Vùng đất phía Bắc của người Bách Việt từng lên đến tận phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang), tới khu vực Hồ Động Đình (tức tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Việc này không chỉ được ghi nhận lại trong các truyền thuyết mà còn nằm trong những chứng tích của lịch sử.
Truyền thuyết
Theo Lĩnh Nam Chích Quái thì ông nội của Lạc Long Quân là Đế Minh (cháu 3 đời của Thần Nông) sinh ra con cả là Đế Nghi. Khi Đế Minh đi tuần thú phương Nam thì gặp và cưới con gái bà Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Ngay từ tấm bé Lộc Tục đã thể hiện rất thông minh và đoan chính.
Đế Minh rất ngạc nhiên trước tư chất thông minh và tài trí của Lộc Tục nên muốn chọn làm người nối ngôi, thế nhưng Lộc Tục lại muốn nhường ngôi cho anh mình là Đế Nghi.
Cuối cùng Đế Minh quyết định truyền ngôi cho con trưởng Đế Nghi làm vua phương Bắc, và cho Lộc Tục làm vua phương Nam, lấy sông Dương Tử làm giới tuyến. Ông tế cáo trời đất trên Thiên đài rằng: “Trước đất trời nguyện rằng: Nam, Bắc cương thổ có khác. Nam không xâm Bắc. Bắc không chiếm Nam. Kẻ nào phạm lời nguyền thì chết dưới đao thương”.
Nước Xích Quỷ được tô màu có diện tích gấp 10 lần nước Việt ngày nay. (Ảnh: Wikipedia)
Từ đấy phía Bắc sông Dương Tử do Đế Nghi cai quan, phía Nam sông Dương Tử do Lộc Tục cai quản. Lộc Tục khi lên ngôi Vua lấy hiệu là Kinh Dương Vương, năm 2879 TCN đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, biên giới phía Bắc tới Động Đình Hồ, phía Nam giáp với nước Hồ Tôn, phía Tây giáp với Ba Thục, phía Đông giáp với biển Nam Hải.
Như vậy theo sự phân chia vào thời đấy thì biên giới phía Bắc của người Việt lên đến Động Đình Hồ (phía Nam sông Dương Tử), bao gồm cà các tỉnh của Trung Quốc ngày nay như Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Tây, Quảng Đông, v.v.
Bản đồ nước Việt cổ. (Ảnh: Wikipedia)
Nếu tính diện tích thì Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành sau này) vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) kinh tuyến 105 Đông, phía Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118 Đông. Tổng cộng diện tích của Xích Quỷ khoảng 2.900.000 km2.
Khi vua Kinh Dương Vương mất, con trai là Lạc Long Quân lên nối ngôi, lập ra nhà nước Văn Lang. Khi ấy, biên giới của Bách Việt vẫn được vẹn toàn.
Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ. (Ảnh qua vietbao.vn)
Trong khi đó, dù hậu nhân sau này đã mở mang bờ cõi về phía Nam, nhưng lại mất đi phần đất phía Bắc, nên diện tích Việt Nam bây giờ là 331.698 km2 (tính cả diện tích trên biển), chỉ bằng khoảng 1/10 so với trước kia.
Hai Bà Trưng khôi phục giang sơn
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào năm 40 SCN đã giành được thắng lợi và lấy lại nguyên vẹn lãnh thổ nước Việt cổ.
Hai Bà Trưng cùng các nữ tướng quả cảm của mình đánh đuổi quân Hán đến tận Động Đình Hồ, một nữ tướng là Trần Thiếu Lan đã tử trận tại sông Thẩm Giang. Đây là con sông nối với Hồ Động Đình. Sách thời nhà Nguyễn có ghi chép rằng: “Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê đi sứ sang Trung Quốc, khi qua nơi đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu Lan.”
Hình ảnh Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Hán.
Khi giành được giang sơn, Hai Bà Trưng giao cho nữ tướng Phật Nguyệt chức Tổng trấn khu hồ Động Đình – Trường Sa. Năm 1979, giáo sư Trần Đại Sỹ tìm thấy tại thư viện bảo tồn di tích cổ ở tỉnh Hồ Nam (tỉnh thủ phủ phía Nam Động Đình Hồ, Trung Quốc) có ghi chép trận đánh Động Đình Hồ như sau: “Quang Vũ nhà Hán sai Phục ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện. Long nhượng tướng quân Thận hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga mi, một tay nhổ núi Thái sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường giang, hồ Ðộng đình, oán khí bốc lên tới trời”.
Giáo sư Trần Đại Sỹ từng tới Trung Quốc để tìm hiểu về lịch sử cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và quân Hán, thấy rất nhiều tỉnh đều thờ Vua Bà, nhiều nhất là tỉnh Hồ Nam (khu vực Động Đình Hồ), nhưng không ai còn nhớ Vua Bà là ai.
Khi ông đến đến Côn Minh, giáo sư sử học Đoàn Văn ở đây cho hay: “Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi đầu thế kỷ thứ nhất có trận đánh giữa quân vua Bà với quân Hán tại Bồ lăng. Nay Bồ lăng nằm trên lãnh thổ Tứ Xuyên, chỗ ngã ba sông Trường giang và Ô giang.”
