Blog

  • Chuyện về Hậu cung triều Nguyễn

    Với 143 năm tồn tại (1802-1945), hậu cung triều Nguyễn và những câu chuyện thâm cung bí sử hầu như không được sử sách ghi chép nhưng lại được biết qua những câu chuyện truyền miệng của các nhân vật đã từng sống cùng thời điểm hoặc sống trong hậu cung.

    Ở Huế từng truyền tụng câu ca dao:

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu,

    Một lầu vàng tám lầu xanh,

    Ba cửa thẳng hai cửa quanh,

    Sinh em ra làm phận gái,

    Chớ nên hỏi chốn kinh thành mà làm chi.

    Đã mang thân phận nữ nhi thì không nên biết đến chốn kinh thành, hay chính xác hơn là không nên vì vinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng mà như những con thiêu thân lao vào hậu cung của các bậc đế vương để đổi lấy một cuộc sống lắm tai ương, bất trắc. Bước vào hoàng cung là những thiếu nữ thanh xuân, tuổi trẻ, thiện lương còn bỡ ngỡ trước cuộc đời. Tuy nhiên, cuộc sống đầy âm mưu thủ đoạn của chốn cung cấm đã biến những thiếu nữ thanh thuần trở thành những người lắm mưu, nhiều kế, tay dính máu tanh. Thậm chí là một cuộc sống cô đơn, buồn bã, đánh mất cả tuổi thanh xuân vì không được ân sủng của nhà vua.

    Cung phi của các vị vua triều Nguyễn hầu hết đều là con gái của các vị quan trong triều đình. Sự hậu thuẫn của gia tộc cũng chính là một trong những nguyên nhân để các bà trong cung Nguyễn nhận được sự sủng ái của các bậc đế vương. Những cuộc hôn nhân này cũng chính là sự cân bằng quyền lực giữa các thế lực trong triều, nhằm ổn định tình hình chính trị của quốc gia. Cho dù mục đích phía sau của những cuộc hôn nhân này là gì, thì hầu hết những cô gái này đã đánh đổi tuổi thanh xuân và nước mắt của họ để đổi lấy một cuộc sống hoặc là quyền cao chức trọng, mẫu bằng tử quý, hoặc là cô đơn, phòng không gối chiếc cho đến cuối cuộc đời. Những người con gái một khi đã bước chân vào cung cấm thì chỉ có đi mà không thể trở lại. Cả cuộc đời, cả số phận, dù hạnh phúc hay bất hạnh, dù quyền cao chức trọng hay cô đơn chiếc bóng, ảo não u buồn… tất cả chỉ phụ thuộc vào một người duy nhất: Hoàng đế!

    “Một ngày dựa mạn thuyền rồng

    Cũng bằng muôn kiếp sống trong thuyền chài”

    Cũng bởi ước mong được một ngày dựa mạn thuyền rồng, mà những bi kịch, những tiếc nuối và cả những ai oán của các nữ nhân chốn hậu cung vẫn cứ mãi tiếp diễn. Có những người được vua sủng ái thì hưởng tột đỉnh vinh quang, hạnh phúc nhưng cũng có những người mang nỗi buồn cô đơn, không thể than thở cùng ai. Những phi tần dù được nhà vua sủng hạnh hay chưa được sủng hạnh, nhưng khi vua băng hà cũng phải theo nhà vua đến nơi an nghỉ cuối cùng để phụng thờ hương khói cho đến cuối cuộc đời.

    Chuyện về Hậu cung triều Nguyễn

    Bên trong khu mộ 15 liếp.

    Ở Huế còn có câu thành ngữ “đưa con vô Nội” để chỉ thân phận của các cô gái chốn cung cấm, một khi đã bước vào cung thì không mong ngày trở ra. Đưa con vô Nội lâu ngày đã trở thành một câu nói cửa miệng của người Huế khi nói đến một sự việc có đi mà không có lại, cũng giống như đưa con vô Nội là không mong có ngày gặp lại. Có một số cung phi chỉ thực sự bước chân ra khỏi cung cấm sau khi triều Nguyễn cáo chung và sống lặng lẽ cho đến cuối cuộc đời. Một số sau khi ra khỏi cung tuy vẫn là gái tân nhưng tuổi trẻ và thời thanh xuân thì đã gởi lại trong Tử Cấm Thành.

    Nhà Nguyễn cũng đặt ra các quy định chăm sóc sức khỏe cho các cung nữ. Khi đau yếu, bệnh tật, họ phải ra khỏi hoàng cung để dưỡng bệnh tại Bình An Đường. Hiện nay, trong hệ thống kiến trúc triều Nguyễn có hai nhà Bình An Đường, một ở bên ngoài, góc Đông Bắc Hoàng thành (đường Đặng Thái Thân) và một ở bên ngoài lăng Tự Đức, gần cửa Vụ Khiêm. Hai nhà Bình An Đường này là nơi dưỡng bệnh (nếu bệnh nhẹ) và chờ chết (nếu bệnh nặng) của các thái giám và cung nữ chốn hậu cung thời kỳ nhà Nguyễn. Bình An Đường bên ngoài Hoàng thành đã được trùng tu vào năm 2003 nhưng Bình An Đường của Lăng Tự Đức hiện chỉ còn dấu vết của la thành và một cổng vào còn khắc dòng chữ Bình An Đường môn.

    Chuyện về Hậu cung triều Nguyễn

    Xem triển lãm ảnh cung nữ triều Nguyễn.

    Phía sau khuôn viên Bình An Đường Lăng Tự Đức, hiện vẫn còn 15 ngôi mộ của các bà vợ vua Tự Đức với nhà bia và la thành bao quanh, dân địa phương gọi đây là khu lăng mộ 15 Liếp (hay mộ các bà). Khu lăng mộ này hầu như bị bỏ hoang, hương khói của khu lăng mộ đều do người dân chung quanh phúng viếng, thỉnh thoảng cũng có thân nhân và người trong hoàng tộc Nguyễn đến thăm viếng. Trong 15 ngôi mộ ở tại đây, chỉ có 2 ngôi mộ là được thân nhân đến tu sửa, bảo dưỡng. Hương tàn, khói lạnh là thực trạng của khu lăng mộ các bà theo phụng thờ hương khói khi vua Tự Đức băng hà. Sống thì phòng không gối chiếc, chết lại mồ hoang cỏ lạnh là số phận của không ít nữ nhân chốn hậu cung thời Nguyễn.

    Sử sách Việt Nam hầu như không ghi chép về những cuộc tranh giành quyền lực ở chốn hậu cung. Hiếm hoi lắm chúng ta mới thấy được một đoạn hồi ký của Michel Đức Chaigneau trong cuốn Souvenir de Hué cho biết một vài chi tiết sinh động về mối quan hệ giữa các phi tần trong cung cấm dưới thời vua Gia Long. Nữ nhân ở hậu cung thời điểm bấy giờ chưa phải là nhiều lắm (nhà vua có 21 bà vợ có con và được ghi chép vào Nguyễn Phúc tộc thế phả), nhưng cũng làm cho nhà vua đau đầu, đến nỗi nhà vua phải than thở “Trị nước thật dễ dàng, không khó nhọc bằng trị chốn nội cung của mình”. Trong một cuộc gặp gỡ với Michel Đức Chaingeau, nhà vua đã tâm sự: “Khanh tưởng rằng sau khi bãi triều, thanh toán xong mọi việc chính trị và hành chính trong ngày là công việc của trẫm đã xong và thế là trẫm có thể nghỉ ngơi trong hậu cung sao? Khanh lầm đó. Khanh không thể tưởng cái gì đang chờ đợi Trẫm ở đấy (vua chỉ về phía hậu cung) sau khi trẫm ra khỏi nơi này. Ở đây, trẫm hài lòng vì được nói chuyện với những người hiểu biết, họ lắng nghe trẫm, hiểu biết trẫm và khi cần thì vâng lời trẫm! Vào trong ấy, trẫm gặp phải những con quỷ dữ. Chúng gây gổ, đánh đập nhau, cấu xé nhau… rồi sau cùng kéo nhau đến đòi trẫm phân xử. Nếu làm đúng thì trẫm phải trị tội cả bọn họ, vì trẫm không biết ai sẽ nhường nhịn ai trong cơn giận dữ!”

