việt Minh tiếp quản ngày 10/10/1954 đã được phóng viên ảnh của tạp chí Life ghi lại đầy chân thực.

    Ngày 10/10/1954, bên cạnh hình ảnh hùng tráng của những đoàn quân giải phóng Thủ đô, phóng viên Life đã ghi lại nhiều khoảnh khắc bình dị của Hà Nội….

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Khung cảnh bên bờ hồ Trúc Bạch.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Người Hà Nội ngồi uống nước bên hồ Trúc Bạch.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Những người Pháp ngồi uống cà phê trên tầng 2 của một hiệu vải ở phố Hàng Đào, Hà Nội ngày 10/10/1954.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Quầy giải khát trên đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) với hồ Trúc Bạch và tháp chuông nhà thờ Cửa Bắc ở hậu cảnh.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một bà sơ người Pháp chơi đùa với trẻ em tại nhà thờ Lớn Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một phụ nữ Pháp di dạo bên bờ hồ Hoàn Kiếm, người hầu nữ Việt Nam dắt chó đi theo.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Bà đầm người Pháp chụp hình kỷ niệm ở phố Tràng Tiền trước khi phải rời khỏi Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Nhà thờ Lớn Hà Nội sáng 10/10/1954 vẫn diễn ra thánh lễ.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Những người đạp xích lô chờ khách bước ra từ nhà thờ.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Khoảng sân trước nhà thờ lớn nhìn tầng gác của một tháp chuông.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một cậu bé Hà Nội câu cá ở giếng Thiên Quang trong khu du tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Khuê Văn Các trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trẻ em học vẽ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Khung cảnh vắng lặng của phố Cầu Gỗ sáng sớm ngày 10/10/1954.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Toàn cảnh khu vực diễn ra lễ hạ cờ của quân Pháp ở thành Hà Nội trước khi lực lượng Việt Minh tiếp quản Thủ đô, tháng 10/1954. Góc bên phải bức ảnh là cột cờ Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Nghi lễ này là một biểu tượng đánh dấu sự chấm hết cho ách thống trị của thực dân Pháp ở Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Các binh sĩ giơ tay chào khi lá cờ của Pháp được hạ xuống.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Lá cờ bắt đầu được gỡ…

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    …Và cuốn lại trong sự câm lặng của những người lính Pháp đang có mặt tại nơi đây.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Lính Pháp chuẩn bị rút khỏi Hà Nội trước khi quân đội Việt Minh tiến vào.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Lính Pháp rút khói Hà Nội qua đường cầu Long Biên.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một nhóm lính di chuyển trên cầu Long Biên.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trái với khung cảnh náo nhiệt nơi Việt Minh tiến vào, người Pháp rời khỏi Hà Nội trong yên lặng.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Tốp lính Pháp di chuyển qua một góc phố tuyệt đẹp của Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Lính Pháp trên một xe quân sự quay đầu lại nhìn đoàn quân Việt Minh đang tiến vào thành phố.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Quân Pháp ở Gia Lâm.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Phụ nữ Hà Nội cầm cờ đỏ sao vàng đứng trên đường tàu điện Ngã Tư Sở chào đón bộ đội Việt Minh về tiếp quản Thủ đô.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Dân chúng tụ họp bên bờ hồ Gươm chờ đợi đoàn quân tiếp quản Thủ đô.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Các chiến sĩ Việt Minh tiến vào thành phố dưới cơn mưa mùa thu lất phất.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Đoàn quân chiến thắng đi qua rạp Đại Nam ở phố Huế .

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Đoàn quân chiến thắng đi qua rạp Đại Nam ở phố Huế .

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Sự hào hứng của trẻ em Hà Nội trong ngày Thủ đô được giải phóng.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trẻ em trên phố Hàng Bạc cầm cờ vẫy chào bộ đội Việt Minh.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trẻ em ở Ngã Tư Sở.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Cở đỏ sao vàng được cắm trên Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ở Hà Nội – cơ quan đầu não của thực dân Pháp trên toàn miền Bắc.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Các chiến sĩ Việt Minh biểu lộ niềm vui sau khi tiếp quản Phủ Thống sứ.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Đội quân tiếp quản Thủ đô tập trung tại khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Chiếc xe của báo Dân Mới, cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh liên tỉnh Thanh – Nghệ Tĩnh tham gia vào ngày vui ở Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Vẻ hân hoan của người dân Hà Nội vào ngày được giải phóng khỏi ách thực dân Pháp.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một hiệu may ở Hà Nội khẩn trương may những lá cờ đỏ sao vàng để chào đón chính quyền mới.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Đoàn quân Giải phóng bước qua bờ hồ Hoàn Kiếm trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trút gánh nặng trên vai sau một cuộc hành quân dài, các chiến sĩ thể hiện niềm vui chiến thắng.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Hàng trăm người tập trung ở Ngã Tư Sở để hát vang những khúc ca yêu nước.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trẻ em cũng rất hào hứng ca hát.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Người dân đứng bên đường nhìn quân Pháp rút khỏi Hà Nội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một đoàn xe đi qua dãy phố chật kín người.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Trẻ em trên phố Huế tò mò ngắm nhìn các chú bộ đội.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Người dân tụ họp bên một ngôi nhà treo biểu ngữ “Hòa bình vạn tuế”.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Người dân tụ họp bên một ngôi nhà treo biểu ngữ “Hòa bình vạn tuế”.

    Ảnh toàn cảnh ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội 10/10/1954

    Một xe tải chợ bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội.

  • Ảnh hiếm về 36 Phố phường Hà Nội hơn 100 năm trước!

    Ảnh hiếm về 36 Phố phường Hà Nội hơn 100 năm trước!

    Phố Hàng Mắm chỉ bán mắm, cá khô còn Hàng Đường bán nhiều bánh mứt kẹo giống như hiện nay.

    36 phố phường là cụm từ chỉ khu phố buôn bán của Hà Nội hình thành từ hơn 1.000 năm trước và biến đổi mạnh vào đầu thế kỷ 20. Trong ảnh là phố Hàng Mắm xưa. Đó vốn là con đường dân vạn chài gánh các loại mắm từ bên sông Hồng vào phố Hàng Bạc và tỏa đi bán trong khu 36 phố phường. Do mặt hàng này tỏa mùi khó chịu nên sau này, những người gánh dừng lại bán cố định và hình thành nên con phố chuyên bán loại đặc sản này. Trước năm 1900, phố Hàng Mắm chỉ gồm các cửa hàng bán mắm, đồ ướp và cá khô. Đến những năm 1930, nơi đây xuất hiện thêm các cửa hàng bán vại sành, tiểu sành, bia đá, đá mài… Ngày nay, người bán mắm đã chuyển hết vào chợ Hàng Bè, phố Hàng Mắm giữ nguyên tên nhưng chỉ còn những cửa hàng bán mặt hàng sành đá.

    Trục đường quan trọng nhất đối với hoạt động thương mại của khu 36 phố phường Hà Nội là đường kè bờ sông, ngày nay là đường Yên Phụ – Trần Nhật Duật – Trần Quang Khải. Một bên đường là các cửa ngõ đi vào khu buôn bán, một bên là sông Hồng luôn đông đúc tàu bè chở hàng từ khắp nơi đổ về. Người Pháp từ khi mới sang đã nhận thấy tầm quan trọng của con đường nên cho xây dựng rất hoành tráng, lấy tên là Đường kè Thương mại (Quai Du Commerce). Đường chạy qua cả ga tàu hỏa đầu cầu Long Biên và bến xe ôtô ở Bến Nứa tại vị trí bến xe buýt Long Biên ngày nay. Sau trận lụt lớn năm 1926, chính quyền mới đắp con đê khiến con đường này bị ngăn cách với sông Hồng.

    Khu 36 phố phường còn có tên gọi nôm là “Kẻ Chợ” – cách gọi những nơi tập trung buôn bán ở thời kỳ phong kiến. Đến những năm 1990, cách gọi “Phố cổ Hà Nội” mới dần phổ biến. Trong ảnh là phố Hàng Chiếu, còn được gọi là Đông Hà. Sách Đại Nam Nhất thống chí chép: “Phố Đông Hà bán chiếu trơn”. Nó giống như một đồn lũy hơn là một khu dân cư hay thương mại. Người Hà Nội còn gọi phố này là Phố Mới do nhà cửa đều được xây mới sau trận hỏa hoạn năm 1888. Hàng Chiếu nằm giữa Đồng Xuân và bến sông Hồng nên luôn luôn sầm uất.

    Toàn cảnh phố Chợ Gạo xưa. Gạo là nông phẩm quan trọng nhất mà người nông dân sản xuất và cũng đáp ứng như cầu thiết yếu của toàn xã hội. Buôn bán gạo do đó cũng trở nên sầm uất nhất ở một đô thị đang phát triển như Hà Nội đầu thế kỷ 20. Xưa kia gạo được vận chuyển chủ yếu bằng đường sông, vì thế chợ buôn bán gạo được đặt sát bờ sông, ngay giữa sông Hồng và chợ Đồng Xuân đoạn qua Ô Quan Chưởng.

    Hàng Bồ xưa tập trung nhiều cửa hàng của người Việt, người Hoa và cả các hãng của Anh, Mỹ và Nhật. Tên gọi Hàng Bồ xuất phát từ việc đây là nơi bán những chiếc bồ bằng mây tre đan. Trên con phố này một thời còn bán các loại tranh Tàu treo ngày Tết và các loại học phẩm. Đây cũng là chốn các ông đồ già Tết đến, trải chiếu ngồi viết chữ thuê.

    Thôn Cổ Vũ ở Hà Vĩ (Thường Tín, Hà Đông) có nghề làm đồ gỗ sơn đã lên lập nghiệp ở khu 36 phố phường Hà Nội và hình thành nên phố Hàng Hòm. Nay dấu tích ngôi đền thờ tổ nghề gỗ sơn vẫn nằm trong phố. Xưa kia, hàng năm người dân phố Hàng Hòm vẫn giữ ngày giỗ tổ nghề trùng với lễ hội ở làng quê Hà Vĩ. Nhà cửa trên phố Hàng Hòm vốn đồng dạng với những phố cổ xung quanh, nhưng trong 60 ngày đêm chiến sự cuối năm 1946 đầu 1947, nhà cửa gần như bị phá hủy hoàn toàn, sau đó mới được xây dựng lại.

