Blog

  • Ảnh Hội An xưa

    Trong lịch sử, Hội An từng là một thương cảng quốc tế, nơi mà các thương nhân nhiều nước trên thế giới đều biết đến với những tên gọi khác nhau như Hải Phố, Faifo, Hội An,… Cũng trong thời kỳ đó nhiều thương nhân từ các nước như Trung Hoa, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha… đã đến Hội An để giao thương buôn bán. Cùng với cư dân Hội An bản địa thương nhân các nước đã tạo dựng không ít các công trình kiến trúc từ nhà cửa đến đền đài, miếu mạo. Bên cạnh đó, họ còn để lại một di sản văn hóa phi vật thể hết sức phong phú, đa dạng đó là những phong tục – tập quán; lễ lệ – lễ hội; các loại hình sinh hoạt vui chơi giải trí; các loại hình văn hóa văn nghệ dân gian; các làng nghề truyền thống và quan trọng hơn là người Hội An với những đặc trưng về tính cách vừa riêng – vừa chung, vừa bình dị – vừa tương đồng… Tất cả những giá trị quý giá đó được lưu giữ lại qua nhiều dạng “tư liệu”, trong đó ảnh xưa là một trong những dạng tư liệu khá quan trọng.

    Ảnh Hội An xưa

    Ảnh Hội An xưa

    Chùa Cầu, một biểu tượng văn hóa của thương cảng Hội An những năm 30 thế kỷ XX.

    Hội An những năm 1930-1950 đã được tái hiện sinh động trong loạt ảnh thuộc sở hữu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Vĩnh Tân, một người con đất Hội An.

    Ảnh Hội An xưa

     

    Ảnh Hội An xưa

    Hội Quán Quảng Triệu của người Hoa

    Ảnh Hội An xưa

    Đền Hàn Cung.

    Ảnh Hội An xưa

    Chùa Bà Mụ

    Ảnh Hội An xưa

    Tháp Bàng An của người Chăm

    Ảnh Hội An xưa

    Quà vặt Hội An.

    Ảnh Hội An xưa

    Bé gái nướng bánh đa trên phố.

     

    Ảnh Hội An xưa

    Đường 7 Cây Dừa năm 1950

    Ảnh Hội An xưa

    Đội bóng đá Hội An năm 1930

    Ảnh Hội An xưa

    Hiệu Vải Tuyết Hoa nằm trên đường Cường Để

    Ảnh Hội An xưa

    Đường Phan Chu Trinh xưa..

    Ảnh Hội An xưa

    Cầu An Hội..

    Ảnh Hội An xưa

     

    Qua quá trình sưu tầm trong nhiều năm, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa đã thu nhập được hàng ngàn bức ảnh xưa thể hiện được diện mạo của Hội An xưa, từ cảnh phố xá, công trình kiến trúc đến cách ăn mặc, sinh hoạt của người Hội An vào nhiều thế kỷ trước đây. Chúng tôi đã tìm thấy được tấm ảnh về cảnh quan bến sông Hội An lúc chưa bồi lấp, có vị trí nằm gần sát đường Trần Phú hiện nay; rồi ảnh ngôi chợ Hội An xưa vẫn còn nhiều mái nhà tranh. Những bức ảnh của dòng họ Chaya – Nhật Bản vẽ về các thương điếm của người Nhật Bản xưa đến buôn bán, sinh sống tại Hội An. Hay bức tranh của John Barrow – người Anh vẽ về cảnh thuyền buôn tấp nập cập cảng Hội An, từ đó phần nào cho thấy được diện mạo của một thương cảng quốc tế vào thế kỷ XVIII… Đặc biệt chúng tôi đã tiếp cận được hàng trăm bức ảnh về Hội An trong thập niên từ 20 đến 60 của thế kỷ XX và hàng ngàn phim âm bản của các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp ở Hội An, trong đó các địa chỉ quan trọng như: Thiên Chơn Các là hiệu ảnh đầu tiên ở Hội An có từ năm 1912, Vĩnh Tân, Lệ Ảnh, Huỳnh Sau, Huỳnh Sỏ, Hứa Văn Bân, Trương Trừng… được lưu giữ khá tốt. Đó là những bức ảnh về những cuộc hội chợ đấu xảo trong thời kỳ Pháp thuộc; Hình ảnh vua Bảo Đại tuần du đến Hội An, thăm Trung Hoa hội quán, thăm bệnh viện Hội An… rồi ảnh về người Hội An đương thời với trang phục áo dài, nón lá của những người phụ nữ Việt Nam, hay áo sườn xám của các thiếu nữ người Hoa; rồi những người đàn ông mặc áo dài khăn đóng hoặc mặc âu phục tân thời; hay cảnh những con đường nhỏ hẹp, cong cong, yên bình, hoang vắng…; cảnh những di tích rêu phong trải qua bao năm tháng; cảnh bến sông với những con đò cũ kỹ; cảnh những con người chân lấm tay bùn canh tác trên từng thửa ruộng, cánh đồng; hay những phiên chợ Tết sầm uất; những gánh hàng rong; những món ăn dân dã; những trận lụt ngập cả khu phố; những cảnh sinh hoạt đời thường của người dân, hiện nay nhìn lại có người đã về nơi thiên cổ. Thậm chí có những người còn sống hiện đã tám mươi chín mươi tuổi nhìn lại chẳng nhận ra mình lúc còn niên thiếu. Chưa kể nhiều di tích danh tiếng mà nay đã mất đi dấu tích như chùa Bà Mụ, miếu Hội Đồng, Cây Thông Một… Chính những bức ảnh xưa này là nguồn tư liệu quý giá mà nhờ váo đó trong nhiều năm qua Hội An có cơ sở phục dựng, tu bổ nhiều di tích, phục hồi nhiều lễ hội truyền thống của địa phương… góp phần rất lớn vào việc bảo tồn tốt giá trị của đô thị cổ Hội An.
    Nơi phố cổ Hội An, các di tích vốn có diện mạo riêng, từ mặt tiền ngôi nhà, từng chi tiết kiến trúc, cách bày trí gian thờ, cách sắp xếp vật dụng, nơi sinh hoạt của gia đình, dòng họ bao đời sống trong ngôi nhà, rồi những lễ nghi họ còn duy trì, hay trang mà phục họ thường mặc… Tất cả các điều đó chứa đựng biết bao giá trị quý liên quan đến di sản Hội An mà chúng ta cần phải tìm hiểu để bảo tồn và khai thác. Để bảo tồn vốn quý này, trong nhiều năm qua, chúng tôi đã tìm đến các gia đình sưu tầm từng tấm ảnh còn sót lại. Đại đa số đều là ảnh trắng đen khổ nhỏ nhưng chất lượng giấy rất tốt, trong đó nhiều tấm ảnh đã bị trầy xướt quá nhiều không rõ hình. Phần lớn ảnh còn lưu giữ trong các gia đình là chân dung của gia đình, nghi lễ liên quan đến phong tục tập quan, tôn giáo tín ngưỡng như đám tang, đám cưới, cảnh chùa chiềng… Những tấm ảnh chân dung góp phần phản ánh đời sống sinh hoạt của người Hội An trong những năm đầu đến giữa thế kỷ 20 như gương mặt của người phụ nữ Hội An xưa với trang phục áo dài và kiểu tóc bới cao rất đẹp, rất sang trọng. Những tấm ảnh sinh hoạt gia đình cho thấy sự đầm ấm của nhiều thế hệ sống trong cùng một mái nhà…

    Ngoài ra, nhiều bức ảnh về đấu tranh cách mạng của quân và dân Hội An cũng đã được sưu tầm. Thông quan những bức ảnh này chúng ta có thể phần nào hình dung được tinh thần đấu tranh cách mạng của quân và dân Hội An trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước; phản ánh được sự tàn phá của hai cuộc chiến đã gây bao đau thương chết chóc cho người dân Hội An; với những bức ảnh về tòa công sứ Pháp nguy nga đồ sộ tại Hội An; ảnh “Cây Thông Một” một địa chỉ gắn liền với sự kiện thành lập Đảng bộ Quảng Nam, rồi những bức ảnh “một tấc không đi, một ly không rời” phản ánh tinh thần giữ vườn bám đất chống lại sự dồn dân của quân địch, hay ảnh xe tăng Mỹ càn quét ở Cẩm An, ảnh du kích xã Cẩm An bắt sống sĩ quan Mỹ, ảnh nhân dân Mitting chào mừng Hội An được giải phóng năm 1975… Và không xa lắm, những năm sau này đất nước được giải phóng, hàng trăm bức ảnh phản ánh đời sống sinh hoạt của người dân Hội An trên con đường xây dựng lại đất nước, quê hương đã được sưu tầm góp phần làm sáng tỏ các giai đoạn lịch sử của địa phương.
    Điều đáng lưu ý là trong những năm gần đây hầu hết những hình ảnh quý giá của gia đình đã bị thất thoát, hư hỏng vì các trận lũ lụt lớn hàng năm hoặc do cách bảo quản chưa đúng phương pháp. Đây là những điều đặt ra cần đáng quan tâm cho những người làm công tác bảo tồn và những người yêu nghệ thuật… Vài năm gần đây để phát huy giá trị của hệ thống ảnh xưa của Hội An, Thành phố đã tổ chức một số cuộc trưng bày, triển lãm về ảnh xưa trong các dịp lễ hội như triển lãm ảnh Vĩnh Tân với chủ đề “Hội An – ký ức thời gian”, “ảnh Vĩnh Tân với Hội An” và nhiều cuộc trưng bày, triển lãm khác tại sân bảo tàng Hội An. Những cuộc trưng bày đã thu hút đông đảo quần chúng cư dân địa phương mà cả du khách trong nước và quốc tế. Thông qua đó còn có nhiều gia đình đã tự nguyện hiến tặng nhiều ảnh cũ mà gia đình gìn giữ bấy lâu. Đặc biệt, từ những hình ảnh xưa, Hội An đã tham khảo phục hồi thành công “đêm phố cổ” tái hiện lại đêm Hội An vào những năm đầu thế kỷ XX. Sự thành công của việc làm này không chỉ phục vụ cho công tác bảo tồn mà còn là một sản phẩm du lịch  độc đáo của Hội An. Cũng từ những tấm ảnh xưa này đã tạo nguồn tư liệu, nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế, tạo mẫu thời trang như Minh Hạnh, YaLy… đã phục hồi, kế thừa sáng tạo nhiều bộ thời trang lạ, đẹp. Những bộ trang phục này đã từng được tổ chức trình diễn thời trang trong các dịp lễ hội lớn ở Hội An, cũng như nhiều địa phương trong nước và hải ngoại.