    Sau một hồi im lặng, vua Gia Long nói tiếp: “Này đây, một chốc nữa, trẫm sẽ phải đứng giữa một bầy quỷ cái, chúng nó sẽ gào thét làm trẫm điếc cả tai” (Michel Đức Chaigneau, Souvenirs de Hué, Éditions typhon, Shanghai 1941, pp. 98-99).

    Những vấn đề mà vua Gia Long đã tâm sự ở trên chỉ là những việc cãi vã công khai (minh tranh) để tranh giành sự sủng ái của các bậc đế vương. Phía sau những cuộc cãi vã này hẳn là không thiếu những thủ đoạn độc ác, tinh vi (ám đấu) nhằm loại trừ nhau của những bóng hồng nhiều tham vọng muốn làm chủ chốn hậu cung. Để minh chứng phần nào cho nhận định này, chúng tôi đã làm một thống kê nhỏ qua Nguyễn Phước tộc thế phả (Nguyễn Phúc tộc Thế phả, Nhà Xuất bản Thuận Hoá Huế 1993) và thấy như sau:

    Vua Gia Long có 31 người con (13 hoàng tử và 18 công chúa) thì số lượng mất sớm là 06 người (01 tảo thương, 05 mất sớm), chiếm tỷ lệ 19,35%. Vua Minh Mạng có 142 người con (78 hoàng tử và 64 công chúa) thì có đến 30 người mất khi đang còn là bào thai hoặc lúc tuổi còn nhỏ (13 tảo thương, 17 mất sớm), chiếm tỷ lệ 21,12%. Vua Thiệu Trị có 64 người con (29 hoàng tử và 35 công chúa) thì số lượng con mất sớm là 28 người (05 tảo thương, 23 mất sớm), chiếm tỷ lệ 43,75%. Và đến đời Tự Đức thì nhà vua thể chất yếu nhược, không có khả năng sinh con nối dõi và cũng đến thời điểm này, sự truyền thừa của dòng trưởng (con vợ chính) triều Nguyễn xem như chấm dứt.

    Chỉ tính riêng 3 vị vua đầu triều Nguyễn, ở vào thời thịnh trị nhất, ta thấy hiện tượng các hoàng tử, công chúa chết non khi đang còn là bào thai (tảo thương) hoặc mất sớm, theo thời gian ngày càng tăng. Liệu rằng trong những số phận bất hạnh ấy, có ai là nạn nhân của những vụ “ám đấu” để tranh giành quyền lực ở chốn hậu cung?

    Sau khi vua Tự Đức băng hà (ngày 19 tháng 7 năm 1883), triều đình nhà Nguyễn bước vào giai đoạn khủng hoảng. Pháp đã đặt xong nền móng của chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, ngai vàng và các vua kế vị cũng gặp nhiều thay đổi. Chỉ trong 4 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1883), ngai vàng triều Nguyễn đã 3 lần đổi chủ: Dục Đức – Hiệp Hòa – Kiến Phúc. Đây là thời điểm kinh đô Huế tồn tại hai chính thể cai trị – thực dân Pháp và triều đình phong kiến Nguyễn và cũng là giai đoạn mà các vị vua nối ngôi liên tục thay đổi.

    Do sự bất ổn về triều chính, hậu cung triều Nguyễn giai đoạn này cũng im hơi lặng tiếng. Các bậc đế vương về sau như Khải Định (chỉ có duy nhất một con trai), Bảo Đại khi ở ngôi vua chỉ có duy nhất một bà vợ là Nam Phương hoàng hậu nên sự đấu đá tranh giành chốn hậu cung xem như chấm dứt.

    Hậu cung triều Nguyễn trong suốt 143 năm tồn tại, tuy chỉ là những hoạt động mặt sau của vương triều nhưng những hoạt động của chốn hậu cung này lại góp phần quyết định cho việc sản sinh ra một thế hệ lãnh đạo của triều đình phong kiến Nguyễn và trong một chừng mực nhất định nào đó cũng góp phần không nhỏ đến sự bình ổn chính trị vào thời điểm bấy giờ.

    Theo Net Cố Đô.

  • Gái Việt ngày xưa làm đẹp như thế nào?

    Gái Việt ngày xưa làm đẹp như thế nào?

    Để có vòng một căng đầy mà không cần dao kéo, phụ nữ Việt xưa có nhiều bí quyết khác nhau…


    Cung đình Huế xưa có cả một công nghệ chế tạo mỹ phẩm cho các bà hoàng, cung phi… và hầu hết đều làm từ nguyên liệu thiên nhiên. Ví dụ như sáp môi được làm từ sáp ong loại tốt, thường là sáp ong ruồi, đem nấu chảy, trộn thêm dầu ô liu rồi lọc vài lần qua các lớp sa, sau đó trộn với màu ưa thích như hồng, cánh sen, hổ hoàng nhồi đều. Son này được các bà dùng bôi lên môi tạo độ bóng tự nhiên, làm môi mềm, lâu phai màu.

    Bột phấn tô lông mày đốt từ gỗ cây điên điển, rồi thổi thật nhẹ để lấy thứ bụi tro nhẹ, mịn làm chì kẻ mắt. Bút vẽ lông mày là cây điên điển phơi khô, giã giập mịn đầu rồi cắt xéo vạt, sau này mới được thay bằng cọ lông…

    Mỹ phẩm nổi tiếng nhất, còn được lưu truyền đến ngày nay của cung đình Huế là phấn nụ, có công dụng dưỡng da mặt mịn màng, làm trắng da, trị mụn và tàn nhang, giải độc tố, giúp giảm viêm, hạn chế quá trình lão hóa, ổn định bề mặt biểu bì, hài hòa màu da tự nhiên. Quy trình sản xuất mỹ phẩm hoàng cung này cũng lắm công phu, qua tới 9 công đoạn. Nguyên liệu chính là thạch cao và trên 10 vị thuốc bắc bí truyền, một số loại hoa và đặc biệt là… nước mưa xứ Huế tinh khiết.

    Bên cạnh phấn nụ, một mỹ phẩm làm đẹp da nổi tiếng khác của cung đình Huế là hoa cung nữ, hay còn gọi là hoa phấn. Đây là một loại hoa màu hồng tím, mùi hương nhẹ dịu tinh khiết, trong ruột hoa có chứa một loại phấn màu trắng. Các cung tần mỹ nữ thời xưa thường bôi bột phấn lên mặt để trang điểm, giúp khuôn mặt trắng mịn.

    Hoa phấn còn có thể lấy cánh vắt ra thành nước, bôi lên da mặt, giúp làn da đều màu, mịn màng, mờ các vết thâm nám.

    Trong hoàng cung nhà Nguyễn còn có nhiều loại mỹ phẩm khác như nước trắng dưỡng da, nước trắng trị mụn… Mỗi loại mang đến cho làn da những tác dụng riêng, đem đến cho cung tần mỹ nữ xưa một làn da trắng hồng tự nhiên thông qua tác dụng dưỡng da và chống nắng lâu dài chứ không thông qua cơ chế tẩy trắng làn da trong một thời gian ngắn.

    Một biện pháp đơn giản mà cung nữ hay dùng là khi tắm nước nóng thì dùng tay xoa nhẹ tấm thân mượt mà, trơn tru. Vừa xối nước vừa vỗ nhẹ lên thân, lên da mặt để kích thích cho da hồng hào.

    Một số món ăn cũng được cho là đem lại làn da khoẻ mạnh, như quả vải, canh nhân sâm bồi bổ sức khoẻ, giúp da khoẻ đẹp từ bên trong.