Giáo sư Trần Đại Sỹ đến bến Bồ Lăng thuộc huyện Bồ Lăng, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc để tìm hiểu. Tại đây giáo sư được Sở du lịch hướng dẫn đến miếu thờ 3 vị thần, tướng của Vua Bà. Nhưng bản thân họ cũng không biết Vua Bà và 3 vị tướng này cụ thể là ai, chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán, cả vùng đó đều có đạo thờ Vua Bà.
Miếu thờ có rất nhiều câu đối, nhưng cuộc cách mạng văn hóa của Trung Quốc đã hủy gần hết các câu đối này. May mắn là ba câu đối vẫn còn tồn tại tới ngày nay.
Phía trước cửa miếu có câu đối rằng:
Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi, Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết… can vân.
Nghĩa là:
Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu. Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận…
khí tiết ngút từng mây.
Phía trong miếu có câu đối:
Giang thượng tam anh phù nữ chúa, Bồ Lăng bách tộc khốc thần trung.
Nghĩa là:
Trên sông Trường giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúa, Tại bến Bồ lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.
Những tư liệu này cho thấy biên giới người Việt thời Hai Bà Trưng phía bắc tới Động Đình Hồ (phía Nam sông Dương Tử), phía Tây tới tận Ba Thục (tức tỉnh Tứ Xuyên ngày nay).
Bản đồ nước Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng, phía Bắc đến Động Đình Hồ, phía Tây đến Bồ Lăng (Ba Thục). (Ảnh: Wikipedia)
Trải qua ngàn năm Bắc thuộc, người Việt dồn dần xuống phía Nam để tránh sự cai trị hà khắc, khiến khu vực phía Bắc người Hoa Hạ ngày càng đông hơn.
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo người Bách Việt đánh bại quân Nam Hán, làm chủ lại các vùng đất của nước Việt. Tuy nhiên một dải đất lớn phía Bắc là Nam Hải, Tượng Quận, Quế Lâm đã bị bỏ qua, và diện tích nước Việt nhỏ hơn trước. Sau này dù bờ cõi đã được mở rộng về phía Nam, nhưng diện tích ngày nay chỉ bằng hơn 1/10 so với trước đây.
Truyền thuyết không cách xa sự thực
Trong bài viết có tựa đề “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam” trên diễn đàn Lý Học Đông Phương, vốn là bài diễn văn tiếng Pháp của giáo sư Trần Đại Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp – Á, được dịch giả Tăng Hồng Minh đăng tải, giáo sư Trần Đại Sỹ đã nhắc tới nhiều luận điểm khẳng định biên giới cổ của Việt Nam nằm ở hồ Động Đình. Những luận điểm này được đích thân giáo sư Trần Đại Sỹ khảo cứu và viếng thăm thực địa, trong đó nổi bật là:
1 – Núi Ngũ lĩnh trong truyền thuyết về Đế Minh xác thực nằm ở Trường Sa, Hồ Nam. Ngoài ra tại tỉnh này còn có rất nhiều các di tích được nhắc tới của tộc Việt như: hồ Động Đình, núi Tam Sơn, sông Tương, Thiên đài, Tương đài, cánh đồng Tương.
2 – Thiên đài mà Đế Minh tế cáo trời là có thật, nằm gần bên bờ Tương Giang. Trên đỉnh này có một ngôi chùa nhỏ, bên trong còn có nhiều chứng tích về Hai Bà Trưng và trận Động Đình. Ngoài ra giáo sư Trần Đại Sỹ còn tìm thấy một tài liệu mang tên “Thiên đài di sự lục” tại thư viện Hồ Nam, trong đó miêu tả rõ rằng Thiên đài thờ vua Đế Minh và vua Kinh Dương.
3 – Cánh đồng Tương là nơi mà Lạc Long Quân và Âu Cơ đã hẹn nhau tái hội mỗi năm một lần là có thật. Giáo sư Trần Đại Sỹ kết luận rằng cánh đồng Tương chính là vùng trũng phía Tây Ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động Đình, Nguyên Giang. Phía Nam là Linh Lăng, Hành Giang. Phía Tây là vùng Chiêu Dương, Lãnh Thủy. Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương Giang, Nguyên Giang, Liên Thủy, Thạch Khê Thủy.
Cùng với một số luận điểm vững chắc khác, giáo sư Trần Đại Sỹ đi đến kết luận rằng:
Biên giới cổ của nước Việt Nam, với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam, phía Bắc quả tới hồ Ðộng Đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên.
Vậy là diện tích nước Việt cổ thực sự lớn gấp 10 lần ngày nay.
Những lần trong lịch sử nước Việt, chúng ta tiến qua biên giới đánh quân Tàu
Đám đông thường được tinh thần dân tộc dẫn dắt theo cùng một hướng “cứ địch là toàn sang đánh ta, còn cứ ta thì chống trả và đánh lại”. Lịch sử cho thấy còn có những trường hợp ngoại lệ hơn chục lần quân Việt đã tấn công qua biên giới phía Bắc, được nêu dưới đây như một vài sự kiện cần nghiên cứu sâu hơn để làm rõ…
Lý Thường Kiêt đánh Tống bên kia biên giới. Tranh minh họa
Các thời Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh vì lòng tham đã xâm chiếm, uy hiếp đã bị người Giao Chỉ đánh cho hao binh tổn tướng, khiếp hãi dăm bẩy phen. Các bậc anh hùngNgô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ đã làm các triều đại bên Tàu phải chịu đớn hèn.