    Từ đó cho chúng ta thấy rằng hiện tại, Hội An đang lưu giữ một di sản ảnh hết sức phong phú, đa dạng góp phần làm nên nét độc đáo, quyến rũ của di sản đô thị cổ. Do đó, nơi đây hoàn toàn có tiềm năng, nhu cầu chính đáng và sự cần thiết để thành lập Bảo tàng Nhiếp ảnh trong hệ thống các bảo tàng chuyên đề, không chỉ để phục vụ khách tham quan du lịch, học tập, nghiên cứu, mà thông qua đó còn tạo điều kiện để mọi người tìm hiểu, trao đổi, giao lưu về nghệ thuật nhiếp ảnh./.

    Nguồn: Tống Quốc Hưng

  • So sánh Sài Gòn 1955 với 2005

    Sài Gòn đổi thay như thế nào sau 50 năm?

    Câu trả lời có thể được tìm thấy qua những hình ảnh so sánh đặc sắc trong ấn phẩm có tên “Sài Gòn 1955 – TP Hồ Chí Minh” năm 2005”, được Lãnh sự quán Pháp  bảo trợ xuất bản năm 2005. Trong ấn phẩm này, những bức ảnh chụp năm 1955 được thực hiện bởi nhiếp ảnh gia Pháp nổi tiếng Raymond Cauchetier.

    Auto Draft

    Auto Draft
    Sau đây là một số hình ảnh trích từ ấn phẩm, được trang mạng Belle Indochine của Pháp giới thiệu.
    Auto Draft
    Nhà thờ Đức Bà năm 1955.
    Auto Draft
    Năm 2005, diện mạo công trình không có mấy thay đổi.
    Auto Draft
    Dinh Độc Lập năm 1955 là một công trình kiến trúc mang phong cách Pháp. Nó đã bị phá hủy vào năm 1962 do cuộc oanh tạc của hai phi công bất mãn thuộc không lực Sài Gòn.
    Auto Draft
    Công trình này đã được xây dựng lại và khánh thành năm 1966. Sau giải phóng, Dinh Độc Lập đổi tên thành Hội trường Thống Nhất.
    Auto Draft
    Viện Bảo tàng trong Thảo Cầm Viên năm 1955.
    Auto Draft
    Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005.
    Auto Draft
    Chợ Bình Tây năm 1955.
    Auto Draft
    Chợ Bình Tây năm 2005.
    Auto Draft
    Mặt sau của Nhà thờ Đức Bà năm 1955.
    Auto Draft
    Năm 2005.
    Auto Draft
    Cầu Khánh Hội và cầu Mống trên Kênh Tàu Hủ năm 1955.
    Auto Draft
    Năm 2005.
    Auto Draft
    Đại lộ Charner năm 1955.
    Auto Draft
    Đại lộ Nguyễn Huệ năm 2005.
    Auto Draft
    Đại lộ De la Somme năm 1955.
    Auto Draft
    Đại lộ Hàm Nghi năm 2005.
    Auto Draft
    Khách sạn Majestic trên đường Catinat năm 1955.
    Auto Draft
    Khách sạn Majestic, đường Đồng Khởi năm 2005.
    Auto Draft
    Bến Bạch Đằng năm 1955.
    Auto Draft
    Năm 2005.
    Auto Draft
    Bờ sông Sài Gòn năm 1955.
    Auto Draft
    Năm 2005.
    Auto Draft
    Sông Sài Gòn, 1955.
    Auto Draft
    Sông Sài Gòn, 2005.
    Auto Draft
    Cầu Ông Lãnh, 1955.
    Auto Draft
    Cầu Ông Lãnh, 2005.
    Auto Draft
    Cầu Mống, 1955.
    Auto Draft
    Cầu Mống, 2005.
    Auto Draft
    Cầu Chà Và, 1955.
    Auto Draft
    Cầu Chà Và, 2005.
    Auto Draft
    Toàn cảnh Sài Gòn năm 1955.
    Auto Draft
    Toàn cảnh Sài Gòn năm 2005.
    Theo Langthang SaiGon
  • Người mẫu thời trang Hà Nội xưa

    Người mẫu thời trang Hà Nội xưa

    Thăng Long – Hà Nội không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là trung tâm văn hóa lớn nhất nước từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX. Cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, Hà Nội là một trong hai thành phố chịu ảnh hưởng thời trang phương Tây và cũng là nơi các nghệ nhân sáng tạo ra các mốt quần áo độc đáo và đẹp. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1930, Hà Nội mới xuất hiện những người mẫu thời trang chuyên nghiệp.

    Từ không chuyên

    Năm 1902, Hà Nội trở thành đô thị trung tâm của Đông Dương (bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Campuchia). cũng trong năm này, Toàn quyền Đông Dương quyết định tổ chức hội chợ lần đầu tiên. Tham dự hội chợ không chỉ có các nước trong khu vực mà còn có các nước châu Phi là thuộc địa của thực dân Pháp. Tại hội chợ, lần đầu tiên người ta tổ chức cuộc thi hoa khôi cho các cô gái Việt Nam. Trong cuộc thi, thí sinh bắt buộc phải mặc áo dài Tố Nữ kiểu Hà Nội (áo có 5 thân và cài 5 khuy) bằng chất liệu lụa, sa tanh, sồi… với nhiều màu sắc khác nhau do các nhà may có tiếng ở Hà Nội thiết kế. Áo dài Tố Nữ của ông “phó Dùi” ở phố Hàng Điếu là lựa chọn đầu tiên của ban tổ chức vì “phó Dùi” có vài chục thợ đàn em chuyên may cho các bà lớn và nhà giàu Hà Nội. Rất tiếc thời kỳ này, báo chí tiếng Pháp (chưa có báo tiếng Việt) chủ yếu tập trung vào ngợi ca thành tựu của hội chợ nên không nêu rõ ai là người đăng quang hoa khôi. Và cho dù mặc áo dài Tố Nữ chỉ là một phần thi nhưng điều đó cũng có thể khẳng định các cô tham gia thi hoa khôi chính là những người mẫu không chuyên đầu tiên.

    Người mẫu thời trang Hà Nội xưa
    Áo dài Le Mur Cát Tường.
    Thực ra, dưới các triều đại phong kiến, đám vợ con quan, các bà, các cô nhà giàu đi chơi hội ăn mặc diêm dúa, đeo vòng, xuyến, nhẫn… thì họ cũng đã là các người mẫu thời trang không chuyên rồi. Trong “Vũ Trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ mô tả cung cách ăn mặc của các bà, các cô giàu có: “Họ mặc nhiều kiểu quần áo lạ mắt khiến dân chúng trong vùng không ngớt trầm trồ, các kiểu váy áo lạ, đẹp mắt này do các thợ may giỏi đất Thăng Long sáng tạo ra”. Còn cuốn “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ” (xuất bản năm 1892), tác giả là viên bác sỹ Hocquard viết về thợ may Hà Nội như sau: “Chỉ cần đưa mẫu cho họ lập tức họ sẽ may cho bạn những bộ quần áo kiểu Pháp đẹp không thua kém gì may ở Paris”.

    Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918) xảy ra ở châu Âu nên kế hoạch 2 năm tổ chức hội chợ Đông Dương một lần bị hủy bỏ. Kết thúc chiến tranh, đốc lý Hà Nội khi đó là Dierre Parquier có sáng kiến đứng ra tổ chức hội chợ Hà Nội để tạo cơ hội cho các nhà công thương thành phố trưng bày hàng hóa. Và cũng như hội chợ Đông Dương, hội chợ Hà Nội cũng tổ chức thi hoa khôi và trình diễn thời trang. Tuy nhiên, cuộc thi hoa khôi tại các hội chợ ở Hà Nội phải ngừng lại vào năm 1939 khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở màn cho Chiến tranh thế giới lần thứ II.

    … đến chuyên nghiệp

    Đầu những năm 1930, lớp thanh niên trí thức, tân học đua nhau “bỏ cũ theo mới” bỏ Nam phục, theo Âu phục để “cải cách lối sống”. Với phụ nữ thì phong trào “tân thời” lan rộng khắp Hà Nội. Có cả những câu chê bai chị em chạy theo “tân thời”:

    Tân thời chẳng đáng là bao
    Hai xu đôi guốc, một hào đôi hoa
    Cái quần lĩnh tía hào ba
    Cái áo hào rưỡi thế ra tân thời.

    Năm 1933, nhà văn Nguyễn Công Hoan có truyện ngắn mang tên “Cô Kếu – gái tân thời” trong đó có đoạn “Cô Bạch Nhạn buồn lắm vì cổ hủ hết cách. Ấy thế cũng mang tiếng là con gái Hàng Đào! Các bạn cô, cô Bích Ngọc thì đã được mặc quần trắng và áo sáu khuy. Cô Song Khê đã được cạo răng. Đến ngay như cô Mộng Lê mà bà cụ cũng chịu để cho đánh phấn và mặc áo màu nữa là! Ức nhất là quanh năm cô chỉ được mặc đồ thâm như người có trở, trông tối sầm như bà cụ”. Mặc kệ, những chê bai chỉ trích, các cô vẫn cứ mê “tân thời” vì “Ở đời này cứ ăn mặc theo lối cổ thì bất quá lấy được anh giáo học là cùng. Những thằng Cao đẳng nó chỉ ưa tân thời thôi”.

    Xu hướng này lại được cộng hưởng bởi chủ trương “vui vẻ trẻ trung” do người Pháp khởi xướng đã làm thay đổi cơ bản quan niệm về trang phục ở Hà thành. Từ năm 1934 trở đi, phong trào Âu hóa thời trang càng sôi nổi khắp Hà thành với những mẫu “y phục tối tân” rất “văn minh” mà nhà văn Vũ Trọng Phụng đã mô tả trong tiểu thuyết Số Đỏ “Đây là cái áo ỡm ờ… Đây là cái quần hãy chờ một chút! Đây là cái áo lót hạnh phúc! Đây là cái cooc xê ngừng tay!”. Và áo dài Le Mur của nhà may Cát Tường như giọt nước tràn ly làm thời trang nghiêng hẳn về phía “tân thời”.

    Cát Tường học Mỹ thuật Đông Dương, ra trường không có việc làm, rỗi rãi thời gian ông lân la xóm cô đầu Khâm Thiên và cũng chính tại đây ông đã cải tiến và cho ra đời chiếc áo dài Le Mur. Ban đầu nó không được các cô con gái nhà lành chấp nhận vì cổ áo khoét rộng, có kiểu thì hình lá sen, thân áo bó sát người để nhô ra bộ ngực. Còn cái quần thì từ lĩnh thâm, lĩnh tía bồng đã “Âu hóa” thành quần sa tanh trắng. Để chiếc áo đi vào đời sống, Cát Tường đã nhờ các cô đầu ở Khâm Thiên mặc thử đi ra phố và vô hình trung, cô đầu Khâm Thiên cũng chính là những người mẫu không chuyên. Để áo Le Mur được nhiều người biết đến, Cát Tường đã bắt chước giới thời trang Paris mời cô gái có khuôn mặt đẹp toát lên vẻ sang trọng có tên là Ái Liên ( sau này là nghệ sỹ cải lương nổi tiếng) quảng bá áo dài Le Mur. Như vậy bước đầu có thể khẳng định, Ái Liên là một trong ba người mẫu chuyên nghiệp đầu tiên ở Hà Nội.