    Để có vòng một căng đầy mà không cần “bơm”, phụ nữ xưa có nhiều bí quyết khác nhau, như ăn nhiều đu đủ và sắn dây sau mỗi kỳ “đèn đỏ”, thoa khắp ngực loại thuốc cao docó chứa thành phần thực vật tự nhiên như trầm hương, cam thảo, thực hiện các bài massage vùng ngực để kích thích tuần hoàn máu, khai thông huyệt đạo, hấp thu tối đa các chất dinh dưỡng cần thiết… Nhân sâm cũng được coi là một “thần dược” giúp cho bộ ngực nảy nở căng tràn.

    Để có một mái tóc đẹp, phụ nữ thời Nguyễn chỉ dùng bồ kết gội đầu cho tóc có màu đen nhánh và mượt mà. Đây là loại nguyên liệu phổ biến trong cung đình cũng như dân chúng, đã được sử dụng từ thời xa xưa và còn phổ biến cho đến những thập niên gần đây.

    Để biến tóc điểm bạc thành tóc đen nhánh, một phương pháp được nhiều người ưa chuộng dưới thời Nguyễn là lấy nùi điển điển (nút chai rượu Champagne của Tây) đốt thành than. Sau đó lấy tăm hoặc bông chấm than, kẻ lên đầu xóa hết các vùng chân tóc thưa hoặc phủ lên vùng bị bạc. Loại than này cũng được dùng làm chì kẻ mắt vì màu thật, hợp với da.

    Các loại thảo dược có vai trò rất quan trọng trong việc làm đẹp của phụ nữ thời xưa. Tùy theo chủng loại mà chúng được dùng để nấu nước tắm, chế biến thành món ăn, bào chế thành thuốc… giúp kéo dài tuổi xuân của các chị em.

    Theo Khám phá Huế.

  • Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử

    Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử

    Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.

    Cuốn sách Nguyễn Tri Phương nằm trong tủ sách “Góc nhìn sử Việt” do NXB Hồng Đức và Alphabooks ấn hành đã phần nào làm sống lại cuộc đời vị võ tướng anh dũng này.

    Hơn thế, thông qua cuộc đời Nguyễn Tri Phương, người đọc đã thấy lại một thời đoạn đầy biến động của nước ta trước ngoại bang phương Tây. Sách được viết bởi Phan Trần Chúc và Lê Quế in lần đầu năm 1956. Lần tái bản này, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Sơn đã hiệu đính dựa trên bản in tại Sài Gòn 1956.

    Võ tướng Nguyễn Tri Phương sinh tại Phủ Thừa Thiên, theo Đại Nam nhất thống chí, ngay từ nhỏ ông đã có chí lớn. Ông không ưa việc khoa cử mà chỉ đọc những cuốn sách có ứng dụng để giúp đời. Thời kỳ đầu triều vua Minh Mạng, nhà vua có chiếu kén những người hiền tài giúp nước. Nguyễn Tri Phương đã bước vào con đường hoạn lộ bằng một chức nhỏ mọn ở địa phương.

    Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử
    Cuốn sách “Nguyễn Tri Phương”

    Làm nha lại không bao lâu, ở địa phương ông xẩy ra một vụ án rất bí mật. Quan huyện giao cho ông tra xét và ông đã khám phá ra được vụ án ấy. Đồng thời, ông đã thảo một tờ bẩm rất khúc chiết rõ ràng trình lên quan trên. Vụ án ông khám phá được báo lên tỉnh rồi vào cung vua. Tình cờ, vua Minh Mạng đọc được tờ bẩm và nhận ra tài năng của ông. Vua cho dẫn ông vào triều để từ đó cuộc đời Nguyễn Tri Phương thăng tiến rất nhanh trong triều đình.

    Cuộc đời ông gắn liền với chiến chinh trận mạc trải qua khắp ba miền của đất nước. Khi biên thùy phía Nam bị ngoại bang xâm lấn, chính ông đã làm chủ tướng đánh giặc và buộc giặc đầu hàng. Trong nhiều năm cầm quân ở vùng sông nước Cửu Long, ông luôn chủ trương thu phục lòng người hơn là dùng vũ lực.

    Nguyễn Tri Phương nói: “Công thành không bằng công tâm, toàn sự tức là toàn thắng”. Công cuộc “công tâm” của ông đã giúp các tỉnh vùng biên phía Nam yên bình không còn bóng giặc đánh phá nữa.

    Số phận của Nguyễn Tri Phương gắn liền với số phận của đất nước. Khi phương Tây chế tạo ra súng đạn thì nhiều quốc gia ở châu Á phải chịu khuất phục vì gươm giáo, cung tên không thể địch lại. Việt Nam nằm trong số các quốc gia bị phương Tây đánh chiếm bằng sức mạnh khoa học kỹ thuật như thế.

    Nguyễn Tri Phương đã nhận thấy điều này nên trình với vua đề nghị canh tân đất nước. Thế nhưng, nhiều quan lại trong triều đình đã chống lại ông nhằm hưởng nhàn cho tấm thân.

    Kết cục, Hà thành đã thất thủ khi Nguyễn Tri Phương được giao trọng trách bảo vệ. Ông đã nhịn ăn cho đến chết với câu nói bất hủ: “Làm tướng phải chết và chết ở trận tiền không phải là cái chết nhục nhã”.

    Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” viết về các danh nhân Việt Nam lừng danh một thời với lòng yêu nước nồng nàn và bất khuất trước kẻ thù. Việc đọc và học sử Việt đang là mối lo cấp bách trong toàn xã hội khi mà môn sử trong nhà trường ít được học trò yêu mến.

    Cuốn Nguyễn Tri Phương của Phan Trần Chúc và Lê Quế được viết theo loại “lịch sử ký sự” nên dễ đọc và hấp dẫn, lại được nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn hiệu đính rõ ràng, thiết nghĩ nên được phổ biến rộng trong các gia đình để lớp người trẻ biết sâu hơn về lớp cha ông.

    Theo Net Cố Đô.

  • Ý nghĩa của những bức bình phong xứ Huế

    Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.

    Muôn màu, muôn vẻ … bình phong

    Xưa nay, người Huế vẫn tin theo “dịch lý” và “phong thủy” vào hàng nhất nước. Nhà vườn ở Kim Long, Vỹ Dạ, Phước Tích luôn luôn tập hợp một hệ thống kiến trúc sắp xếp theo chiều Bắc-Nam. Tuy rộng hẹp khác nhau, nhưng nhà nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau, từ cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà. Cổng xây bằng gạch, lối vào ngõ thường được trồng những hàng râm bụt hoặc chè tàu cắt xén cẩn thận. Lối đi vào không bao giờ nhìn trực diện vào nhà chính, che cho lối đi là tấm bình phong, người vào nhà phải rẽ hướng khác để vào sân nhà.

    Bức bình phong xứ Huế thường được làm bằng vôi, gạch, hay chè tàu, bông cẩn. Sau bức bình phong thường là hòn non bộ và bể cạn – yếu tố minh đường trong phong thủy làm nên một vũ trụ thu nhỏ theo quan niệm hướng nội.Vẫn còn rất nhiều bình phong cổ rải rác trên địa bàn Thừa Thiên Huế.

    Ý nghĩa của những bức bình phong xứ Huế

    Một nhà vườn hơn 100 năm, ở xã Phú Thượng, huyện Phú Vang còn giữ đầy đủ: cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà.

    Bạn nên đến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, đây vẫn còn giữ được một số ít bức bình phong cổ (bằng gỗ quý) tuyệt đẹp, càng ngắm, càng có cảm giác như bị mê hoặc, do chúng hội tụ được những điều thần bí của phong thủy. Trong thuyết phong thủy, bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án”, có chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ. Về sau bình phong còn thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.

    Ý nghĩa của những bức bình phong xứ Huế

    Sau bình phong là hòn non bộ và bể cạn (yếu tố phong thủy).

