Blog

  • Giải mã thứ bậc thầy Hai, con Tám… của Sài Gòn xưa

     Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám, chị em ta buôn bán “vốn tự có”  thứ Chín… 

    Giải mã thứ bậc thầy Hai, con Tám... của Sài Gòn xưa
    Quán cà phê, nơi người Sài Gòn xả stres và “tám” đủ chuyện trên đời với kiểu ngồi rất Nam bộ, Sài Gòn sông nước: co chân lên ghế – Ảnh: M.C.

    Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám”…

    “Em chả hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

    Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này,  biết đâu có dịp nào đó anh em có thể dùng để “buôn dưa lê” lúc “trà dư tửu hậu”.

    Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

    Đứng trên hết là các “quan lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên.

    Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

    Hàng thứ Ba là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

    Xếp thứ Tư là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

    Thứ đến là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

    Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

    Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

    Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

    Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: “Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

    Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

    Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”.

    Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, “bỏ qua đi Tám”!

    Theo Tuoitre Online

  • Giọng nói người Sài Gòn

    Giọng nói người Sài Gòn

    Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương

    ganh hang rong sai gon
    Ai sống ở Sài Gòn này mà có thể quên tiếng rao vặt của những cô gánh hàng rong ..

    Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
    Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
    Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
    Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
    Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.
    Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay.
    Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó [” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
    Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó [ lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
    Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
    Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

    Nguồn Operablog

  • PHẬT GIÁO HÒA HẢO

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO
    I- Vị Trí Địa Dư:
    Đạo Phật giáo Hòa Hảo được khai sáng tại làng Hòa Hảo, quận Tân châu, tỉnh Châu đốc, Việt Nam, và từ đó phát triển bành trướng ở miền tây nam Việt, nhứt là tại 15 tỉnh sau đây: Châu đốc, An giang, Sa đéc, Kiến phong, Vĩnh long, Phong dinh, Chương thiện, Kiên giang, Ba xuyên, Bạc liêu, An xuyên, Định tường, Long an, Kiến hòa, Kiến tường, và thủ đô Sàigòn-Gia định. Đặc biệt đây là những tỉnh đồng bằng thuộc châu thổ sông Cửu Long, giáp nước Cao miên, được mệnh danh là vựa lúa của Việt nam.
    II- Nguồn Gốc:
    Ngoài sự kiện kinh tế trên đây, vùng này còn có một số dải núi mà nhiều văn kiện lịch sử, xưa nay đã lưu truyền rằng tại đó chứa đựng nhiều điều huyền bí ly kỳ, nhứt là dải Bảy núi Thất sơn tại biên giới tỉnh Châu đốc giáp xứ Cao Miên.
    Những điều huyền bí đó lưu truyền trong sách vở đến nay chưa ai cắt nghĩa được, ngoài sự kiện cụ thể là chính tại vùng Thất sơn này đã phát xuất, từ năm 1849 một vị Phật Sống tức Đức Phật Thầy Tây An, người sáng lập tông phái Bửu sơn Kỳ hương, và sau này vào năm 1939, cũng một vị Phật sống khác là Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, tiếp nối truyền thống Bửu sơn Kỳ hương mà khai sáng mối đạo Phật giáo Hòa Hảo, cũng tại một địa điểm gần dải Thất sơn.
    Do đó, tuy là Phật giáo Hòa Hảo mới ra đời từ 1939 đến nay, nhưng đã có nguồn gốc tông phái Bửu sơn Kỳ hương từ 1849, tức là trên một trăm năm nay. Bửu Sơn Kỳ Hương không có hệ thống tổ chức giáo hội như các tôn giáo Tây phương. Do đó những người kế truyền lãnh đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã không được đề cử, thăng cấp, bổ nhậm theo các thủ tục của một giáo hội, hay được trao truyền y bát theo truyền thống Tổ Tổ lưu truyền của Phật giáo Trung Hoa.
    Các vị kế truyền trong hàng lãnh đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đều đã tự nhiên xuất hiện như một bực siêu phàm đắc đạo và được tín đồ tôn sùng như một vị giáo chủ. Hoặc là những vị đã trung kiên hành đạo, sáng suốt lãnh đạo quần chúng, nên được tín đồ cảm phục tin tưởng mà theo.

    Hình ảnh: Đức Thầy tại Văn Phòng đường Lefèbre (Nguyễn Công Trứ) Saigòn, năm 1943
    Hình ảnh: Đức Thầy tại Văn Phòng đường Lefèbre (Nguyễn Công Trứ) Saigòn, năm 1943

