Cầu quay Khánh Hội là cây cầu quay duy nhất được xây dựng ở Việt Nam thời thuộc địa với thiết kế độc đáo, mang ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Sài Gòn.
Bắc qua kênh Bến Nghé, gần bến nhà Rồng, cầu Khánh Hội là một cây cầu đặc biệt trong lịch sử Sài Gòn.
Cầu được xây năm 1904, người Pháp gọi là Le pont tournant, nghĩa là cầu quay.
Tên gọi này dựa theo thiết kế độc đáo, khiến cầu có thể quay khúc giữa để mở đường cho tàu thuyền qua lại.
Người Sài Gòn gọi cây cầu này là cầu quay Khánh Hội hoặc cầu Bắc Bình Vương.
Đây là cây cầu quay duy nhất được xây dựng ở Việt Nam thời thuộc địa.
Tuy nhiên, những vòng quay của cầu quay Khánh Khội chỉ kéo dài một vài thập niên.
Đến những năm 1940, cầu Khánh Hội trở thành cầu cố định, với tuyến đường sắt dẫn đến khu cảng được lắp đặt trên cầu. Ảnh: Cầu Khánh Hội năm 1948.
Trong khoảng cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, cầu Khánh Hội từ thời Pháp thuộc được dỡ bỏ để xây cầu Khánh Hội mới bằng bê tông cốt thép. Ảnh: Cầu Khánh Hội năm 1967.
Cây cầu này tồn tại ở Sài Gòn cho đến những năm 2000. Ảnh: Cầu Khánh Hội năm 2005.
Năm 2006, cầu Khánh Hội trước 1975 được tháo dỡ. Một cây cầu mới được xây dựng lại với quy mô lớn hơn, phù hợp với quy hoạch của tuyến đại lộ Đông Tây.
Ngày nay, cầu Khánh Hội được xem là 1 trong số 11 cây cầu trọng yếu trên toàn tuyến Đại lộ Đông – Tây
Thẩm Thúy Hằng Cho đến nay, chưa một diễn viên nào của Việt Nam được gọi là “minh tinh màn bạc” như Thẩm Thúy Hằng. Bà là nữ diễn viên thành công nhất của nền điện ảnh thương mại Sài Gòn trước năm 1975 với tên tuổi phủ sóng toàn châu Á. Sở dĩ gọi Thẩm Thúy Hằng là minh tinh màn bạc là bởi vì: bất kỳ khi đến nước nào, dù Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ hay Thái Lan, Indonesia, bà cũng được chào đón như một ngôi sao.
Thẩm Thúy Hằng xuất thân gốc Bắc, sinh năm 1940 tại Hải Phòng với tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Theo gia đình di cư vào Nam, bà lớn lên tại An Giang và theo học bậc trung học tại Sài Gòn. Năm 16 tuổi, bà giấu gia đình tham gia cuộc thi tuyển diễn viên của hãng phim Mỹ Vân và vượt qua hơn 2000 thí sinh để giành giải nhất. Ông bà chủ của hãng phim đã đặt cho bà nghệ danh Thẩm Thúy Hằng.
Vai diễn đầu tiên của Thẩm Thúy Hằng là nàng Tam Nương trong bộ phim Người đẹp Bình Dương (1958). Bộ phim này đã một bước đưa bà thành ngôi sao đình đám nhất của Sài Gòn và sau đó là ngôi sao đình đám nhất của Đông Á. Bà lập kỷ lục là người đóng nhiều phim nhất trong thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70. Sắc đẹp của Thẩm Thúy Hằng làm lu mờ tất cả những gì xung quanh, thậm chí khiến người ta bỏ qua cả tài năng diễn xuất không quá đặc biệt của bà.
Hào quang điện ảnh rực rỡ bao nhiêu thì chuyện riêng tư của Thẩm Thúy Hằng bí ẩn bấy nhiêu. Có tin đồn rằng năm 1958, khi vừa bước vào ánh hào quang của Người đẹp Bình Dương thì bà cũng mang thai một đứa bé. Sợ ảnh hưởng đến danh tiếng và sự nghiệp, Thẩm Thúy Hằng đã mang cho đi đứa con gái đầu lòng của mình. Để rồi sau này bà cất công lặn lội đi tìm con trong ân hận nhưng cô gái mãi mãi không muốn nhận mẹ mình. Thực hư câu chuyện không rõ, chỉ biết Thẩm Thúy Hằng có cuộc hôn nhân hạnh phúc đúng kiểu mẫu “chân dài – đại gia” với Tony Nguyễn Xuân Oánh – một tiến sĩ kinh tế hơn bà 19 tuổi, từng làm việc như một chuyên gia cao cấp của Ngân hàng thế giới, sau là Thống đốc ngân hàng và Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sau 1975, ông Nguyễn Xuân Oánh còn làm chuyên gia tư vấn cho TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bà sinh cho chồng 4 người con và sống hạnh phúc đến tận khi chồng mất vào năm 2003.Vì cuộc hôn nhân bền chặt này, sau 1975, bà không di cư mà ở lại Sài Gòn, tiếp tục hợp tác với điện ảnh cách mạng trong nhiều bộ phim nhưHồ sơ một đám cưới, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Cho cả ngày mai... Năm 1981, minh tinh Thẩm Thúy Hằng biến mất khỏi làng nghệ thuật mà không để lại một lời nhắn cho người hâm mộ.Chỉ đến thời gian gần đây, bất ngờ tấm hình Thẩm Thúy Hằng với khuôn mặt biến dạng bị tung lên mạng, người hâm mộ năm xưa mới bàng hoàng xa xót. Chỉ vì khao khát giữ mãi vẻ thanh xuân đã làm hàng triệu khán giả mến mộ, Thẩm Thúy Hằng đã lạm dụng phẫu thuật thẩm mỹ tới mức bị biến dạng hoàn toàn gương mặt xinh đẹp năm nào. Sau gần 30 năm tránh né, nhờ sự cứu rỗi của đạo Phật, Thẩm Thúy Hằng đã tự tin xuất hiện công khai với ngoại hình bị phẫu thuật thẩm mỹ tàn phá nhưng vẫn giữ phong thái kiêu hãnh của một minh tinh màn bạc năm nào.
Kiều Chinh Lớn lên và thành danh tại Sài Gòn, nhưng Kiều Chinh cũng là một cô gái Bắc. Bà sinh năm 1937 trong một gia đình thượng lưu tại phố cổ Hà Nội. Mẹ mất sớm vì bom đạn Nhật năm 1945, cô bé Nguyễn Thị Chinh được cha hết mực cưng chiều vì là con gái út. Mối quan hệ rộng rãi của cha với các văn nghệ sĩ Hà Nội trước cách mạng đã tạo một nền tảng nghệ thuật vững chắc cho bà ngay từ thời thơ ấu. Năm 1954, do biến cố lịch sử, gia đình bà chuẩn bị lên đường vào Nam thì anh trai bất ngờ bỏ trốn đi theo kháng chiến. Lúc này chị gái bà đã theo chồng sang Pháp định cư. Tại phi trường Bạch Mai, người cha chờ đợi mãi không thấy con trai đã đẩy vội cô lên phi cơ với lời nhắn nhủ vội vàng: “Tìm được anh trai con ba sẽ vào sau”.
17 tuổi, một thân một mình bơ vơ nơi đất khách, Kiều Chinh đã được gia đình người bạn của cha cưu mang. Cô đã kết hôn với con trai của người ân nhân là nhạc sĩ Nguyễn Năng Tế. Hai người sống với nhau đến năm 1981 thì chia tay.Duyên điện ảnh của Kiều Chinh bắt đầu tại một bữa tiệc ở nhà hàng Continental. Ở tuổi 18 và vừa sinh con đầu lòng, Kiều Chinh đẹp lộng lẫy với thần thái thương lưu cao quý, sang trọng hiếm có. Bà đã lọt vào mắt xanh đạo diễn phim Hồi chuông Thiên Mụ và chính thức bước vào con đường nghệ thuật rực rỡ.Nếu như Thẩm Thúy Hằng là ngôi sao phim thương mại thì Kiều Chinh là ngôi sao của dòng phim nghệ thuật. Những bộ phim bà đóng nếu như không phải dự án điện ảnh lớn nhất Sài Gòn thì sẽ là dự án điện ảnh lớn của Hollywood. Lối diễn xuất mộc mạc, tự nhiên cùng lợi thế ngoại ngữ đã khiến cái tên Kiều Chinh luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà làm phim Hoa Kỳ. Thậm chí, khi cần vai diễn công chúa Ấn Độ, chính Kiều Chinh chứ không phải người Ấn Độ được chọn.
Năm 1975, khi Kiều Chinh đang quay bộ phim Full House tại Singapore thì Sài Gòn giải phóng. Bà vội vàng di tản sang Canada để hội tụ với ba người con trai đang du học tại đây. Ít lâu sau, chồng bà cũng tìm cách để sang Canada. Tại đất nước Bắc Mỹ xa lạ, Kiều Chinh từ bỏ hoàn toàn ánh hào quang của ngôi sao để trở thành một người lao động bình thường trong một trại gà kiếm 2 đô la Canada cho mỗi giờ làm việc. Không cam tâm, bà tìm mọi cách liên lạc với các minh tinh Hollywood đã từng hợp tác trong các bộ phim và may mắn được một nữ minh tinh bão lãnh cả gia đình sang Mỹ. Ngay lập tức, bà tìm cơ hội trở lại với điện ảnh.
Cho đến nay, chưa một diễn viên Việt Nam nào gây dựng được tên tuổi vững chắc tại kinh đô điện ảnh Hollywood như Kiều Chinh. Bà tham gia hơn 100 bộ phim truyền hình, điển hình như The Children of An Lac (1980), The Letter (1982), The Girl Who Spelled Freedom (1986), cùng hàng loạt phim điện ảnh nhưHamburger Hill (1987), Gleaming the Cube (1988), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What’s Cooking (2000), Face (2002), Returning Lyly (2002). Kiều Chinh đã ghi tên vào danh sách 50 vai diễn khiến khán giả khóc nhiều nhất thế kỷ XX với vai bà mẹ Trung Hoa trong phim The Joy Luck Club của đạo diễn Wayne Wang.
Ở tuổi 77, Kiều Chinh vẫn đang miệt mài với các dự án thiện nguyện tại Việt Nam. Dự án điện ảnh gần đây nhất của bà là phim ngắn Ngọc Viễn Đông của đạo diễn Cường Ngô.
Thanh Nga Thanh Nga là một nghệ sĩ cải lương tài sắc nổi tiếng nhất của Việt Nam. Bà được mệnh danh là “nữ hoàng sân khấu” của Sài Gòn trước 1975 và mãi mãi là của biểu tưởng của sân khấu Việt Nam cho đến hôm nay.
Bà tên thật Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1942, quê quán Tây Ninh. Cha của bà là Nguyễn Văn Lợi, mẹ của bà là Nguyễn Thị Thơ, tức bà bầu Thơ, trưởng đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời. Với gen nghệ thuật, năm 16 tuổi, Thanh Nga đã xuất sắc dành giải Thanh Tâm triển vọng với vai sơn nữ Phà Ca trong vở Người vợ không bao giờ cười. Nhan sắc và tài năng của bà bắt đầu nở rộ từ đây.