Tổ tiên ta cũng từng dăm phen nuôi chí đánh sang Trung Quốc. Tiền nhân coi Triệu Đà (Nam Việt Vũ Đế – vua nước Nam Việt) là vua nước ta, đóng đô ở Phiên Ngung, thành Quảng Châu ngày nay. Đến triều Đông Hán năm 43, đánh bại Hai Bà Trưng, tướng Mã Viện bèn dựng cột trụ đồng phân giới nhà Hán và Giao Chỉ, khắc chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng đổ thì người Giao Chỉ tuyệt diệt). Theo sách An Nam chí lược đời Trần thì Cột đồng nằm ở Khâm Châu, trước thuộc Quảng Đông nay thuộc Quảng Tây. Bởi vậy, các tiền nhân ôm mộng kéo Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) trở về với người Việt.
*) Lần 1: Theo Đại Việtsử ký toàn thư. Năm 542, vua Lương sai 2 tướng Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đem quânsang xâm lược nước ta. Hai tướng giặc sợ nên chỉ tiến quân dùng dằng, tốc độ rất chậm. Khi chúng mới kéo đến quận Hợp Phố (Quảng Đông) thì bị Lý Bí (tức Lý Nam Đế) đã cho quân chủ động sang tận Hợp Phố tấn công, khiến quân Lương mười phần chết đến sáu, bảy nên tan rã và phải bỏ mộng xâm lược. Chiến thắng đã giúp Lý Bí kiểm soát được toàn bộ Giao châu cộng thêm quận Hợp Phố (Quảng Đông)
*) Lần 2: Vào thời Tiền Lê, năm 995, hơn 100 chiến thuyền của Đại Cồ Việt đã tiến sang bờ biển nướcTống, đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, sau đó rút quân. Khi nhà Tống gửi thư trách, vua Lê Đại Hành đã trả lời đầy thách thức rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Nhung,thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?”.
*) Lần 3: Đến mùa hè năm 995, 5.000 hương binh châu Tô Mậu (Lạng Sơn) của Đại Cồ Việt đã tấn côngvào Ung Châu rồi lui binh.
*) Lần 4: Đến nhà Lý, năm 1022 vua Lý Thái Tổ đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh dẹp giặc Đại Nguyên Lịch. Quân Đại Việt đã đi sâu vào trấn Như Hồng của đất Tống, đốt kho tàng kẻ thù rồi rút về.
*) Lần 5: Năm 1052, thủlĩnh Nùng Trí Cao của người dân tộc Tráng (Tày – Nùng) ở Cao Bằng đem quân đánh vào miền Nam Trung Quốc, khiến vua Tống lo sợ. Vua Lý Thái Tông gửi chiếu đề nghị đưa quân sang giúp nước Tống, nhưng tướng Địch Thanh của nhà Tống can ngăn vì sợ người Việt lợi dụng việc này mà lấn chiếm lãnh thổ.
Tháng 10/1053, lấy danh nghĩa là ứng cứu cho nhà Tống, quân Đại Việt tiến vào đất Tống để tiếp ứng cho Nùng Trí Cao, nhưng tới nơi thì Nùng Trí Cao đã thua nên đành rút quân về.
*) Lần 6: Mùa xuân năm 1059, vua Lý Thánh Tông cho quân đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc, khiến quân Tống nể sợ.
Năm 1060, vua Lý sai châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống, bắt được tướngTống là Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về. Quân tống phản công nhưng thất bại, đành phái sứ giả sang điều đình. Tuy nhiên, phía Đại Việt quyết không trả tù binh.
*) Lần 7: Năm 1073, vua Thần Tôn nhà Tống cử Thẩm Khởi làm Tri châu Quế Châu cốt mưu toan việc đánh lấy nước Nam ta, vì nghe lời một quan biên thần dâng sớ về tâu nên chiếm Giao Chỉ: “Một vạn quân đem đánh đủ lấy được Giao Chỉ dễ dàng như chơi”.
Thẩm Khởi đến Quế Châu, đêm ngày lo việc luyện quân đóng thuyền, rèn luyện thủy chiến, sửa soạntấn công nước ta; lại dung nạp bọn Nùng Thiện Mỹ là tù trưởng dân Mường ở mạn ngược ta cho sang bên Tàu ở, chủ ý để dò binh tình và địa thế, phòng nay mai đi đánh thì dùng bọn ấy làm hướng đạo.
Vua Tống thấy Khởi làm hấp tấp, lộ chuyện quá liền vội bãi chức gọi về và sai Lưu Di xuống thay. Lưu Di muốn lập công nhanh chóng nên càng hăng hơn, ngoài việc xây đắp đồn lũy, dò la tình thế, lại đóng cửa biên giới, không cho dân sở tại vãng lai buônbán với ta…
Đầu năm 1075 ,Nhân Tôn bàn việc với Thái sư Lý Đạo Thành:
– Quân Tống thế thì láo thật. Dễ thường nó nghĩ nước ta không có gươm sắc để chặt bay đầu chúng nó chẳng? Việc này mẫu hậu và Thái sư định đối phó thế nào?
Thái sư Lý Đạo Thành tâu xin cho quân lên án ngữ biên giới, hễ binh nhà Tống ngó thấy ta phòngbị, tất không dám manh tâm quấy nhiễu ta nữa.