    Phố Hàng Bè xưa nằm sát sông Hồng, vốn là nơi bán các bè gỗ và vật liệu làm nhà. Mặt hàng buôn bán ở đây ngày càng mở rộng sang các loại lâm thổ sản từ miền ngược đưa xuống và hải sản từ miền biển chuyển vào, khi bờ hữu ngạn dần mở rộng so sông bồi cát. Ngày nay, Hàng Bè vẫn là khu chợ nhộn nhịp, nổi tiếng là “chợ nhà giàu” của Phố cổ Hà Nội.

    Phố Hàng Trống ban đầu kéo dài suốt từ đầu Hàng Gai đến tận Tràng Thi, bao gồm cả một đoạn nhìn ra hồ Gươm (song song Hàng Khay bây giờ). Phố Hàng Trống như một hành lang nối khu phố cổ với không gian hồ Gươm và gắn với khu trung tâm thương mại của người Âu ở phố Tràng Tiền. Trên phố có nhiều khách sạn, cửa hàng và một số nghề mà thợ khéo từ các nơi tìm đến lập nghiệp như nghề thêu, nghề khảm và đặc biệt là nghề vẽ tranh mang thương hiệu Hàng Trống.

    Phố Lò Rèn trước kia là thôn Tân Khai, hình thành từ những người làm nghề sửa chữa nông cụ bằng sắt, gốc làng Canh (Hòe Thị, Từ Liêm) tụ về. Khi sông Tô Lịch chạy qua nơi đây bị lấp, đất làng biến thành phố xá, cư dân đông dần, có cả người làng Hà Từ (Sơn Tây) lên mở lò. Có thời phố còn được gọi là Hàng Bừa vì bán nhiều răng bừa. Khi cầu Long Biên xây dựng, vật liệu cũng như công nghệ chế tác sắt thép được phổ biến, việc tán đinh bu lông đào tạo được nhiều nhân lực bản địa nên nghề rèn phát đạt. Sau này, các công trình xây dựng bắt đầu sử dụng nhiều sắt thép kéo theo cả nghề rèn và nghề buôn vật liệu, vật dụng sắt thép phát triển. Vì thế những phố kế cận với phố Lò Rèn cũng có nhiều nhà mở cửa hàng buôn bán đồ sắt.

    Khu 36 phố phường có một con phố ngắn gọi là Hàng Thiếc. Thiếc ở đây được dùng để đúc một số vật dụng như chân đèn, cây nến, lư hương… nhưng chủ yếu vẫn để làm chất liệu hàn ghép các đồ làm bằng kim loại khác. Các cửa hàng ở đây còn sử dụng nhiều phế liệu, chủ yếu là thùng đựng dầu hỏa, để làm thành các vật dụng như chậu, thùng gánh nước… Ở đây còn làm các loại đồ chơi có thể cử động như thỏ đánh trống, con bướm vỗ cánh, tàu thủy chạy bấc dầu hỏa…

    Hàng Đường là cái tên có từ trong ca dao xưa. Phố có nhiều cửa hàng mứt kẹo có tiếng và đặc biệt sầm uất vào những ngày giáp Tết Trung Thu hay Tết Nguyên đán. Ngoài đồ ngọt, Hàng Đường còn có nhiều cửa hàng vải vóc của Ấn kiều và cửa hàng tạp hóa của người Hoa.

    Phố Hàng Khay nằm ở bờ Nam của hồ Gươm. Khay là món đồ gỗ dùng bày đặt ấm chén uống trà, uống rượu hay những đồ vật gì cần sự sang trọng. Nó đẹp nhờ tài khéo của người thợ khảm trai hay ốc lên mặt gỗ. Làng nghề thợ khảm khay vốn tập trung trên đất bị Tây lấy làm đường Paul Bert (Tràng Tiền). Đoạn đường ngắn này một thời còn gây ấn tượng bởi các cô gái từ làng hoa Ngọc Hà ngồi thành dãy bên phía bờ hồ Gươm.

    Nhắc đến khu 36 phố phường Hà Nội không thể không nhắc đến hồ Gươm – Hồ Hoàn Kiếm. Xưa hồ Gươm có tên là “Lục Thủy” gợi lên màu sắc của hồ nước nằm ngay sát phía Nam 36 phố phường Thăn Long xưa.

    Tư liệu: Thành phố Toulouse (Pháp) – Ban quản lý Phố cổ Hà Nội

    Theo VNE

  • Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa
    Nhiều hình ảnh đẹp và quý giá về Hải Phòng cách đây một thế kỷ đã được giới thiệu trên trang Belle Indochine của Pháp.

     

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Một binh sĩ Pháp ngồi trên xe kéo ở Hải Phòng

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Toàn cảnh Hải Phòng nhìn từ không trung năm 1931.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Toàn cảnh Hải Phòng nhìn từ không trung năm 1931.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Cảng Hải Phòng nhộn nhịp.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Một góc nhìn khác về cảng Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Dòng sông Tam Bạc.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Những con tàu lớn cập cảng Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Phố Paul Bert, nay là phố Điện Biên Phủ.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Sông Tam Bạc năm 1913.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Hải Phòng một thế kỷ trước nhìn từ trên cao.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Nhà máy xi măng Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Nhà máy xi măng Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Khu phố của người Hoa ở Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Bến thuyền Tam Bạc.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Cảng Hải Phòng nhìn từ không trung.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Chiến hạm Dunkerque của Pháp trên cảng Hải Phòng thập niên 1930.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Kho xăng dầu ở Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Tuần dương hạm La Motte Picquet ở cảng Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Trụ sở của phòng thương mại Hải Phòng.

    Ảnh quý giá về Hải Phòng thời thuộc địa

    Tòa thị chính Hải Phòng.
  • Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900
    Những hình ảnh dưới đây được giới thiệu trong một ấn phẩm có tiêu đề “Bắc Bộ 1900” (Le Tonkin eu 1900) được xuất bản nhân triển lãm thế giới tại Paris, Pháp vào năm 1900.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Người cửu vạn đẩy xe cút kít chở gạo.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Xe kéo tay là phương tiện kiếm cơm của rất nhiều người dân nghèo thời thuộc địa.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Một quầy hàng bán đồ gốm.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề lấy ráy tai dạo.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Cậu bé bán khoai.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Chở lợn bằng xe cút kít.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Cụ ông bán chiếu cói.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Sản xuất và bày bán dép ngay tại chỗ.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Sản xuất đồ gia dụng bằng tre.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề làm ô lọng.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Những người cửu vạn lúc rỗi việc.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề khảm trai mỹ nghệ.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Một nghệ nhân thêu cờ phướn.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Những tấm da đang được căng tại một xưởng thuộc da trâu bò.

    Theo KIẾN THỨC / BELLE INDOCHINE

  • Ảnh đời thường phụ nữ “ba đảm đang” thời bao cấp

    Ảnh đời thường phụ nữ “ba đảm đang” thời bao cấp

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Có những bộ sưu tập ảnh đáng quý về nếp sống đời thường ở Hà Nội, Việt Nam đã truyền bá cho vẻ đẹp con người và cảnh sắc, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển và hiểu về con người trong quá khứ nhất là với chị em phụ nữ Hà Nội, Việt Nam.

     

    Bộ ảnh thú vị của Nhiếp ảnh gia John Vink chụp HN năm 1990

     

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bán xổ số ở khu phố cổ Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Cô giáo dẫn các em học sinh qua đường ở Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Các nữ công nhân trong nhà máy sản xuất xe đạp.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Miệt mài chăm chút sản phẩm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Miệt mài chăm chút sản phẩm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Người bán hoa quả rong.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Buổi diễn tập trong rạp xiếc
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Trường xiếc ở Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Múa truyền thống
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Múa truyền thống

     

     

    Những ngày tháng lịch sử năm 1979, nhiếp ảnh gia Thomas Billhardt đã chụp lại những bức ảnh về không khí chiến đấu và sinh hoạt của người dân Việt Nam

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Các nữ quân nhân tham gia cuộc mít-tinh.

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Tập quân sự ngay trên đường phố.

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Hai em bé được mẹ chở bằng xe đạp trên phố.

     

     

    Nhiếp ảnh gia Đức Hans-Peter Grumpe thực hiện ở 20 tỉnh thành thuộc cả 3 miền Việt Nam từ năm 1991 – 1993

     

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bếp điện được bày bán la liệt trên vỉa hè cùng nhiều vật dụng gia đình khác.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Một cửa hàng bán đồ điện.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Cửa hàng này bán đủ loại thuốc lá, từ hàng nội cho đến hàng ngoại.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bánh, mứt, kẹo các loại là mặt hàng chính của nhiều cửa hàng trên phố Hàng Buồm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bia 333 (bên trái) và những hộp bánh hình tròn (giữa ảnh) là những hàng hóa quen thuộc vẫn còn được bán cho đến ngày nay

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Những người bán hàng đếm tiền sau một ngày buôn bán.

  • Sông Tô Lịch xưa

    Sông Tô Lịch xưa

    Sông Tô Lịch là một con sông nhỏ, chảy trong địa phận thủ đô Hà Nội. Dòng chính sông Tô Lịch khi chảy qua các quận huyện: Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì còn được gọi là Kim Giang. Sông Tô Lịch là một đường bao của kinh đô Thăng Long xưa, nó là một cạnh của tứ giác nước Thăng Long.

    “Tứ giác nước” của Giáo sư Trần Quốc Vượng

    Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La.

    Họa đồ thành Thăng Long thời Lê với sông Nhị chảy ở phía đông, tháp Báo Thiên ở giữa, vương phủ chúa Trịnh chếch ở phía nam tháp, hồ Tây ở phía bắc và thành Thăng Long gồm hai vòng lũy nằm giữa hồ Tây và tháp Báo Thiên

    Bản đồ Thăng Long theo Hồng Đức Địa Dư, năm 1490.

    Bản đồ Hà Nội cuối thế kỷ 19 trong Đồng Khánh Địa Dư Chí.

    Bản đồ thời Lê Vẽ năm Gia Long thứ 9 (1810), Nhị Hà(sông Hồng) số 33, Ngòi Tô Lịch số 35

    Bản đồ năm 1873

    Tô Lịch vốn từng là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ thượng lưu ở sông Hồng sang sông Nhuệ. Đến đoạn trung lưu, nó gặp hồ Tây (là dấu tích của đoạn sông Hồng cũ, nằm cạnh Quán Thánh) và một phần nước từ hồ Tây được cung cấp cho đoạn sông từ đó đến hạ lưu. Sách Đại Nam nhất thống chí (soạn giữa thế kỷ 19) đã viết[1]:

    Bến cảng nằm ở nơi hợp lưu của sông Tô Lịch và sông Hồng. Cửa ô ngoài cùng bìa phải là vị trí Ô Quan Chưởng (phố Hàng Chiếu) ngày nay.