    Cũng trong thời gian này, họa sỹ Lê Phổ dựa trên những nét phá cách của cát Tường cũng sáng tạo ra kiểu áo dài của riêng mình với nét đằm thắm và kín đáo hơn so với Le Mur. Cháu gái của Lê Phổ là Marie Nghi Xương có hiệu may ở số 4 phố Nhà Thờ đã tung ra các kiểu áo dài theo thiết kế của chú mình. Để gây tiếng vang, hiệu may này đã mời Lý Lệ Hà (cô này có thân hình gọn, khuôn mặt đẹp và gợi cảm, sau này là người tình của vua Bảo Đại) mặc áo dài Lê Phổ vào sàn nhảy. Cùng với Ái Liên, Lý Lệ Hà cũng là người mẫu thời trang chuyên nghiệp.

    Còn người mẫu thứ ba là Trần Văn Chức nhà ở phố Hàng Đường. Thích ăn diện theo các mốt quần áo xuất hiện ở Pháp du nhập vào Việt Nam. Hằng ngày Chức đi bộ theo phố Hàng Ngang, Hàng Đào ra quán cô Thược ở Bờ Hồ uống cà phê và phì phèo thuốc lá thơm. Chủ hiệu may ở phố Hàng Ngang là Phan Đồng Giang thấy Chức có dáng vóc phù hợp với các loại quần Âu và áo sơ mi do mình may đã mời Chức làm ma nơ canh sống cho cửa hàng. Chức đồng ý và vào ngày thứ bảy, chủ nhật, anh mặc quần áo do nhà may Phan Đồng Giang thiết kế ra đứng trước cửa hiệu sau đó đi dọc con phố này rồi lại trở về hiệu. Hai hiệu may Lê Thuận Quế và Lê Thuận Khoát ở phố Hàng Đào thấy vậy cũng mời Chức làm ma nơ canh. Hồi đó Hà Nội có câu “Nhất Chức, nhì Vân, tam Trân, tứ Khánh” nghĩa là bốn anh chàng thuộc loại đẹp trai, biết cách ăn bận thời trang. Nổi tiếng, Chức được nhiều cô gái mê mẩn. Một lần Chức đi chơi hội Lim thấy các liền chị xinh xinh đã tán tỉnh bỡn cợt, bị các liền anh ghen tuông mách trai làng và lập tức Chức bị trai làng nhốt vào rọ lợn treo lên cây.

    Sau hòa bình (1954), chế độ mới quan niệm khác về thời trang và người mẫu thời trang nên không còn ai làm mẫu cho các nhà may. Và nghề này mãi đến những năm cuối thế kỷ XX mới xuất hiện trở lại.

    Nguyễn Ngọc Tiến
    Hà Nội m
  • Nghề giúp việc xưa và tên gọi con Sen, anh Xe, U già…

    Nghề giúp việc xưa và tên gọi con Sen, anh Xe, U già…

    Năm 1401, trong cải cách chế độ của Hồ Quý Ly có một quy định đó là hạn chế số lượng gia nô trong nhà quan. Gia nô là kẻ làm các công việc từ đồng áng đến việc nhà và gần như không có quyền tự do. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội, đô thị này xuất hiện nghề giúp việc cho các gia đình người Pháp và cả những gia đình người Việt ở tầng lớp trung lưu, từ đó xuất hiện những cái tên “anh xe”, “con sen”, “u già”…

    Có xe kéo tay thì phải có người kéo và cái tên “anh xe” có từ khi phương tiện này xuất hiện ở Hà Nội. Cuốn “Ở Bắc Kỳ, ghi chép và kỷ niệm” (Au Tonkin notes et souvenirs – xuất bản tại Hà Nội năm 1925) của Công sứ Bonnal (1883 – 1885) kể rằng, trong một chuyến đi Nhật, ông này đem về hai chiếc xe tay hiệu Djinnrickshas (pousse pousse – xe tay kéo), một chiếc để dùng còn chiếc kia tặng Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ. Sau đó, thuộc cấp của ông sai người làm giống như thế để họ dùng. Những người Châu Âu ở Hà Nội cũng bắt chước làm theo để dùng riêng. Đó là chiếc xe hòm có sàn để ngồi cao hơn trục bánh xe, bánh xe bằng sắt, lúc đó đường sá Hà Nội vẫn lổn nhổn gạch đá, duy nhất chỉ có phố Paul Berts (Tràng Tiền ngày nay) trải đá dăm nên rất dễ lật. Sự xuất hiện của xe tay dẫn đến một sự kiện quan trọng, Công sứ Bonnal đã cho phá bỏ các cổng cùng những cánh cửa vuông nặng trịch mà người Hoa dựng lên ở các phố họ sinh sống nhằm ngăn cách với khu người Việt để xe tay có thể ra vào dễ dàng mà không sợ tai nạn. Nhu cầu dùng xe tay tăng cao làm viên quan thuế đã nghỉ hưu là Leneven nhập xe từ Nhật và Hồng Công về cho thuê và trở nên giàu có. Năm 1890, Công ty Verneuil et Gravereand ở phố Rialan (nay là Phan Chu Trinh) đã sản xuất cả xe bánh sắt và xe bánh cao su, loại bánh sắt được bán về các tỉnh lân cận.
    Nghề giúp việc xưa
    Phu kéo xe tay ở Hà Nội đầu thế kỷ XIX.
    Việc mở mang các tuyến đường giao thông được chính quyền thành phố làm khá nhanh, tính đến ngày 1-1-1902, Hà Nội có 52km đường, trong đó hơn 10km đã rải đá và đây là yếu tố làm tăng nhanh chóng số lượng xe kéo. Theo văn bản thông qua quyết toán thuế do Công sứ Baille ký ngày 10-1-1902, số tiền thuế xe tay ở Hà Nội thu được năm 1897 là 26.530 đồng, năm 1898 là 32.165 đồng, năm 1899 là 40.450 đồng và năm 1901 là 43.370 đồng. Trước đó ngày 15-3-1892, Trú sứ Chavassieeux ký mức thuế một năm cho một chiếc xe tay là 60 đồng, như vậy năm 1897 có 442 xe, đến năm 1901, Hà Nội có tới 728 chiếc và như thế cũng có từng ấy người phu xe.Còn con sen có lẽ là phiên âm từ jeune servante trong tiếng Pháp nghĩa là người hầu trẻ, người giúp việc. Cũng như anh xe, con sen có từ cuối thế kỷ XIX, phần lớn trong số đó xuất thân từ nông thôn, ra thành phố tìm việc nhưng vì không có nghề nên họ chỉ có thể làm các công việc giản đơn trong đó có giúp việc gia đình. Sau khi quân Cờ Đen bị giải giáp phải rời khỏi Hà Nội, rồi Hà Nội (thời kỳ này rất hẹp, phía nam giới hạn đến phố Tràng Thi, phía tây chỉ đến đầu Thụy Khuê hiện nay và phía bắc và đông là đê sông Hồng) trở thành nhượng địa của Pháp năm 1888, thì nhiều công chức, sĩ quan Pháp đưa vợ con đến Hà Nội sinh sống. Vì chưa quen ở xứ thuộc địa nên họ cần có người giúp việc như đi chợ, khâu vá, bồi bếp… để cuộc sống của họ thuận tiện hơn; trong khi đó, dân ngoại ô, dân các tỉnh không có ruộng lại cần việc làm và thế là cung cầu gặp nhau, dẫn đến nghề giúp việc xuất hiện. Thế nhưng nhiều gia đình người Pháp vẫn chưa tin tưởng vào người mình sẽ thuê nên họ đã nhờ các cha cố ở Nhà thờ Lớn giới thiệu. Tuy nhiên ngôn ngữ vẫn là rào cản lớn vì thế cố Ân (tức cha cố Dronét) dùng ngôi trường 2 tầng ở phố Nhà Chung mở lớp dạy tiếng Pháp miễn phí cho họ.

    Thương mại phát triển, nhiều người Việt trở nên giàu có và họ cũng có nhu cầu thuê người giúp việc, thế nên đầu thế kỷ XX, số người giúp việc tăng lên đáng kể, nhiều gia đình mua xe tay và nuôi anh xe khỏe mạnh trong nhà để đưa ông chủ, bà chủ đi chơi, công việc, đưa con cái họ đi học… Cũng như con sen, chị khâu, u già… họ ở dãy nhà ngang của gia chủ và được trả lương theo tháng. Vào cuối những năm 1920, nhu cầu tìm việc ngoài thành phố ngày càng tăng vì Hà Nội được mở rộng về phía nam và phía tây nên đã xuất hiện những phố đưa người và một trong những phố đó là phố Mới (nay là Hàng Chiếu). Từ mờ sáng cho đến chiều tối, con phố này luôn có người tìm việc đứng chờ trong đó có chị em muốn “bán sữa” (vì con họ sau khi sinh đã chết). Xã hội văn minh nên nhiều phụ nữ cả Tây lẫn ta muốn giữ bộ ngực sau khi sinh con đã thuê họ về làm vú nuôi. Thậm chí nhiều gia đình Hoa kiều nuôi họ để hằng ngày vắt sữa cho cha mẹ già uống.

    Con sen, anh xe, u già, chị khâu… xuất hiện trên rất nhiều bài báo xuất bản trước năm 1954. Từ chuyện họ bị coi khinh hay lấy cắp tiền bạc đến chuyện chủ nhà có tình ý… Những con sen khép nép ở quê nhưng ra đô thị sẵn sàng đồng ý ngủ với đàn ông ở phòng trọ, anh xe có vợ ở quê song sẵn sàng bỏ tiền thuê nhà cho các cô bán hàng rong để thi thoảng chạy qua “cải thiện”… tất cả đều phơi trên mặt báo. Phóng sự dài kỳ “Cơm thầy, cơm cô” của nhà văn Vũ Trọng Phụng tuy không nêu cụ thể phố nào nhưng ai cũng biết ông viết về các quán cơm đồng thời là nhà trọ ở phố Hàng Chiếu. Phóng sự khiến những ai quan tâm đến gia phong, lễ giáo phải lo lắng bởi sự xuống cấp trong lối sống đô thị của chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến. Sự tha hóa đạo đức không chỉ có trong giới làm ăn, buôn bán mà còn có cả ở tầng lớp người giúp việc. Do kẻ đi ở ăn cắp của chủ rồi bỏ trốn khiến cảnh sát cũng khó mà truy tìm, nên từ năm 1935 có một người tên là Vy ở 87B phố Hàng Chiếu đã có sáng kiến bắt con sen, phu xe phải chụp ảnh, khai tên tuổi, quê quán và phải điểm chỉ vào. Năm 1936 có hàng chục người làm nghề “đưa người” ở phố Hàng Chiếu.