Nhân Tôn gạt mưu kế ấy:
– Không! Chúng nó đã rắp tâm đánh ta thì ta đánh nó trước. Sang tận nhà chúng nó mà đánh một chuyến cho biết tay. Xin mẫu hậu nghe con, Trung Quốc chỉ to xác đông người,chứ binh lực nhà Tống chưa chắc hơn ta.
Ỷ Lan Thái Phi nghĩ thầm con mình thông minh anh dũng, bàn có lẽ phải, bèn hỏi Lý ĐạoThành:
– Ta cũng nghĩ thế: phải đánh Tống một phen, cho họ bớt thói ngạo nghễ khinh khi tiểu quốc đi. Trong các võ thần nước ta, nên chọn ai đi làm tướng, theo ý ta quan Thái sư Lý Thường Kiệt được chăng?
Lý Đạo Thành tâu:
– Tướng tài nước ta hiện nay trừ Lý Thường Kiệt không ai đương nổi trọng nhậm này.
Năm 1075-1076, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản khởi binh mười vạn, chia làm ba đạo quân kéo sang nước Tàu đánh đòn phủ đầu.
Đạo thứ nhất, nhì đánh hai châu Khâm, Liêm đất Quảng Đông.
Đạo thứ ba đánh Ung Châu đất Quảng Tây.
Lý Thường Kiệt đánh có mấy ngày, chiếm luôn cả Liên Châu và Khâm Châu, giết quân Tống và thổdân hơn tám nghìn người, tiêu hủy các thành lũy, phá kho lương dự trữ. Kéo tiếp một cánh quân chặn đánh viện binh nhà Tống ở Ải Côn Luân (gần Nam Ninh nay) phávỡ tan hoang và chém chết tướng địch Trương Thủ Tiết giữa trận.
Đạo binh Tôn Đản tiến đánh Ung Châu, vây Ung Châu hơn 40 ngày rồi trèo lên Thành Võ, Tháithú Tô Đạm tự thiêu mà chết, thành Ung Châu bị hạ.
Sử ta chép rằng từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau, lính và dân Tàu bj chém giết tửthương hơn 10 vạn, bắt sống mấy trăm dân ba châu đem về. Đạo binh ung dung kéo về, quân Tống khiếp vía không dám đuổi theo, binh lực suy yếu.
*) Lần 8: Sang đờinhà Trần, năm 1241, vua Trần Thái Tông thấy một số tộc người ở nước Tống thường hay quấy nhiễu biên giới đã sai đốc tướng Phạm Kính Ân đem quân vượt biên giớiđánh vào hang ổ của chúng rồi về.
Cũng trong năm này 1241, vua thân chinh cầm quân vượt qua châu Khâm, châu Liêm đi đánh cáctrại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ. Vào địa phận nước Tống, vua tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ. Người châu ấy không biết là ai, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là vua Việt,mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, vua sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về, rồi ung dung đi theo đường bộ về nước mà không sợ hãi lúng túng.
*) Lần 9: Đến mùa hạnăm 1242, vua Trần Thái Tông lại sai tướng Trần Khuê Bình đem quân trấn giữ biên giới phía Bắc, đánh vào lộ Bằng Tường của nước Tống để dẹp loạn.
*) Lần 10: Vào đời vua Trần Thánh Tông, đầu năm 1266, thủy quân Đại Việt tấn công rồi đánh đến tận núi Ô Lôi ở phía Đông Nam huyện Khâm (Quảng Đông), nhờ đó biết được quân Nguyên cóâm mưu xâm lược nước ta.
*) Lần 11: Sử nhà Nguyên ghi rằng, vào năm 1313, hơn 3 vạn quân Đại Việt đánh vào Vân Động, châu Trấn Yên, sau đó tấn công các xứ Lôi Động, Tri Động và châu Quy Thuận, cuối cùng là châu Dưỡng Lợi (nay thuộc Quảng Tây). Về sau nhà Nguyên phải cho sứ đến thương lượng quân Đại Việt mới rút lui.
*) Lần 12: Theo sử nhà Minh, năm 1438, thổ quan châu Tư Lang của Đại Việt đem quân đánh hai châu An Bình và Tư Lăng (nay thuộc Quảng Tây), vua Minh phải sai sứ sang nước ta thương thuyết.
*) Lần 13: Năm 1480, tổng binh tri Bắc Bình của Đại Việt là Trần Ao sai Đào Phu Hoán đem 600 quân đánh vào Cảm Quả, chiếm được ải Thông Quang (thuộc Quang Lang, Ôn Châu, Trung Quốc)rồi tiến vào Ban Động dựng rào chắn, sau đó tâu về triều đình. Vua Lê ThánhTông sau đó cho người lên biên giới “biện bạch phải trái với nhà Minh”.
*) Lần 14: Cuối đời Minh Sùng Trinh, nhà Minh suy vi, loạn lạc lan tràn khắp đất Tàu. Nhà Đại Thanhở Mãn Châu nhân đấy tràn qua dẹp loạn đồng thời lật nhà Minh giành quyền thống trị. Dòng dõi chót nhà Minh là Quế Vương cùng cựu thận về Triều Khánh (QuảngTây) dựng triều đình Vĩnh Lịch Đế. Quân Thanh rượt theo triệt hạ buộc vua Vĩnh Lịch trốn về Quế Lâm, rồi Vân Nam. Khoảng 1646-1647, Vĩnh Lịch Đế muốn nhờ binh lực nước ta nên phong vua Lê Thân Tông làm An Nam quốc vương, Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng làm Phó vương, làm mồi hư danh để cầu viện binh An Nam.