Khó có thể liệt kê cho đủ những vai diễn xuất sắc của Thanh Nga trong 20 năm làm nghề ngắn ngủi. Bà luôn được giao những vai diễn các anh hùng nữ tướng, nếu không cũng phải là những mỹ nhân tuyệt sắc. Đó là Bàng Quý Phi (vở Xử án Bàng Quý Phi), Bà mẹ cách mạng (vở Sau ngày cưới), Điêu Thuyền (vở Phụng Nghi Đình), Dương Thái Chân (vở Chuyện tình An Lộc Sơn), Diệu Thiện (vở Ni cô Diệu Thiện), Dương Vân Nga (vở Thái hậu Dương Vân Nga), Trưng Trắc (vởTiếng trống Mê Linh).
Cuộc đời của Thanh Nga lận đận chuyện duyên tình với hai cuộc tình tan vỡ, một với người chiến sĩ cách mạch và một với nghệ sĩ cải lương Thành Được – bạn diễn của bà. Thanh Nga kết hôn hai lần. Lần đầu với một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa để trả thù Thành Được. Và lần hai với luật sư Phạm Duy Lân. Cuộc hôn nhân lần hai mang đến cho Thanh Nga hạnh phục trọn vẹn với 1 cậu con trai tên Phạm Duy Hà Linh. Nhưng bất hạnh đã giáng xuống chấm dứt số phận hồng nhan. Thanh Nga bị sát hại cùng chồng ngày 26 tháng 11 năm 1978 ngay trước cửa nhà ở đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Lê Thị Riêng) TP. Hồ Chí Minh. Sau đó vài năm, dù người ta tuyên bố đã tìm thấy hai kẻ giết người và kết án tử hình, nhưng nhiều năm qua sự thực về cái chết của bà vẫn là một bí ẩn. Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1984.
Kim Cương Kim Cương là người đầu tiên được mệnh danh là “Kỳ nữ”. Nhan sắc không sánh được với Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng hay Kiều Chinh, nhưng tài năng của Kim Cương trong cả hai lĩnh vực sân khấu và điện ảnh, cả diễn xuất lẫn viết kịch đều không có ai sánh bằng.
NSND Kim Cương có tên họ đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Cương. Bà sinh năm 1937 tại Sài Gòn trong một gia đình dòng dõi quý tộc Huế. Thân phụ của bà là ông Nguyễn Ngọc Cương, con trai ruột của vua Thành Thái – vị vua yêu nước bị Thực dân Pháp đày đi biệt xứ. Mẹ bà là nghệ sĩ hát bội danh giá Bảy Nam. Vai diễn đầu tiên của bà là vào năm “10 ngày tuổi” – vai con Thị Màu trong vở của Quan Âm Thị Kính. Với “vai diễn” đầu đời này, bà được vinh hạnh “diễn” trong dịp mừng thọ Thái hậu Từ Cung với “đạo cụ” là một bình sữa.Sự nghiệp diễn xuất đến sớm, bà nhanh chóng trở thành đào non trong đoàn Đại Phước Cương, cùng cha mẹ và các thành viên trong đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Vai diễn chính thức đầu tiên của bà là vai Na Tra trong vở Na Tra lóc thịt do chính mẹ bà viết kịch bản. Bà nổi tiếng trong những vai kịch buồn rơi nước mắt hay những vai dí dỏm. Đến nay vai Diệu trong vở Lá sầu riêng của Kim Cương vẫn là một mẫu mực của sân khấu cải lương mà chưa có ai vượt qua được.
Bên cạnh diễn xuất, bà từng soạn nhiều kịch bản kịch nói với bút danh Hoàng Dũng và giữ kỷ lục là người viết kịch bản kịch nói nhiều nhất Việt Nam hiện nay đồng thời là người mở đường cho kịch nói Sài Gòn sau năm 1975.Kim Cương có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi vì chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con cho đến lúc về già. Đến nay, bà đã từ bỏ ánh đèn sân khấu để chăm lo cho công tác thiện nguyện với trẻ em thiệt thòi.Thời trẻ, Kim Cương không phải chịu cảnh hồng nhan đa truân như các nữ nghệ sĩ khác bởi tính cách mạnh mẽ, cương quyết và lúc nào cũng đứng mũi chịu sào. Sự kiện ồn ào nhất và cũng tươi đẹp nhất của Kim Cương có lẽ là mối tình đơn phương mà thi sĩ Bùi Giáng dành cho bà suốt 40 năm. Nhà thơ “điên” đã viết ra những áng thơ tuyệt tác nhất để dành cho mối tình trong mộng của mình là Kim Cương, từ lúc còn thanh niên cho đến tận khi qua đời.
Trong tổ chức chính quyền địa phương thời phong kiến, danh xưng các cấp thường thay đổi theo từng triều đại, song dù ở thời nào, xã vẫn được coi là cấp chính quyền căn bản, nối liền giữa bộ máy cai trị với người dân. Với tính chất “phép vua thua lệ làng”, xã biểu thị một hình thức sinh hoạt vừa gắn kết với bộ máy trung tâm, vừa có những qui lệ tự đặt ra theo phong tục tập quán đã tồn tại nhiều đời ở mỗi địa phương.
Việc điều hành một đất nước dù là trong thời kỳ mới lập quốc cũng đòi hỏi có sự phân chia thành những hệ cấp hành chính từ lớn đến nhỏ, từ cao xuống thấp để tiện quản lý. Theo các tài liệu cổ, nước ta vào thời kỳ các vua Hùng đã được chia thành 15 bộ, trải rộng từ bộ Lục Hải, Vũ Định (Lạng Sơn, Cao Bằng ngày nay) đến bộ Việt Thường (Quảng Trị). Tổ chức nhà nước lúc đó mang ít nhiều sắc thái huyền thoại (18 đời Hùng Vương trị vì trong 2622 năm!) nên người ta không biết gì thêm về cách thức điều hành các bộ.
Một hội đồng hương chánh thời Pháp thuộc
Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3 (thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX), vua Đường Cao Tông chia đất Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện, dưới cấp huyện có hương, xã. Đây có lẽ là cấp xã đầu tiên trong lịch sử hình thành nước ta. Theo sách An nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng (Trung Quốc) hương gồm nhiều tiểu hương, có từ 70 đến 150 hộ, đại hương từ 151 hộ đến 540 hộ, xã gồm tiểu xã có 10 đến 30 hộ, đại xã có trên 30 hộ đến 60 hộ. Sau khi giành lại độc lập, nhà Tiền Lê cũng chia các đơn vị hành chánh địa phương ra làm 4 cấp: Lộ, Phủ, Châu, Hương (xã đổi thành hương). Đến đời vua Lê Thái Tổ, ông cho đổi cấp địa phương cao nhất là Lộ thành Đạo, dưới Đạo có Phủ, Lộ, Trấn, Châu, Huyện, Xã. Không lâu sau, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) lại đổi Đạo thành Xứ, đổi Lộ thành Phủ, đổi Trấn thành Châu, dưới nữa có Hương, Phường, Xã, Thôn, Trang, Sách, Động, Nguyên, Trưởng. Đến thời nhà Nguyễn, sau những chuyển biến lớn lao về mặt kinh tế, xã hội, đất nước ta đã trải dài từ Lạng Sơn đến Cà Mau, tổ chức địa phương gồm có Dinh-Trấn, Phủ, Huyện, Tổng, Thuộc, Xã. Bao giờ xã cũng là đơn vị hành chánh căn bản tại các xã thôn.
Tại miền Bắc, xã thôn vẫn còn giữ nguyên tính truyền thống và chặt chẽ của nó với hai tập quán chính:
– Tập quán vương tước – Quyền hành tại xã thôn được trao cho những người có tước vị do vua ban
– Tập quán thiên tước – Quyền hành tại xã thôn được giao cho các bậc trưởng lão, tức những người cao tuổi, có uy tín tại địa phương.
Theo tập quán 1, số dân trong làng xã được chia thành 5 hạng: thứ nhất là những quan lại thuộc hàng cửu phẩm văn giai, chính thức hóa vai vế trong làng bằng việc tổ chức lễ khao hay lễ vọng để công bố sắc chỉ vua ban. Người có phẩm hàm cao nhất được gọi là thủ chỉ, trên cả lý trưởng và phó lý là những người đứng đầu bộ máy hành chánh làng xã. Hạng thứ hai gồm những bô lão trên 60 tuổi, được làng xã miễn cho các hình thức sưu dịch, thuế khóa, đóng góp; hạng thứ ba là các kỳ mục trong làng gồm lý trưởng, phó lý, chánh tổng đương chức, các cựu lý trưởng, phó lý và chánh tổng; hạng thứ tư gọi là tả văn là những ân nhân của làng xã, thường xuyên đóng góp tiền của để thực hiện những việc công ích như làm cầu, đắp đập, xây đền chùa… Cuối cùng là hạng không có vai vế gì trong làng, gọi là hoàng đinh, gồm những người được ghi tên trong sổ bộ làng, từ 17 đến 48 tuổi, phải đóng thuế và làm sưu dịch cho làng. Tại những làng theo tập quán 2 (thiên tước), sự phân hạng dựa vào tuổi tác, không lý tới phẩm tước ở triều đình. Người lớn tuổi nhất trong cộng đồng này gọi là thủ chỉ và làng chỉ có bốn hạng dân: – những người trên 60 tuổi gọi là ông cụ hay quan lão, riêng tỉnh Hà Đông gọi là trùm; – hạng thứ hai là hội đồng quan viên gồm 12 người được xếp theo thứ tự ghi danh trong sổ bộ làng; – hạng thứ ba gọi là ba bàn gồm 18 thành viên, cũng theo thứ tự ghi danh trong sổ bộ làng. Trong các cuộc họp công cộng, họ được xếp ngồi trong 3 bàn mỗi bàn 6 người nên có tên này. – Hạng thứ tư gồm những cư dân còn lại trong làng.
Một lý trưởng ở miền Bắc (1916)
Tại những làng xã theo tập quán 2, các quan viên cùng với lý trưởng và phó lý tập hợp thành Hội đồng hương chức đảm đương mọi trách vụ trong làng, cả về mặt hành chánh, tài chánh, tư pháp…
Tại miền Nam, tổ chức làng xã có màu sắc riêng, do vùng Đàng Trong đã tách rời khỏi chính quyền Lê-Trịnh từ đầu thế kỷ 17. Việc điều hành nền hành chánh xã được giao cho Hội đồng hương chánh với một thành phần nhân sự hùng hậu. Tổ chức này hoạt động như một triều đình thu nhỏ với sự phân công, phân nhiệm tương đối rõ nét. Người đứng đầu hội đồng là Hương cả, có nơi còn gọi là Đại Hương cả, thường được chọn trong số con cháu những người sáng lập xã. Viên chức này được sự phụ giúp trực tiếp của Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng trong việc quản lý tài sản xã, thiết lập ngân sách và giám sát các hoạt động thu chi trong xã. Cả ba là ban tham mưu cao cấp của Hương cả, riêng Hương chủ còn có trách nhiệm thay thế Hương cả khi ông này vắng mặt tại xã. Các viên chức kế tiếp xếp theo thứ bậc gồm có:
– Hương chánh: Chịu trách nhiệm giám sát, hướng dẫn bộ máy thừa hành của xã, chấp hành đúng mệnh lệnh chính quyền cấp trên, làm trọng tài giải quyết những tranh chấp giữa người dân với nhau.