    Cảnh họp chợ ở bến sông.

    Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành (Hà Nội) là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương (cửa sông xưa nằm ở vị trí phố Cầu Gỗ quận Hoàn Kiếm) chuyển sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ.

    Bản đồ Hà Nội năm 1873 của nhà địa lý Frederic Romanet du Caillaud.

    Một tấm bản đồ khác của Hà Nội năm 1873.

    Bản đồ khu vực trung tâm Hà Nội năm 1873 do người Pháp ban hành.

    Bản đồ Hà Nội năm 1890.

    Thuyền trên dòng sông Hồng, một phương tiện đường thủy quan trọng cho sự phát triển Thăng Long-Hà Nội

    Phong cảnh tượng trưng trên dòng sông Hồng gần Hà Nội

    Một kiểu làng người Việt dọc theo bờ sông Hồng

    Điện Long Thiên chuyển thành trạm lính phòng thủ (1884 – 86). Ảnh- Hocquard. Lúc này dòng sông Tô vẫn còn trong mát uốn lượn quanh Hà Nội và khu vực đầu sông vẫn nổi tiếng trên bến đươi thuyền.

    Cửa Bắc thành Hà Nội, nhìn từ phía ngoài, cảnh sắc đã hoang tàn sau khi thành Hà Nội thất thủ và quân Pháp chiếm đóng.

    Cầu Giấy gần Hà Nội), nơi ghi dấu những trận giao tranh quân Pháp với quân người Việt, quân Tàu (quân Cờ Đen).

    Dẫn trâu đi ra sông, một cảnh que thuộc của làng quê ven sông, hồ vùng đồng bằng Bắc Bộ.

    Vùng lân cận Hà Nội – Sông Tô Lịch

    Làng làm nghề giấy cũng nhiều làng nghề khác đòi hỏi dòng nước chảy Tô Lịch gần Hà Nội

    Phong cảnh làng bên bờ Hồ Tây và dòng sông Tô Lịch chảy qua.

    Bản đồ Hà Nội năm 1898, lúc này thành Hà Nội đã bị phá hủy chỉ còn một số di tích trong đó có cột cờ và Cửa Bắc, nhiều nơi đã bị san lấp để phát triển đô thị theo kiểu Châu Âu trong đó có nhiều đoạn sông Tô Lịch

    Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ bởi tự thân là một cái chợ lớn đáp ứng nhu cầu một thời là kinh đô của những vùng xung quanh. lúc đó giao thông luồng lạch rất quan trọng, nhưng khi đô thị phát triển theo kiểu Châu Âu đã cho lấp dần các ao hồ , ngòi lạch trong khu người Việt (khu phía Đông thành), trong bức ảnh này tại khu chợ Đồng Xuân mới hình thành cho thấy cửa sông vẫn còn dấu tích của bến bãi sông nước một thời.

    Trong bộ sưu tập ảnh của ông, có thể đây là những tấm ảnh cuối cùng cho thấy kiến trúc thành còn khá nguyên vẹn. Việc quy hoạch hoàng thành mới được triển khai, thể hiện ở việc trồng cây xanh và làm đường ở khu vực cột cờ Hà Nội.

    Con phố mang tên “Rue de France – Nước Pháp” từ bờ sông Hồng đi thẳng vào trung tâm hồ Hoàn Kiếm, tạo nên một con đường mới và sầm uất nhất: Đường Paul Bert, nay là Tràng Tiền.

    Con đường đầu tiên mở mang không gian thành phố về phía nam hồ Hoàn Kiếm mang tên vị vua đã ký nhượng Hà Nội cho Pháp – Đồng Khánh – nay chính là phố Hàng Bài.

    Đoạn sông bị lấp: Đoạn sông từ Cầu Gỗ đến Bưởi, nay đã bị lấp, chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê (nằm ở mặt sau của tòa chung cư Golden West Lake và một khu dân cư nhỏ ở gần chợ Tam Đa). Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ bên cạnh phố Cầu Gỗ ngược lên phía Tây Bắc (cống chéo) tới Hàng Lược, men theo phía dưới đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đầu đường Bưởi nằm ở phía Nam Hoàng Quốc Việt (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay). Đoạn sông còn lộ thiên ở Thụy Khuê đó còn được gọi là mương Thụy Khuê, nối từ cống Đõ (ở đầu dốc Lafore), chạy tới cống ngầm dưới lòng chợ Bưởi rồi đổ ra sông Tô Lịch ngày nay. Đoạn mương đó đã được thông báo về dự án cống hóa từ cuối năm 2005, dự kiến khởi công vào quý I-2006 nhưng hiện nay vẫn đang bị bỏ dở, khiến người dân sống gần đó đang phải sống trong môi trường nước thải ô nhiễm

    Nghề giấy làng Yên Thái – Những nghề gây ô nhiễm và đòi hỏi có dòng sông chảy qua.

    Nghề đúc đồng làng Ngũ Xá bên hồ Tây. Những ngưòi phụ nữ đang thực hiện công đoạn chế tạo loại khuôn mẫu từ đất sét – Những nghề gây ô nhiễm và đòi hỏi có dòng sông chảy qua.

    Những ngôi làng ven sông cùng với công trình tín ngưỡng cạnh cái ao và ven sông, một cấu trúc điển hình làng dọc sông Hồng và sông Tô Lịch-Ảnh chụp năm 1950

    Ảnh chụp năm 1950 cho thấy những dải sông uốn lượn khi đó các con sông Hà Nội giao nhau còn nhiều ở vùng ven và chưa bị ô nhiễm như ngày nay.

    Có thể nói sự phát triển của làng nghề không chỉ có vai trò nâng cao mức sống mà còn là dấu ấn truyền thống văn hoá dân tộc tại mỗi thời kỳ. Làng nghề thủ công ở Hà Nội có rất nhiều nguồn gốc khác nhau, những làng nghề có sẵn chiếm phần nhỏ trong tổng số làng nghề. Ða phần đều được di dời từ nơi khác về nhưng trong đó ven sông Hồng, sông Tô Lịch đã để lại nhứng làng nghề nổi tiếng…

    Các làng nghề chủ yếu ở Hà Nội như: làng đồ vàng bạc – kim hoàn, làng gốm Bát Tràng, làng đúc đồng Ngũ Xã, làng giấy Yên Thái, những làng hoa, làng vải Ninh Hiệp, làng lụa Vạn Phúc…

    Hà Nội trước kia đã nổi tiếng với những làng nghề phong phú, thể hiện qua câu thành ngữ quen thuộc “Hà Nội 36 phố phường”. Theo thời gian, bộ mặt đô thị của khu phố cổ đã nhiều thay đổi, cuộc sống và làng nghề cũng đổi thay, dòng sông Tô đã dần dần biến mất cảnh xưa…, không còn đóng vai trò quan trọng trong giao thương, giao thông tại Thăng Long-Hà Nội như trước đây nữa.

    Bản đồ Hà Nội ngày nay đánh dấu dòng sông Tô Lịch bị lấp

    Đoạn sông ngày nay: Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ phường Nghĩa Đô thuộc quận Cầu Giấy (phía nam đường Hoàng Quốc Việt), chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng và đường Kim Giang về phía Nam, Tây Nam rồi ngoặt sang phía Đông Nam và đổ ra sông Nhuệ ở đối diện làng Hữu Từ thuộc xã Hữu Hòa, Thanh Trì.

     

    (1) Ngô Văn Phú (31/05/2009, 13:05 GMT +7). “Tre xanh trong lòng Hà Nội”. Đại Nam nhất thống chí, NXB Khoa học Xã hội, 1971, tập III, trang 177 (bằng Tiếng Việt) (Báo An ninh thủ đô)

    Theo Wikipedia

  • Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ nữ người Chăm, thiếu nữ Giáy, đàn ông Lào… là những bức chân dung đặc sắc về các dân tộc ở Đông Dương trước thập niên 1930. Các vũ công Lào, nét duyên phụ nữ Ê Đê… là hình ảnh khó quên về các cô gái dân tộc thiểu số Đông Dương 80 năm trước.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Cụ ông người dân tộc Kinh ở Hà Đông. Hình ảnh được giới thiệu trong một ấn phẩm về các dân tộc ở Đông Dương, xuất bản ở Pháp năm 1931, được đăng tải lại trên trang Belleindochine.free.fr.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Cốc.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tiền.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tả Pán.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Xê Đăng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Giáy.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Thái Trắng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Thái Trắng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới và phụ nữ Thái Đen.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ công người Lào.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một người Hoa trong trang phục sân khấu.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Các vũ công người Chăm.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Chăm.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Mường ở Thanh Hóa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Hai người đàn ông Ê Đê ở Buôn Ma Thuột. Hình ảnh được giới thiệu trong một ấn phẩm về các dân tộc ở Đông Dương, xuất bản ở Pháp năm 1931, được đăng tải lại trên trang Belleindochine.free.fr.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Ê Đê (trái) và phụ nữ Gia Rai (phải).

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Người Châu Mạ

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vị trưởng bản người Châu Mạ.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Các vũ công Lào ở Viêng Chăn.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ công người dân tộc Lủ.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Thái ở Sầm Nưa, Lào

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một nhóm phụ nữ Thái ở Sầm Nưa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một nhóm phụ nữ Thái ở Sầm Nưa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới dân tộc H’Mông.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới dân tộc H’Mông.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tiền.

  • Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?

    Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?

    Trong bài “Kính gửi ông Tạ Đức và ông Nguyễn Dư” đăng trên Văn hóa Nghệ An, tác giả Phan Lan Hoa có viết: “Thiết nghĩ, khi mà sử sách, địa danh và di chỉ chứng tích đã trùng khớp, cớ sao lại có người còn muốn đẩy đưa thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa là vì cớ chi? (Đoạn này, xin được gửi cả đến ông Hà Văn Thùy, người khẳng định Kinh Dương Vương và nước Xích Quỷ ở bên Trung Hoa?).”*

    Từ lâu, tôi tâm niệm sẽ làm một khảo cứu nghiêm túc xác định nơi sinh thành của thủy tổ người Việt nhưng vì chưa đủ duyên nên chưa thành. Nay nhân có người “đòi”, xin được trả món nợ.

    Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn!

    Tranh vẽ thúc xăm mình của người Việt Cổ
    Tranh vẽ thúc xăm mình của người Việt Cổ

    Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?