    Bức bình phong cổ ở xứ Huế gồm đủ loại chất liệu như gỗ, đan mây, vải, đá, gạch… song phổ biến nhất là loại bình phong xây bằng gạch đá, có kích thước lớn, ở ngoài trời. Thường được trang trí công phu bằng cách chạm trổ, ghép sành sứ với các biểu tượng và mô típ: phúc- lộc- thọ- hỷ hay các linh vật như long, lân, quy, phụng, long mã… Làm nên giá trị mỹ thuật của bình phong cổ xây bằng đá gạch, không thể không kể đến công lao sáng tạo, truyền nghề của các nghệ nhân khảm sành sứ “giỏi nhất” thời Nguyễn, trên đất Phú Xuân- Thuận Hóa, như cụ Bát Mười, ông Trương Cửu Lập. Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thường được sử dụng để trang trí ở cổng chùa đình, nóc mái, cửa sổ, đặc biệt là bình phong.

    Ý nghĩa của những bức bình phong xứ Huế

    Bình phong long mã tại đình làng Dưỡng Mông, xã Phú Mỹ.

    Đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ là sử dụng những mảnh gốm sứ, mảnh chai cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc, được gắn khảm rất tinh tế, bằng những chất kết dính (vôi hàu, mật mía đường) cùng những phụ gia kết nhuyễn (giấy dó, nhựa bông cẩn, dây tơ hồng). Hiện nay tại lăng Tự Đức còn giữ được nhiều bức bình phong khảm sành sứ đẹp nhất nước, tiêu biểu là chiếc bình phong phía sau Ích Khiêm Các- thuộc Khiêm Cung, còn khá nguyên vẹn.

    Nghệ thuật đan xen phong thủy

    Người xưa tin rằng “long mã” là hóa thân của kỳ lân, một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng), là linh vật báo hiệu điềm lành; là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ, hạnh phúc. Thời Nguyễn, từ cung đình đến dân gian, đều chịu ảnh hưởng truyền thuyết “long mã” khá sâu đậm, hình nó được thêu trên võ phục hàm “nhất phẩm”.Ngoài ra, trong Phật giáo, long mã là linh vật cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba phần cốt tủy của kinh sách nhà Phật (Tam Tạng Kinh). Huế vốn là kinh đô của nhà Nguyễn, lại là nơi tập trung nhiều chùa chiền Phật giáo, nên trong nghệ thuật kiến trúc Huế, hình ảnh long mã xuất hiện rất nhiều. Hình ảnh “long mã” vừa để trang trí, vừa có công dụng phong thủy, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ.

    Ý nghĩa của những bức bình phong xứ Huế

    Chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm giữa bình phong.

    Trên bình phong cổ, có một điều không mấy ai chú ý về chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm chính giữa trung tâm. Đây là điểm nhấn vừa trang trí vừa là cái gương, qua đó người khách có thể báo trước với chủ nhà về sự hiện diện của mình. Đồng thời, người chủ nhà khi đã sửa soạn xong việc đón tiếp, sẽ đứng trước cửa, người khách nhìn qua ô tròn đó và biết mình nên đi vào, tránh sự cập rập cho việc tiếp đón. Chi tiết này là một sự tinh tế trong văn hóa ứng xử.

    Cho đến nay, những bức bình phong xứ Huế vẫn giữ chức năng mỹ thuật đan xen với phong thủy, một phong cách độc đáo trong kiến trúc nhà Huế. Nhà giàu sang thì xây dựng bình phong bằng gạch, đá kiên cố. Nghèo khó thì làm bình phong bằng cây kiểng như chè tàu, dâm bụt, tre trúc… Nhà cửa có thể sửa sang, nâng cấp nhưng các bức bình phong hàng trăm năm tuổi, đều được con cháu gìn giữ nguyên trạng…

    Theo Dân Việt.

  • Bí ẩn khu lăng mộ Thái giám duy nhất tại Việt Nam

    Bí ẩn khu lăng mộ Thái giám duy nhất tại Việt Nam

    Chùa Từ Hiếu hay còn gọi là chùa Thái giám nằm trên ngọn núi Dương Xuân thuộc phường Thủy Xuân (TP Huế).

    Thái giám ra đời từ thời Tây Chu ở Trung Quốc, đây là chức quan chiếm vị trí quan trọng trong triều đình xưa. Thái giám chuyên lo hầu hạ, phục dịch các vị phi tần của vua, lo sắp xếp lịch, ghi chép ngày tháng các phi tần vào hầu hạ vua, để nếu bà phi nào có con sẽ được xác nhận, tránh nhầm lẫn.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Hình ảnh các thái giám xưa dưới triều đại phong kiến

    Thời Nguyễn, ở giai đoạn đầu tiên, mỗi triều vua thường có đến 200 thái giám. Thời Khải Định, thái giám thường được triệu đến tấu nhạc, hầu chuyện cho vua nghe, cùng vua đi dạo… Thời vua Thành Thái, số lượng thái giám ở hoàng cung chỉ còn 15 người, đến khi vua Bảo Đại lên ngôi, đã bãi bỏ hoàn toàn việc tuyển thái giám.

    Auto Draft

    Khuôn viên chùa Từ Hiếu – nơi chôn cất các thái giám

    Tuy thế, trải qua nhiều vương triều lịch sử, câu chuyện của những người mang số phận nam không ra nam, nữ không ra nữ lại là nhưng câu chuyện đầy bi kịch đằng sau lớp vàng son nhung lụa. Thái giám thường là những cậu bé được đưa vào cung từ khá sớm, có khi chỉ mới 7 tuổi, sau khi cắt bỏ bộ phận sinh dục nam thì được dạy dỗ các nghi lễ triều đình, sau đó đưa đến phục vụ vua chúa và các phi tần, họ sẽ sống trong cung suốt đời cho đến khi già yếu sẽ nằm chờ chết ở Cung giám viện, phía ngoài hoàng cung mà không có ai chăm sóc.

    Về cuối đời, do ý thức được số phận bi thảm của mình, một thái giám tên là Châu Phước Năng đã dành dụm tiền bạc, đồng thời kêu gọi các thái giám khác quyên tiền để sửa sang Thảo Am đường (vốn là nơi tu tại gia của hòa thượng Thích Nhất Định) để tìm nơi chôn cất, hương khói cho chính mình.

    Auto Draft

    Gian chính chùa Từ Hiếu

    Việc này được vua Tự Đức và Thái hậu Từ Dũ chấp nhận, đồng thời cũng quyên góp. Vua Tự Đức đổi tên am thành chùa Từ Hiếu có nghĩa là hiếu thuận. Do đây là ngôi chùa do các thái giám quyên tiền sửa sang và là nơi an nghỉ của họ nên còn có tên dân gian là chùa thái giám.

    Khu lăng mộ của chùa được chia làm 3 bậc tương ứng với vai trò và đóng góp khác nhau của các thái giám. Bậc trên cùng là thái giám Châu Phước năng, là người đề xuất và quyên góp nhiều tiền nhất cho chùa nên mộ này cũng to hơn tất cả các ngôi mộ khác. Toàn bộ khu lăng mộ có 25 ngôi mộ, trong đó có 2 ngôi mộ gió (không có thi hài), phần lớn chữ trên bia còn đọc được khá rõ, ghi tên, chức vụ, quê quán và ngày mất của thái giám nằm tại đó.

    Auto Draft

    Một ngôi mộ của thái giám tại khu lăng mộ

    Tam quan của khu lăng mộ khá cao, ở chính giữa cổng là một tấm bia đá ghi lại cuộc đời của các thái giám, trong đó có những câu: “Khi còn sống chúng tôi nương nhờ cửa Phật, mà khi chết thì biết nương nhờ vào đâu? Nhân thấy rằng phía Tây thành có một miếng đất nên lấy gạch xây thành để có nơi thờ cúng về sau, gần với Phật mới là nơi thờ tự lâu dài, bằng hữu ốm đau có nơi chữa bệnh, ai nằm xuống có nơi để mà tống táng…”.