– Hương giáo: Phụ trách công tác giáo dục tại xã. Với tư cách thư ký hội đồng hương chính, Hương giáo lập biên bản các phiên họp, ghi vào một sổ riêng để theo dõi.
– Hương quản: Viên chức này có những nhiệm vụ nặng nề và những quyền hạn nổi bật. Hương quản phụ trách công tác cảnh sát hành chánh và cảnh sát tư pháp, truy tầm tội phạm, giám sát các hoạt động đường thủy, đường bộ, đường sắt, cầu cống… Dưới quyền trực tiếp của Hương quản có một số cai thị, cái thôn, trùm và trưởng là những viên chức cảnh sát cấp duới.
– Hương bộ hay thủ bộ là người chấp giữ sổ địa bộ và văn khố, ghi chép các khoản chi, thu và trông coi vật tư của xã.
– Hương thân: Đảm bảo mối quan hệ giữa các cơ quan hành chánh và tư pháp với hội đồng hương chính.
– Xã trưởng (làng lớn) hay Thôn truởng (làng nhỏ) có nhiệm vụ chấp giữ con dấu của xã, đặc trách thu thuế và sung vào công nho.
– Hương hào: Phụ trách công tác cảnh sát hương thôn. Chịu trách nhiệm thi hành những quy định về đường sá, tống đạt cho dân chúng các trát đòi hay giấy báo trong các vụ kiện tụng. Hương thân, Xã trưởng, Hương hào hợp thành bộ phận chấp hành làm việc dưới sự cố vấn và giám sát của Hương chánh. Cả ba đồng thời là phụ tá của Hương quản trong nhiệm vụ cảnh sát hành chính và cảnh sát tư pháp và có quyền điều động các viên chức cấp thấp như:
• Lý trưởng hay phó xã.
• Ấp trưởng là đại diện của Xã trưởng tại ấp.
• Biện lại phụ trách viết thẻ thuế.
• Cai tuần lo việc tuần tra, canh gác trong xã.
• Tri lễ, tri văn – lo việc nghi lễ, đình chùa.
• Trùm, trưởng – trông coi nhà việc (nơi làm việc của hội đồng), chuyển mệnh lệnh cho các cấp.
Sau khi thôn tính xong ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867), thực dân Pháp củng cố bộ máy cai trị tại vùng đất mới. Ngày 24.9.1869, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định thành lập một Ủy ban trung ương có nhiệm vụ cứu xét các nghị quyết của Hội đồng hương chánh. Ủy ban do Giám đốc Nha nội vụ (Directeur de l’intérieur) làm chủ tịch và một số quan lại Việt Nam làm thành viên, trong đó có thể kể những gương mặt quen thuộc: Đốc phủ sứ Trần Tử Ca, Lãnh binh Huỳnh văn Tấn (còn gọi Huỳnh Công Tấn), Đốc phủ sứ Trần Bá Lộc, Phủ Đỗ Hữu Phương, Phủ Lê Tấn Đức…
Một viên chức hành thu thuế ở miền Bắc
Mặt khác, thông tư ngày 21.5.1874 quy định các hình thức phạt tiền đối với những Hội đồng hương chánh nào không hoàn tất trách nhiệm được giao. Mười năm sau (1884), chính quyền thuộc địa đặt thêm trong tổ chức xã chức Chánh tri bộ và Phó tri bộ trông coi việc hộ tịch và thống kê dân số.
Thời đó, người dân nô lệ phải sống trong nỗi ám ảnh ngàn đời của sưu cao thuế nặng. Hai khoản thuế chủ yếu mà họ phải đóng là thuế thân và thuế điền thổ. Những ai nằm trong hạng tuổi 18-60 đều phải đóng thuế thân với mức 1 đồng/1 người/năm. Thẻ thuế thân là giấy tờ tùy thân duy nhất phải mang theo mình để xuất trình khi bị xét hỏi. Những người trốn thuế thân phải chịu những hình phạt nặng nề cho nên nhiều người phải bỏ làng tha phương cầu thực vì không có tiền đóng thuế thân cho chính quyền thuộc địa.
Thuế điền thổ căn cứ vào điền bộ do Hương bộ lập. Thời Nguyễn, bộ điền được lập thành 3 bản, 1 bản chuyển về kinh cho bộ Hộ (Bộ Tài chính – Nông nghiệp ngày nay), 1 bản chuyển cho quan Bố chánh ở tỉnh, một bản lưu tại xã. Cần phân biệt điền bộ là sổ ghi chép những chi tiết liên quan đến thuế má ruộng vườn với địa bộ là sổ sách ghi chép hiện trạng việc phân chia đất đai trong xã. Riêng địa bộ còn có sự phân biệt rõ rệt giữa công điền, công thổ là đất công mà xã chỉ có nhiệm vụ quản lý chứ không được bán hay cho thuê và bổn thôn điền là đất mà xã có thể đem bán nếu cần.
Một thân hào ở Sài Gòn (1906)
Cuối cùng, như một truyền thống không thể thiếu, mỗi xã có một đình thần là nơi diễn ra những nghi thức cúng tế hàng năm. Vị thần trong xã là người sáng lập xã, một anh hùng dân tộc sinh trưởng tại địa phương hay một nhân vật có uy tín trong xã đã mất đi. Triều đình cứu xét từng trường hợp một và nếu chấp thuận, nhà vua sẽ ký ban sắc thần cho xã. Đến nay nhiều đình làng vẫn còn giữ được những đạo sắc thần do vua ban.
Lê Nguyễn
Trong miền Nam, tại thành phố Sài Gòn, có hai bạn biết may áo dài xưa thời Nguyễn, đều là những người trẻ đam mê lối cổ và văn hóa phục sức Việt Nam. Họ là Trần Nguyễn Trung Hiếu và Trần Lê Trung Hiếu.
Album ảnh tổng hợp lại các hình ảnh từ các nguồn facbook cá nhân của hai bạn này và nguồn ảnh từ facebook của anh Trần Quang Đức.
Nhằm để nhiều người thấy sản phẩm áo dài may theo lối xưa và cũng để cho mọi người biết hình dáng áo dài xưa khác như thế nào so với sự biến đổi của áo dài trong thời hiện tại. Khi mà có rất nhiều người không còn muốn may áo dài theo lối xưa mà chạy theo xu hướng cách tân áo dài hiện đại trong làng giải trí phim ảnh, thời trang,… khiến cho đa số nhiều người lầm tưởng xem áo dài hiện đại cách tân là trang phục truyền thống của Việt Nam. Điều này rất nguy hiểm bởi phần nào khiến người trẻ quên đi hình dáng xưa của áo dài thời Nguyễn, cũng như những loại áo xưa khác như áo giao lĩnh, viên lĩnh, nhật bình….
Ngay sau khi hai anh em người Pháp Lumière sáng chế ra máy quay phim vào năm 1895, thì ngay năm 1896, họ đã sang VN quay 2 bộ phim ngắn thời lượng chưa đến 1 phút là “Le Village de Namo” – ngôi làng Nam Ô gần Đà Nẵng, chiếu ở Pháp năm 1900
Bộ phim thứ 2 là “Indochine: Enfants annamites ramassant des sépèques devant la Pagode des dames” – Đông Dương: Trẻ em An Nam nhặt tiền xu do quý bà ném trước chùa, được quay cùng năm, chiếu năm 1903
Thế hệ trẻ bây giờ hẳn sẽ thấy lạ lẫm khi lật giở lại những bức hình chụp đám cưới của cha mẹ mình ngày xưa. Trên nước ảnh đen trắng đã lấm tấm phai màu theo thời gian, người ta vẫn có thể nhìn thấy khá rõ gương mặt được “trang điểm” kỹ càng của chú rể. Việc hóa trang cho chú rể được quan tâm đặc biệt để đảm bảo chú rể có diện mạo tươi tắn và thật ăn ảnh. Ngày nay, thật hiếm thấy chú rể nào trang điểm mặt trắng, môi đỏ như thời ấy. Tuy nhiên, chỉ cần vài thủ thuật photoshop, các nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh cưới có thể dễ dàng chỉnh sửa để chú rể trông thật “nuột nà”.
Ngày nay, những gia đình điều kiện kinh tế bình thường cũng có thể dễ dàng thuê xe hơi sang trọng đi đón dâu. Có nhà đại gia còn thuê hẳn dàn siêu xe hoành tráng. Những chiếc xe bóng bẩy, trang trí đầy bóng bay và hoa tươi dạo vài vòng trên phố trước khi rước dâu về vừa để bày tỏ sự phấn khởi của 2 bên gia đình, vừa như một cách để phô trương thanh thế.
Đón dâu bằng xe máy…
…và xe đạp ngày ấy.
Ngẫm lại cái thời cách đây vài chục năm, chỉ có nhà nào được xếp vào hàng trung lưu trở lên mới có chiếc xe máy Dame hay Cub cho chú rể đi đón dâu. Còn đa số đều dùng xe đạp hoặc đi bộ. Có lẽ bây giờ, thế hệ trẻ sẽ khó mà hình dung được cảnh cô dâu mặc áo cưới lòe xòe phải đi bộ đến vài cây số về nhà chồng.
Đoàn rước dâu đi bộ trên con đường đất ngày xưa.
Thời nay, không ít nhà thuê hẳn siêu xe để đi đón dâu.
Ở một số vùng ven đô và vùng nông thôn thời xưa còn có tục căng dây trước ngõ nhà cô dâu hoặc đóng cổng để đòi “lệ phí” của nhà trai. Lúc này, một người đại diện cho nhà trai phải đưa cho nhà gái bao thuốc và đối đáp lại những câu “hỏi xoáy” hài hước từ phía nhà gái. Đến khi nào nhà trai làm vừa lòng nhà gái thì mới được cho phép vào nhà làm lễ đón dâu. Tục lệ thú vị này giờ còn rất ít nơi lưu giữ được.
Căng dây trước ngõ nhà cô dâu đòi “lệ phí” của nhà trai – tục lệ tại một vùng nông thôn xưa.
Cỗ cưới ngày ấy – bây giờ
Xung quanh mâm cỗ cưới cũng có bao chuyện mà thế hệ đi trước vẫn phải cười nắc nẻ mỗi khi kể lại cho thế hệ trẻ bây giờ. Ngày ấy, nhà giàu, mâm cỗ cưới phải đủ bốn bát, sáu đĩa. Theo quan niệm của thời bấy giờ, con số 10 tròn trĩnh tượng trưng cho lời chúc hạnh phúc trọn vẹn dành tặng đôi vợ chồng mới. Ðương nhiên, đám cưới của các gia đình nghèo thì tằn tiện hơn nhưng nhất thiết không thể thiếu hai món chủ đạo là thịt gà luộc và xôi gấc.