    I. Khởi đầu từ lịch sử

    Rất nhiều người tin rằng nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Nhưng nếu hỏi: từ đâu có con số đó thì không ai trả lời được! Con số ấy tồn tại như một niềm tin, như cái mốc “quy ước” mà người Việt bám vào để tạo dựng cội nguồn. Dẫu biết rằng niềm tin không đủ làm nên lịch sử thì cũng không ai nỡ cật vấn cái niềm tin ấy! Bởi lẽ, sau cật vấn là sự sụp đổ! Rồi cả Đế Minh cháu ba đời Thần Nông nữa, lấy gì làm chắc? Mà sao người Trung Hoa cũng tự nhận là con cháu Thần Nông? Những hoài nghi ấy, nếu không hóa giải được thì mọi chuyện bàn về tổ tiên chỉ là câu chuyện phiếm! Vì vậy, muốn tìm chính xác tổ tiên, cần phải đi xa hơn cái cột mốc 2879. May mắn là sang thế kỷ này, khoa học thực sự giúp soi sáng cội nguồn.

    Thưa rằng, không phải chỉ từ những mẩu xương và những hòn đá – hiện vật khảo cổ – mà chính từ vết tích được lưu giữ trong máu của toàn dân châu Á, một nhóm nhà khoa học gốc Hán của nhiều đại học nước Mỹ, vào năm 1998 phát hiện rằng: 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân tới nước ta. Sau khi chung sống 30.000 năm trên đất Việt Nam, người Việt đã đi lên khai phá Trung Hoa. Từ Hòa Bình, tổ tiên chúng ta mang chiếc rìu, chiếc việt đá mới lên nam Dương Tử và gọi mình bằng danh xưng đầy tự hào NGƯỜI VIỆT với tư cách chủ nhân chiếc việt đá mới, công cụ ưu việt của loài người thời đó(Việt bộ Qua –).20.000 năm trước, tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây, tổ tiên chúng ta làm ra đồ gốm sớm nhất thế giới và 12400 năm cách nay trồng ra hạt lúa đầu tiên của loài người. Lúc này tổ tiên ta tự gọi mình là NGƯỜI VIỆT, chủ nhân cây lúa(Việt bộ Mễ –)!Rồi từ đây, người Việt mang cây lúa, cây kê, con gà, con chó làm nên văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước, văn hóa Hà Mẫu Độ 7000 năm trước… Theo đà Bắc tiến, người Việt vượt Dương Tử lên lưu vực Hoàng Hà, xây dựng nền nông nghiệp trồng kê trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tại đây, người Việt hòa huyết với người sống du mục trên đồng cỏ bờ Bắc, sinh ra chủng người Việt mới, sau này được khoa học gọi là chủng Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều suốt từ Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc. Một con sông dài 1500 km từ Thiểm Tây tới Hà Nam, đổ vào Dương Tử ở Vũ Hán, được đặt tên là sông Nguồn. Cùng với chi lưu của nó là Sông Đen, tạo nên đồng bằng Trong Nguồn, là trung tâm lớn của người Việt, nối với Thái Sơn. Đấy là nơi phát tích của người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam.

    Vào khoảng 4000 năm TCN, người Việt chiếm hơn 60% nhân số thế giới và xây dựng ở Đông Á nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Để có được thành quả như vậy, người Việt phải chung lưng đấu cật trị thủy hai dòng sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử. Từ những dấu vết mong manh trong truyền thuyết, ta nhận ra, thời gian này người Việt luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lăng của người du mục phương Bắc. Trong điều kiện như vậy, những thị tộc phải liên minh với nhau, vừa để trị thủy vừa chống trả quân xâm lăng. Cuộc liên minh dưới sự lãnh đạo của những thị tộc lớn mạnh do những vị anh hùng bán thần dẫn dắt. Một cách tự nhiên nhà nước nguyên thủy ra đời. Đó là nhà nước phương Đông, khác với nhà nước theo định nghĩa kinh điển phương Tây, sản sinh từ chiếm hữu nô lệ và thặng dư lương thực. Điều kiện cho nhà nước nguyên thủy phương Đông ra đời càng thuận lợi hơn khi toàn bộ dân cư khu vực lúc đó cùng cội nguồn, văn hóa và tiếng nói. Kinh Dịch viết “Phục Hy thị một, Thần Nông thị xuất” chính là mô tả thời kỳ này. Truyền thuyết cho hay, vua thần Phục Hy xuất hiện khoảng 4000 năm TCN. Tiếp theo là Thần Nông khoảng 3080 năm TCN. Truyền thuyết nói Đế Minh, cháu đời thứ ba của Thần Nông, chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương, lập nước Xích Quỷ năm 2879 TCN… Trong bối cảnh như vậy, ta thấy, dù không biết xuất xứ từ đâu nhưng cái mốc thời gian ra đời nước Xích Quỷ là hợp lý. Một câu hỏi cần được nêu ra: phải chăng có điều gì đó sâu thẳm trong ký ức mà tổ tiên ta ghi nhớ được một cách tường minh? Từ nhiều tư liệu, có thể suy ra, thời kỳ này trên lục địa Đông Á có ba nhà nước: Thần Nông Bắc của Đế Lai thuộc lưu vực Hoàng Hà, Thần Nông Nam (Xích Quỷ) thuộc lưu vực Dương Tử tới Việt Nam và quốc gia Ba Thục ở phía Tây, gồm vùng Ba Thục qua Thái Lan và Miến Điện.

    Thời gian này, cuộc tranh chấp giữa hai bờ Hoàng Hà trở nên khốc liệt mà bằng chứng là trận Phản Tuyền. Truyền thuyết Trung Hoa nói Hoàng Đế và Viêm Đế là hai thị tộc anh em, lúc đầu Viêm Đế đứng chủ. Sau đó Hoàng Đế mạnh lên, đánh thắng Viêm Đế ở Phản Tuyền, chiếm ngôi thống soái. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Đây chỉ là uyển ngữ do người Hoa Hạ bày đặt để che lấp cuộc xâm lăng, với mục đích gắn Hoàng Đế với Viêm Đế vào cùng chủng tộc để rồi cho ra đời thuyết Hoa Hạ là Viêm Hoàng tử tôn, trong đó Hoàng Đế là chủ soái! Nhưng thực ra đó là cuộc xâm lăng của người bờ Bắc. Ta có thể hình dung, chỉ hình dung thôi vì không bao giờ tìm ra chứng cứ xác thực, rằng trước tình thế nguy cấp sau trận Phản Tuyền, Đế Lai liên minh với Lạc Long Quân cùng chống giặc. Nhưng tại trận Trác Lộc năm 2698 TCN, quân Việt thất bại. Đế Lai tử trận, (sau này vì căm hờn Đế Lai, người Hoa Hạ gọi ông là Si Vưu với nghĩa xấu), Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân vùng Núi Thái-Trong Nguồn dùng thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống xứ Nghệ. Gợi cho chúng tôi ý tưởng này là đoạn chép trong Ngọc phả Hùng Vương: “Đoàn người từ biển vào. Họ rất hiền lành tốt bụng, đã giúp dân nhiều việc tốt. Dân bầu người giỏi nhất trong số họ làm vua, hiệu là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Rào Rum-Ngàn Hống, sau chuyển lên vùng Ao Việt.” (Chính cái niên đại xảy ra trận Trác Lộc 2698 TCN cũng giúp cho thời điểm năm 2879 lập nước Xích Quỷ trở nên khả tín. Nó cho thấy, một điều hợp lý là những quốc gia của người Việt được lập ra trước cuộc xâm lăng, vì chỉ như vậy mới phù hợp với lịch sử.)

    Về Việt Nam, người Núi Thái-Trong Nguồn hòa huyết với người Việt bản địa da đen Australoid, sinh ra người Mongoloid phương Nam Phùng Nguyên. Việc khảo cổ học phát hiện di cốt người Mongoloid phương Nam tại văn hóa Phùng Nguyên khoảng 4500 năm TCN là bằng chứng xác nhận cuộc di cư này.

    Nếu những điều trình bày trên chưa hài lòng quý vị thì xin dùng chứng lý theo lối quy nạp sau:

    Khoa học xác định mã di truyền của người Việt hôm nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Vì vậy, nếu là thủy tổ của dân tộc Việt, các ngài Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân… cũng phải là người Mongoloid phương Nam. Một câu hỏi được đặt ra: người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất Việt Nam vào thời gian nào? Khảo sát 70 sọ cổ phát hiện ở nước ta, cổ nhân chủng học cho biết: “Suốt Thời Đá Mới, chủng Australoid là dân cư duy nhất sống trên đất nước ta cũng như toàn Đông Nam Á. Sang Thời Kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư khu vực. Người Austrtaloid biến mất dần, không hiểu do di cư hay đồng hóa.” Khảo cổ học cũng cho thấy, người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất nước ta vào thời Phùng Nguyên, khoảng 4500 năm trước.

    Một câu hỏi khác: họ từ đâu tới? Ta thấy, suốt Thời Đồ Đá, trên toàn bộ Đông Nam Á kể cả Việt Nam không có người Mongoloid. Trong khi đó, như phân tích ở trên, người Mongoloid phương Nam xuất hiện tại văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ (cửa sông Chiết Giang) từ 7000 năm trước. Lẽ đương nhiên, họ chỉ có thể từ hai nơi này xuống Việt Nam. Nhưng do di ngôn của tổ tiên “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra,” ta hiểu, là từ Núi Thái-Trong Nguồn các vị di cư tới Việt Nam.

    Như vậy, có hai giai đoạn hình thành người Việt: giai đoạn đầu, người Australoid từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Tại Núi Thái-Trong Nguồn, khoảng 7000 năm trước, người Việt hỗn hòa với người Mông Cổ phương Bắc, sinh ra chủng người Việt mới mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, đó là tổ tiên của các vị Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân. Khoảng năm 2698 TCN, do thua trận Trác Lộc, người Việt của Lạc Long Quân chạy xuống Việt Nam, lai giống với người Việt tại chỗ, sinh ra người văn hóa Phùng Nguyên, tổ tiên trực tiếp của chúng ta.