    Auto Draft

    Auto Draft

    Khu lăng mộ của các thái giám dưới triều Nguyễn tại chùa Từ Hiếu

    Ngày nay, khách đến chùa Từ Hiếu vãn cảnh nhưng thường không biết đến sự tồn tại của khu lặng mộ này, hầu hết cảnh vật ở đây đã rêu phong, phủ màu hoang tàn, lạnh lẽo. Chỉ tháng 11 âm lịch hàng năm, chùa mới tổ chức lễ cúng viếng cho các thái giám để an ủi cuộc đời đầy cơ cực của họ.

    Theo Phụ Nữ Today

  • Vua Minh Mạng ‘giải vây’ cho tàu Anh mắc cạn ở Hoàng Sa

    Vua Minh Mạng ‘giải vây’ cho tàu Anh mắc cạn ở Hoàng Sa

    Mộc bản triều Nguyễn sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ cho biết: Vào tháng 12/1836 thuyền buôn Anh Cát Lợi (tức nước Anh ngày nay) đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm; hơn 90 người được nhà Nguyễn cứu sống đưa vào bờ biển Bình Định.

    Trong thời kỳ làm hoàng đế, vua Minh Mạng và vương triều Nguyễn đã có những việc làm thiết thực để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

    Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 104, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) chép: “Vua bảo bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.

    Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 154, năm Minh Mạng thứ 16 (1835) chép: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có cái giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lí ba bình” (tức là muôn dặm sóng êm).

    Cồn Bạch Sa có chu vi 1070 trượng, tên cũ  là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than thạch. Năm ngoái (tức năm 1834) vua toan dựng miếu lập bia chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được.

    Vua Minh Mạng ‘giải vây’ cho tàu Anh mắc cạn ở Hoàng SaBản dập Mộc bản triều Nguyễn phản ánh vua Minh Mạng cho giúp đỡ tàu phương Tây bị mắc cạn ở Hoàng Sa.

    Đến đây, mới sai Cai đội Thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về”.

    Mộc bản triều Nguyễn sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 176, trang 1, năm Minh Mạng thứ 17 (1836) chép: “Mùa đông, tháng 12, thuyền buôn Anh Cát Lợi (tức nước Anh ngày nay) đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm; hơn 90 người đi thuyền sam bản đến bờ biển Bình Định.

    Vua được tin, dụ tỉnh thần lựa nơi cho họ trú ngụ, hậu cấp cho tiền và  gạo. Lại phái thị vệ  thông ngôn đến dịch lời thăm hỏi, tuyên Chỉ  ban cấp. Bọn họ đều quỳ dài, khấu đầu không thôi. Sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét mặt. Phái viên về tâu, vua nói: “Họ, tính vốn kiệt hiệt, kiêu ngạo, nay được đội ơn chẩn tuất, bỗng cảm hoá, đổi được tục man di. Thật rất đáng khen”. Sai thưởng cho thuyền trưởng và đầu mục, mỗi người 1 áo đoạn vũ hàng màu, 1 quần vải tây và 1 chăn vải; các người tuỳ tùng mỗi người 1 bộ áo quần bằng vải màu. Sắc sai phái viên sang Tây là Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Giải đưa họ sang bến tàu Hạ Châu, cho về nước”.

    Từ những việc làm như trồng cây, lập miếu thờ ở  Hoàng Sa hay cho cứu vớt tàu phương Tây bị mắc cạn ở Hoàng Sa đã cho thấy vương triều Nguyễn có chủ quyền riêng ở quần đảo này. Bên cạnh đó, Mộc bản triều Nguyễn và các sách lịch sử khác chưa hề phản ánh việc các nước khác tranh chấp với triều Nguyễn trên quần đảo Hoàng Sa.

    Theo Báo Đất Việt

  • Ảnh hiếm: Đám tang Vua Khải Định diễn ra thế nào?

    Khải Định lên ngôi vua được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20/9 năm Ất Sửu tức 6/11/1925, thọ 40 tuổi. Lăng của vua Khải Định hiệu Ứng Lăng được xây cất tại làng Chân Chữ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Những bức hình được người Pháp chụp nằm trong bộ sưu tập của ông Ngô Văn Ðức ở Bordeaux, Pháp.

    Các quan khâm sai, toàn quyền Pháp đến dự đám tang vua Khải Định

    Lễ động quan ở điện Càn Thành

    Đám rước bắt đầu khởi hành

    Qua cổng thành

    Đoàn tăng ni cầm phướn đi dẫn đầu

    Đoàn con hát

    Đoàn lính tráng

    Voi cũng có mặt trong đám rước

    Tên họ và chức tước của vua được ghi trên bức trướng trong đám rước

    Tại cùng Châu Ê (triền núi Châu Chữ)

    Đám rước đến lăng

    Chuẩn bị nhập lăng

    Đồ tùy táng được đốt để gửi cho vua

    Quang cảnh khu vực lăng Khải Định

    Dân chúng tấp nập trên sông Hương coi đám tang nhà vua

    Theo Báo GDVN

  • Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa

    Người Thượng hoặc đồng bào sắc tộc là danh từ được dùng thời trước 75 để gọi chung những nhóm sắc tộc thiểu số sinh sống trên cao nguyên miền Trung, như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông…”Thượng” có nghĩa là ở trên, “người Thượng” là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống tại Tây Nguyên, còn gọi là miền Thượng (tức là miền thượng du). Chính sách dân tộc dành cho miền này được gọi là Thượng Vụ. Ngày nay, thường dùng chữ “người dân tộc” để gọi chung những sắc dân thiểu số.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Những đàn voi với số lượng không đếm xuể ở Tây nguyên ngày xưa

    Trước thế kỷ 19 thì Tây Nguyên là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa hoặc Chân Lạp nhằm cướp bóc nô lệ.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Vợ chồng người Thượng.

    Ổ Tây Nguyên thuở xưa thì chiêng, ché, voi, trâu có thể đổi được nô lệ. Có loại chiêng chỉ ngang giá vài con trâu nhưng cũng có loại chiêng giá trị tới 40 con trâu hay một tá tù binh, nô lệ.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Đà lạt 1925

    Người dân Tây Nguyên ngày ấy ăn mặc đơn giản, nam thường đóng khố, nữ thường cuốn váy ở trần – về mùa lạnh thì choàng thêm tấm mền cũ. Trang phục khi đi hội của người dân thường được trang trí hoa văn nhiều màu sắc cả nam, nữ đều đeo vòng bạc.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Một gia đình người dân tộc ở GiaRay.

    Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Chăm Pa là Trà Toàn, sáp nhập phần lãnh thổ Chăm Pa thời đó vào Đại Việt.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thác Liên Khang ngày ấy.

    Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thiếu nữ Tây nguyên xưa

    Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789).

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Làm đường xe lửa có răng cưa lên Dalat.

    Dưới triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ – 1834).

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Những phụ nữa trẻ trong một dịp lễ hội.

    Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ).

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Một chiến binh

    Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này.

    Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông Dương, chọn ĐăkTo làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số. Ông ta thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Cô gái đang sãy gạo.

    Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay Mayréna. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phu trạm.

    Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Voi xưa và nay bao giờ cũng là biểu trưng của Tây nguyên

    Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Một gia đình người Thượng ở Đà Lạt.

    Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phụ nữ ở bản làng

    Năm 1898, vương quốc Sedang bị giải tán. Một tòa đại lý hành chính được lập ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thầy mo và trai bản.

    Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp.

    Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những ông chủ thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được. Năm 1917, tại đó, thị xã Đà Lạt được thành lập.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phụ nữ sau cuộc đi săn thú???
    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Tiếng cồng chiêng trong ngày hội.

    Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng hòa cho thành lập Văn phòng Cố vấn Thượng Vụ để góp ý về những vấn đề liên quan đến cao nguyên miền Thượng. Năm 1957, Văn phòng Cố vấn Thượng Vụ được nâng cấp lên thành Nha Công tác Xã hội Miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng Thống, trụ sở đặt tại Huế.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Những phụ nữ đang địu con.