Mâm cỗ cưới ngày xưa.
Ở một số vùng còn có lệ cả làng đi ăn cỗ cưới. Cứ nghe thấy tiếng pháo nổ là cả làng kéo đến ăn. Có cụ già đã món hết cả răng, ăn uống chả được là bao vẫn chống gậy đến góp vui. Đám cưới thường được kéo dài nhiều ngày, ngày chính thì mời tất cả mọi người, còn những ngày phụ thì mời anh em, họ hàng thân thích đến dùng cơm và giúp đỡ làm cỗ, căng bạt. Cỗ cưới còn thừa được chia phần để mọi người mang về.
Ngày nay, đám cưới thường được rút gọn xuống còn 1 ngày. Gia chủ sẽ chủ động giới hạn số lượng khách mời bằng cách gửi thiệp cưới. Cỗ đãi khách cũng được đặt theo yêu cầu, mỗi nhà mỗi kiểu. Nhiều gia đình còn thể hiện đẳng cấp bằng việc lựa chọn những món thật độc, lạ cho bàn tiệc cưới.
Tiệc cưới sang trọng ngày nay.
Những năm 80 thiếu thốn, người ta thường mời cưới chay bằng miệng. Tuy nhiên, giới trung lưu cầu kỳ lại có mốt nhờ anh bạn hoạ sỹ nào đó vẽ thiếp mời giúp, vừa tiện lại vừa có vẻ lãng mạn. Có nhà dùng thứ thiếp hình chữ nhật, màu lòe loẹt, bên ngoài có đôi bồ câu, chữ song hỷ hay hình trái tim.
Ngày nay, thiếp mời chủ yếu được đặt in hàng loạt với nhiều kiểu dáng và chất liệu giấy phong phú. Thiếp in màu đỏ may mắn hoặc màu vàng sang trọng thường được đại đa số ưa chuộng. Tuy nhiên, một số người cũng nhờ họa sĩ vẽ hình hoạt họa hài hước hoặc tự thiết kế mẫu thiếp thật “độc”, không “đụng hàng”.
Tấm thiệp cưới cực “độc” của giáo sư Xoay.
Thời xưa, ai có gì, mừng đấy, người thì cái xoong, cái chậu, người thì cái phích. Ai không có thì sang dự chia vui tinh thần. Mọi người ngồi nói chuyện, cười đùa thật rôm rả đến tận xế chiều chưa muốn về. Còn bây giờ, đám cưới đàng hoàng hơn, hoành tráng hơn nhưng lại thiếu đi cái gần gũi, vô tư ngày ấy. Khách đến ăn cưới việc đầu tiên là tìm chiếc hộp bằng giấy đỏ để bỏ phong bì. Ăn cỗ, nếu cụng ly được một lần với cô dâu, chú rể và gia đình là đã đủ lễ, còn không thì ăn xong cứ tự động đứng lên ra về. Ai ăn trước, về trước, ai ăn sau, về sau. Có người đi ăn cưới thậm chí chẳng biết mặt cô dâu, chú rể.
Gần đây, nhiều nhà còn có phong trào thuê chân dài ăn mặc mát mẻ, nhảy khêu gợi trong đám cưới để mua vui cho khách. Có điệu nhảy sôi động của các cô gái trẻ đẹp không ngại khoe thân, đám cưới dường như náo nhiệt hơn bởi tiếng hò reo, cổ vũ. Tuy nhiên, nó lại làm mất đi rất nhiều bản sắc của đám cưới truyền thống. Người ta bất chợt quên đi mục đích chính là đến chúc phúc cho đôi vợ chồng mới cưới trong lúc còn “bận” soi các chân dài, thậm chí nhiều người còn lấy di động để ghi lại hình ảnh đó.
Chứng kiến đám cưới nhộn nhạo, không ít người tiếc nuối một ngày xưa ấy, khi những khách khứa giỏi văn nghệ xung phong lên làm MC hay hát vài câu dân ca, quan họ góp vui.
Đám cưới bình dị nhưng ấm áp ngày xưa.
Lẽ tất nhiên, đám cưới là ngày trọng đại của đời người nên ai cũng muốn tổ chức cho thật hoành tráng, thật náo nhiệt, có thế thì mới “ngẩng mặt” được với bạn bè, với họ hàng, lối xóm. Thế nhưng tổ chức thế nào để mang lại niềm vui cho cả cô dâu, chú rể, hai họ thông gia lẫn khách khứa tới dự mới là vấn đề. Và lúc ấy, người ta lại bất chợt nhớ đến một đám cưới không mâm cao cỗ đầy, không có hot girl nhảy nhót nhưng lại tràn ngập tiếng cười ngày xưa.
Đám cưới là dịp vui hiếm có trong đời mỗi người, việc cần lưu tâm hàng đầu là chất lượng mâm cỗ cưới mời khách. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những nét khác biệt của cỗ cưới xưa và nay.
Người Việt Nam vốn cầu kỳ trong truyện ăn uống, miếng ăn không chỉ là miếng no mà còn là bộ mặt của cả gia đình, dòng tộc, đặc biệt là trong các dịp lễ tết hay hiếu hỉ trọng đại. Việc “trăm năm” vốn được coi là tiệc cỗ trọng đại hơn cả nên dù trong thời đại nào, việc lo chu toàn cho lễ cưới, đặc biệt là mâm cỗ cưới vẫn được lưu tâm hàng đầu.
Một đám cưới xưa
Khi xã hội cũ ở thời phân cấp giàu nghèo rõ rệt nhất ở đầu những năm 20, mâm cỗ cũng có sự khác biệt rõ rệt giữa các tầng lớp. Mâm cỗ cưới nhà giàu có phản ánh đúng hình ảnh “mâm cao, cỗ đầy” với đủ bốn bát, sáu đĩa. Số 10 tròn trĩnh tượng trưng cho lời chúc hạnh phúc trọn vẹn cho đôi uyên ương trẻ theo quan niệm thời bấy giờ. Sáu đĩa bao gồm: Một đĩa thịt gà úp lật quân cờ vàng rượi, một đĩa thịt lợn quay xếp hình cánh hoa đều tăm tắp, một đĩa giò lụa , một đĩa chả quế, thêmmột đĩa xôi gấc, một đĩa nộm thập cẩm. Bốn góc mâm là bốn bát canh bao gồm: một bát măng hầm, một bát mọc nấu thả, một bát chim bồ câu hầm hạt sen, và một bát mực nấu rối gồm xu hào, cà rốt thái chỉ, trứng tráng thái chỉ, giò lụa thái chỉ, mực khô thái chỉ xào cháy cạnh với nước mắm đường… Đó là chưa kể đến các loại đĩa bát phụ như đĩa rau thơm, chanh, ớt, nước mắm hạt tiêu … Ngoài ra, nhà nào sang còn có thêm đĩa hoa quả tráng miệng hay đĩa chè kho.Mỗi mâm đặt 1 chai rượu trắng và 6 chiếc chén nhỏ bằng hạt mít cho khách uống rượu.
Mâm cỗ những nhà thuộc tầng lớp thấp hơn có thể giản tiện đi đôi chút, bớt đi 2 hoặc 4 món, miễn là số món vẫn là chẵn tròn. Nhưng có hai món không thể thiếu trong bất kì mâm cỗ nào alf thịt gà luộc và xôi gấc – 2 món biểu trưng cho sự thinh vượng, may mắn và hạnh phúc
Thịt gà luộc lá chanh và xôi gấc là hai món không thể thiếu trong bất cứ mâm cỗ cưới nào
Trải qua thời gian, do sự phát triển của kinh tế cùng lối sống công nghiệp hóa, mâm cỗ cưới của hiện đại vì thế mà cũng có nhiều thay đổi. Dù tự làm hay đặt tiệc, gia đình nhà đám cũng luôn lưu tâm đến chất lượng cỗ cũng như đón tiếp khách mời rất chu đáo. Nếu xưa kia, mỗi dịp cưới xin, anh em họ hàng sẽ kéo tới “làm giúp” trước khi ăn cỗ thì ngày nay, nhiều gia đình ưa chuộng việc thuê nấu cỗ vì vừa tiết kiệm được thời gian, địa điểm, công sức mà chi phí cũng không bị đội lên quá cao. Giá một mâm cỗ gồm nửa con gà ta hấp lá chanh, tôm chiên loại 12 con/đĩa, cá diêu hồng chiên giòn, bò hầm bánh bao, nộm su hào bò khô, rau cải xào nấm hương, canh bóng hoặc canh măng, xôi, ngô chiên bơ, cơm gạo tám… có giá khoảng 1 – 1,1 triệu/ mâm. So với việc tự mua nguyên liệu về nấu cỗ lấy thì mức giá này đắt hơn khoảng 20 – 30%. Tuy nhiên cũng cần lưu ý đám cưới thường có đông người đến dự vì vậy đảm bảo chất lượng, sạch sẽ là điều quan trọng nhất. Khi đặt cỗ nên tham khảo ý kiến của bạn bè đã từng sử dụng dịch vụ này của cơ sở nào an toàn thì đặt chứ không nên đặt bừa.
Cỗ đặt gồm đầy đủ các món
Một loại hình mới cũng đang phổ biến không kém là tổ chức lễ cưới cùng tiệc cưới tại các nhà hàng,tuy giá thành có cao hơn một chút nhưng đảm bảo khách mời sẽ được thưởng thức cỗ cưới trong không gian sạch sẽ và sang trọng. Hiện nay, mỗi khi dự một bữa tiệc cưới tại miền Bắc ngày nay, ta có thể dễ dàng nhận thấy sự giống nhau về các món ăn; gần như chỉ là một công thức và các món sẽ thứ tự được dọn lên bàn tiệc, chỉ cần thấy được vài món đầu tiên là thực khách có thể đoán chắc được bốn năm món sau là những món gì.
Đặt tiệc cưới tại các nhà hàng cũng đang trở nên phổ biến
Ở các nhà hàng sang trọng hiện nay, món đầu tiên để khai vị chắc chắn sẽ là một chén súp như gà hoặc cua, kem rau, hải sản. Còn các nhà hàng bình thường cũng phải có một loại súp khai vị như vậy, tuy chất lượng có thể sẽ thấp hơn một chút. Bát súp sền sệt như có những áng mây hòa quyện với nhau trên bầu trời, hay rồng – phượng giao nhau , mục đích là chúc mừng cho uyên ương.
Súp khai vị
Món ăn kế tiếp nhất thiết phải là một món ăn khô, thông thường thì đó là món nộm. Có thể sẽ là nộm đu đủ bò khô, nộm thập cẩm, ngó sen, ngũ sắc, … Ngoài ra, món ăn chính vẫn sẽ là thịt gà, hầu như trong bữa tiệc cưới nào từ trước đến nay cũng có, cũng có thể thay bằng thịt thỏ,thịt ngan… nhưng món gà vẫn là một món quen thuộc: Gà hấp muối, gà quay, hấp lá chanh… Và món ăn tiếp theo nữa mà trong thực đơn của các đám cưới ngày nay không không có, đó là món cá. Cá thường là cá sốt, đỏ, cá rán, sốt ngũ liễu, chiên cốm… thường thì người ta không ăn món cá nướng, đặc biệt là nướng cháy xém. Bởi theo như tâm lý của người Việt, đám cưới là niềm hạnh phúc của lứa đôi, nên kiêng các món ăn có vị đắng cay hay cháy xém,đen đủi….