    Có thể phân biệt ra hai dòng truyền thừa:
    1. Lãnh đạo tinh thần với tư cách Giáo chủ kế truyền của Tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương.
    2. Lãnh đạo thế tục, là các cao đồ hay đại đệ tử của Phật Thầy Tây An.
    Trong phần này chúng tôi muốn nói đến hàng Giáo chủ kế truyền gồm các vị mà ngôn ngữ tây phương gọi là Prophet, dịch ra là Tiên Giác, tự nhiên đắc đạo, thông đạt trí huệ, vượt hẳn lên trên người phàm tục và được chư tín đồ tôn sùng thờ kính như Giáo chủ. Các vị này cũng viết ra kinh giảng để truyền bá giáo lý, cũng trị bịnh cứu đời bằng phương pháp mầu nhiệm không cần dược liệu. Nội dung kinh giảng và pháp môn tu hành của các vị này cũng giống như giáo lý Bửu sơn Kỳ hương, và địa bàn hoạt động cũng trên một vùng địa dư với Bửu sơn Kỳ hương, và nhứt là đều có liên hệ đến linh địa Thất sơn. Cho nên các vị được quần chúng tin tưởng như bực siêu phàm hay Hoạt Phật xuất hiện, với sứ mạng thiêng liêng hoằng dương đạo pháp cứu thế độ dân.
    Theo các tài liệu hiện hữu về Bửu sơn Kỳ hương và Phật Giáo Hòa Hảo, các vị Giáo chủ kế tiếp được xếp theo trình tự sau đây:
    1. Ðức Phật Thầy Tây An, tục danh Ðoàn Minh Huyên, Giáo tổ khai sáng đạo Bửu sơn Kỳ hương (1849-1856).
    2. Ðức Phật Trùm (không rõ tục danh) truyền đạo 1868-1875.
    3. Ðức Bổn Sư, tục danh Ngô Lợi truyền đạo 1879-1890.
    4. Ðức Sư Vãi Bán Khoai (không rõ tục danh) truyền đạo 1901-1902.
    5. Ðức Huỳnh Giáo Chủ (tục danh Huỳnh Phú Sổ) khai sáng đạo Phật giáo Hòa Hảo năm 1939.
    Đức Phật Thầy Tây An đã nổi danh khắp miền nam Việt Nam, là một vị Phật Sống và một nhà ái quốc, cũng như sau này Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật giáo Hòa Hảo cũng được người Việt Nam tôn sùng là một vị Phật Sống xuống thế cứu đời, đồng thời cũng là một nhà cách mạng quốc gia chơn chánh.
    III- Số Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo:
    Tổng số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo được ước lượng vào khoảng trên 2 triệu người (trước 1-1-1966), đại diện cho một tỉ số 38% trên dân số vùng Hậu Giang, hay 10% trên tổng số dân Việt Nam Cộng Hòa. Có những tỉnh như Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo lên đến 90 % dân số; ở các tỉnh khác, tỷ số này thay đổi từ 10 đến 60 %.
    IV- Đặc Tính Phật Giáo Hòa Hảo:
    – Đặc Tính Thứ Nhất nằm trong truyền thống Bửu sơn Kỳ hương đến Phật giáo Hòa Hảo là một nền đạo Phật của nông dân.
    Đức Phật Thầy Tây An trước kia vừa truyền bá đạo Phật vừa khuyến khích nông nghiệp dưới hình thức “Lập trại ruộng để vừa tu hành vừa cày cấy”. Ngày nay cũng thế, hầu hết tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là nông dân và đó cũng là một lý do tại sao đức Huỳnh Giáo Chủ đã lập đạo tại một vùng đất phì nhiêu nhứt Việt Nam.
    Trên phương diện nhân sinh và xã hội, người ta cũng nhận định rằng bản chất thuần phác của người nông dân cho họ có căn bản thuận lợi để tu học theo đạo Phật.
    Đặc Tính Thứ Hai, Phật giáo Hòa Hảo cũng như Bửu sơn Kỳ hương đều chủ trương tu hành tại gia. Bởi vì các vị Giáo Chủ này đã nghĩ rằng đạo Phật không những chỉ truyền bá ở thiền môn mà còn phải phát triển rộng rãi đến mọi gia đình.
    Do đó các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo không bị bắt buộc phải cạo đầu vào chùa, lìa bỏ mọi việc ngoài thế gian, mà họ vẫn ở tại gia đình, sống như mọi người công dân khác với nếp sống bình dị trong nông nghiệp, đồng thời tu hành theo giáo lý của Đức Thích Ca.
    Tôn chỉ tu hành của Phật giáo Hòa Hảo là Học Phật Tu Nhân, tức là noi theo giáo lý chơn truyền của Đức Phật mà tu sửa con người, để vừa làm tròn bổn phận trong cõi đời đang sống, vừa dọn thân tâm cho trong sáng để được siêu thăng vào cõi Tịnh Độ Cực Lạc, giải thoát khỏi vòng luân hồi.
    Để thi hành tôn chỉ Học Phật Tu Nhân, người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo phải tích cực thực hiện Tứ Ân, tức bốn điều ân lớn, là:
    1- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ
    2- Ân Đất Nước
    3- Ân Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
    4- Ân Đồng Bào Nhơn Loại
    Cũng trong đường lối đó, người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đã tỏ ra tích cực tu hành đồng thời cũng tích cực hy sinh vì đất nước, khi quốc gia hữu sự.
    Đặc Tính Thứ Ba là sự canh tân phương pháp hành đạo nhằm loại trừ mọi hình thức rườm rà mê tín dị đoan. Đặc tính canh tân này có mục đích loại bỏ âm thinh sắc tướng để phát dương phần tinh túy của đạo Phật, đúng theo chánh pháp vô vi của Đức Phật.
    Phật giáo Hòa Hảo chủ trương canh tân như sau:
    – Không cất chùa đúc tượng thêm ngoài những ngôi chùa đã sẵn có. Ai giàu lòng từ thiện thì nên phát tâm bố thí, cứu trợ kẻ nghèo khổ, hơn là cất chùa lớn, đúc tượng cao.
    – Không chấp nhận thầy cúng, thầy lễ, thầy bói, thầy phù thủy, cũng không dâng cúng chè xôi thực phẩm cho Phật, vì Phật không dùng những của hối lộ đó.
    – Không dùng cờ phướn, lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, phí tổn vô ích….
    – Không khóc lóc hay làm linh đình lúc tang ma, mà chỉ im lặng cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thoát.
    – Không ép hôn, thách tiền cưới hay tiệc rượu linh đình, vì sẽ mang nợ, gây hại về sau.
    Tóm lại, giáo pháp vô vi Phật giáo Hòa Hảo nhằm canh tân phương pháp hành đạo để trở về với giáo lý chơn truyền của Đức Phật, là tu hành tại Tâm, chẳng phải ở hình thức lễ nghi bề ngoài.
    V. Sự Thờ Phượng Của Phật Giáo Hòa Hảo:
    Trong chủ trương canh tân nói trên, sự thờ phượng trong nhà các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thật là giản dị.
    – Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ.
    – Thờ một tấm trần dà tượng trưng cho Đạo và đất nước.
    – Lập một bàn thờ nhỏ đơn giản gọi là bàn Thông thiên trước nhà.