     

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Một phụ nữ trẻ.

    Năm 1958, Phòng Xã Hội được thành lập tại Tây Nguyên với mục đích chính giúp học sinh người sắc tộc được theo học như người Kinh. Năm 1964, Nha Công tác Xã hội miền Thượng đổi thành Nha Ðặc trách Thượng Vụ trực thuộc Bộ Quốc Phòng và sau đó được nâng cấp lên thành Phủ Ðặc ủy Thượng Vụ. Năm 1969, Bộ Sắc Tộc (Bộ Phát triển Sắc Tộc) được thành lập ngay trong chính phủ VNCH do một người Thượng lãnh đạo, và có chức năng tương đương các bộ khác trong chính phủ.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Hồ Lak ngày xưa.

     

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phụ nữ Tây nguyên xưa và những trang sức trên người

    Tổng trưởng Bộ Sắc tộc là các ông Paul Nưr, Ya Ba, cuối cùng là ông Nay Luett (Nay Louette), một lãnh tụ Gia Rai, cho đến khi Việt Nam thống nhất năm 1975.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thiếu nữ dân tộc Mạ ở Dalat.

    Tây Nguyên có nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Kinh như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông… Chính quyền cũ gọi chung những dân tộc này là “đồng bào sắc tộc” hoặc “người Thượng”; “Thượng” có nghĩa là ở trên, “người Thượng” là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên
    Phụ nữ Bana -1926

    Ba Na là nhóm sắc tộc đầu tiên, sau người Kinh, có chữ viết phiên âm dựa theo bộ ký tự Latin do các giáo sĩ Pháp soạn năm 1861. Đến năm 1923 hình thành chữ viết Ê Đê.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Vợ con của trưởng bản.

    Người Mạ sống tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng. Trang phục của họ có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Dân tộc Mạ có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Người bán gà

    Đàn ông Mạ thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. Áo có các loại : dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phụ nữ Thượng trong nhà với bộ da hổ, thúng và chuối kề bên

    Phụ nữ Mạ ngày xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu để tóc dài búi sau gáy. Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thác Langbian gần Đà Lạt.

    Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phụ nữ Thượng.

    Về cơ bản là các sọc : màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh. Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm – ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Phu phát thư kiện.

    Từ 1976 đến đầu thập kỷ 1990, Tây Nguyên gồm 3 tỉnh là Gia Lai-Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Sau đó tỉnh Gia Lai-Công Tum được chia thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum (thay đổi cả cách viết chính thức tên tỉnh). Tỉnh Đắc Lắc chia thành hai tỉnh: Đắk Lắk và Đắk Nông.

    Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Bức ảnh nổi tiếng về người Tây nguyên.

     

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Tắm con bên suối.
     
    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Thiếu nữ Tây nguyên ngày nay.

    Ngày nay, Tây nguyên phát triển mạnh về kinh tế với các đồn điền bạt ngàn trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, chè … – trở thành vùng kinh tế động lực, vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp dài ngày. Một bộ phận đông đảo người dân tộc thiểu số đã biết chuyển sang trồng các loại cây công nghiệp thay cho tập quán: phát, đốt, chọc, tỉa… lạc hậu trước đây.

    Điện đã về tận các buôn làng biên giới của Chư Prông, Đức Cơ, Chư Pah, Ia Grai, đường giao thông xẻ núi về với “ốc đảo” Kon Pne – những cánh đồng bạt ngàn, quanh năm xanh ngắt nhờ hệ thống thủy nông Ayun Hạ…không còn là chuyện lạ của Tây nguyên

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Ảnh nghệ thuật về Tây nguyên.

    Mặc dù vậy Tây Nguyên vẫn còn là một vùng đất ẩn chứa nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể quý báu, trong đó nổi bật hơn cả là sử thi, mà trước đây chúng ta thường gọi là Trường ca, Anh hùng ca, một thể loại tự sự dân gian truyền miệng, cho tới nay vẫn được lưu giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt cộng đồng.

    Tư liệu ảnh quý về Tây nguyên ngày xưa
    Ảnh nghệ thuật về Tây nguyên.

    Việc phát hiện, sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng của nhiều thế hệ các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian gần một thế kỷ qua.

    Riêng văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005.

    Tây nguyên xưa và nay vẫn là một vùng đất huyền thoại giàu đẹp, một điểm nhấn giữa ngã ba Đông dương.

    Hình ảnh Việt Nam sưu tầm!

  • Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931

    Công chúa Mỹ Lương, nữ sinh áo tím Đồng Khánh, quan võ ở Huế… là loạt ảnh màu hiếm có được phóng viên tạp chí National Geographic chụp ở Đông Dương 1931.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Bà Chúa Nhất, hoàng trưởng nữ của vua Dục Đức, chị cả của vua Thành Thái và các hầu gái. Ảnh: Corbis.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Công chúa Mỹ Lương, tên thật Nguyễn Thị Cẩm Hà, con của bà Chúa Nhất.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Một ông quan văn đứng trước Điện Cần Chánh ở Huế.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Hai ông quan võ trong triều đình Huế.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Cửa Hiển Nhơn ở Hoàng Thành Huế.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Đài chiến sĩ trận vong bên bờ sông Hương.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Hai em nhỏ đứng trước một tấm bình phong ở Hội An.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Những người cửu vạn An Nam.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Đàn ông và phụ nữ An Nam bên đường Cái Quan (Quốc lộ 1 ngày nay).

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Ngựa và hình nhân vàng mã của người Việt.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Các nhà sư ở Huế.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Một phụ nữ bán đồ mộc.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Nữ sinh trường Đồng Khánh ở Huế với áo dài tím đặc trưng.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Một bức ảnh khác của các nữ sinh Đồng Khánh.

    Ảnh màu cực hiếm về Huế năm 1931
    Tháp Chàm ở Ninh Thuận.

  • Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa

    Đêm rằm mười sáu trăng treo

    Anh đóng giường lèo, cưới vợ Lái Thiêu
    Năm xưa, có bao chàng trai người Minh Hương bỏ tiền ra mua cho được chiếc giường lèo (giường bằng gổ, có chạm trỗ) với ước mong cưới được những cô con gái Việt hương sắc ở Lái Thiêu ? Không ai biết. Có điều tôi biết chắc là người Sài Gòn xưa mong cuối tuần đi Lái Thiêu đổi gió và ăn trái cây, nhứt là cứ độ từ tháng 5 đến tháng 8, là mùa trái cây ở Lái Thiêu chín rộ.
    Đất Bình Dương – Thủ Dầu Một ra đời cùng lúc với lịch sử hình thành Sài Gòn – Đồng Nai, thuở Nguyễn Hữu Cảnh “mang gươm đi mở cõi”. Đất Bình Dương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Phần với đồng bằng sông Cửu Long nên thế đất bằng phẳng hơi dốc, có độ cao trung bình 20-25m so với mặt biển, rất thích hợp với các loại cây công nghiệp và cây ăn trái. Và Lái Thiêu là một trong 5 quận thuộc tỉnh Bình Dương từ lâu đã nổi tiếng với vườn cây trải rộng trên diện tích 1,250 ha.

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa
    Thuở trước, Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một. Đến tháng 12 năm 1899 tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa. Đến tháng 10 năm 1956 tỉnh Bình Dương được thành lập, bao gồm tỉnh Thủ Dầu Một và một phần tỉnh Bình Long, có 5 quận, tỉnh lỵ là Phú Cường. Người Bình Dương trong lịch sử của mình đã làm nên di sản văn hóa miệt vườn “đặc trưng miền Đông” và làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ, đồ gốm và tranh sơn mài, tiếng tăm vang lừng cả nước cho tới ngày nay.
    Lái Thiêu cách Sài Gòn khoảng 20 km, thuở xưa là nơi nghỉ cuối tuần tuyệt diệu “dành riêng” cho người Sài Gòn. Lái Thiêu còn nổi tiếng là điểm hò hẹn của các lứa tuổi… Lái Thiệu tuyệt vời như thế nhưng hồi đó đâu phải người Sài Gòn nào cũng biết thưởng thức Lái Thiêu đâu!