Trải qua thời gian, đã có không ít chuyển biến.Tuy không còn câu lệ như các cụ ngày xưa song không vì thế mà cỗ cưới ngày nay bớt đi sự cầu kỳ và chăm chút. Cỗ cưới dù cổ điển hay hiện đại vẫn mang dấu ấn nhất định của con người Việt Nam.
Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn. Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc.
Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều đình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương.
Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội. Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào?
Vệ binh Huế (1910-1920)
Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định, bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dễ hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa-Gia Định nghe giọng Huế “đặt sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả.
Cũng có thể lệ này xuất hiện sớm hơn, từ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam.
Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam, nửa Trung đã trở thành Huế rặt.
Ngoài ra còn có một hiện tượng buồn cười khác là các người làm việc trong Nội dù là cung phi, lão tỳ, thị tỳ, nô nhân, hay nê nhân, lúc mới vào đều tự nguyện “câm” đi trong thời gian sáu tháng. Suốt thời gian này, họ không nói gì cả hoặc nói rất ít. Không nói vì sợ phạm húy, lỡ mồm lỡ miệng thì mang họa vào thân. Chờ khi nào thuộc lòng những chữ “nên tránh” gồm trọng húy và khinh húy, hoặc những chữ cấm nói như: chết chóc, đui què, máu me, phong hủi…vì những từ này mang điềm gở hoặc thô tục, lúc đó họ mới được phép… hết câm.
Trong truyện hay phim Trung Quốc, các hoàng tử, vương gia thường là các nhân vật tự do tự tại, tiêu dao phóng túng. Nhưng sự thật lúc nào cũng phũ phàng, từ ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, ta có thể thấy các hoàng tử, ít nhất là hoàng tử Việt Nam, phải học tập rèn luyện “cực khổ” không thua gì người thường cả.
Thái tử Bảo Long
Khi được tám tuổi, các hoàng tử sẽ bắt đầu học Khai tâm bảo giám và sách Tiểu học. Tiểu học là sách dùng cho các trò nhỏ, nội dung dạy về các nghi tiết như rảy nước, quét tước, thưa gửi, lui tới, trau dồi đạo đức cho thiếu nhi.
Khi đã thông thạo Tiểu học, các hoàng tử sẽ phải học Tứ thư rồi tới Ngũ kinh và Chư sử. Vua Minh Mạng đã miêu tả cách dạy như sau:
“Ngày chẵn, dạy truyện hay kinh, trước giảng chính văn rồi đến bản chú (chỉ những lời chú giải của các tiên nho, chủ yếu là của Chu Hi đời Tống) để cho sáng nghĩa ra. Về Kinh, Truyện, giảng đến thiên nào, trước hãy giảng chính văn, phải đọc thật thuộc lòng để biết rút lấy ý nghĩa chính tâm, tu thân và đạo lý hiếu, đễ, trung, tín.
Ngày lẻ, dạy Chư sử cốt phân tích cho rõ ý nghĩa, không cần bắt đọc thuộc lòng. Khi giảng dạy, nếu có nghĩa gì ngờ, thì về Tứ thư, có Đại toàn phụ lục, về Ngũ kinh, có Ngũ kinh khâm định; về Chư sử, có Ngự phê cương giám ; tra cứu có các sách Tự điển. Hết thảy đều do Nội các phát sách công ra để dùng tra cứu.”
Các hoàng tử dưới 11 tuổi thì học ở tư gia, còn từ 11 tuổi trở lên sẽ học tập ở bốn sở học trong Tử Cấm Thành: Minh Thiện đường, Dưỡng chính đường, Tập thiện đường và Quảng học đường. Vua Minh Mạng còn sai Nội các truyền họp trưởng sử 4 Quảng đường, tuyên chỉ rằng:
“Lũ ngươi có trách nhiệm phụ đạo hoàng tử, nên khuyên bảo các hoàng tử chăm chỉ học hành, không được chơi đùa và nuôi gà chọi, chó săn, làm những việc vô ích, nếu sau khi học hỏi nghỉ ngơi, muốn chơi vui chốc lát, chỉ cho nuôi cá chậu 3, 5 con, còn ngoài ra đều không được, trái lệnh này tuy lỗi ở hoàng tử, nhưng lũ ngươi cũng có lỗi.”
Thế nhưng, các trưởng sử dù sao vẫn là hạ thần, không đủ quyền để chấn chỉnh các hoàng tử:
“Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói: “Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được”. Vua hỏi rằng: “Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à” ? Vị đáp rằng: “Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học”. Vua nói rằng: “Về phận trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao ?”.”
Băn khoăn như vậy, nên vua còn định thêm vào ngày 6, 16, 26, buổi chiều khi đồng hồ cát rỏ đến đợt 6, các hoàng tử đều vào hầu ở điện Quang Minh và đem theo sách học tập, chờ xem vua có hỏi. Vua lại dụ các hoàng tử rằng:
“Đến giờ theo lệ định, khi các con vào chầu phải dâng trình sách vở giảng tập để ta hỏi thử. Chẳng qua chỉ lấy đó làm chương trình hạn định. Các con càng phải xét lại ở mình lấy sách làm thầy trọng tình hữu ái, bỏ ý riêng tư không một việc nào, không một ngày nào không phải là học. Ngày sau con lên nối ngôi thì được có dân, được có người, các con làm thân vương, cũng lấy trung hiếu giữ trọn tiếng tốt, cái gì chẳng phải bởi học mà ra?”.
Tuy thế, nhà vua vẫn rất ân cần với các con:
“Trẫm đối với hoàng tử tuy lòng từ ái tự nhiên mà khi đến hầu riêng thì chưa từng lộ ra sắc mặt. Đến như khoá trình giảng học thì rất nghiêm, các hoàng tử không dám xin nghỉ. Nhưng nay tiết thu đông giao tiếp, khí rét khó chịu, các hoàng tử tuổi còn thơ ấu, nếu cứ đi học thì chịu sao được. Song ý ấy không nên cho biết, hoặc đến nhu nhơ lười biếng. Ngươi nên theo ý ta khẽ bảo bọn phụ đạo rằng từ sau phàm khi rét buốt mưa nhiều, có thể sai tán thiện và bạn độc chia nhau đến phủ mà khai giảng. Các hoàng tử cũng phải xuống ngồi chiếu dưới nghe giảng, không được cho là ở nhà tư mà bỏ lễ.”
Khi đến lớp học của các hoàng tử, khung cảnh sẽ như sau:
“Chính giữa nhà đặt một án sách, đặt vị ngồi giảng ở phía tây, 2 viên phụ đạo cùng một chiếu, 2 viên tán thiện cùng một chiếu, 4 viên bạn độc cùng một chiếu, đều ngoảnh về hướng đông. Đặt vị ngồi nghe giảng ở phía đông, các hoàng tử mỗi người một chiếu, phía trước đặt một kỷ sách, đều ngoảnh về hướng tây, chiếu nhất ở dưới vị phụ đạo.
Ngày thường, buổi sớm đồng hồ chuyển lần thứ 1, từ phụ đạo trở xuống đều đến ; chuyển lần thứ 2, các hoàng tử lần lượt đến, tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử ngồi yên, tán thiện và bạn độc lại ngồi. Các hoàng tử gấp sách đọc bài học hôm trước, xong thì phụ đạo khai giảng. Các tán thiện và bạn độc hiệp đồng dẫn bảo rõ ràng. Giờ tỵ giảng xong, các hoàng tử đứng dậy. Tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử vái chào phụ đạo, xin lui ; phụ đạo chắp tay đáp lễ. Các hoàng tử về phủ. Từ phụ đạo trở xuống đều lui. Giờ thân lại đều đến, hỏi các điều khó ; xong lại đều lui, tiết thứ tiến lui như trước.”
Ai vắng mặt ngày nào đều bị ghi lại, mỗi tháng ngày 6, 16 và 26 các trưởng sử sẽ nộp sổ nhật kí cho Văn thư phòng để xét ai nghỉ nhiều. Tuy bị ghi tên như thế nhưng nhiều hoàng tử vẫn chán học ham chơi, để bị phạt nặng, như trong sử chép:
“Nay sớ tâu những người từ trước đến nay chăm chỉ học tập, không hề gián đoạn, chỉ có một mình hoàng thân Miên Ký mà thôi; còn những người khác, từ tháng giêng khai giảng đến nay, hoặc được 40-50 ngày, hoặc được 20-30 ngày, thậm chí có người bỏ hết không đến học bưởi nào […] Về chăm học không bỏ như hoàng thân Miên Ký thưởng cho 1 đồng tiền song long hạng lớn để khuyến khích người khác. Học được 40-50 ngày và 20-30 ngày như […] đáng nên phân biệt xử phạt. Nhưng lần này hãy tạm cho truyền chỉ quở trách. Học được hơn 10 ngày như […] bốn người ấy đều phải phạt 3 tháng lương. Đi học chỉ được 4-5 ngày như […] đều phải phạt 6 tháng lương. Còn như không đi học buổi nào như […] đều phải phạt một năm lương. Lũ Trưởng sử quản gia ở các phủ đệ không biết lấy lời nói thẳng can ngăn, lại chẳng biết đem việc tố giác, thực là ngồi yên ăn không. Lũ ấy đều giao bộ Lễ xử trí. Còn các giảng quan, cũng nên bàn đến. Lần này tạm hãy cho miễn xét hỏi. Nếu lại nhận suông cho xong việc, phụ sự ủy thác của ta […]”
Và cũng có lúc các hoàng tử đi học nhưng vui đùa quá trớn dẫn đến chuyện như sau:
“Lần này Hải Ninh quận công Miên Tăng mới được tuyên phong, mở tiệc ngay ở Quảng Học đường. Lúc ấy nhiều người xem trò chơi, gạt đẩy cũng không giãn ra, Tòng Hóa quận công Miên Trữ chợt nói đùa một câu “Đóng cửa lại, bắt làm cỏ”. Vì thế mọi người đều chạy xô ra, có đứa trẻ con tên Thành ngã xuống bị người xéo què. Xét ra, Quảng Học đường là nơi đọc sách cho các hoàng thân, mà lại bày trò chơi khiến người đến xem tụ họp đông như thế đã là chẳng nên; huống chi Miên Trữ lại không biết cẩn thận, bày chuyện nói đùa, đến nỗi mọi người sợ hãi bỏ chạy, từ câu nói đùa thành chuyện uy hiếp. Vậy Miên Trữ phạt lương 1 năm, Miên Tăng phạt lương 6 tháng, lại phải giao 40 lạng bạc cho thân nhân tên Thành để tỏ rõ sự răn đe.”