    Không chỉ xuất hiện trên các trang báo, họ còn là đề tài của các nhà văn, truyện ngắn “Thanh! Dạ” cho thấy sự khốn khổ của con sen, không biết nghe ai và nếu nghe người này thì bị người khác trong gia đình ấy hành hạ. Truyện “Quyền chủ” phản ánh chủ có sai thì họ vẫn đúng vì họ là chủ, truyện “Tờ giấy 100” kể chuyện vợ một anh giàu có đổ cho người ở lấy cắp tiền. Nhưng thương cảm nhất chính là truyện “Người ngựa ngựa người” cũng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, thân phận anh xe cũng là thân phận của kẻ đi ở, lại gặp gái mãi dâm cùng cảnh ngộ bế tắc không lối thoát. Trong hồi ký của Nguyễn Bắc (Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội 1954-1976) “Thành phố bị chiếm”, ông kể về bà vú ở chợ Hàng Da đã cứu thoát ông khỏi mật thám vào năm 1952.

    Không phải ai làm anh xe, con sen, u già, vú em… đều có cuộc sống bất hạnh, nhờ có mức lương ổn định nhiều người đã cải thiện được cuộc sống của gia đình họ ở quê. Thậm chí có nhiều người từ đi ở đã trở thành giàu có nhờ may mắn, ví dụ như chủ hiệu nem Sài Gòn Tế Mỹ ở đầu phố Hàng Gai xuất thân từ nhà quê ra Hà Nội làm thuê và đi ở cho một hiệu nem đầu tiên ở phố Hàng Quạt do một người vợ Tây góa chồng mở. Một thời gian sau bà này bị liệt, anh này chăm sóc tận tình nên bà ta nhận làm con nuôi rồi nhường cửa hàng cho. Hay từ là người dọn hàng ở chợ Đồng Xuân, một người đàn ông ở Phú Thượng (nay thuộc quận Tây Hồ) đã trở nên giàu có nhờ may mắn và ý chí đã sở hữu cả khách sạn và quán ăn lớn ở phố Hàng Trống.

    Sau năm 1954, chế độ mới coi việc nuôi người làm trong nhà là giai cấp bóc lột nên đã cho họ về quê.

    Tuy nhiên, đến thời kỳ đổi mới thì mọi chuyện đã khác, quan niệm về người giúp việc không còn nặng nề như thời bao cấp. Các gia đình có điều kiện nhưng neo người đã thuê người ở nông thôn giúp việc cho gia đình. Năm 1994, VTV phát sóng bộ phim truyền hình dài tập “Oshin” của Nhật, phim kể về sự vươn lên của một cô gái tên là Oshin từ đi ở trở thành bà chủ và thế là từ đó xuất hiện cái tên “ô sin” dân gian gọi chung những người giúp việc nhà. Và cũng như trước năm 1954, nghề giúp việc thời nay cũng có biết bao nhiêu chuyện bi hài, hay dở khó mà kể hết…

    Ngọc Tiến
    Hà Nội Mới
  • Thú chơi ôtô của người Sài Gòn xưa

    Thú chơi ôtô của người Sài Gòn xưa

    Hàng nghìn xe hơi La Dalat sản xuất ở Sài Gòn 50 năm trước có hơn 40% kết cấu do người Việt chế tạo; nó cũng ít hao xăng, dễ sửa chữa…

    La Dalat là xe hơi đầu tiên được sản xuất ở miền nam Việt Nam do hãng Citroën của Pháp thực hiện. Loại xe này được chế tạo năm 1969 và tung ra thị trường vào năm 1970, dành riêng cho người Việt. Nó ít tốn xăng, dễ sửa chữa và thay thế phụ tùng.

    Trên đường phố Sài Gòn những năm 1970-1975, bóng dáng chiếc xe mạnh mẽ, với màu xanh nhạt đặc trưng của La Dalat khiến nhiều người dễ dàng nhận ra, thích thú. Xe tiện dụng, rẻ lại mang thương hiệu Việt là lý do nhiều người chọn mua.

    Thú chơi ôtô của người Sài Gòn xưa

    Một chiếc La Dalat từng được sản xuất tại Sài Gòn. Ảnh: Tư liệu

    Theo tư liệu, giai đoạn 1936-1960, những dòng xe như 2CV rồi Dyane 6 hay Méhari được hãng Citroën đưa vào Việt Nam phục vụ các sĩ quan Pháp cùng tầng lớp thượng lưu. Nhưng đến giữa thập niên 1960, hãng này nghĩ đến việc chế một chiếc xe hơi ngay tại Việt Nam và dành riêng cho người Việt khi chịu sức ép cạnh tranh bởi các hãng xe máy nổi tiếng. Citroën mong muốn cho ra đời một chiếc xe hữu dụng nhưng giá thành rẻ.

    Xuất phát từ nhu cầu này, chiếc La Dalat (lấy tên thành phố Đà Lạt) được thai nghén dựa theo mẫu mã của chiếc Méhari và Baby Brousse rất thành công ở các thuộc địa cũ của Pháp. La Dalat được thiết kế với 4 kiểu dáng khác nhau gồm những bộ phận quan trọng được nhập từ Pháp như động cơ, hệ thống tay lái, bộ nhún, bộ thắng…

    Tất cả các chi tiết, bộ phận còn lại gồm đèn, kèn báo hiệu, ghế nệm, dàn đồng đóng bằng tôn, mui xe bằng lá thép uốn hoặc vải… được sản xuất ngay tại Công ty Xe hơi Saigon đặt ở góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ, hiện là Caféteria Rex. Vào cuối thập niên 60, đây là dấu ấn quan trọng, đặt nền móng cho ngành sản xuất ôtô của Việt Nam.

    Thú chơi ôtô của người Sài Gòn xưa

    Quảng cáo bán xe La Datlat tại Sài Gòn năm 1973. Ảnh: Tư liệu

    Hãng xe Citroën tập trung vào khách hàng bình dân Việt Nam nên La Dalat có những đặc tính như ít tốn nhiên liệu, dễ sửa chữa, dễ thay thế phụ tùng. Đặc biệt, các bộ phận như cánh cửa, kiếng xe… đều có thể “tự chế” từ những xưởng cơ khí thủ công rẻ tiền. Do chế tạo thủ công nên hình dáng xe thô kệch, không bắt mắt nhưng đây không phải là vấn đề quan trọng đối với khách hàng bình dân thời đó.

    La DaLat dùng động cơ 4 thì, 602 phân khối, 31 mã lực, 2 xi-lanh đối ở 2 đầu nằm dẹp. Xe có hộp 4 số tay, truyền động trục bánh trước. Trọng lượng xe đầu tiên là khoảng từ 480 đến 590 kg (tùy theo kiểu), kiểu xe thùng nặng 770 kg.

    Trong giai đoạn 1970 đến 1975, hãng xe Citroën sản xuất hơn 5.000 chiếc La Dalat, tức là khoảng 1.000 chiếc mỗi năm. Dù số lượng sản xuất khá nhỏ khi năm 1970 riêng Nhật Bản đã sản xuất 4,1 triệu ôtô các loại, song Citroën cho rằng La Dalat là thiết kế phù hợp với thị trường những nước nghèo.

    Điều quan trọng, tỷ lệ các bộ phận nội địa hóa của La Dalat khi xuất hiện đạt đến 25%. Năm 1975, tỉ lệ này nâng lên 40%. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat gồm loại 4 hoặc 2 chỗ ngồi với thùng chở hàng.

    Năm 1973, ngạc nhiên với thành công của La Dalat, Citroën đã sang Việt Nam lấy 3 chiếc về Pháp để phân tích. Từ đó họ cho ra đời kiểu khung xe dễ sản xuất mà không đòi hỏi đầu tư nhiều công nghệ như chiếc Baby Brousse mui trần thế hệ thứ hai hay chiếc FAF.

    Thú chơi ôtô của người Sài Gòn xưa

    Bên trong một chiếc La Dalat với các chi tiết khá thô sơ. Ảnh: Tư liệu

    Sau này, tuy xe không còn sản xuất nữa nhưng thương hiệu La Dalat vẫn không phai trong lòng người yêu xe, đặc biệt là những người mê xe cổ. Tại TP HCM, còn vài người đang sở hữu những chiếc La Dalat này. Theo các nhà sưu tập, kiểu dáng, động cơ của các dòng xe hiện đại ngày nay ăn đứt La Dalat nhưng dòng xe này vẫn có một chỗ đứng vững chắc trong lòng những người yêu xe cổ bởi nó mang thương hiệu Việt.

    Ông Phan Huy, chủ một chiếc La Dalat cho biết, máy móc còn tốt và xe của ông vẫn chạy ngon lành trên đường phố. Theo ông, xe La Dalat ít hỏng hóc, dễ sửa chữa lại nhẹ, tiện lợi. Chiếc xe hiện tại được ông Huy mua tại Đà Lạt khi tình cờ phát hiện nằm hoang phế trong một kho đồ cũ.

    “La Dalat là chiếc xe có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất mà tôi biết và có thể gọi nó là made in Việt Nam. Tôi rất tự hào về một dòng xe mang thương hiệu của người Việt, có cái tên cũng rất Việt về một vùng đất nổi tiếng – Đà Lạt”, ông Huy nói.

    Ở miền Bắc Việt Nam, năm 1958 nhà máy Chiến Thắng (Hà Nội) đã cho ra đời chiếc ôtô 4 chỗ ngồi đầu tiên do người Việt Nam tự chế tạo. Ôtô lấy mẫu từ chiếc Fregate chạy bằng xăng của Pháp. Ngày 21/12/1958, chiếc xe Chiến Thắng chính thức rời xưởng chạy thử thành công.

    Tuy ra đời trước 10 năm nhưng do điều kiện chiến tranh ở miền Bắc nên xe Chiến Thắng không được sản xuất hàng loạt như La Dalat nên ít người biết tới.

    Theo VNexpress

  • Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Phần lớn người Việt di cư sang các nước phát triển trên thế giới. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2015 có 2.558.678 người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy tính trung bình trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài.

    Hầu hết người Việt Nam di cư đến các nước phát triển, trong đó tập trung đông nhất là ở Mỹ (hơn 1,3 triệu người), Pháp (125,7 nghìn người), Đức (gần 113 nghìn người), Canada (182,8 nghìn người), Úc (227,3 nghìn người), Hàn Quốc (114 nghìn người),…

    Tại các nước Đông Âu, và một số nước châu Á như Lào, Campuchia, Malaysia mỗi nước có khoảng trên 10.000 người Việt di cư đến đây. Cũng theo tổ chức này, trong năm 2015, 2,67% công dân Việt Namsinh sống tại nước ngoài.

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!Bản đồ di cư của người Việt. Biểu tượng chấm hoa chỉ những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Việt sinh sống. Nguồn: IOM

    Trong ấn bản “Migration and remittances factbook 2016” về di cư và kiều hối của các quốc gia trên thế giới, Ngân hàng Thế giới cho biết, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

    Trong năm 2015, Bộ Tư pháp cho biết đã trình Chủ tịch nước giải quyết 4.974 hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (giảm 1.524 hồ sơ so với năm 2014), trả lời 2.673 trường hợp tra cứu quốc tịch theo đề nghị của các cơ quan.