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa
    Qua khỏi cầu Bình Triệu, theo Quốc lộ 13 đi khoảng 20 phút chúng ta sẽ đi vào Lái Thiêu, một vùng đất vườn cây xanh tốt, mát lạnh (trung bình 26 độ, mùa tết 24 độ C), không khí trong lành. Vào trong làng, sâu vào là những nhà vườn, nơi đây có sông có rạch đưa nước len lỏi vào từng góc vườn, có những con đường đất đỏ quanh co theo các lùm cây rợp bóng trái trĩu trên đầu…
    Người Sài Gòn đến Lái Thiêu một phần vì tiếng đồn “Sầu riêng Lái Thiêu”.

    Quả không sai! Nói đến Lái Thiêu không thể không nhắc cái tên “Sầu riêng Lái Thiêu”. Trái sầu riêng ở đây được liệt vào hàng ngon, bổ nhứt và đắt giá nhứt. Sầu riêng trồng được ở Lục Tỉnh nhưng trái không ngon bằng sầu riêng trồng ở Lái Thiêu.
    Người Pháp gọi trái sầu riêng là Durian, hay Durion. Người Việt mình gọi là sầu riêng, và phải chăng tiếng “sầu riêng” do ta đọc trại từ tiếng “Djoerian” của người Malaysia mà ra chăng? Trái sầu riêng không giống trái mít như có người lầm tưởng!
    Cây sầu riêng có tên khoa học là Durio Zibethinus, hay Durio Capparis thuộc họ thảo mộc Malvacées hay Bombacacerae, cùng họ với cây gòn- gạo, cây bông vải. Bổ tách trái sầu riêng ra, bên trong có nhiều múi như trái gòn, trái bông vải.
    Cây sầu riêng nguyên thủy mọc ở rừng Malaysia, người ở đây gọi là cây Djoerian. Người Tàu sang Malaysia buôn bán, họ mang hột về trồng tại Ấn Độ, Thái Lan, Cambodia. Đến khi người Pháp chiếm Nam Kỳ, có một số cố đạo truyền giáo Gia Tô theo vô xứ Lái Thiêu, và những nhà truyền giáo nầy đã mang nhiều giống cây trái lạ từ các xứ khác vào đây, trong đó có cây sầu riêng.Người Lái Thiêu kể lại, vào năm 1890 có cố đạo người Pháp tên là Cernot đem hột sầu riêng từ xứ Nam Dương về trồng ở họ đạo Tân Quy. Có lẽ đây là cây sầu riêng đầu tiên của Lái Thiêu?

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa
    Cây sầu riêng cao lớn tới 20m. Lá hình bầu hơi dài, hoa mọc ở nhánh, trái to, vỏ có gai rất nhọn. Trái cho nhiều múi, mỗi múi có từ 1 đến 5 hột như hột mít. Hột có bao bọc một lớp cơm mềm, màu trắng vàng óng như màu mỡ gà, giống như múi mít mật, mít ráo.
    Sầu riêng chín có mùi rất đặc biệt, gọi là mùi sầu riêng. Mùi xuất phát từ lớp cơm sầu riêng, bay xuyên qua vỏ tỏa ra ngoài. Mùi sầu riêng mạnh hơn mùi mít, người thích thì khen là thơm, ai không ưa thì cho là mùi “khó chịu”. Nói gì thì nói là hễ đã “chịu ăn” sầu riêng rồi thì thấy nó ngon-bùi-béo-thơm và ghiền luôn …
    Cây sầu riêng trổ bông ba đợt trong một năm, cho 60 đến 90 trái. Từ khi trổ bông đến khi trái đậu là 20 đến 25 ngày, và từ ngày trổ bông đến ngày kết trái và chín là 5 tháng. Mùa sầu riêng từ tháng 5 đến tháng 9 dương lịch. Sầu riêng khi “chín mùi” thì tự nhiên ban đêm rụng xuống gốc. Chủ vườn không ai để trái chín mùi cả, mà cắt sầu riêng trước khi chín, nhiều khi trái đem đi bán hãy còn xanh là vậy.
    Mua sầu riêng phải là “người chuyên môn” mới biết trái sầu riêng nào ngon. Sầu riêng chín già bao giờ cũng ngon hơn trái non đem “dú ép” cho chín giả. Trái già nhìn vỏ có màu vàng đậm, gai nở cách xa nhau, gay to và đều. Trái vỏ còn xanh thì phần nhiều ruột chưa chín hết, cơm mỏng và không mềm. Cho nên khi mua,có người đòi người bán khoét một lỗ – gọi là thử: coi màu sắc, coi cơm cứng hay mềm, nếm ngọt lạt … Vây mà nhiều lúc vẫn bị lầm!
    Có người cho rằng sầu riêng ăn rất bổ, giúp nhuận tràng, ăn vô thấy hết mệt nhọc.Những người mà da khô hay nứt nẻ, có gai, nhất là phụ nữ, ăn nhiều sầu riêng sẽ làm cho da nhẵn mịn. Ngày xưa phụ nữ ở Malaysia thường lấy cơm của trái sầu riêng và mỡ của trái bơ làm thuốc xoa bóp cho da trở nên mịn, đẹp, chắc và bóng mịn.
    Măng cụt Lái Thiêu cũng là trái cây níu kéo người Sài Gòn.
    Măng cụt loại trái cây được xem là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới, trái có hình dáng đẹp dễ thương và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Trái măng cụt chín có màu tím sẫm nhìn bắt mắt, bổ ra bên trong màu trắng tinh gợi cảm, hương thơm dịu mát quyến rủ, và bạn có thể ăn no mà không sợ đầy bụng.
    Măng cụt Lái Thiêu trồng theo kỷ thuật cách 6-7m/cây theo hình vuông, tàn cây không được giáp nhau nên phải tỉa cành sau mỗi vụ thu hoạch. Măng cụt được trồng từ hột cũng có đặc tính giống như cây mẹ, độ 8 – 10 tuổi mới cho trái. Cây măng cụt trổ bông thay lá vào tháng 2, tháng 3. Mùa trái chín từ tháng 5 đến tháng 7.

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa
    Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới thì măng cụt (Garania Mangostana Linn) là 1 trong 10 “siêu trái cây”, vì măng cụt là sự kết hợp hoàn hảo về nhiều mặt như:hương vị thơm ngon đặc sắc, hình dáng và màu sắc đẹp mắt, giàu dưỡng chất, có khả năng chống oxy hóa và giúp cơ thể chống lại được nhiều bệnh tật. Vỏ măng cụt được xắt lát, sấy khô, rồi nghiền thành bột trị bệnh kiết lỵ.
    Măng cụt không chỉ có ở Lái Thiêu miền Đông, mà còn được trồng vùng Lục Tỉnh như Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, và trong đó Bến Tre măng cụt trồng xen trong vườn dừa lão. Hiện nay toàn tỉnh Bến Tre có khoảng 4,500 ha đất trồng măng cụt, chiếm 77% diện tích cả nước vì ở Bến Tre cây măng cụt phát triển rất tốt.