Chúa Trịnhtuy chẳng thừa binh lực nhưng cũng suy xét nhân cơ hội này có quyết toán được khoản nợ hơn nghìn năm: thu lại Lưỡng Quảng về nước ta không?
Đầu tháng 6 năm Đinh Tỵ (1647) ở Phủ Liêu có cuộc họp mặt quan trọng. Trịnh Tráng đặt vấn đề:
– Có phải bờ cõi nước ta nguyên xưa gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây không? Ấy thế mà xưa nay không ai nghĩ đến sự thu phục đất cũ đó về cho nước nhà! Nay nhà Minhs uy vi, nước Tàu rối loạn, ta định thừa cơ lấy lại Lưỡng Quảng, các ngươi tínhsao?
Tiền quận công Lê Văn Hiếu nói:
– Điện hạ làm được việc này sẽ ghi công nghiệp với quốc gia, hậu thế thật không phải nhỏ.
Tướng quân Trịnh Đào lắc đầu:
– Nhưng đất Quảng Tây hiện còn Vĩnh Lịch Đế nhà Minh đóng đô, chả lẽ ta vừa mới thụphong lại giở mặt chiếm lấy chỗ đất dung thân của vua”
Chúa Trịnh chấpnhận:
– Thôi hãy để Quảng Tây đó cho vua nhà Minh dung thân, sau này sẽ tính. Nhưng còn QuảngĐông, ta nên thừa cơ quân Thanh chưa xuống đến nơi mà lấy ngay đi mới được.
Ninh quận công Trịnh Toàn, con Chúa Trịnh can ngăn:
-Con tưởng không nên, cứ xem sự thể Trung Quốc tất về Thanh triều làm chủ, rồi họ lấyuy lực trách vấn ta việc ấy, e đến sinh sự lôi thôi, thì làm thế nào.
Chúa Trịnh nói:
-Việc đời cứ “tiên phát chế nhân” (Nắm trước để ngăn người ta) là hơn. Khi quân Thanhxuống đến nơi, thấy sự dĩ nhiên, có lẽ phải chịu. Mà nếu họ muốn lôi thôi trách vấn ta chăng nữa, ta cũng có lý sự để phân giải. Họ bất quá là người ở bộ lạcTường Bạch trên Mãn Châu, bỗng thừa thời tràn xuống chiếm cả Trung Quốc, còn được thay huống hồ khi tay lấy một xó Quảng Đông mà chỉ là thu lại đất cũ của ta.
Trịnh Toàn lại nói:
– Bẩm kể lý sự thì đành như thế, nhưng còn sức mạnh nữa. Từ khi quân Thanh kéo vào cửaải, quân dân tướng sĩ nhà Minh theo hàng tấp nập. Con thiết tưởng đất QuảngĐông lúc này cũng đã có kẻ giữ hộ quân Thanh rồi. Việc thật khó khăn, cúi xinphụ vương suy nghĩ lại cho kỹ.
Trịnh Tráng quắc mắt trả lời cương quyết:
– Ta há không biết là việc khó khăn ư? Ở đời cứ thấy việc khó không làm thì cổ laibao nhiêu việc khó ai chịu làm bao giờ! Ý ta đã quyết rồi, không ai được bàn lảng ra. Ta cứ sai mấy đạo binh thuyền đi liệu để lấy được thì lấy, không thì kéo quân về, phỏng có làm sao?
Liền Chúa Trịnh hạ lệnh cho 2 tướng lĩnh Trịnh Lãm và Ngô Sĩ Vinh đem quân sĩ và ba trăm binh thuyền ra cửa Vân Đồn. Dù không lấy được toàn tỉnh cũng thu phục mấy châu quận ven biển, gần biên giới ta hơn hết.
Chúa Trịnh dặn riêng 2 tướng: – Hai ngươi đến đó, nếu thấy quân Thanh phòng bị rồi thế là họn hanh chân đến trước thì ta nên tìm lối nói khéo mà lui quân, đừng sinh sự tranh chiến…
Tướng Trịnh Lãm thưa: – Chúa thượng cho phép chúng tôi vì quốc thể, giao chiến với quân Thanh một phen,không lẽ gặp họ chưa chi mình đã tự lui? Chúng tôi có binh lực trong tay không phải ít.
Chúa Trịnh lắc đầu: – Không được, hai người trung dũng can đảm như thế, thật đáng ngợi khen, nhưng phải biết quân mình ở xa đến, vạn nhất đánh mà bất lợi, thêm thù oán với nhà Thanh sẽ liên lụy cho nước ta không nhỏ. Hiện nay họ Mạc trên Cao Bằng chưa trừ xong, mà họ Nguyễn Đàng Trong tất phải đánh tới, trong nước đã có haimũi giáo bên nách rồi, ta không thể rước thêm một mũi giáo ở ngoài đến, nhất lànhà Thanh. Vậy hai ngươi phải thể tất ý ta làm việc này cho cẩn thận nghe!