    Nguồn: www.nguyenhuynhmai.com

    Nguồn: phatgiaohoahao.net

     

  • Vài nét về tín ngưỡng dân gian Việt Nam

    Vài nét về tín ngưỡng dân gian Việt Nam

    Từ thời xa xưa, với điều kiện thiên nhiên trù phú, Người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng thiên nhiên đã sớm trở thành tập tục lâu đời và quan trọng trong đời sống tôn giáo. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Mỗi tôn giáo khi được du nhập vào Việt Nam đều được cải biên, trở nên gần gũi hơn với tập tục và tư tưởng bản địa.
    Tháp Chàm Ninh Thuận
    Tháp Chàm Ninh Thuận
    Tín ngưỡng phồn thực xuất hiện từ thuở sơ khai của sử Việt. Với sự quan trọng của ngành lúa nước, nuôi trồng, chăn nuôi, các tộc người Việt tôn thờ biểu tượng về âm – dương, sự dung hòa giữa trời và đất, và sự nảy nở sinh sôi của vạn vật. Tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở) được tìm thấy trong tranh ảnh dân gian như tranh Đông Hồ, Bắc Ninh, với hình ảnh trâu, lợn, gà, cá; hay trong các sản phẩm văn hóa lâu đời như hình ảnh nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 TCN. Phong tục “giã cối đón dâu” cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ. Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên.
    Tín ngường sùng bái tự nhiên: Thiên nhiên của người Việt chính là mẹ, là hình tượng vị nữ thần vạn năng đem lại no ấm, trù phú và bảo hộ cho từng con dân. Điều này được tìm thấy rõ nét trong tín ngưỡng thờ Đạo Mẫu, được hình thành từ ảnh hưởng của Đạo Giáo Trung Hoa, kết hợp với tập tục thời Nữ Thần từ thời tiền sử. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được thờ phụng, là điều khá đặc biệt khi đặt vào bối cảnh đất nước chịu nhiều giáo điều, lễ nghi Nho giáo.
    – Thờ tam phủ, tứ phủ: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải) và Mẫu Địa Phủ.
    – Thờ tứ pháp:
    Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu
    Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu
    Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng
    Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn
    Tín ngưỡng nhân thần: Người Việt coi trọng sự sống chết, tin rằng bản thể con người gồm 2 phần: hồn và xác. 3 hồn gồm có: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Các câu nói trong dân gian như “sống khôn chết thiêng” giải thích về yếu tố thờ nhân thần mạnh mẽ trong đời sống tâm linh Người Việt. Người Việt Nam thờ tự cẩn trọng từ tổ tiên ông bà, thành hoàng làng, tổ nghề, tứ bất tử, đến các danh nhân và anh hùng.
    Thà đui mà giữ đạo nhà
    Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ. (Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)
    Tuy Người Việt nói chung vẫn giữ những phong tục như thờ tự, lễ bái, xong hầu hết lại không theo một giáo lý, hay tôn giáo nào cụ thể. Sự pha trộn của tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian, với sự mù mờ về niềm tin liệu có trở thành một vấn nạn cho dân tộc? Hay sẽ là không gian cho Việt Nam phát triển về mặt kinh tế và hội nhập về mặt tri thức?
    Nhưng suy cho cùng, sự thờ tự đối với tự nhiên tất sẽ mang đến một nền tảng đạo đức vững vàng đối với công cuộc phát triển bền vững. Hay như việc ghi nhớ công ơn của tổ tiên ông bà, và những anh hùng, hào kiệt chính là cơ sở của truyền thống uống nước nhớ nguồn và là phẩm chất quý giá của dân tộc Việt Nam.
    Trịnh Khánh Linh (THE PAVONIS ORGANIZATION)
  • Tục ăn trầu của người Việt

    Tục ăn trầu của người Việt

    Tục ăn trầu, nét văn hoá giản dị lâu đời của người Việt 
    Tục ăn trầu, nét văn hoá giản dị lâu đời của người Việt - Betel Chewing