    Tính chung trong 5 năm qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chủ tịch nước cho phép hơn 40.000 trường hợp xin nhập, trở lại và thôi quốc tịch Việt Nam; trả lời tra cứu, xác minh hơn 15.000 trường hợp từ các cơ quan và các Sở Tư pháp gửi về.

    Theo một báo cáo của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao Việt Nam, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội,… đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng.

    Từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, đặc biệt là từ những năm 2000, do chính sách mở cửa của Nhà nước trong quan hệ đối ngoại cũng như do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá, số người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng đông. Họ ra nước ngoài để đoàn tụ gia đình hoặc làm ăn, kinh doanh, đi du học rồi ở lại. Cũng có nhiều trường hợp kết hôn với công dân nước ngoài rồi theo chồng ra nước ngoài định cư.

    Theo tài liệu “Quốc tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam” của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, ở các nước phương Tây, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước tư bản phát triển chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 4/5 tổng số người Việt Nam ở nước ngoài trên toàn thế giới.

    Người Việt Nam ở khu vực này phần đông đã có quốc tịch nước sở tại do thủ tục xin nhập quốc tịch các nước này ít phức tạp, không đòi hỏi phải xin thôi quốc tịch gốc, chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được nhập tịch.

    Riêng đối với Cộng hoà liên bang Đức, pháp luật về quốc tịch của Đức quy định người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Đức thì phải thôi quốc tịch mà họ đang có. Do đó, hàng năm, số người Việt Nam định cư ở Đức xin thôi quốc tịch Việt Nam khá nhiều.

    Như vậy, ngoại trừ số người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước sở tại thì hiện nay, còn nhiều người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài.

    Việc họ vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi đã được nhập quốc tịch nước ngoài là do nước mà họ định cư công nhận 2 quốc tịch hoặc chấp nhận 2 quốc tịch trên thực tế. Trong khi đó, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài này vẫn có một bộ phận chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa được nhập quốc tịch nước sở tại.

    Theo Vietnamfinance

  • 5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng

    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng

    Do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy, sắp đặt, giữa Việt Nam và Cao Ly xưa (nay là Hàn Quốc và Triều Tiên) đã có một mối liên hệ rất đặc biệt. Đó là quan hệ thiên di và huyết thống.

    Chỉ kể từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây, xác nhận đã có 5 cuộc người Hàn Quốc về Việt Nam nhận họ hàng hoặc tìm hiểu về lai lịch và huyết thống:

    1- Hậu duệ của Lý Dương Côn (người Việt sang Cao Ly, trước Lý Long Tường 100 năm) về Sài Gòn, để tìm lại họ hàng.

    2- Cách đây khoảng hai chục năm, Ông Lý Xương Căn và các hậu duệ của Hoàng thúc Lý Long Tường đời Lý đã về Đình Bảng – Kinh Bắc (Bắc Ninh) để nhận lại họ hàng. Hai bên đã nhận nhau là họ hàng.

    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Ông Lý Xương Căn, hậu duệ của Hoàng thúc triều Lý là Lý Long Tường về Việt Nam nhận họ hàng và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp. Ảnh của báo Tia Sáng.

    3- Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, vào năm 1959, Tổng thống Hàn Quốc là Lý Thừa Vãn đã về Sài Gòn để tìm lại họ hàng.

    4- Con cháu của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi tại Hàn Quốc cũng đã tìm về Việt Nam

    (cả ở Miền Nam trước 1975 và cả ở Miền Bắc sau 1975) để tìm lại họ hàng, dòng tộc.
    Theo truyền thuyết: Mạc Đĩnh Chi đi sứ Trung Quốc, gặp gỡ với sứ thần Cao Ly tại Trung Quốc. Sau khi xướng họa văn thơ, hai bên tương đắc vô cùng. Sứ thần Cao Ly (cũng là một Trạng nguyên) mời Mạc Đĩnh Chi sang thăm Cao Ly và gả cô cháu gái xinh đẹp cho Mạc Đĩnh Chi. Mạc Đĩnh Chi ở lại Cao Ly 6 tháng và có sinh với người thiếp này một người con trai.
    Mười năm sau, Mạc Đĩnh Chi lại được cử đi sứ Trung Quốc, gặp lại Sứ thần Cao Ly. Mạc Đĩnh Chi được sứ thần Cao Ly mời thăm lại Cao Ly. Ông gặp lại người thiếp yêu, lúc đó đã lập bàn thờ Mạc Đĩnh Chi, trong mừng tủi. Hai ông bà lại sinh thêm một đứa con. Lần này Mạc Đĩnh Chi lưu lại Cao Ly 1 năm.

    5- Tháng 5 /2015: Ngài Ban Ki-moon thăm nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn.

    Ngài dâng hương, xem gia phả và để lại lưu bút. Câu chuyện này làm chấn động dư luận và các nhà nghiên cứu đang quan tâm theo dõi, trước hết đó là cử chỉ thành kính của cá nhân ông Ban Ki-moon đối với dòng họ Phan. Trong bút tích lưu niệm, ông Ban Ki-moon có viết rõ ông là thành viên của họ Phan, cụ thể là hậu duệ của Phan Huy Chú (Theo lời GS Phan Huy Lê)
    .
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Hình ảnh Ngài Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn) đang ghi lưu bút trong chuyến thăm Nhà thờ dòng họ Phan Huy, dưới chân núi Chùa Thầy, Sài Sơn, Xứ Đoài.
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Lưu bút của Ngài Ban Ki-moon tại Nhà thờ dòng họ Phan Huy Chú
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Bút tích và bản dịch của ông Ban Ki-moon được lưu giữ tại nhà thờ dòng họ Phan Huy
    (Nguồn: Báo Người Lao Động)

    Báo Thanh Niên dẫn lời GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học – Lịch sử Việt Nam, cho biết về chuyến thăm hồi tháng 5-2015:

    “Trong trao đổi ông nói là hậu duệ của họ Phan Huy và cụ thể hơn là hậu duệ của Phan Huy Chú.”

    “Về phương diện khoa học, tôi tin ông Ban Ki-moon nhưng cho đến nay, tôi chưa có tư liệu nào cho phép lý giải mối quan hệ giữa họ Phan của ông với Phan Huy Chú hay họ Phan Huy ở Việt Nam.”

    Theo chungta.com

  • Newton đã nghiên cứu thuỷ triều ở vùng Vịnh Hạ Long

    Newton đã nghiên cứu thuỷ triều ở vùng Vịnh Hạ Long

    Newton viết về thuỷ triều ở vùng Vịnh Hạ Long như thế nào?

    Bộ sách Principia là bộ sách khoa học kinh điển nhất xuất bản từ cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII. Có thể nói trên toàn thế giới, những ai đã học qua Trung học cơ sở đều có học đến những định luật quan trọng của Newton rút từ trong bộ sách Principia. Nhưng không mấy ai được thấy và được đọc Principia nguyên bản tuy rằng từ bấy đến nay đã tái bản nhiều lần. Đối với người Việt Nam lại càng ít người được đọc vì bộ sách đó quá cổ, quá đồ sộ chỉ có ở các thư viện lớn ở Âu, Mỹ. Ít người biết là trong đó Newton có viết về thủy triều ở vịnh Bắc Bộ!

    Newton dành một đoạn khá dài trong Principia để giải thích thủy triều qua lực hút của mặt trăng và mặt trời lên trái đất. Bình thường thủy triều lên xuống 2 lần một ngày, nhưng ở vịnh Bắc Bộ triều chỉ lên xuống một lần một ngày. Đây là đoạn đầu tiên trong chương về thủy triều trong Principia (bản tiếng Anh của University of California Press, 1934):

    Newton đã nghiên cứu thuỷ triều ở vùng Vịnh Hạ Long

    Ở đoạn trên, Newton viết rằng các kết quả ở các phần trước cho ta thấy thủy triều phải  lên xuống 2 lần một ngày. Nhưng sau đó vài trang, Newton lại viết tiếp như sau:

    Newton đã nghiên cứu thuỷ triều ở vùng Vịnh Hạ Long

    Đoạn này Newton viết rằng có những nơi thủy triều chỉ có một lần một ngày. Một ví dụ là ở cảng Batshaw, ở vương quốc Tunquin. Vào thời Newton, Tunquin là từ dùng để chỉ xứ Đàng Ngoài (thường viết là Tonkin). Nhưng đố các bạn biết cảng Batshaw là ở đâu?

    Newton đã viết về nghiên cứu thuỷ triều ở cảng Batshaw thuộc Vương quốc Tonquin ở vĩ độ 20050’ bắc. Vấn đề là những địa danh nêu trên chính xác là ở đâu? Vương quốc Tonquin chắc chắn là miền Bắc Việt Nam ngày nay. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì thời kỳ mà Newton hoàn thành bộ sách Principia là thời kỳ Vua Lê Chúa Trịnh, kinh đô thuộc vùng đất Hà Nội ngày nay, có tên là Đông Kinh. Đó cũng là trung tâm hành chính thương mại ở miền Bắc.

    Người phương Tây phiên âm Đông Kinh ra thành Tunkin, Tonquin, Tongkin hoặc Tonkin, theo cách của người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, người Anh, người Pháp. Thời đó đã có Trịnh Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn chiếm cứ từ sông Gianh trở vào. Vì vậy có sự phân biệt Đàng Trong và Đàng Ngoài mà Đàng ngoài người phương Tây còn gọi là Vương quốc Đàng Ngoài hoặc Vương quốc Tonquin như Newton đã viết. Nơi có cảng, có thuỷ triểu lên xuống ở Đàng Ngoài, tức là ở Bắc Việt Nam ngày nay ứng với vĩ tuyến 20050’, là vùng nam thành phố Hạ Long, bắc đảo Cát Bà kéo dài sang phía gần các cửa sông bãi nhà Mạc, các huyện như An Hải (Đồ Sơn cũng gần đấy nhưng hơi lệch về phía nam, dưới vĩ tuyến 20045’).