Sáng hôm sau,hơn ba trăm chiếc thuyền Việt Nam kéo buồm ra khơi rời bến Vân Đồn nhằm hướng Liêm Châu. Lịch triều hiến chương quyển 48 của Phan Huy Chú ghi chép rằng: “…Bọn Lãm đi qua Tây Đông ba thôn rồi đến Liêm Châu. Không ngờ nhà Thanh đã sai đô đốc đến làm tổng trấn ở đó rồi… Binh ta bèn rút về trước…”
*) Lần 15: Sau khi đuổi xong quân Thanh, vua Quang Trung nghĩ đến việc chuẩn bị binh lực, mưu sang đánhTrung Quốc. Ông nói với Ngô Thời Nhiệm: “Đánh xong trận này, ta muốn phiền ông sang dùng lời nói sao cho khéo để chỉ việc chiến tranh. Đợi mười năm nữa nướcta dưỡng sức phú cường rồi, bấy giờ ta không cần sợ nó nữa…”
Quang Trung trực tiếp chăm nom, tuyển binh bắt linh, rèn đúc binh khí, tập luyện chiến trận. Nhân giặc Tầu đảng Thiên Địa Minh “Phản Thanh, phục Minh”, ông hỗ trợ cho quấy rối quân Thanh vùng giáp ranh. Năm Nhân Tí (1792), mọi việc chuẩn bị xong xuôi, Quang Trung sai sứ đem lễ vật sang Bắc Kinh cầu hôn một công chúa Mãn Thanh và xin trả lại Việt Nam đất tỉnh Lưỡng Quảng làm của hồi môn.
Cố nhiên, đó là cớ để danh chính ngôn thuận khởi binh, chỉ chờ sứ bộ là Võ Huy Tấn trở về làphát lệnh tiên phát. Không may, nhà vua bất ngờ lâm bệnh rồi thăng hà, thọ bốnmươi tuổi. Dự định ấp ủ cũng bị xấu số trôn vùi.
*) Lần 16: Chiến dịchThập Vạn Đại Sơn là một chiến dịch quân sự diễn ra trong thời gian từ tháng 6 đếntháng 10 năm 1949 do liên quân giữa bộ đội Việt Nam và Quân Giải phóng nhân dânTrung Quốc thực hiện tại khu biện giớiViệt – Quế chống lại quân đội của Quốc Dân Đảng.
Mục tiêu củachiến dịch là mở rộng vùng giải phóng tại khu vực dãy núi Thập Vạn Đại Sơn tại3 huyện Ung Châu, Long Châu và Khâm Châu giáp biên giới với vùng Đông Bắc Việt Nam, tạo điều kiện phát triển lực lượng phối hợp với đại quân của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc khi đó đang ào ạt tiến về phía Nam.
Lực lượng Việt Minh tham gia liên quân là theo đề nghị của phía Trung Quốc. Năm 1949, theo đềnghị của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tư lệnh Biên khu Việt – Quế (QuảngĐông – Quảng Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân ViệtNam phái một lực lượng vũ trang sang giúp Trung Quốc “xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung–Long – Khâm liền với biên giới Đông Bắc ta, thông ra bể, tạo điều kiện khuếch trương lực lượng, đón Đại quân Nam Hạ” (Mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1949).
Chiến dịch có hai hướng: Khâm Châu và Long Châu.
Trên hướng Long Châu, bộ đội Việt Nam đánh chiếm Bằng Tường, Thuỷ Khẩu (ngày 12 tháng 6),Hạ Đống (ngày 13 tháng 6). Ngày 18 tháng 6, diệt viện binh Quốc dân Đảng từ Long Châu xuống và tiến đánh Ninh Minh.
Trên hướngKhâm Châu, trong thời gian từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 7, liên quân Trung-Việtđánh thị trấn Trúc Sơn (Zhushan) (trên đường Đông Hưng – Phòng Thành) nhưng không thành công. Ngày 25 tháng 7, liên quân chuyển sang tấn công quân Quốc dânĐảng tại Voòng Chúc, Mào Lêng, rồi tiến sát Phòng Thành. Quân Quốc dân Đảng phảirút khỏi các đồn bốt nhỏ, tập trung về các thị trấn Long Châu, Nà Lương, PhòngThành, Đông Hưng.