    Đôi nét về tục ăn trầu
    Ăn trầu là một phong tục cổ truyền của người Việt Nam có từ thời Hùng Vương. Miếng trầu gắn liền với một câu chuyện cổ tích Trầu Cau đầy tình anh em, vợ chồng.
    Miếng trầu xuất hiện nhiều trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt. Như người xưa đã nói “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, trầu dùng để mời khách đến chơi nhà. Mâm cỗ cúng gia tiên cũng không thể thiếu được miếng trầu. Tiệc cưới có đĩa trầu để chia vui. Miếng trầu, còn là tượng trưng cho tình yêu lứa đôi; miếng trầu đi đầu, tác hợp cho lứa đôi và là sợi dây kết chặt mối lương duyên trai, gái thành vợ thành chồng. Để đưa mâm lễ sang thưa chuyện nhà gái, nhà trai không thể thiếu được lá trầu, quả cau.
    Người xưa ăn trầu còn là để bảo vệ hàm răng của mình, chất chát của trầu cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng cứng chặt lại không lung lay. Còn trong y học cổ truyền người Việt Nam xưa đã dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển mò ngọc trai, săn bắt đồi mồi…
    Mời trầu khách Theo tục ăn trầu, khi khách đến nhà, trước tiên, chủ nhà phải mang một cái bát có đựng nước kèm theo một cái muỗng (môi) đặt trên một cái đài để khách súc miệng. Sau đó, chủ nhà mang khay trầu ra tiếp đãi. Trên khay có đĩa đựng trầu, đĩa dựng cau, hủ vôi, hộp thuốc xỉa, dao, đĩa đựng vỏ giấy, vỏ cau… dưới chân lúc nào cũng có một ống nhổ lớn để khách nhổ bả trầu, nước trầu. Nếu khách là người ở tuổi trung niên, có thể nhai miếng trầu trực tiếp và tận hưởng hương vị cay, thơm của miếng trầu. Nếu là người già, sẽ cho miếng trầu tiêm vào ống ngoáy để ngoáy cho mềm và sau đó mới nhai trầu. Bộ dụng cụ ăn trầu trưng bày được làm bằng nhiều nguyên liệu da dạng từ đồng, bạc cho đến gốm, bao gồm cơi đựng trầu, bình vôi, chìa vôi, ống nhổ, dao bổ cau, ống ngoáy, chìa ngoáy. Hoa văn trang trí dụng cụ ăn trầu thường là những nét hoa văn, chạm trổ về phong cảnh quê hương đất nước, hoa lá hay động vật.
    Trầu có vị như thế nào?
    Miếng trầu gồm bốn loại nguyên liệu: Cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng), vôi (vị nóng). Cây cau vươn cao biểu tượng của trời (dương). Vôi chất đá biểu tượng của đất (âm). Dây trầu mọc từ đất, quấn quýt thân cây cau, biểu tượng cho sự trung gian. Miếng trầu gồm miếng cau, lá trầu quết vôi, phụ thêm miếng vỏ cây chát (miếng rễ).
    Tỷ phú người Mỹ Bill Gates thưởng thức miếng trầu têm cánh phượng của người quan họ Bắc Ninh
    Tỷ phú người Mỹ Bill Gates thưởng thức miếng trầu têm cánh phượng của người quan họ Bắc Ninh
    Ăn trầu cau thì miếng trầu có vị ngọt của hạt cau, vị cay ở lá trầu, chát nóng từ vôi, cái bùi của rễ… tất cả như tạo nên sự kích thích, làm cho thơm miệng, đỏ môi…
    Nghệ thuật têm trầu
    Để têm được miếng trầu đẹp, gồm: cau, lá trầu, thuốc xỉa và vôi, đòi hỏi người tiêm trầu phải khéo tay, gấp nếp miếng trầu vuông vắn. Têm trầu cánh phượng – Nghệ thuật của người Hà Nội “Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh.”
    Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia coi việc têm trầu là một nghệ thuật. Nói đến trầu têm cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc. Cũng vẫn nguyên liệu ấy, nhưng cách têm đẹp, kiểu cách, đã thể hiện sự khéo léo của những liền chị, người gái quê Kinh Bắc. Vì thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉ một lần được mời.Nhìn miếng trầu têm có thể phán đoán được tính cách, nết người têm trầu.
    Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa. Cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng. Họ ăn trầu để làm đỏ môi, đen răng và tạo ra nét môi cắn chỉ rất đẹp. Khi ăn trầu, người Hà Nội không cho cả trầu và rễ vào một lúc mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập, rễ trầu được quét vôi rồi khi ăn, người ta lấy tay quệt ngang miệng để tạo nét môi cắn chỉ.
    Trầu têm cánh phượng
    Trầu têm cánh phượng
    Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới ăn trầu cho nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes – một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: “Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn”.
    Một khóm cây trầu không mọc trên sườn nhà
    Một khóm cây trầu không mọc trên sườn nhà
    Cây cau được trồng ở rất nhiều vùng trên cả nước.
    Cây cau được trồng ở rất nhiều vùng trên cả nước.
    Cho tới ngày nay, tuy tục ăn trầu và mời trầu ít phổ biến như xưa lá trầu vẫn mang một ý nghĩa sâu xa nhất định trên nhiều lĩnh vực như y học, tâm lý xã hội, bản sắc truyền thống dân tộc, …Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng vẫn là thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết thân, lễ tế, cưới hỏi, bởi miếng trầu đã mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam.Những vật dụng dùng trong tục ăn trầu giờ đây đã trở thành di sản của một phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ mãi trong mỗi người Việt chúng ta.

    Hình ảnh Việt Nam Tổng hợp từ : THE PAVONIS ORGANIZATION và VanhoaVietNamTV

  • Những người con nổi tiếng của Quảng Trị

    Những người con nổi tiếng của Quảng Trị

    Đây là những người con của mãnh đất Quảng Trị, mỗi người một lĩnh vực và để lại dấu ấn trong nước Việt Nam. Bạn đã biết hết những người đó chưa. cùng Tôi yêu Quảng Trị tìm hiểu về các nhân vật đó nhé.

    1. Tổng bí thư Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907, tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình nông dân

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1976 đến 1986. Ông là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam có tổng thời gian tại vị lâu nhất với 25 năm, 303 ngày

    2. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
    là một nhà thơ, nhà văn hiện đại nổi tiếng ở Việt Nam.
    Bài thơ nỗi tiếng “NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC”
    Đất nước đẹp vô cùng.
    Nhưng Bác phải ra đi
    Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác!
    Khi bờ bãi dần lui,làng xóm khuất,
    Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre.

    Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.
    Bài thơ Mèo con đi học do Phan Thị Vàng Anh viết năm 1975 từng được đưa vào sách Tập đọc lớp 1 của Việt Nam.
    Hôm nay trời nắng chang chang.
    Mèo con đi học chẳng mang thứ gì.
    Chỉ mang một cái bút chì.
    Và mang một mẩu bánh mì con con.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    3. Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương

    Đồng chí Trần Trọng Tân (tên thật là Trần Trọng Hoãn) quê quán tại xã Tân Mỹ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, tham gia cách mạng từ năm 10 tuổi.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    4.Ca sĩ Như Quỳnh

    Như Quỳnh có tên khai sinh là Lê Lâm Quỳnh Như (9/9/1970) quê gốc ở Đông Hà, Quảng Trị. Như Quỳnh cùng với Phi Nhung là một trong 2 nữ ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất thập niên 90.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    5.Ca sĩ Vân Khánh
    Vân Khánh sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Thành, Vĩnh Linh, Quảng Trị, là nữ ca sĩ nổi tiếng với dòng nhạc dân ca, quê hương.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    6.Ca nhạc sĩ Duy Khánh
    Tên thật Nguyễn Văn Diệp(1936 – 2003), còn có nghệ danh Tăng Hồng, Hoàng Thanh. Ông sinh ra ở Triệu Phong – Quảng Trị

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    7.Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (sinh 16 tháng 7 năm 1929 – mất 23 tháng 9 năm 2001) quê quán Bích Khê,Triệu Phong là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông nổi tiếng tại miền Nam trước 1975 với những bài hát ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt. .

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng
    8.Nhạc sĩ Trần Hoàn (1928-2003) Ông tên thật là Nguyễn Tăng Hích, sinh năm 1928, quê quán Hải Lăng,Quảng Trịlà tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng nhưSơn nữ ca (1948), Tìm em, Lời người ra đi (1950), Lời Bác dặn trước lúc đi xa (1998), Thăm Bến nhà rồng (1990), Kể chuyện người cộng sản, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm… Ông còn từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    9.Đại tướng Đoàn Khuê (1923–1999), bí danh Võ Tiến Trình; là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Bộ trưởngBộ Quốc phòng; Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1997. sinh ngày 29 tháng 10 năm 1923; Mất ngày 16 tháng 1 năm1999; Quê quán: Thôn Gia Đẳng, Xã Triệu Tân, Huyện Triệu Phong, TỉnhQuảng Trị (nay là Xã Triệu Lăng, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị).