    Vào nam Hoàng Hà, người Mông Cổ chiếm đất và dân Việt, lập vương triều Hoàng Đế. Họ cũng hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ, được coi là tổ tiên người Trung Hoa. Nhận được ưu thế từ hai nền văn minh, người Hoa Hạ trở nên lớp người ưu tú của các vương triều Hoàng Đế, góp phần quan trọng làm nên thời Hoàng Kim của văn hóa phương Đông. Nhưng sau thời Chiến quốc, với sự bành trướng của nhà Tần, nhà Hán người Việt thì người Hoa Hạ bị đồng hóa, tan biến trong cộng đồng Việt đông đảo. Hoa Hạ chỉ còn là một danh xưng, bị các vương triều Trung Hoa chiếm dụng làm phương tiện thống trị các tộc người khác. Người Hoa đổi đồng bằng Trong Nguồn thành Trung Nguyên. Sông nguồn thành sông Hòn, sông Hớn rồi thành Hán Thủy. Do mất đất mất tên nên hơn 2000 năm nay, người Việt ngơ ngác không biết Trong Nguồn là đâu?!

    Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?

    Họa tiết trên trống đồng Đông Sơn

    II.Quá trình hình thành di tích, tài liệu về cội nguồn tổ tiên trên đất Việt.

    1.Quá trình hình thành

    Lớp di dân đầu tiên đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống. Theo đà xâm lăng của kẻ thù, nhiều thế hệ người Núi Thái-Trong Nguồn di cư tiếp, tiến vào những khoảng đất cao của đồng bằng sông Hồng vừa được tạo lập là Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh… Chạy giặc, bỏ quê hương tới nơi xa lạ là nỗi đau của người biệt xứ. Có thể, sau hàng vạn năm cách biệt, người Núi Thái-Trong Nguồn không thể ngờ rằng nơi dung dưỡng mình hôm nay lại là đất gốc của tổ tiên xưa. Vì vậy, mặc cảm mất nước luôn nặng nề, dai dẳng. Hướng về nguồn cội là nỗi khắc khoải khôn nguôi. Nỗi nhớ thương đã kết đọng thành câu ca Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra. Có lẽ câu ca lúc đầu chỉ là nỗi lòng của người dân mất nước vọng cố hương nhưng rồi nó thành tấm bia ghi nguồn cội để muôn đời con cháu tìm về. Không dừng lại đó, những người tâm huyết nhất, theo tục xưa, đắp những ngôi mộ gió để từ xa bái vọng tổ tiên Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương… Đó là công việc mà ngày nay người dân đảo Lý Sơn vẫn làm để không quên người không trở về sau những chuyến đi! Khi khá giả hơn, những ngôi đền thờ được dựng lên. Khi có chữ, những vị lão thành lục trong trí nhớ những gì “được nghe ông bà kể” về tổ tiên xưa, ghi thành tộc phả, ngọc phả. Sự thật được “thêm mắm dặm muối” cùng những yếu tố huyền ảo để thêm phần linh thiêng, cao cả và đáng tin. Đọc một số thần phả, ngọc phả do Đại học sĩ Nguyễn Bính chép, tôi bất giác nghĩ tới chuyện “chạy di tích” thời nay. Lâu ngày mới về quê, gặp dịp làng xã đình đám rước “Bằng công nhận di tích”. Thấy trên giấy vinh danh một vị còn văn tế ở đình tế vị thần khác, tôi hỏi ông chú họ, đầu trò câu chuyện này. Gạn hỏi mãi, ông thú thực: “Lúc đầu viết theo thần tích ông thánh trong đình. Nhưng mấy ông văn hóa tỉnh nói: “Tra mãi không thấy ông nào tên như vậy để làm giúp các bác. Chỉ có ông trạng X hơi gần với hồ sơ của các vị. Nếu đồng ý thì chúng tôi giúp.” Anh tính, mất bao nhiêu tiền rồi chả nhẽ xôi hỏng bỏng không, đành gật đầu chấp nhận cho họ làm!” Phải chăng, ngày trước, cũng nghe ông bà kể lại, rồi với thứ chữ Nho của thày đồ quê, các vị tiên chỉ trong làng mang đơn lên phủ cậy quan. Sau khi nhận đồng lớn đồng nhỏ vi thiềng, quan phủ đưa hồ sơ lên triều đình. Rồi dựa vào văn bản của địa phương, Đại học sĩ Nguyễn Bính sáng tác hàng loạt ngọc phả, như người vẽ truyền thần. Đó là cái chắc, chỉ có điều ngờ là không biết đại học sĩ có nhận tiền thù lao như hôm nay không?

    Hàng trăm năm qua đi, đám hậu sinh chúng ta có tất cả: những ngôi mộ cổ, những ngôi đền với những pho tượng sơn son thiếp vàng linh thiêng mà cha ông từng đời đời tế tự. Những thần phả, ngọc phả chữ Nho với giấy bản xỉn màu thời gian, gáy mòn, góc vẹt, loáng thoáng lỗ mọt… Và hơn cả là tấm lòng chúng ta hướng về tổ tiên cộng với sự ganh đua của những họ tộc tranh nhau xem họ nào xuất hiện sớm nhất? Thế rồi, với tiền của bá tánh, tiền thuế dân nhận từ dự án, những nấm mộ, những ngôi đền được phục dựng khang trang hoành tráng, cùng với những hội thảo trưng ra vô vàn “bằng chứng lịch sử”…

    2. Đôi lời nhận định

    Người viết bài này có lúc hăm hở theo dõi những “phát hiện mới” với hy vọng tìm được dấu vết khả tín của tổ tiên. Nhưng rồi sớm thất vọng! Cổ Lôi Ngọc Phả chỉ mới ra đời vài trăm năm ghi Phục Hy, Thần Nông vùng Phong Châu làm sao có thể phản bác Kinh Dịch 2500 năm trước viết “Phục Hy thị một, thần Nông thị xuất”? Mấy ngôi đền Phục Hy, Thần Nông… trên đất Phong Châu làm sao phủ định bài vị các ngài được thờ trên lăng mộ ở Thái Sơn? Làm sao có thể tin Phục Hy họ Nguyễn, trong khi cả truyền thuyết lẫn cổ thư đều ghi rõ: Phục Hy thị, Thần Nông thị, Hồng Bàng thị… “Thị” cũng là họ, nhưng đấy là họ theo mẹ của thời mẫu hệ. Qua mẫu hệ hàng nghìn năm mới sang phụ hệ, để “tính” – cách gọi họ theo dòng cha ra đời! Thời đó, con người chỉ được đánh dấu bằng một từ duy nhất chỉ tên hoặc thêm tước “đế” phía trước như Đế Minh, Đế Nghi… Vậy thì làm sao có ông Phục Hy tên là Nguyễn Thận? Làm sao tin những bức tượng sơn son thiếp vàng lòe loẹt trong đền là Phục Hy, Kinh Dương Vương khi trang phục trên người các ngài là của quan lại triều Minh, triều Thanh?! Vì sao sống cách nhau nhiều nghìn năm mà các vị tổ lại tụ họp trong khoảnh đất hẹp vậy? Vì sao, chỉ là tổ người Việt mà truyền thuyết về các vị lan ra rộng khắp từ Quảng Đông tới Ba Thục? Chỉ là tổ của người Việt với lãnh thổ từ Bắc Bộ tới miền Trung mà sao lại có đền thờ Kinh Dương Vương trên Ngũ Lĩnh? Nhiều, nhiều lắm những câu hỏi không thể trả lời!

    Khi không trả lời được những thắc mắc trên, trong trí tôi nảy sinh câu hỏi: Vì sao lại có sự tình như vậy? Phải rất lâu sau, cùng với sự trưởng thành của nhận thức, tôi nhận ra, những ngôi mộ được đắp, những ngôi đền được xây chỉ là việc thu nhỏ một lịch sử từng diễn ra trên địa bàn rộng lớn. Đó chỉ là sự sa bàn hóa một thực tế lịch sử vĩ đại! Tôi bỗng hiểu và thông cảm với tiền nhân. Từ ký ức và tâm nguyện của mình, các vị đã tạo những mộ gió, những ngôi đền bái vọng. Tấm lòng thành của bao kiếp người đã tạo nên một tín ngưỡng dân gian vô cùng nhân văn nhớ về nguồn cội, thờ kính tổ tiên… Nhưng rồi đám cháu con không hiểu cha ông, u mê biến tín ngưỡng dân gian trở thành chính sử, để tự sướng và lừa thiên hạ thì đã là tai họa!

    Những người chủ trương việc này nghĩ rằng mình đã sáng suốt, khám phá lại lịch sử là vì dân tộc, vì kính ngưỡng tổ tiên. Không ai phủ nhận nhiệt huyết, tấm lòng của họ. Nhưng thực tế cuộc sống đã bày ra trước mắt: yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau!

    Trước hết, là xuyên tạc lịch sử:

    Do chủ quan, do ít hiểu biết, họ không hiểu rằng, giang sơn xưa của tổ tiên Việt là khoảng trời, khoảng đất mênh mông toàn cõi Đông Á. Từng hàng chục nghìn năm thống lĩnh hai con sông Đông Á (Hoàng Hà, Dương Tử) và xây dựng trên đó nền văn hóa kỳ vĩ. Việc “quy tập,” co cụm tổ tiên về dải đất hẹp Phong Châu chính là phủ định cả cội nguồn lẫn giang sơn vĩ đại của giống nòi! Đó chính là cái tội chối bỏ lịch sử, cũng đồng thời chối bỏ nguồn cội!

    Không chỉ vậy, khi làm việc này, họ tự tước đi của mình vũ khí mạnh mẽ chống lại những mưu toan xuyên tạc sử Việt. Họ từng biết, người Trung Hoa có cuốn sách “Thông sử thế giới vạn năm” hơn 5000 trang, phủ định toàn bộ lịch sử Việt Nam với những dòng ngạo mạn: “Khoảng 2000 năm TCN, bán đảo Đông Dương bước vào thời kỳ đồ Đá Mới… 1000 năm TCN, những bộ lạc cư trú quanh vùng sông Hồng Hà bắt đầu định cư..” Họ cũng biết, ông giáo sư người Mỹ Liam Kelley chống báng tới cùng sự hiện hữu của Kinh Dương Vương. Ông ta chỉ coi thủy tổ tộc Việt là do đám trí thức Hán hóa thời Trung đại dựa vào cổ thư Trung Hoa bịa tạc ra. Một trong những lý cứ khiến ông ta nghĩ vậy, chính là ở chỗ, truyền thuyết về Kinh Dương Vương phổ biến khắp Trung Hoa. Nếu cứ theo “sa bàn” như quý vị hoạch định hôm nay thì làm sao phản bác được vị giáo sư thông thái nọ? Nhưng nếu nắm được lịch sử trọn vẹn của tổ tiên thì ta có thể nói, chính chứng cứ ông học giả người Mỹ đưa ra đã chống lại ông ta! Đó là do, cộng đồng Việt vốn là khối thống nhất trên toàn đông Á, cùng chung máu mủ, ngôn ngữ và văn hóa. Từ thời Chiến quốc, bị tan đàn xẻ nghé, người Việt mang theo truyền thuyết nguồn đi khắp nơi…

    III. Kết luận

    Có một thời tăm tối, chúng ta được cổ thư Trung Hoa và những vị thầy Tây dạy rằng, người từ Trung Hoa xuống đồng hóa dân Annam mông muội. Dân Việt là lũ Tàu lai. Tất cả văn hóa Việt là sự bắt chước Trung Hoa chưa trọn vẹn. Người Việt không có chữ, phải mượn chữ Trung Hoa, tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán… Hàng nghìn năm ta tin như thế!