    Lái Thiêu với người Sài Gòn xưa
    Giai thoại kể rằng vào đầu thế kỷ 17, Lái Thiêu bấy giờ còn là một vùng đất hoang với bạt ngàn rừng rậm. Trong số những người Minh Hương đầu tiên đến lập nghiệp ở Lái Thiêu, có gia đình của một người đàn ông họ Lục làm nghề gốm. Con trai của ông là Lục Thành Tài đã đem lòng yêu một cô gái người Việt, nhà ở bên kia sông Rạch Tra. Hàng ngày, cô gái thường chèo ghe, chở mắm, khô đến bán cho lò gốm.Gia đình hai bên biết được, đều ngăn cấm nhưng hai người vẫn quyết tâm tìm đến nhau. Cuối cùng, mối tình của họ đã phải kết thúc bằng hai cái chết bi thương.Sau đó, trên mộ hai người mọc lên một loài cây lạ, trái của nó có vỏ ngoài xù xì, gai góc nhưng bên trong thì thơm ngon đến lạ lùng. Người dân địa phương đã đặt tên cây là sầu riêng để tưởng nhớ tới mối tình chung thuỷ của đôi trai gái và Lái Thiêu cũng nổi danh về trái cây từ đó.
    Cây sầu riêng cao trên 20m, trái nặng từ 2 – 5kg, khi chín tự rụng xuống. Điều kỳ lạ là trái sầu riêng chỉ rụng vào ban đêm nên không hề có trường hợp rơi vào đầu người. Người cho đó là do sự linh nghiệm của chàng trai Minh Hương và cô gái Lái Thiêu.

    Nguồn: Vietnamarchitecture

  • Tìm hiểu về dòng họ Tôn Thất và Tôn Nữ

    Tìm hiểu về dòng họ Tôn Thất và Tôn Nữ

    Không phải ai cũng biết về nguồn gốc và lịch sử dòng họ trâm anh này.

    Bạn đã từng nghe đến cái tên “Công Tằng Tôn Nữ” trong các tiểu phẩm. Ai cũng biết dòng họ này chỉ dành cho công chúa, người phụ nữ có hoàng thân quốc thích.

    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934
    Nam Phương Hoàng Hậu – Vợ của Vua Bảo Đại (Bà là dâu họ Nguyễn, không mang họ Tôn Nữ, nhưng xin minh họa để thể hiện vẻ đẹp xa xưa)

    “Nếu như người Việt Nam theo nguyên tắc Phụ Hệ và chỉ có con gái mới có mang họ Công Tằng Tôn Nữ. Vậy tại sao bây giờ vẫn có người mang họ đó (bởi con gái mang họ cha). Hoặc đây chỉ có thể là do một nguyên tắc chân truyền nào đó” ?

    Hãy cùng HinhanhVietNam.com tìm hiểu vấn đề này:

    Họ “Công Tằng Tôn Nữ” được dùng cho các cháu gái bên nhà họ nội của các đời vua Nguyễn xuất phát từ thời Minh Mạng. Vua Minh Mạng (Tên húy: Nguyễn Phúc Đảm) đã định ra một chính hệ từ đời vua Gia Long trở về sau theo nguyên tắc sau: con cháu các chúa Nguyễn thì được xếp vào hệ Tôn Thất cho nam và Tôn Nữ dành cho nữ.

    Từ năm Minh Mạng thứ 3 (1923), những người trong Hoàng tộc thuộc dòng dõi các chúa bắt đầu được thay tên là Tôn Thất thay cho họ Nguyễn Phúc.

    Gia phả 13 đời Vua Nguyễn

    Còn sự khác nhau giữa Tôn Nữ và Công Tằng Tôn Nữ là ở chỗ cách đặt tên theo thế hệ các con gái, cháu gái :

    • Công Chúa : chị em vua Minh Mạng.
    • Công Nữ : con của vua.
    • Công Tôn Nữ : cháu của vua.
    • Công Tằng Tôn Nữ : chắt của vua.
    • Công Huyền Tôn Nữ : chít của vua.
    • Huyền Tôn Nữ : dùng chung cho thế hệ này trở về sau .

    Nhưng cũng theo một số tài liệu thì Tôn Nữ được sử dụng chung cho thế hệ thứ 2 trở đi với ý nghĩa là chỉ cháu gái.

    Các nhân vật nổi tiếng trong dòng họ Tôn Thất – Tôn Nữ

    Tôn Thất:

    Tôn Thất Hiệp: Tướng chúa Nguyễn

    Tôn Thất Thuyết: Đại thần nhà Nguyễn.

    Tôn Thất Đàm: Khâm sai chưởng lý quân vụ đại thần nhà Nguyễn một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.

    Tôn Thất Tiệp: Một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.

    Tôn Thất Hân: Phụ Chánh Thân Thần nhà Nguyễn, thay mặt vua Bảo Đại trong thời gian vua đi du học

    Tôn Thất Tùng: Bác Sĩ Hàng Đầu Việt Nam thế kỷ 20

    Tôn Thất Bách: Bác Sĩ, Nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, Hiệu Trưởng Đại học Y Hà Nội

    Tôn Thất Tiết: Nhà Soạn Nhạc Người Pháp Gốc Việt

    Tôn Thất Lập: Nhạc Sĩ

    Tôn Thất Đào: Họa Sĩ, Hiệu Trưởng Đầu Tiên Của Cao đẳng Mỹ thuật Huế

    Tôn Thất Thiện: nhà dân tộc chủ nghĩa

    Tôn Thất Uẩn: Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Đính: Thiếu tướng Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Xứng: Thiếu tướng Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Khiên: Đại tá Việt Nam Cộng Hòa Tỉnh Trưởng Thừa Thiên Huế

    Tôn Thất Sanh: Thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa Trợ Lý Quyền Tham mưu Trưởng Tư lệnh Vùng 2.

    Tôn Nữ:

    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh – Bà từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam bên cạnh Liên minh châu Âu EU và tại Bỉ. Bà cũng từng là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam.

    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh
    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh

    Công Tằng Tôn Nữ Kim Anh – nhân vật chính trong chuyện tình có thật của tác giả bài hát Giọt Lệ Đài Trang với cô tiểu thư con nhà trâm anh thế phiệt.

    Tổng hợp từ  dembuon.vn , congnghe5giay.com …

    P/S: Nếu có sai sót, xin các bạn comment vào bên dưới. Hình ảnh Việt Nam.com sẽ đính chính!

  • Chợ Đồng Xuân xưa & nay

    Chợ Đồng Xuân tuy nằm trong khu phố cổ nhưng có tuổi đời trẻ hơn rất nhiều so với các phố xung quanh. Trước kia đây là khu đất trống thuộc phường Đồng Xuân, huyện Thọ Xương nằm trước quán Huyền Thiên (sau đổi thành chùa Huyền Thiên). Người dân họp chợ trên hai khu đất ở cạnh chùa Cầu Đông ở phố Hàng Đường và cạnh đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm vì hai khu đất đó gần bến sông, tiện cho thuyền đi lại.
    Năm 1889, khi những dấu tích cuối của sông Tô Lịch và hồ Thái Cực bị lấp hoàn toàn, người Pháp quy hoạch lại đã giải tỏa hai chợ trên và dồn tất cả các hàng quán vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, tạo thành chợ Đồng Xuân. Trong năm đầu tiên chợ họp ngoài trời, hoặc có che mái lá giống như hai chợ cũ.
    Năm 1890 chính quyền Pháp mới bắt đầu xây dựng chợ Đồng Xuân, tạo thành năm vòm cửa và năm nhà cầu dài 52m, cao 19m. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn.
    Tại đây đã diễn ra các trận chiến ác liệt giữa Vệ quốc quân chống lại lính Lê dương của Pháp, rất nhiều Vệ quốc quân đã hi sinh tại đây trước khi rút khỏi Hà Nội.
    Sau ngày giải phóng thủ đô, chợ Đồng Xuân là chợ lớn nhất Hà Nội.
    Vào khoảng năm 1990, chợ được xây dựng lại, phá bỏ hai dãy hai bên, ba dãy giữa xây lên ba tầng. Hai tấm cửa hai bên cũng bị dỡ, nhưng vẫn còn giữ hai cột ngoài cùng.
    Năm 1994, chợ Đồng Xuân đã bị hỏa hoạn, lửa thiêu trụi gần như toàn bộ các gian hàng trong chợ. Đây là vụ cháy chợ lớn nhất tại Hà Nội cho đến nay

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft

    Auto Draft