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    10.Thiếu Tướng Lê Hữu Thoả quê thôn Nại Hiệp, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong,
    Là một trong những người có công rất lớn trong việc giải phóng tỉnh Quảng Trị.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng
    11. Nhà thơ Phan Văn Dật sinh ngày 17 tháng 8 năm 1907 chánh quán của ông ở làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

    Tập thơ nỗi tiếng “Bâng Khuâng”
    Tôi không hay hưởng cùng cái hiện tại.
    Hững hờ, tôi thường để nó đi qua.
    Chuyện ngày nay sau tôi sẽ xót xa,
    Tôi chỉ tiếc những giờ không trở lại.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    12.Nhà văn Tạ Nghi Lễ sinh ngày 8-10-1951, tại làng Lâm Xuân, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, Quảng Trị là nhà văn, nhà thơ với bút danh: Tạ Tấn, Hoàng Nguyên, Mai Tấn, Ái Nghi33 nổi tiếng với bài thơ “Quê Mình”. Tạ Nghi Lễ còn tham gia đóng phim và được xếp vào hàng kỷ lục Việt Nam4!

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    13. Trần Hữu Dực (1910-1993) là một cựu chính khách Việt Nam. Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    14.Hoạ sĩ Lê Bá Đảng (27 tháng 6 năm 1921 tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. – 7 tháng 3 năm 2015 tại Paris) là một hoạ sĩ Việt Nam. Ông là một trong nhiều họa sĩ Việt Nam thành danh trên đất Pháp theo trường phái nghệ thuật đặc sắc Việt Nam

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    15.Trưởng bản Kỳ Ne Hồ Văn A ( huyện Đakrông, Quảng Trị).
    Kỳ Ne là một trong bảy bản người đồng bào Pakô của xã giáp biên giới Ango( huyện Đakrông, Quảng Trị). Mới hai năm trước, đốt phá rừng làm rẫy là nghề chính của toàn xã.
    Kỳ Ne là bản đầu tiên trong 3 xã vùng biên không còn phá rừng làm rẫy nữa. Thay vào đó bàn con đã biết làm ruộng một năm 2 vụ, mỗi sào ruộng (5000m2) bình quân một vụ cho 15 gùi (khoảng 300kg/sào). Cả bản đã có 5 chiếc ti vi, cả 32 nhà đều có tua-bin nước phát điện. Tất cả trẻ con trong bản đều được đi học, không phải bỏ học đi rẫy nữa.
    16.Tiến sĩ Bùi Dục Tài (sinh năm Đinh Dậu (1477). Ông là danh thần đời Lê Túc Tông (1487-1504), người xã Câu Nhi, thôn Câu Lãm, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

    Người khai khoa Tiến sĩ đầu tiên năm 1502 của xứ Đàng Trong, được “Sắc tứ vinh quy”, được đề danh ở bia đá Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)

    17. Cục trưởng: Thiếu tướng Hồ Thanh Tự

    cục trưởng cục chính trị, bộ tổng tham mưu quân đội
    18. Nhà văn Ngô Thảo sinh năm 1941, quê gốc Vĩnh Linh, Quảng Trị. Hiện sống tại Hà Nội. Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sân khấu; Giám đốc NXB Sân khấu. Hiện là cố vấn nghệ thuật Công ty BHD và Hãng phim Việt.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    19. Nhà văn HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG :Ông sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937,quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

    là một nhà văn của Việt Nam
    Bút ký nỗi tiếng “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    20.Nhà văn Lê Thị Mây tên thật là Phạm Thị Tuyết Bông., sinh năm 1949 tại An Mô, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị.
    Học xong phổ thông, Lê Thị Mây tham gia Thanh niên xung phong chống Mỹ. Sau giải phóng, bà học Trường viết văn Nguyễn Du. Làm báo từ năm 1970, từng là Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt
    Thơ nỗi tiếng
    Tặng riêng một người (Văn học, 1990) – được Hôi Nhà văn Việt Nam trao thưởng năm 1991

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng
    21.Nhà văn Xuân Đức (1947-) là một nhà văn Việt Nam, được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007
    Ông tên thật là Nguyễn Xuân Đức, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1947, tại xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
    Tiểu thuyết nỗi tiếng “người không mang họ”

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    22.Ông Nguyễn Khánh Toàn (thượng tướng) thứ trưởng bộ công an

    Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1945, quê quán tại xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ngày 27 tháng 7 năm 1967

    Nguyễn Khánh Toàn (sinh năm 1945) là Tiến sỹ Luật, Đại biểu Quốc hội khóa XI; là một tướng lĩnh Công an Nhân dân Việt Nam – hàm Thượng tướng. Ông từng giữ chức Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an Việt Nam, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    23. Vũ Soạn (1923) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách Việt Nam, Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong 2 cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ góp phần cho công cuộc thống nhất đất nước. Ông từng giữ chức quyền Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Trị, Khu ủy viên Khu ủy Trị Thiên Huế và Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên.

    Vũ Soạn tên thật là Võ Hữu Kim , ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1923 tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông hiện đang ngụ tại Phường Vĩnh Ninh, Thành phố Huế

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    24. Điệp viên Z.23 – Cuộc đời hơn 40 năm phục vụ ngành tình báo

    Người dong dỏng cao, khuôn mặt hiền hậu, giọng nói nhỏ nhẹ khiến cho những người lần đầu gặp mặt không thể tin được đây là một sĩ quan tình báo đã từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm treo giải thưởng cho ai chỉ điểm và bắt được ông. Ông là Vũ Trọng Thành, bí danh Hồng Quang, bí số Z.23- nguyên đại tá, Trưởng khoa Điệp báo quân sự chiến lược của một trường đào tạo tình báo.