    Trong cái thời tăm tối ấy, chúng ta tìm mọi cách “thoát Trung” bằng việc viết ra lịch sử riêng của mình. Trong đó có những ý tưởng “quy tụ” tổ tiên về đất Phong Châu để tạo ra một cội nguồn, một lịch sử hoàn toàn độc lập với phương Bắc. Ý tưởng như vậy được nuôi bởi bằng chứng là những ngôi mộ, ngôi đền, những cuốn ngọc phả… khiến không ít người tin vì có nguồn cội “thoát Trung”!

    Nhưng sang thế kỷ này, nhờ khám phá khoa học, ta biết rằng, lịch sử đã diễn ra theo con đường ngược lại: tổ tiên ta từ xa xưa đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng trên toàn bộ Đông Á một nền văn hóa vĩ đại! Không những tiếng Việt, chữ Việt là chủ thể tạo nên tiếng nói và chữ viết Trung Hoa mà nền văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng trên nền tảng văn hóa Việt! Chính đó là cơ sở của ý tưởng từ lâu in sâu trong tâm cảm dân Việt: Trong khi các nhánh khác bị Hán hóa thì người Lạc Việt ở Việt Nam vẫn giữ được giang sơn, đất hương hỏa cuối cùng của tổ tiên.

    Vì vậy, trong những “đồ án phục dựng lịch sử Việt” ra đời lâu nay thì việc sa bàn hóa, quy tập tổ tiên về đất hẹp Phong Châu là sai lầm tai hại nhất. Trong khi những phương án khác chỉ là những ý tưởng trên giấy thì “đồ án” này tác động sâu rộng không chỉ tới lịch sử, tâm linh mà tới cả cuộc sống dân tộc.

    Thưa ông Phan Lan Hoa, thời trẻ làm báo, tôi chỉ viết sự thực cho dù có rước lấy tai họa. Nay vào tuổi cổ lai hy, tôi chỉ viết sử theo sự thật vì biết rằng, chỉ sự thật là còn lại. Vì vậy, tôi không hề dám làm cái việc bạo thiên nghịch địa là “đẩy đưa thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa” như ông ghép tội. Phải đâu là chuyện cá ao ai nấy được? Tôi chỉ làm cái việc trung thực là phát hiện sự việc của quá khứ rồi đặt nó vào đúng chỗ, thưa ông! Theo thiển ý, nếu như có ngôi mộ nào sớm nhất của tổ tiên trên đất Việt thì chỉ có thể là mộ Lạc Long Quân ở Rào Rum-Ngàn Hống hay tại kinh đô Ao Việt!

    Đáng buồn và đáng sợ là, những người “quy tập” tổ tiên về đất hẹp Phong Châu không ngờ rằng mình đang làm cái việc nguy hại tham bát bỏ mâm. Trong khi hất đi cái mâm thật, không chỉ đầy của cải quý giá mà còn có cả văn tự ghi quyền sở hữu giang sơn vĩ đại của tổ tiên xưa thì quý vị ôm lấy cái bát ảo! Cái mâm quẳng đi rồi, một khi cái bát được chứng minh là giả, không hiểu quý vị tính sao?!

    Sài Gòn, Vu Lan năm Giáp Ngọ

    Hà Văn Thùy tác giả của bài viết rất nổi tiếng về việc luận bàn Triệu Đà là người Việt?
  • Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Người xưa và người đời gọi áo vua mặc bằng nhiều tên khác nhau như áo bào, hoàng bào, long bào… Được biết trong kho đồ vải ở bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế (BTMTCĐH) mà tiền thân là điện Long An (xây dựng năm 1845 thời vua Thiệu Trị) có khoảng 100 bộ trang phục của không chỉ các bậc mẫu nghi thiên hạ, thái tử, hoàng tử, công chúa, quan lại cùng lính tráng… mà có cả áo bào của các vua.

    Bí ẩn áo bào của các vua nhà Nguyễn

    Ít ai biết phía sau những chiếc áo từng được thiên tử ngự này có nhiều chuyện thâm cung bí sử gắn với nạn tham tang của những thợ thêu, tính cách các vua, những trận đòn và không ít cái chết thảm khốc…

    Bào vua dát vàng, ngọc

    Theo tài liệu được ghi trong BĐMTCĐH, y phục nhà vua mặc trong lễ thiết đại triều và các dịp Tết gọi là long bào, thêu hình rồng bay lên (rồng thăng), hai con rồng chầu mặt trời (lưỡng long chầu nhật), điểm xuyết các tầng mây, sóng nước (thủy ba). Trong lễ thiết thường triều, vua Nguyễn mặc hoàng bào, thêu rồng cuộn tròn (viên long) bằng chuỗi ngọc, xen kẽ bát bửu, hoa lá, thủy ba, chữ thọ.

    Ngoài long bào, y phục đại lễ của vua Nguyễn còn có long cổn (y phục tế đàn Nam Giao) màu đen, tay rộng, trang trí kiểu thức rồng thăng, rồng lượn. Ngoài ra còn có hồng bào (y phục cày ruộng tịch điền) màu gạch non, trang trí rồng nhỏ, ẩn trong mây (long vân). “Với quan niệm hoàng đế là bậc anh minh, thay trời trị dân, do đó trang trí hình rồng chỉ được thể hiện trên trang phục vua và thái tử. Tuy nhiên nếu trên long bào, hình rồng chân 5 móng được thể hiện dưới các kiểu thức phi long (rồng bay) hay hồi long hướng nhật (rồng quay đầu về phía mặt trời) có kích thước cân đối, mặt rộng uy nghi thì hình rồng trên long bào thái tử chỉ là mặt nạ, chân có 4 móng, thân thu nhỏ. Còn hình rồng trang trí trên y phục hoàng tử chỉ là các loài giao, mãng, những biến thể thứ cấp của rồng, vì thế y phục hoàng tử được gọi là mãng bào hay mãng lan”, nói về áo bào của người có chân mệnh thiên tử cùng các hoàng nam của mình là thái tử (người kế vị ngai vàng) và hoàng tử, thông tin từ BTMTCĐH, cho biết như thế.

    Riêng chuyện về áo vua mặc mà người viết tiếp cận được từ tài liệu cổ Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ do nội các triều Nguyễn biên soạn thì bào vua được ghi chú với nhiều điểm khác biệt và chi tiết hơn. Theo đó, phục trang vua mặc dùng thiết triều bằng lụa quý được thêu rồng tinh xảo, đính chỉ bằng vàng và nhiều châu ngọc quý báu. Ngoài hình tượng con rồng, áo vua còn có sự hiện diện của chiếc sừng loài tê giác nay đã tuyệt chủng: “Hoàng bào may bằng sa đoạn sắc vàng chính, thêu rồng lớn rồng nhỏ, mây, thủy ba và 4 chữ phúc thọ. Mặt trước và sau mỗi mặt có 2 chữ “vạn thọ”, 3 hình rồng. Mỗi tay áo có 1 hình rồng, 2 cánh và san hô, hỏa lựu, xâu chuỗi bằng hạt ngọc châu nhỏ. Cổ áo bằng đoạn đậu 8 sợi tơ bóng màu tuyết trắng, 2 dải rủ xuống đều thêu rồng mây. Xiêm dùng sa mỏng trắng bóng toàn sợi tơ có hoa màu đỏ, dệt kiểu rồng cuộn tròn, thủy ba, cổ đồ, bát bảo… dưới nối bằng đoạn gấm hoa hồi văn dây leo, lan can đỏ, trong lót lụa đỏ, gấm hạng nhất toàn hoa kim liên, màu lục hay lam, áo nối bằng lụa mộc. Đai bằng vàng, đoạn đậu 8 sợi tơ trắng bóng nhuộm màu vàng chính, khâu chen kẽ tơ lông đổ, đính sừng con tê, dài, vuông, như hình cái mộc cộng 18 mảnh, ngoài bọc vàng tốt, khảm 92 hạt trân châu”.

    Những cấm lệnh lạ kỳ…

    Chiêm ngưỡng kỹ những chiếc áo vua còn được lưu giữ ở xứ kinh kỳ một thuở sẽ thấy, mặt trước và sau từng chiếc áo bào đều có biểu tượng rồng 5 móng ẩn hiện giữa những tầng mây trên nền lụa vàng quyền quý. Ít ai biết được rồng 5 móng cùng sắc vàng trên áo bào kia chỉ có một người trên muôn vạn người được “ngự”. Mọi hành vi lạm dụng, kể cả vô tình, bất kể quan hay dân đều bị xử lý nghiêm, nhẹ thì bị nọc ra đánh (phạt trượng) hay tội xuy (vừa đánh đòn vừa răn dạy, sỉ nhục), tịch thu tang vật làm của công. Trường hợp nghiêm trọng kẻ vi phạm sau khi ăn đòn sẽ bị lưu đày, quan lại bị cách chức.

    Những hình phạt nghiêm khắc như trên được qui định rõ trong Bộ hình triều Nguyễn. Theo đó, những thứ như nhà ở, xe cáng, áo mặc, đồ dùng của quan và dân đều có thứ bậc, nếu trái mẫu thức, lạm dụng, người có chức sẽ bị phạt 100 trượng, cách chức không lưu dụng (không cho làm quan). Với thường dân phạt xuy 50 roi nhưng chỉ bắt tội gia trưởng (chủ nhà), thợ làm đều phải phạt xuy 50 roi.

    Luật triều đình qui định những thứ làm trái mẫu thức bắt buộc phải chữa lại. Các thợ làm tự thú được tha tội, nhưng không được thưởng: “Nếu người nào lạm dụng những thứ trái cấm lệ như thêu vẽ con rồng con phượng, con giao long thì quan hay dân đều phạt 100 trượng, đày 3 năm, thợ làm phải phạt 100 trượng. Những thứ làm trái lệ cấm đều sung làm của công, kẻ thú cáo (thú tội và cáo giác – PV) được thưởng 50 lạng bạc. Nếu thợ làm mà thú cáo ra thì được tha tội, lại được thưởng nữa”.