    Trong cả vùng đó chưa phát hiện ra nơi nào, di tích nào có tên gọi Batshaw cả. Một nhà hàng hải ở thế kỷ XVII là William Dampier có viết nhiều sách về du hành, đặc biệt về du hành đến Việt Nam thời đó có viết: Đi từ biển vào đầu tiên là qua Batsha, sau đó đến Domea rồi Hean rồi đến Cachao. Qua nghiên cứu của các nhà khảo cổ Việt Nam thì Cachao là Kẻ Chợ tức Thăng Long Hà Nội xưa, Hean là phố Hiến, một thương cảng sầm uất gần Hưng Yên xưa (thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến), còn Domea thì dự đoán là Đò Mè nằm ở vùng cửa sông Thái Bình, ở vị trí 20045’ vĩ độ Bắc, nay thuộc làng An Dụ xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Vậy là rõ hơn một chút, Batshaw hay Batsha là cảng đầu tiên có từ thế kỷ XVI, XVII trên đường biển rồi có thể từ đó theo sông Hồng lên đến kinh đô thời Lê Trịnh. Sau khi giáo sư Đàm Thanh Sơn đưa thông tin là Newton trong sách Principia có viết về thuỷ triều ở Batshaw một cảng biển ở Bắc Việt Nam nhiều người bình luận, thêm ý kiến về địa danh Batshaw. Có người cho đó là Bãi Cháy, có người cho là Đồ Sơn. Thậm chí Wikipedia tiếng Việt, nói về địa danh Đồ Sơn bài viết có cả một đoạn với đầu đề là Về nguồn gốc tên gọi Batsha (Batshaw), tác giả bài viết nói có tính chất khẳng định “Khi nhắc đến Đồ Sơn người ta nghĩ ngay đến một trong những khu du lịch của miền Bắc. Nhưng tiềm năng du lịch của Đồ Sơn mới bắt đầu được khai thác bởi người Pháp từ những năm đầu thế kỷ XX. Còn trước đó hơn 2 thế kỷ, trong các thể kỷ XVII,XVIII dù tên gọi Đồ Sơn chưa được nhắc tới như trong thư tịch và bản đồ cổ của những nhà hàng hải thương nhân châu Âu tới Đàng Ngoài (chủ yếu là người Hà Lan và người Anh) thì tên gọi Batsha hay Batshaw đã xuất hiện phổ biến. Ngày nay người ta đã xác định được vị trí của Batsha (Batshaw) ở các thế kỷ XVII, XVIII là một làng chài (hoặc xóm chài) nằm trên bán đảo Đồ Sơn.” Chưa thấy tài liệu nào nói rằng ngày nay người ta đã xác định được vị trí của Batsha (Batshaw) ở các thế kỷ XVII, XVIII là một làng chài nằm trên bán đảo Đồ Sơn. Tác giả bài viết về Đồ Sơn cũng không đưa ra dẫn chứng. Theo như Newton đã viết thì Batshaw là một cảng (the port of Batshaw) và ở vĩ độ 20050’ bắc, nên một làng chài ở dưới vĩ tuyến 20045’ bắc mà khẳng định đó là Batshaw thì chưa có cơ sở gì chắc chắn cả. Vấn đề thuỷ triều lên xuống là thuộc về cả một vùng sông biển lớn.

    Trong khi chờ đợi những nhà khảo cổ tìm lại được dấu tích của cảng Batshaw nay có lẽ đã bị chôn vùi, có thể xem là Newton đã khảo sát về thuỷ triều ở một vùng rộng lớn thuộc Vịnh Hạ Long.

    Đi tham quan một vùng nước sông hoà quyện với nước biển như Hạ Long – Hải Phòng ta cảm nhận rất rõ thuỷ triều lên xuống. Nghĩ về xa xưa, nắm được những quy luật về thuỷ triều này Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán, Lê Hoàn đã đuổi được giặc Tống và Trần Hưng Đạo đã đánh thắng quân Nguyên. Nay lại biết thêm nhà khoa học vĩ đại người Anh là Issac Newton, ở cách xa nửa vòng Trái Đất và hơn 300 năm, trong tác phẩm bất hủ Principia cũng đã viết về thuỷ triều ở vùng sông biển tuyệt đẹp này của Việt Nam!

    Theo Dam Thanh Son’s Blog

  • Cung cách ngồi của người Việt Xưa

    Cung cách ngồi của người Việt Xưa

    Như đã từng đề cập trong bài về sập, phản, chõng, người Việt thời xưa thường có thói quen ngồi rất đặc trưng và phổ biến: ngồi bệt – tức là ngồi trên một mặt phẳng có diện tích rộng như sập ,phản hay sàn (trải chiếu). Dựa vào các tư liệu tranh ảnh và việc quan sát thói quen sinh họat người dân thời Lê, Nguyễn ta có thể thấy rõ điều này. Thường nhật khi ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí v.v. người Việt đều ngồi trên sập, phản, có những dịp như khi ăn cỗ, ăn lễ thì người ta còn trải chiếu lên sàn đất, sàn gạch mà ngồi.

    Ngoài ra, cùng với việc ngồi sập, người Việt – nhất là giới quý tộc – còn thường sử dụng gối xếp để tựa tay, tựa lưng lên tránh mỏi lưng. Gối xếp thường có dạng các lớp gối hình hộp gắn liền nhau, khi dùng thì xếp chồng rồi tựa tay lên (cũng có khi gối tựa có dạng một khối liền, nhưng chủ yếu vẫn là gối dạng gối xếp)

    Về tập tục này, dù hiện chỉ còn tranh ảnh thời Lê và Nguyễn còn khắc họa lại, ta cũng có thể suy về thời Lý Trần, thậm chí thời kỳ sơ khởi cũng không có nhiều điểm khác biệt, vì phong thái cung cách này mang đậm tính thói tục bản địa, nếu khác thì có chăng là hình dáng, họa tiết của sập, chiếu mà thôi.

    “An Nam Chí Lược” – Quyển 1 – chương “Phong tục” chép về thói quen tập tục của người An Nam thời Trần rằng: “Dân văn thân hiệu Ngô Việt chi tục… Địa thử nhiệt, hiếu dục ư giang, cố tiện đan thiện thủy. Bình cư bất quán, lập nghĩa thủ tịch tọa bàn song túc,” dịch nghĩa – “Dân vẽ mình bắt chước tục người Ngô, người Việt… vì khí hậu nóng nực, dân ưa tắm ở sông, nên họ chèo thuyền và lội nước rất giỏi. Ngày thường không đội mũ, đứng thì vòng hai tay, ngồi thì trải chiếu xếp bằng hai chân.”

    Cung cách ngồi của người Việt Xưa

    Trích đoạn trong An Nam Chí Lược Quyển 1 chương “Phong tục” (phần bôi màu): Bình cư bất quán, lập nghĩa thủ tịch tọa bàn song túc” – Ngày thường không đội mũ, đứng thì vòng hai tay, ngồi thì trải chiếu xếp bằng hai chân.

    “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài” chép về thói quen ngồi của người thời Lê rằng “Họ bắt hai chân chéo lại như thợ may của ta (Pháp) ngồi vậy. Trong nhà có những vị vương hầu, trong phòng khách có một hậu cung (alcove) có một cái bệ cao hơn mặt đất khoảng 30 cm. Trên bệ trải một chiếc chiếu có sợi nhỏ như những sợi chỉ, họ không có tục trải thảm lên sàn như những xứ khác ở châu Á… Chiếu hình vuông, rộng độ tám, chín aunes, nhẵn và mềm như nhung. Người ta dùng chiếu này để trải lên bệ nơi các quan ngồi…”

    Về tục ngồi sập của thời Nguyễn, vùng Nam Kỳ thì: “Ngày 2/9/1822, Crawfurd đã gặp một hoạn quan giữ chức “Governor of Saigon” (có lẽ là Lê văn Duyệt ?) và tả một cuộc gặp gỡ khá tường tận: “Giữa phòng, trên một cái sập cao hơn thường lệ, là viên “Tổng trấn” ( ?) đang ngồi chễm chệ. Chúng tôi tiến lên cúi chào, ông ta cứ ngồi yên không đáp lễ. Sau đó người ta chỉ cho chúng tôi ngồi xuống dẫy ghế bên phải ông ta, ghế bên trái dành cho viên quan cao cấp bậc nhì trong phòng, những người khác đứng đằng sau hoặc ngồi trên một cái sập khác.” (Crawfurd , trang 216-217)

    Cung cách ngồi của người Việt Xưa

    Ảnh so sánh cung cách ngồi tiêu biểu của nữ quý tộc các nước Trung, Nhật, Việt, Hàn.

    Qua thói quen ngồi bệt này (cũng như với tục đi võng, vác kiếm…), ta cũng có thể hiểu rõ hơn về quan điểm, phương thức học hỏi văn minh nước khác của cha ông thuở trước: Dù kiểu dáng đồ cụ, phục trang có ảnh hưởng phong cách tạo tác của Trung Quốc, dù hoa văn họa tiết có học hỏi của Trung Quốc, thì với việc lưu giữ cái thói tục đặc trưng của mình, nhất quán qua các thời đại, phổ biến trong mọi tầng lớp, thì văn hóa Việt vừa mang đậm màu sắc phương Đông, mà vẫn tạo nên bản sắc rất độc đáo riêng biệt của dân tộc mình. Đó chính là cái tinh hoa văn hóa, là điểm tiến bộ của cha ông mà nay chúng ta phải học hỏi và kế tục vậy.

  • Người Thăng Long xưa phòng hỏa hoạn ra sao

    Người Thăng Long xưa phòng hỏa hoạn ra sao

    Trích cuốn “A supplement to the Voyages Round the World”, William Dampier, 1688.

    William Dampier là một nhà hàng hải viết rất nhiều sách về du hành khám phá, trong đó có Việt Nam!

    Tranh vẽ Thăng Long Kẻ Chợ
    Tranh vẽ Thăng Long Kẻ Chợ

    1. Dân Kẻ Chợ xây lò tránh lửa để chứa đồ

    Thành Phố Thủ Đô Cachao (Kẻ Chợ tức Thăng Long Hà Nội xưa), nằm trên vùng đất cao cách bờ biển 80 dặm, trên bờ Tây của con sông, và nằm trên một vùng đất khá bằng phẳng, nhưng hơi cao lên, cũng trống như thế, không có tường, bờ, hay hào.

    Ở Cachao có lẽ có khoảng 20000 nhà. Những ngôi nhà này thường là thấp, tường của chúng làm bằng bùn, lợp mái tranh, nhưng cũng có nhà xây bằng gạch, lợp ngói phẳng (pan-tiles). Phần lớn những ngôi nhà này có vườn (yard), hoặc sân sau (back-side). Trong mỗi vườn ta có thể thấy một kiến trúc nhỏ có vòm xây gần giống cái lò (oven), cao khoảng 6 foot, có miệng ở dưới đất. Nó được xây từ đầu đến chân bằng gạch, bên ngoài trát một lớp dày bùn đất. Nếu nhà nào không có vườn, thì họ cũng vẫn có lò như thế này, nhưng nhỏ hơn, đặt ở giữa nhà. Rất ít nhà trong thành phố không có một cái.

    Công dụng của nó là để ném đồ quý vào trong khi có cháy: vì những ngôi nhà thấp lợp tranh này rất dễ cháy, nhất là vào mùa khô, chỉ thoáng cái là tiêu hủy rất nhiều nhà, nên thường là họ có rất ít thời gian để nhét đồ vào các cái lò vòm này, mặc dù là rất gần thôi.