Khung cảnh lễ bế giảng và khai giảng thì như sau:
“Hằng năm, cuối tháng chạp, đến ngày phong ấn thì nghỉ giảng. Sáng sớm hôm ấy, phụ đạo trở xuống mặc áo bổ phục (áo có bổ tử) ngồi ở bản vị phía tây. Các hoàng tử mặc áo bổ phục lần lượt đến. Phụ đạo vẫn cứ ngồi. Hai viên tán thiện ra đứng trên thềm phía tây, bốn viên bạn độc ra đứng dưới thềm phía tây, đều ngoảnh hướng đông. Các hoàng tử ở trên thềm gian chính giữa, hướng vào án lạy 2 lạy. Phụ đạo đứng lên nhận lễ, vẫn ở bản vị làm lễ đáp tạ 1 lạy, lễ xong đứng ngoảnh về phía đông. Các hoàng tử lui ra đứng trên thềm phía đông, hướng về phía tây. Tán thiện và bạn độc ở trên và ở dưới thềm phía tây bước xuống, hướng vào các hoàng tử làm lễ 1 vái. Các hoàng tử vái đáp. Lễ xong, vẫn đều chiếu bản vị ở đông tây mà ngồi, khoản tiếp một lần rồi lui. Sau ngày khai ấn sang năm, Khâm thiên giám chọn ngày tốt, tâu xin khai giảng. Ngày ấy gặp nhau, lễ tiết đều theo như trước.”
Có một câu chuyện về ngày khai giảng của các hoàng tử rằng:
“Đến ngày khai giảng vào bái, vua dụ các hoàng tử, hoàng đệ rằng : “Nay đã đặt chức sư bảo, các ngươi đều phải chăm chỉ học tập, ngày tháng tiến tới dần lên, cho thành đức nghiệp, nếu không được thế sẽ phải quở mắng”. Giảng quan, vốn là Cần Chính điện đại học sĩ Ngô Đình Giới nhân tâu rằng: “Thần bất tài mà được dự ngôi tây tịch(chỗ ngồi của thầy dạy các hoàng tử), xin ban giáo hình (thứ hình cụ của thày dạy học, tức là cái roi) cho thần”. Vua bèn trao cho cái roi.”
Không chỉ học kinh thư, các hoàng tử còn phải học về việc của triều đình cũng như cưỡi ngựa, bắn cung. Hàng tháng vào ngày 17, các hoàng tử từ 14 tuổi trở lên phải vào hầu Thái hậu ở cung Từ Thọ. Ngày 1,11 và 21 thì buổi sáng vào chầu ở điện Cần Chính, xem vua và các quan đại thần bàn việc. Buổi chiều, các hoàng tử tập cưỡi ngựa dưới sự giám sát của các thị vệ viện Thượng Tứ. Tuy vậy, vẫn có hoàng tử ham chơi để rồi bị phạt nặng:
“Hoàng tử Miên Phú cùng với lũ hạ nhân cưỡi ngựa diễn tập. Đến trước trại quân Thần cơ, ngựa tên Hoàng Văn Vân gặp người đàn bà già là Hà Thị Điểm, không kịp tránh xa, bị ngựa giày xéo mà chết. Ta xem sớ tâu, vô cùng buồn giận. […] Vậy cho lột bỏ mũ áo hoàng tử của Miên Phú, xóa bỏ lương bổng hàng năm, phải đóng cửa tự xét mình, không được ra ngoài một bước, không được dự vào hàng hoàng tử, chỉ gọi tên Phú mà thôi. […]”
Mặc dù ca dao có câu “Con vua thì lại làm vua” nhưng thực ra việc được phong tước vị cao hay thấp cũng còn tùy thuộc vào sự phấn đấu của mỗi người, như vua Thiệu Trị từng dụ:
“Năm nay gặp năm ta thọ 40 tuổi, nên đã sai các hoàng tử, hoàng đệ chưa được phong tước là 10 người đến trước sân hỏi, có 7 người ứng chế được. Vậy hoàng tử Hồng Y tấn phong làm Kiến Thụy công, Hồng Hưu làm Gia Hưng công, Hồng Phó làm Thái Quốc công, Miên Tẩu làm Phong Quốc công, Hồng Tố làm Hoằng Trị quận công, Miên Tăng làm Hải Ninh quận công, Miên Lâm làm Hoài Đức quận công. Miên Sạ, Miên Ngộ học thức không thông, thơ mất niêm luật, truyền chỉ thân sức, Miên Thái tuổi đã nhiều lại chẳng biết tu tính, chỉ quen chơi bời, chẳng tập lễ độ, chẳng thích thi thư, chữ viết không thành, văn lại phạm húy, phạt 2 năm lương. Các sư bảo Lê Đăng Doanh, Hồ Văn Nghĩa công tội bù trừ. Những tên tán thiện, bạn độc cho các hoàng tử ứng chế được, cùng những tên giảng tập cho các hoàng đệ đều thưởng mỗi người thêm một cấp. Những tên giảng tập cho Miên Thái, giáng hai cấp.”
Ngoại trừ những cơ hội đặc biệt như vậy, thì lệ thường phàm hoàng tử đến 15 tuổi thì bộ Lễ tâu xin phong tước, đợi vua thân xét hạch hoàng tử ấy nếu quả là ngày càng tôn kính đạo nghĩa thì lập tức cho làm lễ tấn phong tước công. Nếu hoàng tử ấy đức nghiệp chưa sáng tỏ nhưng mọi sự đều đúng khuôn phép thì hãy đình phong 1 lần, đợi 5 năm sau lại bộ Lễ lại làm sớ xin tâu.
Sau khi được phong tước, các hoàng tử sẽ dọn ra ngoài Tử Cấm Thành, ở phủ đệ riêng. Tuy nhiên, không phải là ở phủ đệ thì các hoàng tử muốn làm gì thì làm:
“Hoàng tử Miên Trữ mới ra ở riêng, có lấy thiếp mà không tâu lên vua, vốn là không hợp, vậy phạt lương 3 tháng để răn đe.”
“Hôm qua nghe trong kinh thành có tiếng thanh la và tiếng trống, sai người xét hỏi, thì là phủ hoàng tử Miên Thẩm diễn tuồng. Trong số lính thuộc phủ Miên Thẩm thì ra có 17 tên hơi biết nghề múa hát, hôm ấy y sai diễn để làm vui. Các hoàng tử học tập có thừa thời gian nên lấy thơ văn làm vui, không được gần lũ tiểu nhân diễn tập âm nhạc. Vậy phạt Miên Thẩm hai năm lương, đình việc chầu hầu 3 tháng để tỏ sự răn đe.”
“Hàm Thuận quận công Miên Thủ chứa nuôi phường tuồng. Thử nghĩ lời Thiếp Mông nói rằng: “Không được thường thường say rượu múa hát trong nhà”. Vậy lẽ ra nên lập tức theo lệ phạt Miên Thẩm nặng hơn. Nhưng nay Miên Thủ đã đem ngay lũ phạm tội giải đến tra xét, và tự nhận tội, vậy là còn biết hổ thẹn, xử nhẹ phạt một năm lương để tỏ răn sợ.”
Sao, các bạn còn nghĩ làm hoàng tử là tiêu dao tự tại hay không? Hay là “trách nhiệm đi kèm với quyền lợi”?
Đât là loạt ảnh các binh khí ( kiếm, đao, dao, cung) của nhiều danh tướng Việt Nam thời Phong kiến. Ngoài ra, chúng tôi có bổ sung vài mẫu dao găm thường dùng trong chiến tranh chống Thực dân Pháp.
Nguồn ảnh lấy từ Fanpage dự án game Nam Binh Thần Khí.
Khải Định Niên Chế là thanh kiếm lệnh của vua Bảo Đại. . Khải Định Niên Chế là thanh kiếm được trao lại cho Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa bởi vua Bảo Đại vào ngày 30/8/1945 trong lễ thoái vị của ông. Việc trao gửi thanh Kiếm (cùng chiếc ấn vàng) đánh dấu sự chấm dứt của triều đại nhà Nguyễn cũng như chế độ Phong Kiến ở nước ta.(*)
https://www.youtube.com/watch?v=k1cKd4LB_Yo
Khảo luận về Kiếm
Kiếm (劍) thuộc về Binh-Khí Sắc Bén mà con người lưu-tâm nghiên-cứu nhiều nhất về việc đúc rèn. Và cũng là binh-khí lừng-danh của Ngô-Việt từ Thời-Đại Xuân-Thu (722-481 trước CN).
Trong sách Khảo Công Ký (考 工 記) có ghi rằng : « Ngô-Việt chi Kiếm, biến hồ kỳ địa, nhi phi năng lương »(Kiếm của Ngô Việt, đất nào cũng có, vừa đẹp lại tốt).
Kiếm Việt Nam
Ngoài việc sử-dụng trong Chiến-tranh, Kiếm còn được sử-dụng về Biểu-tượng như :
1) – Biểu-tượng Quyền-hành trong Quốc-gia ; đó là Phương Thượng Bảo Kiếm ( 芳 上 寶 劍 ) mà Vua ban cho Quan Đại-Thần được phép « Tiền Trảm Hậu Tấu ».
2) – Biểu-tượng Tước-vị trong Triều-đình ; đó là tùy theo Phẩm-bậc, mà Kiếm và Võ Kiếm đuợc cẩn nạm khác nhau về đá quí và bạc vàng.
3) – Biểu-tượng Giai-cấp trong Xả-hội ; đó là Kiếm của thế-gia Hoc-sĩ.
4) – Biểu-tượng Huyền-năng trong Pháp-thuật ; đó là những thanh Kiếm của Đạo-Gia có khả năng trừ Ma giết Quỉ, tàng-hình, cách-không trảm-thủ.
Đến thời Nhà HẬU-LÊ(1428~1527) bên Đại-Việt và thời Nhà MINH (MING 1368~1644) bên Trung-Hoa, thì Kiếm gồm có hai loại là 1. Loại Kiếm Thẳng và 2. Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm) :
1. – Loại Kiếm Thẳng được chia làm hai thứ tùy theo Cạnh Bén : A – Loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén, cũng được chia ra làm hai thứ tùy theo hình-dáng của Mũi Kiếm, gọi là Kiếm-Phong : a) Văn Kiếm-Phong Kiếm : Mũi Kiếm hình bầu-dục ; b) Võ Kiếm-Phong Kiếm : Mũi Kiếm hình Tam-Giác.
Ngoài ra, loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén còn dược chia ra làm hai thứ tùy theo chiều dài của Tuệ Kiếm (彗 劍) gắn sau đốc chuôi Kiếm : a) Đoản-Tuệ Kiếm ; b) Trường-Tuệ Kiếm. B – Loại Kiếm Thẳng một cạnh bén, cũng được chia ra làm hai thứ tùy theo hình-dáng của Mũi Kiếm, gọi là Kiếm-Phong : a) Kiếm-Phong Thẳng ; b) Kiếm-Phong Vếch lên (Người Nhật gọi là Ikari no KIssaki). Đây là loại Kiếm đặc-thù của Đại-Việt.
2. – Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm) được chia làm hai thứ tùy theo phần cong của lưỡi Kiếm : A – Loại Kiếm Cong từ Giữa Thân Kiếm tới Mũi Kiếm ; đây là loại Kiếm Cong của đại đa-số các nước ; B – Loại Kiếm Cong từ Giữa Thân Kiếm tới Chắn Kiếm ; đây là loại Kiếm Cong đặc-thù của Nhật-Bản, gọi là « Katana ».
Thanh Gươm « Talwar » nổi tiếng của Ấn-Độ.
(Loại Gươm Cong từ Giữa Thân Gươm tới Mũi Gươm)
(Tín-dụng Ảnh : India Netzone)
Thanh Gươm « Katana » lừng danh của Nhật-Bản.
(Loại Gươm Cong từ Giữa Thân Gươm tới Chắn Gươm)
Khái-Quát Tiến-Trình của Loại Kiếm Thẳng :
Loại Kiếm Thẳng là loại xuất-hiện đầu tiên từ thời Đông-Châu – 東周 (771~246 TCL), dùng làm binh-khí tùy-thân và để cận-chiến trên chiến-xa, phôi-thai từ lưỡi Mâu bằng đồng và Dao ngắn bằng đồng .
« Mâu Đồng » thời cổ xưa
« Dao Đồng » thời cổ xưa
Thời ĐÔNG-CHÂU – 東周 (771~246 TCL) là giai-đoạn về Kiếm đúc bằng đồng, lưỡi thẳng có hai bề bén và chiều dài chỉ khoảng 40 cm.
Kiếm đồng hai bề bén thời Nhà ĐÔNG-CHÂU (771~246 TCL)
Đến « Xuân-Thu Thời-Đại – 春 秋 時 代 » (722-481 trước CN) thì Kiếm được đúc bằng Đồng phức-hợp, lưỡi thẳng, bản rộng có hai bề bén và dài gần 60 cm, chủ yếu dùng để chém nhiều hơn đâm. Đây là giai-đoạn xuất-hiện những thanh Bảo-Kiếm đầu tiên trong Lịch-Sử Viễn-Đông, do Âu-Dã-Tử ( 歐 冶 子 Ouye Zu) và Can-Tương (干 將 Ganjiang), người đất NGÔ-VIỆT đúc rèn.
« Kiếm Đồng thời Xuân-Thu »
(722-481 trước CN)
« Kiếm Đồng thời Xuân-Thu »
của Việt-Vương Câu-Tiễn
(722-481 trước CN)
Kiếm Đồng (dài 0,60 m) với hai cạnh bén, khai-quật tại Đông-Sơn (Thanh-Hóa – Việt-Nam)
Định-thì bởi Karlgren : 450~230 Av. J.C.
(A et A’ : Cán Kiếm và của hai mặt của Chắn Kiếm ; B : Tiết-diện của lưỡi Kiếm ; C : Chuôi ; D : Trắc-diện của Chắn Kiếm)
– Hình vẻ của Louis Pageot, 1924. Manuel d’Archéologie d’Extrême-Orient, L. Bezacier-
Sang đến Thời Chiến-Quốc, đời Nhà TẦN (221~206 TCL) thì Kiếm được đúc theo dạng Trường-Kiếm, lưỡi thẳng có hai bề bén, nhưng bản Kiếm hẹp hơn bản KIếm thời Xuân-Thu, tiện-lợi để chém cũng như để đâm. Thân Kiếm có tiết-diện hình quả trám có tám cạnh, rồi bớt còn Sáu cạnh, và dài đến 1,40 m. Đây là một giai-đoạn lịch-sử của loại Trường-Kếm sử-dụng bằng hai tay, gọi là «Song-Thủ Kiếm ».
Giản-đồ « Trường-Kiếm với tiết-diện Bát-Giác » có hai cạnh bén.
Thời Nhà HÁN (206 TCL~220 CL)
« Trường-Kiếm » hai cạnh bén rèn đúc bằng hợp-chất Đồng pha Kẽm và Crom. Thời Nhà TẦN (221~206 tr CL)
Giai-thoại TẦN-Thủy Hoàng-Đế đã phải nhờ có người chỉ cho cách xoay bao Kiếm ra sau lưng mới rút được Kiếm để chém Tráng-Sĩ Kinh-Kha, chính là vì lý-do chiều dài của thanh Kiếm này.
Qua thời Nhà Tiền-HÁN còn được gọi là Nhà Tây-HÁN (206~9 tr. CL), người ta bắt đầu cải-tiến nghệ-thuật đúc Kiếm Hai Cạnh Bén bằng Hợp-Kim Đồng pha Kẽm và Crom thời Nhà TẦN, và cùng sáng chế loạiKiếm Một Cạnh Bén có Chuôi Hình Khoen.
Kiếm bằng Hợp-Kim Đồng-Thiếc-Crom, một cạnh bén, có Chuôi hình Khoen,
Thời Nhà Tiền-HÁN (206 tr.CL~9 tr.CL),
thủy-tổ đầu tiên của Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT, lưỡi thẳng, một cạnh bén
và của Cổ-Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Hira Zukuri Chokuto x ».
Đến thời Nhà Hậu-HÁN còn được gọi là Nhà Đông-HÁN (23~220 CL), người ta bắt đầu đúc Kiếm bằng Sắt Thép, thân Kiếm có tiết-diện hình quả trám có Tám cạnh, rồi bớt còn Sáu cạnh, xong đến tiết-diện hình quả trám có Bốn Cạnh : hai cạnh bén gọi là Nhận (刃) và hai sống hai bên gọi là Tích (脊), người Nhật gọi nó là Shinogi.
« Trường-Kiếm » hai bề bén bằng Sắt Thép
Thời Nhà Hậu-HÁN (23~220 CL)
Vào thời Nhà TÙY (SUY 581~618 CL), thì nghệ-thuật rèn đúc Kiếm bằng Thép Quán-Cương của Trung-Hoa đã bắt đầu lên đến tuyệt-đỉnh, chỉ thua nghệ thuật đúc Kiếm của thời Nhà Mérovingiens (500~751 CL) bên Tây-phương mà thôi.
« Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, hai Cạnh Bén
của thời Triều-Đại Nhà MEROVINGIENS (500~751 CL) bên Pfasp-Quốc
(Phục-dựng bởi Gaël Fabre theo tài-liệu lịch-sử của Thư-Viện Quốc-Gia Pháp)
Đặc-điểm thanh Kiếm thời Nhà TÙY là thân Kiếm thẳng có một bề bén với hai sống dọc ngang (một sống mỗi bên) gọi là Tích ((脊) – tiếng Nhật gọi là Shinogi – nằm gần phía cạnh bén, nghĩa là nằm xa phía sống lưng Kiếm (người Nhật gọi đó là “KihiraZukuri“) ; cho nên loại Kiếm Nhà TÙY này rất nặng.
« Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, một Cạnh Bén,
rèn đúc năm 616 CL, thời Nhà TÙY (SUY 581~618 CL),
thủy-tổ của Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Kihira Zukuri Chokuto ».
(bão-tồn tại Đền Shitenno, tại Quận Osaka, Japan)
Đến thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL), nghệ-thuật rèn đúc Kiếm đã đến mức vô-tiền khoáng-hậu ở Đông-phương và tỏa rộng sự chi-phối đến tất-cả những nước lân-cận đồng văn-hóa, nghĩa là Nhật-Bản, Việt-Nam, Đại-Hàn và Tây-Tạng.
Phải chờ đến thời-đại YOSHINO (thế-kỷ 14) bên Nhật-Bản, người ta mới đúc lại được những thanh Bảo-Kiếm tương-đương nhưng thuộc về loại Kiếm Cong, tức là Gươm, dễ rèn trui hơn loại Kiếm Thẳng một bề bén.
Đặc-điểm thanh Kiếm thời Nhà ĐƯỜNG là thân Kiếm thẳng có một bề bén với hai sống dọc ngang (một sống mỗi bên) gọi là Tích ((脊), nằm xa phía cạnh bén, nghĩa là nằm gần phía sống lưng Kiếm (người Nhật gọi đó là “ShinogiZukuri“) ; cho nên loại Kiếm thời Nhà ĐƯỜNG này không nặng bằng loại Kiếm thời Nhà TÙY và trở nên dễ-dàng huy-động hơn.
« Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, một Cạnh Bén,
thời Nhà ĐƯỜNG » (618~907 CL),
thủy-tổ của Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Shinogi Zukuri Tachi »
và « Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT », một bề bén, mũi vếch (Ikari o Kissaki Tsurugi).
Về sau, thời Nhà ĐƯỜNG còn sáng chế thêm một loại Kiếm thẳng có hai cạnh bén, một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃) và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃).
« Trường Kiếm » bằng Thép quán-cương, hai cạnh bén (Hạ-Nhận và Thượng-Nhận),
Thời Nhà ĐƯỜNG (618~907 CL),
thủy-tổ của hai loại Kiếm NHẬT-BẢN gọi là « Moroha Zukuri Tsurugi »
và « Kissaki Moroha Zukuri Tachi – “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” ».
« Trường Kiếm Song-Thủ và Đơn-Thủ của ĐẠI-VIỆT » gắn Lưỡi bằng Thép có Cán bằng Đồng đúc liền với Chắn kiếm và Chuôi kiếm chạm-trổ.
(Thế-Kỷ 13)
(Tín-dụng ảnh : Nguyễn Ngọc Phương Đông)
« Trường Kiếm ĐẠI-VIỆT » một cạnh bén, mũi vếch
(Thế-Kỷ 15~19).
(Phục-dựng bởi Michel Souquet theo tài-liệu lịch-sử của Thư-Viện Quốc-Gia Pháp)
« Bảo-Kiếm MÃN-THANH » hai cạnh bén của Hoàng-Đế Càn-Long (1735-1796)
Triều Nhà THANH (QING 1644–1911).
« Kiếm ĐẠI-VIỆT » hai cạnh bén
(Thế-Kỷ 18~19).
Khái-Quát Tiến-Trình của Loại Kiếm Cong :
Loại Kiếm Cong (gọi là Gươm hoặc Đao), có một cạnh bén là loại xuất-hiện sau loại Kiếm Thẳng.
Thanh Kiếm Lưỡi Cong « Kissaki Moroha Zukuri Tachi – “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” » của Nhật-Bản với một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃) và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃) là một chứng-cớ hùng-hồn sự thọ-hưởng chi-phối của loại Kiếm Thẳng hai cạnh bén từ thời Nhà ĐƯỜNG(TANG 618~907 CL).
Giản-đồ Lưỡi Kiếm Cong Nhật-Bản « Kissaki Moroha Zukuri Tachi »
– mang biệt-danh “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” –
(Thanh Gươm này đã từng là sỡ-hữu của Hoàng-Đế Kammu 781~ 806 JC).
Kiếm Lưỡi Cong Nhật-Bản « Kissaki Moroha Zukuri Tachi »
– mang biệt-danh “Kogarasu Maru – 小烏丸 Tiểu Ô-Hoàn” – (Phục-dựng bởi Yao Yilin theo tài-liệu lịch-sử của Hoàng-Gia Nhật-Bản ).