    Cũng theo qui định của triều Nguyễn, triều đình cấm cả đàn bà, con gái lạm dụng thứ áo mặc thêu dát vàng sắc lóng lánh, thứ cài đầu, vòng xuyến bằng vàng dát châu báu (vàng không dát châu báu thì không cấm – PV) cùng dùng trân châu thêu đính vào áo dày, bởi đó là qui thức dành cho bậc mẫu nghi thiên hạ là hoàng hậu hay mẹ của vua. Nếu ai đó vi phạm, việc phát giác ra cả thảy người phạm tội và người liên đới đều bị chiểu theo luật để trị tội, các thứ áo mặc, đồ dùng bị thu làm công. Luật hình thời bấy giờ nói rõ nếu đàn bà, con gái phạm tội thì bắt tội.

    “Ăn” bớt bào vua: nhẹ phải đòn, nặng… xử tử

    Chuyện rằng từ lời tâu của Bộ Hộ và nội các, Phủ Nội vụ trong quá trình đốc suất thợ may triều đình thêu mới 4 chiếc áo vua phát hiện một số ngờ vực, hoàng đế Minh Mạng đã giao cho hội đồng tính kỹ và phát hiện “trong 4 chiếc áo ấy chiếc nào cũng lấy thừa từ 1 tấc trở lên, rõ ràng là tên thợ may cố ý lấy bớt đi”.

    Việc thợ may chốn cấm cung xén bớt áo bào khiến hoàng đế Minh Mạng phẫn nộ nên đã thiết triều luận xử tội những thợ may tham lam và các quan lại đốc suất không làm tròn nhiệm vụ: “Niên cục chính Tư trượng là Lê Văn Sự chiểu luật “bất kính” xử tội giảo giam hậu (giam chờ ngày treo cổ – PV), trước đem đánh 40 côn sơn đỏ. Đốc công Lê Văn Thu có trách nhiệm đốc sức thợ, mà dung túng cho thợ cố ý làm hơn kém, chuẩn sai đội Cẩm y đến bắt tên Lê Văn Thu xiềng khóa lại đem giam cấm, đợi sau xuống chỉ theo thế mà xử trị. Hội đồng coi làm là Ngô Văn Địch, Lê Viết Trị, Nguyễn Khoa Dục, Ngô Ngọc Cương lần này hãy tạm theo mực nhẹ đều phạt lương 3 tháng để làm răn”.

    Năm 1841, vua Minh Mạng băng hà, kế nghiệp ông là hoàng đế Thiệu Trị. Ngay năm đầu tiên trị vì, vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn đã như vua cha thiết triều xử hàng loạt quan chức vì không trọn chức sự trong việc làm bào vua. Lời dụ rằng: “Lần này thêu bào rồng, xiêm vàng là việc quan trọng, các ngươi thừa hành phải nên mười phần cẩn thận, phải thực khéo mới xứng đáng với chức sự của mình. Thế mà các đốc công không để ý đốc suất thợ làm, đến nỗi áo xiêm ngắn sai kiểu mẫu, chỗ thêu nối thêm màu đậm, nhạt nhìn kỹ chỗ nọ chỗ kia không được hợp nhau, trong đó đường thêu lại có nhiều chỗ nhăn nhúm, dày thưa, nhiều chỗ không đúng mẫu thức, thực là sơ suất quá lắm. Các viên đốc công chuyên ty là viên ngoại lang Hồ Đình Hy, chủ sự là Hà Văn Hanh đều giáng 1 cấp, được lưu dụng. Còn bọn thợ thêu là Nguyễn Chương, Phạm Đình Luân, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Đắc Thông, Nguyễn Tất Tố chính tay thêu mà nhầm, chuẩn đem đánh 100 trượng thực đau, phó trị sự là Lê Văn Tuyển, tượng mục là Lê Văn Sự chuẩn phạt mỗi tên 80 trượng để làm răn”.

    Từ chuyện hai hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị thiết triều, ban dụ quở trách, ra lệnh xử phạt đánh đòn, xử tử những can phạm ăn chặn, may xấu bào vua cho thấy sự nghiêm khắc của luật pháp thời bấy giờ, đồng thời cũng cho hậu thế biết thêm một phần tính cách của 2 vị hoàng đế này: Minh Mạng ghét xự xảo trá, gian tham; còn con trai ông, hoàng đế Thiệu Trị trong một chừng mực nào đó cho thấy ông khá kỹ tính… Đây hẳn là những thông tin thú vị để ta biết rõ hơn về áo bào của vua, nó không chỉ xa hoa mà còn ẩn sau đó tính khí của các vị hoàng đế và cả những bi kịch tàn khốc.

    Theo Net Cố Đô

  • Lối sống điều độ của Vua Minh Mạng

    Lối sống điều độ của Vua Minh Mạng

    Để có thể lực cường tráng, chăn gối viên mãn, ngoài thuốc men tẩm bổ, Minh Mạng còn rèn luyện sức khỏe bằng phương pháp mà ngày nay rất phổ biến.

    Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi vào tháng giêng năm Canh Thìn (tức tháng 2/1820) khi 29 tuổi, độ tuổi thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết nhưng nhà vua không vì thế mà sa vào hưởng lạc, trái lại ông lấy công việc, hoạt động để nuôi dưỡng tinh thần, vun bồi thể chất.
    Không thể lấy chuyện Minh Mạng có nhiều con mà cho rằng vua ham mê sắc dục được, bản thân nhà vua xem thịnh suy, hưng vong của đế vương đời trước làm tấm gương để tự răn mình “không hề dám đắm say về lạc thú” và khẳng định rằng: “Cái đức của đấng quân vương là không có nhàn rỗi, dâm dật” (Đại Nam thực lục).

    Lên ngôi không lâu, trong một buổi thiết triều, Minh Mạng nói với triều thần rằng:

    – Trẫm đang độ tuổi trẻ, còn sáng suốt về tinh thần, mạnh mẽ về sức lực, nên trẫm hằng chăm lo việc triều chính.
    Một lần khác, vua lại nói:

    – Trẫm với các khanh cùng hội họp, lòng trẫm lấy làm khoan khoái, há không hơn cả ngày ở trong cung đối diện với đám phụ nữ, không có điều gì để nói năng cả hay sao.

    Vua Minh Mạng

    Hoàng đế và đại thần

    Sách Minh Mạng chính yếu chép vào năm Kỷ Hợi (1839), nhân có quan Hiệp biện đại học sĩ, Tổng đốc tỉnh Bình Phú (Bình Định – Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn vào kinh chầu, vua Minh Mạng thấy ông râu tóc bạc phơ bèn hỏi tuổi và hỏi vì sao già mà vẫn có sức khỏe như vậy. Quan Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn mới tâu rằng:

    – Hạ thần nay đã 68 tuổi, ở tỉnh thời thường đến xem quân lính, nhân dân đốn cây, chặt củi, nên có thể trèo leo, lên xuống núi khe mà không biết mỏi mệt.

    Nghe vậy nhà vua nói rằng:

    – Trẫm ở trong cung, cũng thường đi bộ, tập giờ lâu mà không biết mệt mỏi, thế mới biết người ta phải tập vận động, cố gắng thì ngày một thêm mạnh, cứ ngồi yên mà lười biếng thì ngày một thêm yếu, không kể tuổi già hay trẻ vậy!

    Vua Minh Mạng
    Hoàng đế bộ hành

    Minh Mạng còn khuyên dạy các hoàng tử không nên lười nhác, phải chăm vận động. Vua nói rằng:

    – Ta xem các con ngày nay không bằng ta lúc còn trẻ tuổi. Trước kia ta theo đức Thế Tổ Cao hoàng đế [Gia Long], dừng xa giá tại tỉnh Gia Định, lúc xa giá ra trận, thường ở lại để coi giữ địa phương. Trời rét như cắt, ta mặc áo đơn, cưỡi thuyền đi lại trên mặt biển mà không biết lạnh. Các con tuổi mới trên dưới 30 mà không chịu nổi nóng lạnh, sau này đến năm sáu, bảy mươi tuổi làm sao mạnh mẽ được vậy. Ta nay hằng nghĩ đến tự cường, không dám để mình nhàn hạ quá. Các con nên theo ý ta, không mưu đồ sự an nhàn vui vẻ vậy!

    Theo Khám phá Huế.

  • Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Năm 1805, vua Gia Long lệnh phá bỏ thành cũ, xây lại thành mới nhỏ hẹp hơn rất nhiều so với Hoàng thành các thời vua trước vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành.

    Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào nước sâu. Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây. Ở trong, giữa hai phố Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương là khu vực Hành cung.

    Thành mở ra 5 cửa: cửa Đông (ứng với phố Cửa Đông), cửa Tây (ứng với phố Bắc Sơn), cửa Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam, cửa Đông Nam (tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học).

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Năm cửa thành thể hiện rõ trên bản đồ Hà nội đầu thế kỉ 19

    Trong thành có nhà Kính Thiên. Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành. Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy.

    Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nội ở phía nam thành. Trước cột cờ là Hồ Voi, nơi đặt dinh tổng trấn và các Tào thay mặt các Bộ. Có kho, võ miếu, đàn Xã tắc để tế trời đất, nền Tịch điền để làm lễ động thổ hàng năm. Có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là Trường hình. Mỗi cửa thành đều có lính đóng, ngoài cửa Nam có Đình Ngang Cấm Chỉ.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Kì Đài và Đoan Môn – phần phía Nam của Hành Cung – nhìn từ phía đường Lý Nam Đế ngày nay

    Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Năm 1835, vì cho rằng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5m.

    Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Hà Nội 1885Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Một góc thành Hà nội – ảnh của Hocquard chụp khoảng 1884 -1885

    Người Pháp đổi Hà Nội thành thành phố. Đến khi chiếm xong toàn Đông Dương họ lại chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp. Kì Đài, Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn còn lại đến nay chỉ vì chúng được người Pháp dùng cho mục đích quân sự.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Một bức ảnh hiếm chụp phía trước Đoan Môn thời kì người Pháp phá thành Hà nội.