    ==========================================

    2. Cách chữa cháy

    Vì ai cũng có cái sáng chế này để gìn giữ đồ của riêng mình, chính quyền đã cẩn thận ban bố các biện pháp cần thiết được dùng để tránh hỏa hoạn, hoặc chữa cháy trước khi nó lan rộng. Đầu mùa khô mỗi một người phải đặt một chum nước lớn trên nóc nhà, sẵn sàng đổ xuống khi có cháy. Ngoài ra, mỗi người còn phải có một cái gậy dài, có đồ đựng (basket or bowl) ở đầu để múc nước dập lửa. Nếu lửa quá to khiến cả hai phương án trên đều thất bại, thì họ phải cắt các sợi dây buộc mái tranh, cho nó tuột từ xà xuống đất. Việc này không khó, vì mái tranh này không lợp như mái của chúng ta, cũng không được buộc bằng từng cái lá riêng như ở Tây Ấn và nhiều vùng ở Đông Ấn, nơi người ta lợp mái bằng lá cọ; mà được ghép thành từng tấm rộng 7 – 8 foot vuông, trước khi đặt lên mái, nên chỉ cần 4 – 6 tấm tùy độ lớn của nhà là đủ lợp một bên mái; và những tấm này chỉ được buộc ở một vài chỗ trên khung nhà thôi (rafters and rattans), dễ dàng một lúc cắt được và thả nửa tấm lợp mái. Những tấm này cũng tốt hơn mái tranh rời (loose thatch), vì chúng dễ xử lý hơn, trong trường hợp có cái nào rơi lên hoặc rơi cạnh cái lò chứa đồ; chúng dễ dàng được kéo đi nơi khác. Các nhà liền kề theo cách này có thể được tháo mái nhanh chóng, trước khi lửa lan đến, và các tấm tranh được mang đi, hoặc không thì cũng để cho cháy hết. Để làm thế mỗi người có một cây gậy hoặc cây tre đặt ở cửa, có lưỡi câu liêm (cutting hook) ở đầu, chuyên dùng để tháo mái nhà; và nếu có người nào không có chum nước, gậy múc nước, câu liêm trong nhà, thì sẽ bị phạt nặng vì sự xao lãng này. Họ rất nghiêm túc trong việc này; vì ngay cả khi đã cẩn trọng đến vậy mà họ vẫn rất hay gặp hỏa hoạn.

    Nguồn: daivietcophong.wordpress.com

  • Chuyện vi hành “bi hài” của vua Việt

    Chuyện vi hành “bi hài” của vua Việt

    Xưa, các đấng quân vương ngoài việc thiết triều bàn nghị việc nước, điều khiển việc quốc gia đại sự, nhiều vị bởi muốn hiểu nhân tình thế thái thế nào nên vi hành vào chốn nhân gian. Trong sử Việt, những cuộc vi hành của vua chúa không được ghi lại nhiều. Nhưng qua những tài liệu cóp nhặt được từ sử cũ, chúng ta cũng biết được dăm ba điều về các cuộc vi hành ấy, và cũng có những sự khác lạ nhất định.
     
    Vua vi hành, dân gặp cướp 
    Vua Tự Đức, cũng đồng thời là một nhà thơ nổi tiếng thời Nguyễn, trong Việt sử tổng vịnh, phần Đế vương, khi viết về vua Lý Cao Tông nhà Lý, ngài đã nhận xét về tiền nhân rất nghiêm phê: “Trong thời gian tại vị, Lý Cao Tông xây dựng dinh thự không ngớt, và Đế vui chơi không có chừng mực; giặc giã và trộm cướp trong nước nổi lên như ong, nhân dân đói khát khổ sở gấp bội những năm khác. Cơ nghiệp nhà Lý bắt đầu suy đốn từ đấy”. Lại có thơ rằng:
    Cưỡng bão bi tần dĩ tự do,
    Cố tương dân mịch phụng bàn du.
    Chiêm Thành khúc lý đa ai oán,
    Quy Hóa giang đầu thuỷ bất lưu.
    Tạm dịch:
    Khăn tã tự do thỏa ý trời,
    Hại dân chẳng kể, kể rong chơi.
    Chiêm Thành khúc hát, lời ai oán,
    Quy Hóa đầu sông nước chẳng trôi. 

    Nhận xét nghiêm khắc của một đấng quân vương dành cho đấng quân vương ở cùng địa vị “thiên tử”, là tấm gương soi chính xác đối với vị vua thứ bảy của nhà Lý. Trị vì đất nước 35 năm (1175 – 1210), là một trong những vị vua trị vì lâu nhất của nhà Lý (chỉ kém vua Lý Nhân Tông) cũng như chế độ phong kiến Đại Việt, nhưng công trạng, sự nghiệp Lý Cao Tông để lại cho hậu thế gần như chẳng có gì. Có chăng là tiếng xấu về sự ham chơi bời, tiêu phí sản nghiệp quốc gia cho những thú vui chơi vô bổ của vua. Nào là ưa phương thuật, sự lạ, tin tài sai bảo hổ của sư Tây Vực năm Đinh Mùi (1187), hay uy trị sấm của Nguyễn Dư năm Bính Dần (1206). Lại chăm việc thổ mộc, xây dựng cung Nghiêm Thiềm năm Đinh Tỵ (1197), dựng gác Kính Thiên năm Quý Hợi (1203)… Đặc biệt, vua rất ưa vi hành, nhưng không phải là quan tâm muôn dân trăm họ, mà để thỏa chí tò mò, sự ham vui chơi của bản thân, như lời Đại Việt sử ký toàn thư thuật lại: “Vua ngự đi khắp núi sông, phàm ngự đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu và lập miếu để thờ”… “vua xây dựng không ngớt, ngao du không chừng mực”.

     

    Chuyện vi hành
     Vua Lý Cao Tông lên ngôi từ năm 3 tuổi. Nguồn: Internet.

     

    Cũng vì cái sự ngao du ấy, có lần vua gặp cảnh “bất bình chẳng tha” (trích lời Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm cùng tên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu), nhưng đấng kim thượng lại nhắm mắt làm ngơ. Ấy là vào năm Bính Dần (1206) niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ hai theo ghi chép của Đại Việt sử lược, việc xảy ra ngay tại kinh thành, khi vua 37 tuổi ta.
    Năm đó, trong nước đã loạn lạc dữ lắm, mà vua thích đi chơi, nhưng đường xá không thông được, vua bèn sai làm hành cung Ứng Phong, Hải Thanh ở đầm Ứng Minh, hàng ngày cùng bọn cung nữ đi chơi bời làm vui. Lại lấy thuyền to làm thuyền ngự, lấy các thuyền bé chia làm hai đột, sai bọn cung nữ, phường tuồng chèo thuyền, vua dẫn bọn tả hữu bắt chước nghi vệ thiên tử như khi vua ngự đi chơi đâu vậy. Lại còn lấy sáp ong bọc những tấm lụa và các thứ hải vật thả xuống ao rồi sai người lội xuống mò lên giả làm đồ vật dưới Long Cung đem dâng. Bá quan văn võ thấy vua rong chơi vô độ đều sợ hãi không dám nói.
    Một hôm, vua ngự giá đi chơi ở đầm Ứng Minh như mọi khi. Đang lúc cùng bọn hầu cận, cung nữ vui đùa, bỗng nghe từ ngoài thành vọng lại những tiếng kêu thảm thiết. Lại nói thời bấy giờ, đói kém liên miên, bọn giặc cướp có mặt ở khắp nơi, giết người cướp của ngang nhiên như chốn không người. Để ý, cả đoàn mới biết là tiếng người bị ăn cướp đang hô hoán kêu cứu. Mặc dù đủ cả cấm binh vây quanh đến vài lớp, tiếng kêu cứu rõ mồn một, nhưng Lý Cao Tông chỉ ngỡ ngàng một chút, rồi lại cười nói, đùa vui như trước, giả vờ không nghe thấy gì, mặc cho dân đen, con đỏ của mình chẳng có ai giúp đỡ, đành gào thét vì bị cướp của giữa thanh thiên bạch nhật. Thật là:
     
    Vui chơi nào có biết gì, 

    Thờ ơ phó chuyện an nguy mặc trời.

    (Trích Đại Nam quốc sử diễn ca)
    Vua siêng đi chơi, bị đá rơi đầu 

    Đó là trường hợp của vị vua thứ tư nhà Trần: Trần Anh Tông (1293 – 1314). Vua vi hành bị bọn vô lại ném đá, nhưng đó là quãng thời gian khi vua mới lên ngôi còn ham chơi bời. Xét cả thời trị vì 21 năm của vị vua đặt duy nhất niên hiệu Hưng Long này, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí đã ca ngợi công đức của vua là: “Vua khéo nối nghiệp trước, thương dân, lập chính, đời được yên vui, chính trị tốt đẹp, chế độ rực rỡ, đáng khen”. Hay thời Nguyễn, Thái Hà Diên Mậu Hoàng Cao Khải khi viếtViệt sử yếu, cũng nhận xét thời vua Trần Anh Tông: “Nhân tài xuất hiện ngày càng nhiều, đạo học chấn hưng ngày càng thịnh, triều vua Trần Anh Tông thật là triều thịnh trị nhất về đời nhà Trần”.

     

    Chuyện vi hành
     Vua Anh Tông bỏ tục xăm mình. Nguồn: Internet.

     