Về sau, Loại Kiếm Cong tiến-hóa thành Loại Gươm–Đao, có một cạnh bén. Nó dẫn-chứng hiển-nhiên sự thọ-hưởng chi-phối của loại Kiếm Thẳng một cạnh bén từ thời Nhà ĐƯỜNG(TANG 618~907 CL),và gồm có hai thứ, một thứ dùng theo Song-Thủ Kiếm và một thứ dùng theo Đơn-Thủ Kiếm :
1) Thứ Gươm dùng theo « Song-Thủ Kiếm » :
Đây là loại Kiếm Cong đã được người Nhật-Bản đưa lên mức tuyệt-đỉnh của nghệ thuật đúc rèn Kiếm, tương-đương với thời Nhà ĐƯỜNG (TANG 618~907 CL).
« Gươm-Katana » của NHẬT-BẢN dùng theo Song-Thủ Kiếm
Thời-Đại YOSHINO – Thế Kỷ 14
Chi-tiết Kiếm-Phong của « Gươm-Katana » NHẬT-BẢN dùng theo Song-Thủ Kiếm.
Thời-Đại YOSHINO – Thế Kỷ 14
« Trường-Đao TRUNG-HOA », thường gọi là Miêu-Đao (Miao-Dao) một cạnh bén, mũi vếch, dùng theo Song-Thủ-Kiếm
do Tướng Thích-Kế-Quang (1528-1587) sáng-chế cùng với Kiếm-Phổ « Tri Tân Dậu Đao-Pháp Thập-Ngũ Thức »
đặng khắc-phục Quân Mông-Cổ và Giặc Biển Đông (Ronin Nhật). Triều Nhà MINH (1364~1644)
.
« Gươm Đồng » một cạnh bén, dùng theo Song-Thủ Kiếm, của Đất GIAO-CHÂU.
(Tín-dụng ảnh : Nguyễn Ngọc Phương Đông)
« Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Song-Thủ Kiếm
Thế-Kỷ 18~19.
(Tín-dụng Ảnh : Nguyễn Ngọc Phưong-Đông)
« Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Song-Thủ Kiếm
Thế-Kỷ 18~19.
Ngự-Lâm Quân cầm Trường Gươm (dùng theo Song-Thủ Kiếm)
Triều Nhà NGUYỄN (1802-1945)
Trường Gươm (dùng theo Song-Thủ Kiếm) trong ngày Lễ Hội
hàng năm vào ngày mồng 10 tháng 03 ở Đền Đỏ
(Đền thờ Thánh-Mẫu Đạm Đồng Lương)
Thôn Sơn-Thọ, Xả Thái-Dương, Huyện Thái-Thụy, Tỉnh Nghệ-An.
2) Thứ Gươm dùng theo « Đơn-Thủ Kiếm » :
Đây là loại Kiếm Cong được thông-dụng nhất trên thế-giới. Loại Gươm này còn được gọi là «Đao » bên Trung-Hoa và được gọi là «Sabre » bên Âu-châu.
« Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Đơn-Thủ Kiếm Đại-Việt – Thế-Kỷ 18~19.
« Gươm ĐẠI-VIỆT » dùng theo Đơn-Thủ Kiếm
với một cạnh bén dài nằm về phía lưỡi Kiếm gọi là Hạ-nhận (下 刃)
và một cạnh bén ngắn đằng mũi Kiếm, về phía sống lưng Kiếm, gọi là Thượng-nhận (上 刃). Đại-Việt – Thế-Kỷ 18~19.
Thanh Bảo Kiếm
Gươm thiêng mài sắc tự bao giờ :
Ngắm lại lòng càng thấy ngẫn-ngơ !
Lưỡi Kiếm vẫn ngời màu nước biếc ;
Chuôi Gươm còn đượm nét bài Thơ.
Bao năm Kiếm báu hờn thư-án ;
Mấy thủa Gươm thiêng hận đợi chờ.
Ánh thép lung-linh như vẻ đón
Bóng người Kiếm-Khách thủa nào xưa…
Hình ảnh Việt Nam.com xin sưu tầm một số tên gọi địa danh & danh nhân nổi tiếng trên thế giới đã được Việt hóa.
Nữu Ước (New York), Hoa Thịnh Đốn(Washington), Mã Nhật Tân (Manhattan, khu trung tâm của New York), Cựu Kim Sơn (San Francisco – bang California, Mỹ), Phú Lang Sa (France), Úc Đại Lợi(Australia), Luân Đôn (London), Phi Luật Tân (Philippine), Tân Tây Lan (New Zealand), điện Cẩm Linh (điện Kremly – nơi làm việc của tổng thống Nga), Hoa Lệ Ước (Hollywood), Mạc Tư Khoa (Moscow, thủ đô Nga), Cơ Phụ (Kiev – thủ đô Ukraine), sông Phục Nhĩ Gia (sông Volga), sông Đa Não Hà (sông Danuble), Ba Tây (Brazil), A Phú Hãn(Afganishtan), Gia Nã Đại (Canada), A Mỹ Lợi Gia (America), Á Căn Đình (Argentina), Áo Môn (Macau), Cao Ly(Korea), Hạ Uy Di (Hawai), Hoành Quốc (Monaco, công quốc thuộc Pháp), Hoành Tân (Yokohama – Nhật Bản), Hưng Gia Lợi (Hungary), Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya – dãy núi), Hương Cách Lý Lạp (Shangri La ), Mễ Tây Cơ (Mexico), Tân Đức Lợi (New Delhi – Ấn Độ), Hương Cảng (Hongkong), Thánh Hà Tây (San Jose – California, Mỹ), Tô Cách Lan (Scotland), Uy Nê Tư (Venice – Ý), Ái Nhĩ Lan (Ireland), Ba Lê (Paris), Bảo Gia Lợi (Bulgary), La Tỉnh (Los Angeles – California, Mỹ), Á Lan Đại (Atlanta), Á Tế Sá (Asia), Bá Linh (Berlin), Bạch Nga (Belarus), Bàn Môn Điếm (Panmomjum, khu phi quân sự chia đôi Nam – Bắc Triều Tiên), Bình Nhưỡng (Pyongyung), Băng Đảo(Iceland), Cao Miên (Campuchia), Chi Gia Kha (Chicago, bang Illinois, Mỹ), Đông Hồi (Banglades), Hán Thành(Seoul, thủ đô Hàn Quốc), Đông Kinh (Tokyo), Hồi Quốc (Oman), Lục Xâm Bảo (Luxembourg), Lỗ Mã Ni(Romania), Mạnh Mãi (Mumbay, còn có tên là Bombay, thành phố đông dân nhất Ấn Độ), Phú Sỹ (Fuji –ngọn núi ở Nhật), Tân Đức Lợi (New Delhi, thủ đô Ấn Độ), Tây Hồi (Pakistan), Tây Nhã Đồ (Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ), Tích Lan (Sri Lanca), Vọng Cát (Bangkok – thủ đô Thái Lan), Trân Châu Cảng (Pearl Harbor)
Chú thích
1. Mã Nhật Tân (Manhattan): là nơi xảy ra sự kiện 11/9, khu vực tòa tháp đôi giờ gọi là Ground Zero
2. Cựu Kim Sơn: Ai xem phim Hongkong hay Trung Quốc, bối cảnh cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thì hay thấy người ta nói đi Cựu Kim Sơn để ám chỉ đi Mỹ, vì thời điểm đó người Hoa di cư sang Mỹ khá đông và có nhiều người Hoa sống tại San Francisco. Người Hoa bắt đầu đến San Francisco trong giai đoạn người ta đổ xô đến California để tìm vàng (thế kỷ XIX). Nhà văn Mỹ Jack London cũng lấy bối cảnh này để viết nên tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dãnổi tiếng.
3. Hương Cách Lý Lạp: một vùng đất, trong huyền thoại, được xem là lạc cảnh thần tiên của Trung Quốc. Trong phim Xác Ướp 3, địa danh này là nơi cất thuốc trường sinh, Hongkong, Singapore đều có khách sạn nổi tiếng tên này
4. Washington: là tên của tổng thống đầu tiên của Mỹ George Washington, tên của một tiểu bang giáp biên giới Canada, còn là tên của thủ đô Hoa Kỳ. Khi mang tên của thủ đô Hoa Kỳ thì thường phải viết đầy đủ là Washington D.C, có khi người ta chỉ viết là DC để nói cho Washington DC. DC là viết tắt của cụm District of Columbia, tức có thể dịch là Đặc khu Columbia hay quận Columbia. Điểm đặc biệt của DC là không có đại diện trong quốc hội Hoa Kỳ.
5. Thượng Hải, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Hà Lan…: cũng là từ đã được Việt Hóa
6. Những từ Việt hóa này không thống nhất lắm về cách dịch. Có những từ là được dịch, có những từ bắt nguồn từ cách lý giải riêng. Ví dụ: San Francisco lẽ ra phải dịch là Thánh Phan Xi Cô (giống như San Jose được dịch là Thánh Hà Tây), từ San và St có nghĩa là Thánh, bang Minessota của Hoa Kỳ có thành phố St Paul tức là thành phố Thánh Bôn. Nhưng trong trường hợp San Francisco thì có một chút khác biệt từ cách dịch của người Trung Quốc. Người Trung Quốc đến San Francisco để tìm vàng và vàng ở các dãy núi ở San Francisco khá nhiều. Chính vì thế, người TQ gọi là Cựu Kim Sơn (“cựu” là cũ, xưa; “Kim” là vàng) tức có nghĩa là “núi vàng xưa”.
Cũng như Đông Kinh vốn dĩ không phải là bản dịch của từ Tokyo, mà chỉ là người Trung Quốc giải nghĩa nó là kinh đô ở phía đông. Ngày xưa, Trung Quốc vẫn hay dùng vị trí địa lý phía đông để nói về Nhật Bản, thời nhà Tống và nhà Minh (Trung Quốc) thì vẫn hay gọi Nhật Bản là Đông Doanh. Cũng như từ Hoa Kỳ là do nước này có lá cờ có nhiều ngôi sao như những bông hoa, Hoa Kỳ có nghĩa là Cờ Hoa (lá cờ hoa), còn chữ Mỹ thì lấy từ America (tức A Mỹ Lợi Gia). Chính vì vậy, cách Việt Hóa vẫn chưa hề thống nhất.
NHÂN VẬT
Nã Phá Luân (Napoleon)
A Lịch Sơn đại đế (Alexander đại đế)
Bối Đa Phần (nhạc sỹ Beethoven)
A Lịch SƠn Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes)
Đạt Lai Lạc Ma (Dalai Lama)
Kha Luân Bố (Colombo)
Lệ Ninh (Lenin)
Kim Nhật Thành (Kim Il-sung, cố lãnh tụ Bắc Hàn)
Kim Chính Nhất (Kim Jong-il, đương kiêm lãnh tụ Bắc Hàn, con trai Kim Nhật Thành)
Xem video album loạt ảnh vận động bầu cử cũng như hình ảnh cử tri đi tham gia bỏ phiếu bầu nhân vật cao cấp nhất chính quyền VNCH thời bấy giờ! Giai đoạn những năm~1961