    Và từ đây bắt đầu một công cuộc xây dựng và phát triển Hà nội với tham vọng dựng “một Paris thu nhỏ trong lòng Đông Dương” để thoả nỗi nhớ của người xa xứ. Công cuộc này kéo dài tới đầu những năm 40 của thế kỉ XX.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Bắc Môn

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Bắc Môn thời Nguyễn (xây trên nền Cửa Bắc thời Lê) hoàn thành năm 1805, cũng như Đoan Môn kiến trúc Bắc Môn có dạng vọng lâu: Phần thành ở dưới và phần lầu ở trên.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Ảnh thành Cửa Bắc của bác sĩ Hocquard chụp khoảng 1884 -1885. Đã có dấu đạn của pháo thuyền Pháp bắn vào thành năm 1882. Xung quanh thành là một hào nước rộng với một cây cầu dẫn vào cổng thành.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Một bức nữa của bác sĩ Hocquard chụp từ phía trong thành, nơi đã đầy lính Pháp

    Sau khi chiếm thành Hà nội Pháp cho đập phá san bằng thành trì, chỉ để lại Cột Cờ, điện Kính Thiên, cung Hậu Lâu, thành Cửa Bắc.Vọng lâu trong bức ảnh này đã bị phá.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Mặt ngoài cổng thành bị bịt kín, ba chữ Chính Bắc Môn trên cổng thành không còn, trên mặt thành là đài quan sát của lính Pháp. Con đường rợp bóng cây hai bên là đường Phan Đình Phùng ngày nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Thời kì người Pháp khẳng định vị thế của mình. Thành Cửa Bắc được nhìn nhận như một chứng tích chiến thắng: Ba chữ Chính Bắc Môn xuất hiện lại, cổng vẫn bị bịt, nhưng từ phía trong, cho phép nhận ra lối vào thành cũ, hai bức tường bên gợi lại hình dáng thành xưa, và đặc biệt họ gắn lên một tấm biển bằng tiếng Pháp: ” 25 Avril 1882. Bombardet de la Citadele par les Cannonieres “Suprise” et “Fanfare”.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Ba chữ “Chính Bắc Môn” trên cổng thành

    Hậu Lâu

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Hậu Lâu là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc điện Kính Thiên. Tuy ở sau hành cung nhưng lại là phía bắc, được xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc lâu và còn có tên là Hậu lâu (lầu phía sau).

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Theo một vài tài liệu Hậu Lâu cũ đã bị đổ nát trong thời kỳ Pháp xâm lược vào năm 1876, sau người Pháp đã cải tạo, xây lắp để lấy chỗ ở và làm việc của quân đội Pháp. Liệu đó có phải là lý do mà trong vô số những bức bưu ảnh chụp thành cổ Hà nội của người Pháp không thể tìm thấy một bức nào chụp Hậu Lâu.

    Điện Kính Thiên

    Trung tâm của Cấm thành là Điện Kính Thiên, nằm trên trục chính tâm (đường Thần Đạo) theo hướng Nam – Bắc: Kì Đài, Đoan Môn, Điện Kính Thiên, Hậu Lâu và Bắc Môn. Không còn nhiều, nhưng đó chính là dấu xưa còn lại của nơi tập trung quyền lực cao nhất của hầu hết các vương triều phong kiến Việt Nam

    Năm 1010, sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã dựng điện Càn Nguyên tại vị trí núi Nùng tức Long Đõ (Rốn Rồng), nơi hội tụ khí thiêng non sông theo quan niệm phong thuỷ cổ truyền. Đến 1029, vua Lý Thái Tông mở mang thêm và đổi tên thành Thiên An. Sang đời Trần, điện được giữ nguyên tên. Đến đời Lê, điện mới có tên là Kính Thiên. Đó là cung điện quan trọng bậc nhất, nơi tiến hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi tiếp sứ giả nước ngoài, nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự. Nhà Nguyễn lên ngôi, Thăng Long từ vị trí Kinh đô của quốc gia trở thành trấn thành rồi tỉnh thành, điện được gọi là Long Thiên và trong suốt thời nhà Nguyễn, đây được xem là hành cung phía Bắc của các vị vua mỗi khi có việc từ Huế ra Bắc Hà.

    Bức ảnh quý chụp Điện Kính Thiên từ Đoan Môn trên cho thấy con đường lát gạch dẫn đến sân điện và thềm điện.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Post lại bức ảnh Điện Kính Thiên của Hocquard. Ngăn cách giữa điện Kính Thiên và khu vực phía Hậu Lâu đằng sau là một bức tường có trổ hai cổng đối xứng nhau. Trong ảnh cổng phía Đông đựợc chụp rõ (trong vòng tròn mầu vàng),còn cổng phía Tây bị khuất trong bóng cây)

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Cổng phía Đông nằm vuông góc với đường nguyễn Tri Phương

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Bức cận cảnh cho thấy lính Pháp đã đồn trú tại đây. Hocquard viết: ” Chính tại nơi đây các chiến hữu của Francis Garnier đến trú ẩn sau khi người cầm đầu của bọn họ bị giết chết. Với một số lượng ít ỏi, những chiến hữu ấy không đủ sức bảo vệ được nhiều dặm thành ngoài của Hoàng thành nên họ phải trú thân vào cả trong trung tâm này trước đã. Rồi ngay sau đó họ cũng phải rời bỏ luôn cả chiến tuyến thứ hai vẫn còn rất rộng, và vội vàng xây chung quanh nền đất của ngôi Chính điện một bức tường gạch có trổ các lỗ châu mai..”

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Còn đây là một bức vẽ miêu tả sự canh gác của lính Pháp trong khu vực điện

    Năm 1886, quân Pháp đã phá toàn bộ hành cung và xây dựng một toà nhà 2 tầng ngay trên chính nền điện Kính Thiên để làm Bộ chỉ huy pháo binh.

    Rồng đá Điện Kính thiên

    Khi Thủ đô được giải phóng, tòa nhà chỉ huy pháo binh xưa kia được sửa sang và trở thành nhà làm việc của các lãnh đạo Bộ Quốc phòng – Bộ Tổng tham mưu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng (toà nhà được gọi là nhà Con Rồng)

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Di tích điện Kính Thiên hiện giờ chỉ còn nền điện và thầm bậc với phía trước là đôi rồng đá thời Lê dài 5.3m, chín khúc trong thế trườn xuống từ thềm điện, và hai bờ thềm bậc tạc mây lửa và hoa lá cách điệu (tạc năm 1467)

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Và một đôi rồng đá tạc thời Hậu Lê dài 3.4m ở phía sau điện.

    Cổng phía Đông dẫn vào nơi trước đây là điện Kính Thiên. Đã xuất hiện những toà nhà kiến trúc Pháp là sở chỉ huy pháo binh.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

     

    Thềm điện kính thiên

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Ở hướng chụp này đã thấy phía trước là cổng phía Đông dẫn ra đường Hoàng Diệu ngày nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Thềm điện kính thiên

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Xe ngựa, xe kéo, nón mê, nón quai thao, và trang phục nhà binh – những hình ảnh thấy rất nhiều trên những tấm bưu ảnh thời thuộc địa

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Nhìn lại toàn cảnh con đường chạy ngang trước điện từ cổng phía Tây

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Cổng phía Tây dẫn ra đường Hoàng Diệu

    Đoan Môn

    Đoan môn là một trong năm di tích còn lại của thành Hà nội, nằm trên đường Hoàng Diệu. Về quy hoạch tổng thể, kinh thành Thăng Long gồm ba vòng thành: La Thành rộng lớn bao quanh phía ngoài, tiếp đến là Hòang Thành, trong cùng là Cấm Thành nơi ở của Hoàng Đế. Đoan Môn là lần cửa trong cùng dẫn vào cung vua.

    Đoan Môn hiện còn tương đối nguyên vẹn. Di tích nằm ở phía nam của điện Kính Thiên, thẳng trục với Cột cờ Hà Nội. Đoan Môn được xây dựng theo chiều ngang, vật liệu chủ yếu là gạch vồ, loại gạch phổ biến của thời Lê (thế kỷ XV) và đá cuốn vòm cửa. Khảo cổ đã đào thám sát và xác định chắc chắn Đoan Môn còn lại hiện nay được xây dựng từ thời Lê, đến thời Nguyễn có sửa sang.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Hình ảnh thành Hà nội với cổng phía Nam (Đoan Môn) của bác sĩ Hocquard chụp khoảng 1884-1885

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Bức bưu ảnh chụp Đoan Môn từ hướng đường Hoàng Diệu ngày nay

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Đoan Môn – từ phía đương Nguyễn Tri Phương

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    và từ hướng Cột cờ Hà Nội với con đường ngày nay mang tên Nguyễn Tri Phương

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Những bức ảnh toàn cảnh Đoan Môn từ phía ngoài như thế này giờ không thể chụp được bởi toàn bộ mặt thành bị che khuất bởi Sân vận động Cột cờ và Trung tâm Thể dục Thể thao Quân đội

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay
    Đoan Môn – Thang gạch lên Vọng lâu

    Kì đài

    Cột cờ Hà Nội được xây dựng (từ năm 1805 đến 1812) dưới triều nhà Nguyễn là một trong những công trình kiến trúc ít ỏi thuộc khu vực thành Hà Nội có may mắn thoát khỏi sự phá hủy do chính quyền đô hộ Pháp tiến hành trong ba năm 1894 – 1897.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Bức bưu ảnh vẽ toàn cảnh thành Hà nội từ phía đường Trần Phú ngày nay cho thấy phía trước Kì Đài có một hồ nước rộng – Hồ Voi – nay là công viên với tượng ông Lenin đứng. Dòng chú thích cho biết thời điểm đó thành Hà nội đã bị người Pháp biến thành khu quân sự ( Tonkin: Mirador, Porte de l’ artellier, et caserne de la Citadelle d’Hanoi – Bắc Bộ: Tháp canh, Cổng thành, trại lính)

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Với chiều cao đáng kể, Cột cờ được nhà binh Pháp khi đó dùng làm đài quan sát và trạm thông tin liên lạc giữa ban chỉ huy với những đồn bốt xung quanh, ban ngày dùng làm tín hiệu, ban đêm dùng đèn.

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Cột cờ gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Có hai thang gạch dẫn lên tầng một ( thang phía Tây – hướng ra đường Hoàng Diệu và thang phía Đông hướng ra đường Nguyễn Tri Phương).

    Những bức ảnh dưới chụp Cột cờ Hà nội từ phía đường Hoàng Diệu qua các thời kì:

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

     

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    Dáng hình Hà Nội qua ảnh xưa và nay

    (Còn nữa)

    Theo Nhan’s Blog