    Quản nước tốt đẹp là thế, nhưng không phải lúc nào vua Trần Anh Tông cũng nghiêm cẩn sửa mình như lời dặn của thượng hoàng Trần Nhân Tông:
    Thủ thành nối nghiệp gian nan,
    Hễ là tửu sắc lòng toan đã chừa.
    (Trích Việt sử diễn âm)
    Khi vua mới lên ngôi, tuổi độ thanh niên mới lớn, nên tính bồng bột, ham chơi bời, lại có Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông bên mình trị nước, do đó mà chính sự có phần lơ là. Có lần, vì ham uống rượu xương bồ mà suýt bị Thượng hoàng truất ngôi thiên tử bởi giận. May sao có văn nhân Đoàn Nhữ Hài hay thơ làm biểu tạ lỗi mới được vua cha bỏ qua cho lỗi ấy. Ngoài việc thích uống rượu, do tuổi trẻ thích tìm hiểu, nên Anh Tông thỉnh thoảng cũng hay cùng bọn quân hầu vi hành ra ngoài nhân gian thăm thú dân tình, vui chơi thả sức. Khổ nỗi, đi đêm lắm có ngày gặp ma, sự thể ấy được Việt sử cương mục tiết yếu cho hay.
    Tính vua thích vi hành, ban đêm thường cải trang làm công tử con quan, lên kiệu cùng hơn chục tên hầu cận rong ruổi khắp kinh thành Thăng Long, nào ngắm tửu quán đông vui, nào xem người qua lại nhộn nhịp, lại mắt liếc tay đưa những bóng hồng lướt qua. Cứ thế cả đoàn đi đến khi gà gáy mới về lại cung cấm. Ấy rồi có đêm khi đến một phường nọ trong kinh thành, bọn thanh niên hư đốn tính hay ghen ghét, tưởng kiệu Anh Tông là công tử con quan nhà ai diễu phố nên thấy ngứa mắt, mới hùa với nhau cầm gạch ném vào kiệu. Bọn người đi theo hầu hoảng hốt lắm, chẳng cần giấu bí mật vua vi hành nữa, mới thét lên cho bọn kia nghe thấy:
    – Kiệu của vua đấy!
    Nghe đến thiên tử, bọn thanh niên vô lại cả đám chạy tan sợ bị tội. Đến khi xem lại, thì đầu vua đã bị trúng mảnh gạch ném vào, chảy cả máu, cả chục ngày vết thương mới liền sẹo.
    Sau, Thượng hoàng Trần Nhân Tông thấy vết sẹo ấy, mới hỏi nguyên do vì sao lại bị thế. Vua Trần Anh Tông cứ thực thà mà tâu lại. Thượng hoàng Nhân Tông bực mình lắm, lắc đầu, tặc lưỡi mãi mới thôi.
    Kể ra chuyến vi hành ấy, may mà mới bị ném đá, nếu có ẩu đả nữa, không biết mệnh vua có được bảo toàn. Cũng sau lần bị nạn vi hành, vua Anh Tông ngày càng trở nên thận trọng, nghiêm cẩn hơn trong vui chơi, trị nước, giúp dân cường, nước thịnh, triều đại thêm thịnh đạt, được Việt sử diễn âm hết lời thi tán:
    Khiêm xung hiếu hữu bản sinh tri, 
    Cải quá chung hình tuyệt ẩm thì.
    Nghiệp kế thủ văn xưng thịnh chúa,
    Nội tu lễ nhạc ngoại thương di.
    Nghĩa là:
    Hiếu hữu khiêm toàn đức bẩm sinh,
    Rượu chừa lỗi sửa bỏ phồn hình.
    Trọng văn kế nghiệp đời khen thịnh,
    Lễ nhạc tôn súng bốn bể thanh. 
    Vua hiền gặp trộm giỏi

    Thời Lê sơ, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) được biết đến là một ông vua cai trị sáng suốt, tạo nên đỉnh cao thịnh trị cho bản thân và triều đại. Nói đến vua, đức trị cũng giỏi, pháp trị cũng hay. Thế nên trong Việt sử yếu mới nhận xét rằng: “Bàn về nền quân chủ ở Việt Nam ta, được xưng tụng về văn trị và võ công cực thịnh không lúc nào bằng triều đại Hồng Đức (Lê Thánh Tông)”.

     

    Chuyện vi hành
     Vua Lê Thánh Tông, tranh của Vũ Huyên. Nguồn: Internet.

     

    Để yên nghiệp nước, vua không chỉ chăm lo việc giáo hóa, nông tang, mà còn chú trọng tới luật pháp để xã hội đi vào quy củ, Quốc triều hình luật ra đời từ lý do đó. Một trong những trọng tội vua Thánh Tông muốn bài trừ ở mọi góc độ là nạn tham ô, nhũng lạm, nhất là đối với quan lại. Giai thoại dưới đây đề cập tới vấn đề xử tệ nhũng lạm, có liên quan tới chuyến vi hành của vị vua sáng.
    Thời vua Thánh Tông trị vì, ở Thăng Long có một tay đạo chích rất giỏi nghề. Nhưng khác với những kẻ chôm chỉa thường thấy khác, hắn hay trộm của nhà giàu chia cho dân nghèo, mà chỉ lấy của những kẻ giàu có bất chính. Do thoắt ẩn, thoắt hiện, ra tay nhanh như chớp nên nhiều người gọi hắn là Quận Gió.
    Đúng vào dịp Tết nọ, vua Thánh Tông cải trang vi hành đón giao thừa. Biết tiếng Quận Gió, vua sai người tìm ra nơi Gió đang ở, rồi tự mình giả cách làm học trò trường Giám (Quốc Tử Giám) vào gặp. Chàng giám sinh hờ nói với Quận Gió:
    – Tôi ở Thanh Hóa Thừa tuyên, làm học trò trường Giám, năm hết tết đến muốn về quê mà trong tay không còn cắc bạc nào. Dám xin ông giúp cho lộ phí đi đường.
    Nghe chàng giám sinh than thở, Quận Gió cảm động. Nói:
    – Chẳng giấu gì nhà anh, tôi là Quận Gió, chắc anh đã biết tiếng. Anh nghèo, tôi sẽ giúp. Tiền không có sẵn, nhưng tôi sẽ lấy của mấy tay trọc phú giúp anh. Vậy, bây giờ anh định lấy của nhà ai?
    Chàng giám sinh hồ hởi:
    – Trộm của phú ông ở cửa Tây thành được không?
    – Không được! Ông ấy giàu nhờ cày sâu, cuốc bẫm, lao động vất vả quanh năm suốt tháng – Quận Gió lắc đầu.

    – Vậy trộm của chủ cửa hiệu vàng bạc ở phố cửa Đông thành? – Chàng giám sinh lại tiếp.

    Quận Gió lại lắc đầu, đáp:
    – Ông ấy người ngay thẳng. Có của là nhờ buôn bán, tích cóp. Giờ anh đợi ở đây, tôi đến nhà lão quan coi kho bạc nhà vua ở phố cửa Bắc chôm cho ông vài nén. Lão ấy có lắm vàng ròng, bạc nén trong nhà. Đó là những thứ không phải của hắn.

    Nói xong, Quận Gió nhanh như chớp đã mất hút trong đêm đen. Chưa đầy một khắc, Quận Gió đã quay lại với hai nén bạc trên tay, mỉm cười với chàng giám sinh:

    – Hai nén bạc này, anh có đủ tiền làm lộ phí và còn để dùng vào việc sôi kinh, nấu sử. Mong rằng sau này anh đỗ đại khoa, nhớ đừng có bòn rút xương máu, công sức của dân mà hãy làm một ông quan liêm.
    Chàng giám sinh gật đầu cảm tạ, lại soi hai nén bạc dưới ánh nến, thấy đề bốn chữ: “Quốc khố chi bảo”. Không nghi ngờ gì nữa, đây là bạc trong kho của nhà nước.
    Sáng mùng một Tết, chàng giám sinh ấy đã ngự trên ngai vàng, dưới sân điện, các quan tung hô chúc Tết. Khi ấy, vua Thánh Tông mới kể về chuyến vi hành đêm giao thừa, lại cho mọi người chuyền tay nhau hai nén bạc “Quốc khố chi bảo”. Viên quan coi kho mặt cắt không còn giọt máu, bị lột bỏ hết mọi tước vị. Gia sản bị tịch thu, thân bị lưu đày vì tội nhũng lạm quốc khố nhà nước. Còn Quận Gió sau đó được vua cho vời vào cung ban hiệu là “quân tử đạo chích” và ban thưởng rất hậu. Giai thoại vi hành trên của vua phần nhiều mang tính hoang đường, nhưng việc xử nghiêm tệ tham nhũng thì sử sách còn ghi lại nhiều lắm.
    Bạn có thể xem thêm các bài bình luận chuyện vua chúa tại Facebook: Kể chuyện vua chúa
    Theo kienthuc.net.vn
  • Phương ngữ tiếng Việt

    Phương ngữ tiếng Việt

    Ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa sẽ khác nhau. Ở Việt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ). Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu ở ngữ âm, rồi đến từ vựng, cuối cùng là một chút khác biệt ngữ pháp.
    Phân bố các phương ngữ ở Việt Nam
    Sự khác biệt về ngữ âm là nhiều nhất, nhưng có thể đoán được. Sự khác biệt về từ vựng có thể dẫn đến sự hiểu lầm nhiều nhất.

    Các phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay thể hiện sự khác biệt ngữ âm khá rõ theo địa giới gần tương đương phân chia hành chính thời Lê sơ:

    Thăng Long tứ trấn (Thăng Long và 4 trấn xung quanh là Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Đông, Sơn Nam) tạo nên giọng Bắc Bộ hiện nay, với các khác biệt nhỏ từng trấn:

    • Thăng Long: Giọng Hà Nội.
    • Trấn Kinh Bắc: Giọng Bắc Ninh, Bắc Giang.
    • Trấn Hải Đông (xứ Đông): Giọng Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh.
    • Trấn Sơn Tây (xứ Đoài): Giọng Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang.
    • Trấn Sơn Nam: Giọng Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, đặc điểm dễ nhận thấy là phát âm phụ âm rung r (không lẫn với d) và phụ âm tr (không lẫn với ch).
    • Trấn Thanh Hóa tạo nên phương ngữ Thanh Hóa.
    • Trấn Nghệ An tạo nên phương ngữ Nghệ An, Hà Tĩnh.
    • Trấn Thuận Hóa tạo nên phương ngữ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

    Các phương ngữ Nam Bộ hiện nay hình thành rõ nét kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vượt qua Hoành Sơn vào Đàng Trong cùng với nhiều thay đổi trong ngữ âm và bổ sung nhiều từ vựng từ tiếng Khmer, tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến…

    Phân bố các phương ngữ ở Việt Nam
    Phân bố các phương ngữ ở Việt Nam

    Có những tổ hợp song âm khi tách ra dùng đơn lẻ thì tiếng Nam chọn yếu tố thứ nhất, còn tiếng Bắc chọn yếu tố thứ hai: dơ bẩn, đau ốm, lời lãi, bao bọc, mai mối, hư hỏng, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, hình ảnh, la mắng, bồng bế, hăm dọa

    Ngược lại có những tổ hợp người miền Bắc chọn yếu tố đầu, người miền Nam chọn yếu tố sau: thóc lúa, giẫm đạp, đón rước (trong phương ngữ Bắc Bộ, rước mang nghĩa trang trọng), lừa gạt, sắc bén, lau chùi, thứ hạng, chăn mền, chậm trễ, tìm kiếm, vâng dạ, đùa giỡn, thuê mướn, mau lẹ, hung dữ, trêu chọc…

    Nhiều từ vựng, phương ngữ Bắc quen dùng từ thuần Việt, phương ngữ Nam hay dùng từ Hán Việt như (bắc/nam): hát/ca, chè/trà, bèo tây/lục bình, quán/tiệm, mướp đắng/khổ qua, đỗ/đậu… Ở chiều ngược lại, phương ngữ Bắc thông dụng từ Hán Việt thì phương ngữ nam hay dùng từ đã Việt Hóa như: hoa quả/trái cây…

    Nhiều từ vựng phương ngữ miền Nam có nguồn gốc từ bối cảnh sông nước, đặc điểm tự nhiên của miền Tây Nam Bộ, như: có giang, quá giang, anh em cọc chèo (phân biệt chèo lái, chèo kế, chèo mũi) chỉ anh em đồng hao ở ngoài Bắc, khẳm (chỉ thứ gì nhiều quá ví dụ khẳm tiền), chìm xuồng (chỉ vụ việc bị lãng quên), tới bến, xuống nước…