    Sinh ra trên miền quê nắng cát Quảng Trị, con đường đến với cách mạng của ông như là sự tất yếu đối với đa phần thanh niên Việt Nam sống trong nỗi nhục mất nước. Ông kể: “Nhà tôi nghèo, quanh năm chỉ biết cày thuê cuốc mướn cho bọn nhà giàu để sống lay lắt qua ngày. Do tôi bình sinh vóc người mảnh khảnh, ốm yếu nên được cha mẹ và anh chị em dành dụm cho đi học quốc ngữ ở trường làng đến khi đỗ sơ học yếu lược (ngang với lớp 3 bây giờ) lại về quê cày thuê kiếm sống…”.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    25. Ông Nguyễn Quân Chính là Phó chủ tịch tỉnh Quảng Trị – đã từng là chủ tịch của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Ông quê ở Vĩnh Trung, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Một cán bộ mẫu mực vì dân vì nước, nói như các cụ là: “Người cán bộ xưa nay hiếm”.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng
    26.“Thần đồng” Phan Đăng Nhật Minh

    Hải Thọ- Hải Lăng- Quảng Trị.
    giành giải nhất cuộc thi ‘Chinh phục’ .

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    27. Văn Viết Đức
    thôn Long Hưng, xã Hải Phú, Hải Lăng (Quảng Trị)
    nhà vô địch cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm 2015

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    28. Ca Sĩ Minh Thùy Vietnam Idol
    Nói đến Minh Thùy, người ta nhớ ngay tới một ca sĩ có ngoại hình mũm mĩm nhưng sở hữu giọng ca đầy nội lực ở cuộc thi tìm kiếm tài năng ca hát Vietnam Idol – Thần tượng âm nhạc mùa 2003/2004.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

    29. VĐV Hồ Thị Huế:Hiện là Chánh văn phòng Hội người khuyết tật tỉnh Quảng Trị

    Hồ Thị Huế đã có vinh dự mang về chiếc huy chương (HC) vàng đầu tiên cho Đội tuyển bơi Việt Nam (VN) tham dự Para Games.
    HCB Paragames, HCV Châu Á Thái Bình Dương.Busan (Hàn Quốc)(2012)

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    30. VĐV Trần Thị Bé
    Ở Đại hội thể thao người khuyết tật toàn quốc đang diễn ra tại Hà Nội, chị Trần Thị Bé – người từng để lại nhiều ấn tượng qua vai Hảo trong phim Đời cát – đã bất ngờ giành được một Huy chương bạc và một Huy chương đồng

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

     

    31. Ca sĩ Cáp Anh Tài
    Tên đầy đủ : Cáp Xuân Anh Tài
    Sinh ngày : 12/11
    Quê: Thành phố Đông Hà -Quảng Trị
    Cao : 1m73
    Là cựu trưởng ban Văn nghệ trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Trưởng nhóm
    nhạc mang tên “Trẻ”. Giải nhất các nhóm nhạc Đà Nẵng.
    Các giải thưởng: Giải nhất tiếng hát truyền hình Quảng Trị.
    Huy chương vàng tiếng hát Miền Trung
    Giải nhất Cuộc thi tiếng hát HSSV Đà Nẵng.
    Nhiều giải thưởng khác.

    Đã phát hành 2 album:
    Vol 1: Như chưa bao giờ Năm 2008. Được khán giả yêu thích các ca
    khúc “Ngày hôm qua” của Yen Lam; “Xa lộ tình yêu” của Cáp Anh Tài sáng
    tác ;
    Vol 2 : Chơi vơi Năm 2009. Được khán giả yêu thích các ca khúc như :
    Mây bay về đâu và Nụ hôn tiễn đưa của Cáp Anh Tài sáng tác. Hoa tím ngoài sân của Thanh Tùng, 36 sợi phố của Trúc Giang.

    Cáp Anh tài hát được nhiều thể loại nhạc với giọng hát truyền cảm và phong
    cách trình bày cháy lửa.
    Ngoài các ca khúc viết riêng cho mình, Cáp Anh Tài cũng đã sáng tác nhiều nhạc
    phẩm cho các đơn vị khác như: SBJ- Sacombank bài “SBJ Lấp lánh mùa xuân”,
    Tạp chí Beauty & Hair; Tạp chí Cẩm nang mua sắm, Công ty DQ…

    Ngoài năng khiếu âm nhạc, Cáp Anh Tài còn là Biên đạo múa, biên kịch, đạo
    diễn event…

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    32. Ca Sĩ Đinh Hương

    Nổi lên từ cuộc thi Giọng hát Việt năm 2012 sau khi giành ngôi vị Á quân, Đinh Hương là một trong những nữ ca sĩ trẻ người Quảng Trị nổi bật trong thời gian gần đây.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

     

     

    33. ca sĩ Tùng Dương, tên thật Nguyễn Tùng Dương, (sinh 18 tháng 9 năm 1983tại Bắc Ninh)1 là một ca sĩ Việt Nam. Anh được biết đến từ cuộc thi Sao Mai điểm hẹn năm 2004, trong đó anh đã giành chiến thắng với giải thưởng do Hội đồng nghệ thuật bình chọn

    Tùng Dương là người gốc Quảng Trị, sinh tại quê ngoại Bắc Ninh. Anh là con một trong gia đình, bố là doanh nhân, mẹ từng mở cửa hàng trang điểm, chụp ảnh – nên về sau trở thành người thiết kế trang phục cho Tùng Dương. Dù bố mẹ anh không theo nghề hát, nhưng từ nhỏ Tùng Dương đã được tiếp xúc với âm nhạc, đặc biệt chịu ảnh hưởng từ ông trẻ là cố nhạc sĩ Trần Hoàn. Ngoài ra, nhà thơ Phạm Hổ và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ là em trai của bà nội anh.Năm Tùng Dương học lớp ba, bố mẹ anh đi Nga làm ăn, để lại Tùng Dương cho hai bác ruột nuôi nấng. Ở Nga, bố mẹ anh thường tìm gửi những đĩa nhạc mới về cho con trai. Anh tiếp xúc với nhạc jazz từ lúc còn rất nhỏ tuổi, điều đó giúp góp phần định hình phong cách của anh sau này.

    Những người con Quảng Trị nổi tiếng

    Đang cập nhật thêm./

  • Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn

    Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn

    Một trang mạng Trung Quốc đăng ảnh vài mẫu bút tích của một số vị vua Nhà Nguyễn. Mời bạn xem và cho ý kiến!

    Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn

    Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn Bút pháp Hán tự của các vị Vua nhà Nguyễn

  • Những bức ảnh cực hiếm về cuộc đời Vua Bảo Đại

    Bảo Đại là vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của nước ta. Cai trị đất nước giữa thời kỳ “bản lề”, lại thấm nhuần văn hóa Pháp từ bé, những hình ảnh đáng nhớ về ông thường gắn với đời sống quý tộc phong lưu, “Âu hóa” hơn là chuyện vận mệnh đất nước. 

     

    Auto Draft

    Bảo Đại tiếp xúc với nền văn hóa Pháp từ rất sớm. Bức ảnh trên chụp khi ông còn đang là Hoàng tử Vĩnh Thụy, trong chuyến thăm tới Pháp năm 1922 cùng Vua cha Khải Định (Ảnh: T. Do Khac)

    Auto Draft

    Cũng trong năm 1922, Hoàng tử Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và bắt đầu quá trình học tập theo chương trình giáo dục Pháp. Đến năm 1932, ông theo học tại Trường Khoa học Chính trị Pháp (Ảnh: Bettmann)

    Auto Draft

    Do tiếp xúc, sống và học tập cùng văn hóa phương Tây từ nhỏ, Bảo Đại trưởng thành giống với một cậu trai pháp bảnh bao hơn là một vị Vua của một nước phong kiến châu Á (Ảnh: Bettmann/CORBIS)

    Auto Draft

    Vị Vua cuối cùng của Việt Nam có vóc dáng cao lớn (1m82), gương mặt điển trai, lối sống phóng khoáng, phong độ, vì vậy mà có đời sống tình cảm khá phực tạp, chịu điều tiếng là mê ăn chơi, hưởng lạc. Bức ảnh này được chụp Bảo Đại trong trang phục dạ hội tại Pháp vào năm 1932 (Ảnh: Agence Mondial)

    Auto Draft

    Bảo Đại được biết đến là một người cưỡi ngựa điêu luyện như một kỵ sỹ. Ông cũng yêu thích và hâm mộ nhiều môn thể thao thời thượng, quý tộc thời đó như golf, tennis, bơi thuyền. (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)

    Auto Draft

    Bảo Đại đặc biệt thích chơi Tennis. Vì vậy sau khi về nước ông đã cho xây dựng một sân quần vợt “tiêu chuẩn quốc tế” ngay tại kinh thành Huế, khiến nhiều du khách hiện nay tới thăm di tích Cố đô Huế vẫn nghĩ đó là một công trình hiện đại được xây sau này!

    Auto Draft

    Một bức ảnh hiếm hoi Bảo Đại chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không rõ ngày tháng của bức ảnh nhưng nhiều khả năng là giai đoạn sau khi ông thoái vị và tham gia Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Ảnh: T. Do Khac)

    Auto Draft

    Vào tháng 3/1946, trên tư cách cố vấn tham dự phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh, Trung Quốc, Bảo Đại đã không về nước mà đến Côn Minh rồi qua Hồng Kông, chấp nhận sống cuộc đời lưu vong. Bức ảnh trên nằm trong loạt ảnh được tạp chí Time của Mỹ thực hiện vào tháng 6/1948, tại căn hộ riêng của ông ở Hồng Kông (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Vị cựu Hoàng lưu vong tiếp phóng viên trong bộ vest sáng màu chải chuốt, tay châm thuốc lá như một tay chơi sành điệu. Tại Hồng Kông, để tiện ăn chơi mà không bị chú ý, Bảo Đại đổi tên thành Wang Kunney tiên sinh, tuy nhiên danh phận Đế vương của ông không thể che mắt được người thường. Dân thượng lưu Hồng Kông đồn rằng muốn xem mặt Bảo Đại chỉ cần tìm ở 14 tiệm nhảy, nếu không thấy thì tìm ở các sòng bạc (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bảo Đại hướng dẫn chú cún cưng của mình thực hiện động tác bắt tay (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bức ảnh chụp trong một chuyến công tác tới Pháp năm 1948 tại khách sạn Ritz, trung tâm Paris (Ảnh: Bettmann/CORBIS)

    Auto Draft

    Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên. Trong hình ông đang đứng nói chuyện với viên sỹ quan Pháp khi vừa đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà Nội vào tháng 3/1954, vẫn trong bộ âu phục chải chuốt quen thuộc cùng cặp kính râm lịch lãm (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bảo Đại làm Quốc trưởng đến tháng 10/1955 thì bị Ngô Đình Diệm phế truất. Ông sau đó sang Pháp sống lưu vong tại Paris cho đến cuối đời (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Một bức ảnh kháp chụp trong cùng chuyến đi Hà Nội năm đó (Ảnh: Stringer/AFP)

    Auto Draft

    Bảo Đại chụp cùng Tướng Pháp Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi trong chuyến thăm đồng bào thiểu số Tây Nguyên tại Buôn Mê Thuột vào tháng 5/1950 (Ảnh: Stringer/AFP)

    Auto Draft

    Vua Bảo Đại trên trang bìa tạp chí Pháp Paris Match, số ra tháng 9/1953, vẫn với điếu thuốc lá trên tay – thứ gần như gắn liền với “thương hiệu” Bảo Đại (Ảnh: (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)

    Auto Draft

    Một bức ảnh “chất lừ” khác cũng trong số tạp chí đó (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)

    Auto Draft

    Bảo Đại cùng con gái, Công chúa Phương Mai hào hứng theo dõi cuộc đua Công thức một từ hàng ghế V.I.P tại đường đua Monza huyền thoại của Ý năm 1955. Có lẽ ông cũng là một trong những người Việt đầu tiên có cơ hội xem trực tiếp môn thể thao vốn dành cho giới nhà giàu này (Ảnh: Mario De Biasi/Mondadori Portfolio)

    Auto Draft

    Bảo Đại chụp cùng người vợ Pháp của mình, bà Monique Baudot vào năm 1992, 5 năm trước khi ông qua đời vào năm 1997 (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)

  • Ảnh đời thường Hà Nội những năm 90

    Ảnh đời thường Hà Nội những năm 90

    Những thứ rất đời thường , giờ trở thành vô giá
  • Vì sao tháng 7 âm lịch được gọi là “tháng cô hồn”?

    Theo quan niệm dân gian, tháng 7 Âm lịch hàng năm được coi là tháng của ma quỷ hay tháng cô hồn. Cách gọi này có nguồn gốc từ xa xưa, đến nay vẫn được sử dụng nhưng ít người hiểu hết được ý nghĩa.

    Từ xa xưa, người Việt quan niệm con người có hai phần đó là phần hồn và phần xác. Tùy theo lúc còn sống và những việc mà người đó làm dẫn đến khi mất đi, phần hồn sẽ tách khỏi phần xác mà được đầu thai thành kiếp khác hay xuống địa ngục, thậm chí lang thang quấy rối người thường. Và cúng cô hồn từ đó mà xuất hiện.

    Không có văn bản thay thế tự động nào.

    Việc cúng cô hồn không chỉ để khỏi bị quấy phá, mà vì muốn làm phúc, giúp những cô hồn ít ra cũng có một ngày được no nê, đỡ tủi phận. Đó là ý nghĩa mang tính nhân văn rất cao trong văn hóa Việt, cũng như quan niệm về ngày xá tội: con người dù đã gây ra những tội ác gì thì trong quá trình chịu trừng phạt, quả báo, cũng có được một ngày xá tội, để đỡ khổ cực, đau đớn…

    Dưới góc độ Đạo giáo, tục cúng cô hồn bắt nguồn từ tích cổ Trung Hoa. Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục.

    Do đó, vào tháng 7 Âm lịch, người ta quan niệm trên dương thế có rất nhiều quỷ đói nên phải cúng cháo, gạo, muối hối lộ cho chúng để chúng không quấy nhiễu cuộc sống bình thường.

    Ở Trung Quốc, việc cúng cô hồn được thực hiện vào ngày 14 tháng 7 Âm lịch, còn ở Việt Nam, thời gian này kéo dài nguyên một tháng, không nhất thiết phải là ngày rằm. Ngày cúng cô hồ có thể tùy thuộc vào từng gia đình, từng vùng miền khác nhau.

    Ngoài ra, theo quan niệm, tháng cô hồn là tháng ma quỷ, không đem lại may mắn nên hầu hết các công việc cưới hỏi, khởi công xây dựng, mua sắm, đi xa,… đều tránh tháng 7.

    Theo Lịch Sử Việt Nam page
  • Những cây cầu ngói đẹp ở Việt Nam

    Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định… vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.

    Chùa Cầu được chọn là biểu tượng của thành phố Hội An, xuất hiện trên tờ 20.000 đồng. Đây là công trình do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Việt Nam xây dựng vào thế kỷ 17. Cầu dài khoảng 18 m, vắt qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn.

    Những cây cầu ngói đẹp ở Việt Nam 

    Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Ở gian chính giữa có tượng Bắc Đế Trấn Vũ – thần chuyên trấn trị lũ lụt.

    Ở làng Bình Vọng (xã Văn Bình, Thường Tín, Hà Nội) có cây cầu 5 gian lợp ngói bắc qua ao đình.

    Trên cầu, hai bên là dãy bục gỗ để cho khách bộ hành nghỉ chân.

    Cầu ngói ở xã Hải Anh (Hải Hậu, Nam Định) được xây dựng vào thế kỷ 16.

    Cầu có 9 gian uốn cong được dựng trên 18 cột trụ đá vững chắc, có phần hành lang hai bên để cho khách bộ hành nghỉ chân.

    Ở khu vực chùa Thầy (Hà Nội) có hai cây cầu ngói do Phùng Khắc Khoan xây vào năm 1602.

    Cầu Nhật Tiên dẫn vào đảo giữa hồ, trên có đền Tam Phủ.

    Cầu Nguyệt Tiên nối với con đường lên núi.

    Cùng với nhà thờ Đá, cầu ngói Phát Diệm cũng là công trình kiến trúc dân gian đặc sắc ở vùng Kim Sơn (Ninh Bình).

    Cầu dài 36 m, rộng 3 m với 3 nhịp, mỗi nhịp có 4 gian.

    Cầu ngói Thanh Toàn (thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế) cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7-8 km. Thân cầu được làm bằng gỗ, phía trên lợp mái ngói ống tráng men.

    Cầu dài khoảng 17 m, rộng 4 m và được chia làm 7 gian với gian giữa là nơi thờ bà Trần Thị Đạo, người góp tiền xây cầu cho dân làng tiện đường qua lại vào thế kỷ 18.

    Lê Bích – KTS Nguyễn Phú Đức

  • Tấm hình chân dung đầu tiên của người Việt

    Điều thú vị xung quanh chuyện: Ai là người được chụp ảnh chân dung đầu tiên?
    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) là bức ảnh chụp chân dung xưa nhất của người Việt Nam, bức ảnh được chụp vào năm 1863 tại Paris Pháp khi cụ Phan cầm đầu phái đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Pháp để xin chuộc lại 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ

    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản
    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản

    Ông sang Pháp được ba tháng nhưng không gặp được vua Napoleon III, ông đành trở về Việt Nam với những lời hứa hẹn của Pháp, nhưng khi về đến Việt Nam thì Pháp đã đánh chiếm thêm 3 tỉnh miền tây

    Sau đó ông được triều đình nhà Nguyên phân bổ trách nhiệm vào trấn thủ miền nam, tới năm 1867 toàn bộ Nam Kỳ thất thủ và rơi vào tay người Pháp. Cảm thấy không thể hoàn thành được sứ mệnh của triều đình giao cho, ông uống thuốc độc tử tử chết cùng năm để lại di chúc cho con cháu là “không nên làm chính trị”

    Hiện tại bức hình này còn được lưu tại bảo tàng nhân chủng học ở Paris Pháp.

    Theo thôn tin mà HinhAnhVietNam được biết, một nhóm bạn trẻ đang hoàn thiện công nghệ in ảnh 3D để làm tượng từ ảnh thật : http://chibi3d.com bạn quan tâm thì cứ liên hệ thử nhé!