Chiến dịch kết thúc vào tháng 10 khi cánh quân từ phía bắc của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm Nam Ninh. Đến đây, liên quân Trung-Việt đã chiếm được 10 trên 12 vị trí thuộc 3 huyện Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành, mở rộng vùng kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh chiếm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Nguồn tham khảo:
1- Wikipedia
2- Con trời ngã xuống bùn đen, NXB Người Bốn Phương, Hà Nội 1941, Đào Trinh Nhất
Danh sách các cuộc chiến tranh trong sử Việt (từ Ngô Vương giành tự chủ đến khi Gia Long thống nhất đất nước)
Nhà Ngô (938 – 967)
• Loạn 12 sứ quân (944-968)
• Cuộc tranh chấp ngôi báu trong cung đình thời Dương Tam Kha (944-950)
• Cuộc chiến giành ngôi báu sau cái chết của Ngô Xương Văn (965)
Lăng Ngô Quyền
Nhà Đinh (968 – 980)
• Cuộc nổi dậy chống Lê Hoàn của các cựu thần nhà Đinh (979)
• Cuộc hành thích Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn của Đỗ Thích (979)
• Cuộc hành quân của Chiêm Thành đánh sang Đại Cồ Việt (980)
Người Hùng Nước Việt : Đinh Bộ Lĩnh
Nhà Tiền Lê (981 – 1009)
• Chiến tranh Tống – Việt, 981
• Chiến tranh Việt-Chiêm (982-983)
• Cuộc phản loạn của Dương Tiến Lộc ở 2 châu Hoan, Ái (989)
• Cuộc xâm nhập cướp phá đất Tống của 5000 hương binh châu Tô Mậu – Lạng Sơn (995)
• Cuộc bình định phản loạn ở Cử Long (1001)
• Chiến tranh kế vị thời Tiền Lê (1005)
• Cuộc hành quân chinh phạt châu Hoan Đường và châu Thạch Hà của Lê Ngọa Triều (1009)
Vua Lê Đại Hành (941-1005)
Nhà Lý (1009 – 1225)
• Cuộc hành quân dẹp tan giặc Cử Long ở Ái Châu (1011)
• Cuộc sát nhập vùng Hà Giang vào lãnh thổ Đại Việt (1014)
• Cuộc tấn công Diễn Châu của Khai Thiên Vương Lý Phật Mã (1026)
• Cuộc hành quân công phá châu Thất Nguyên của Khai Thiên Vương Lý Phật Mã (1027)
• Cuộc phản loạn của Đông Chinh vương Lý Lực (1028)
• Cuộc nổi loạn của Giáp Đãn Nãi thuộc Ái Châu (1029)
Cuộc nổi loạn của cha con họ Nùng
• Cuộc nổi dậy thành lập nước Trường Sinh của Nùng Tồn Phúc (1038-1039)
• Cuộc nổi dậy thành lập nước Đại Lịch của Nùng Trí Cao (1041)
• Chiến tranh Việt-Chiêm 1044
• Cuộc nổi loạn lần thứ hai của Nùng Trí Cao (1048)
• Cuộc nổi dậy thành nước Đại Nam của Nùng Trí Cao (1052-1055)
• Cuộc cướp phá sang Khâm Châu đất Tống (1059)
• Cuộc sát nhập vùng Hoàng Liên Sơn vào lãnh thổ Đại Việt (1059)
• Quân Tống xâm lấn biên giới (1060)
Xung đột Đại Việt – Chiêm Thành
• Nước Chiêm Thành xua quân quấy nhiễu biên cương lần thứ nhất (1068)
• Chiến tranh Việt-Chiêm 1069
• Nước Chiêm Thành xua quân quấy nhiễu biên cương lần thứ hai (1074)
• Lý Thường Kiệt đem binh tấn công Chiêm Thành (1075)
Chiến tranh Tống-Việt, 1075-1077
• Nhà Lý đưa quân tấn công đánh phá sang đất Tống 1075-1076
• Quân Tống tiến đánh Đại Việt (1077)
Vua Lý Thái Tổ tin rằng muốn cho con cháu đời sau xây dựng được cuộc sống ấm no thì phải dời đô từ miền núi chật hẹp Hoa Lư về Đại La , một vùng đồng bằng rộng lớn màu mỡ này.
Những cuộc chiến loạn khác sau này
• Vụ nổi loạn của Lý Giác ở Diễn Châu (1103)
• Lý Thường Kiệt đem quân đánh bại Chiêm Thành, lấy lại 3 châu Địa Lý (1104)
• Cuộc nổi loạn của Bình Vương Thân Lợi (1140-1141)
• Cuộc xâm nhập lãnh thổ Đại Việt của Đàm Hữu Lượng (1145)
• Cuộc cướp phá xứ Nghệ An của người Chân Lạp (1150)
• Cuộc phản loạn của Ung Minh Ta Điệp (tức Vangsaraja) chống lại vua Chế Bì La Bút (tức Jaya Harivarman I) ở Chiêm Thành (1152)
• Quân Chiêm Thành cướp phá miền Ô Lý (1166)
• Cuộc hành quân đánh sang Chiêm Thành của Thái uý Tô Hiến Thành (1167)
• Cuộc phản loạn của người giáp Cổ Hoằng (1192)
• Cuộc cướp phá của người Chiêm Thành ở vùng biển Nghệ An (1203)
• Cuộc nổi dậy của Phí Lang và Bảo Lương ở Thanh Hóa (1203-1206)
• Cuộc nổi loạn của người Man ở núi Tản Viên (1207)
• Cuộc khởi nghĩa của Đoàn Thượng và Đoàn Chủ (1207-1209)
• Cuộc nổi loạn của Phạm Du (1207-1209)
• Loạn Quách Bốc (1209)
• Cuộc nổi dậy của Nguyễn Nộn (1213-1219)
• Cuộc nổi dậy lần thứ hai của Đoàn Thượng (1214-1217)
Nhà Trần (1225 – 1400)
• Cuộc tiến công đánh Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng của Trần Thủ Độ (1226)
• Cuộc xung đột giữa Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng (1228)
• Cuộc nổi loạn của An Sinh Vương Trần Liễu (1237)
• Cuộc hành quân bình định Chiêm Thành của vua Trần Thái Tông (1252)
Tranh truyền thân Hưng Đạo Vương
Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt
• Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 1 (1258)
• Cuộc sát nhập man Ngưu Hống vào lãnh thổ Đại Việt (1280)
• Chiến tranh Nguyên Mông-Chiêm Thành (1282-1283)
• Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 (1284-1287)
• Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 3 (1288)
• Cuộc chiến tranh với Ai Lao của Phạm Ngũ Lão (1294)
Xung đột Đại Việt-Chiêm Thành
• Cuộc ngự giá thân chinh sang Chiêm Thành của vua Trần Anh Tông (1311 – 1312)
• Cuộc can thiệp quân sự sang Chiêm Thành đánh đuổi vua Chế Năng (1318)
• Bình định cuộc biến loạn của Xa Phần (1337)
• Cuộc tranh giành ngôi báu ở Chiêm Thành giữa Chế Mộ và Trà Hòa Bố (1342)
• Cuộc can thiệp quân sự sang Chiêm Thành cứu giúp vua Chế Mộ (1353)
• Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1361)
• Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ hai của người Chiêm Thành (1362)
• Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ ba của người Chiêm Thành (1365)
• Cuộc cướp phá Đại Việt lần thứ tư của người Chiêm Thành (1366)
Chiến tranh Việt-Chiêm 1367-1396
• Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ nhất của Đại Việt (1367-1368)
• Biến loạn Đại Định trong nội bộ vương thất nhà Trần (1369-1370)
• Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ hai của Đại Việt (1371)
• Cuộc tấn công Chiêm Thành lần thứ ba của Đại Việt (1376-1377)
• Cuộc bắc tiến lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1377)
• Cuộc bắc tiến lần thứ hai của người Chiêm Thành (1378)
• Cuộc bắc tiến lần thứ ba của người Chiêm Thành (1380)
• Cuộc bắc tiến lần thứ tư của người Chiêm Thành (1382)
• Cuộc bắc tiến lần thứ năm của người Chiêm Thành (1383)
• Cuộc bắc tiến lần thứ sáu của người Chiêm Thành (1389)
• Cuộc bắc tiến lần thứ bẩy của người Chiêm Thành (1390)
• Cuộc xung đột biên giới Đại Việt-Chiêm Thành lần thứ nhất (1391)
• Cuộc xung đột biên giới Đại Việt-Chiêm Thành lần thứ hai (1396)
• Cuộc chiến chống giặc cỏ áo đỏ ở chấn Tuyên Quang của Phạm Cự Luận (1397)
Nhà Hồ (1400 – 1407)
• Chiến tranh Việt-Chiêm 1400-1407
• Chiến tranh Minh-Đại Ngu (1406-1407)
Bắc thuộc lần 4 (1407 – 1427)
• Chiến tranh Minh-Việt (1407-1414)
• Cuộc nổi dậy của Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn (1410)
• Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427)
Nhà Lê sơ (1428 – 1527)
• Cuộc nổi dậy của người Thái Trắng (1431-1432)
• Cuộc cướp phá lần thứ nhất của người Chiêm Thành (1434)
• Cuộc cướp phá lần thứ nhì của người Chiêm Thành (1439)
• Cuộc tạo phản của các Thổ tù ở Tuyên Quang (1448)
• Cuộc chính biến của Quý Do lật đổ vua Ma Ha Quý Lai ở xứ Chiêm Thành (1449)
• Binh biến Diên Ninh (1459-1460)
• Chiến tranh Việt-Chiêm 1471
• Chiến tranh Đại Việt – Lan Xang (1467-1480)
• Cuộc nổi loạn ở hạt Nghệ An – Thuận Hoá (1497)
• Cuộc nổi dậy lật đổ Quỷ Vương Lê Uy Mục (1509)
• Cuộc khởi nghĩa của Phùng Chương ở Tam Đảo
• Cuộc khởi nghĩa của Trần Tuân (1511-1512)
• Cuộc khởi nghĩa của cha con Trần Cảo-Trần Thăng (1516 – 1521)
• Cuộc nổi loạn của hoàng thân quốc thích và họa quyền thần thời Lê mạt (1518-1526)
Nam Bắc phân tranh lần thứ nhất (1527-1802)
Chiến tranh Lê – Mạc giai đoạn một (1527-1592)
• Cuộc nổi dậy của Lê Ý chống lại nhà Mạc (1529-1530)
• Cuộc tấn công nhằm khôi phục nhà Hậu Lê của Nguyễn Kim (1531)
• Cuộc hành quân của nhà Lê tiến đánh vùng Tây Nam (1540)
• Cuộc nổi dậy của Mạc Chính Trung chống lại Mạc Tuyên Tông (1546-1547)
• Cuộc cướp phá sang Trung Quốc nhằm giải cứu Mạc Chính Trung (1549)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ nhất (1551)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ hai (1554)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ ba (1555)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ tư (1557)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ năm (1559-1562)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ sáu (1564-1565)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ bảy (1570)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ tám (1571)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ chín (1572)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười (1573-1574)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười một (1575)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười hai (1576)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười ba (1577)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười bốn (1578-1579)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười năm (1580-1583)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười sáu (1584-1585)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười bảy (1587)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười tám (1588)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ mười chín (1589)
• Chiến tranh Lê-Mạc lần thứ hai mươi (1592-1593)
Chiến tranh Lê-Mạc giai đoạn hai (1593-1677)
• Nhà Mạc tái chiếm Thăng Long lần thứ nhất (1600-1601)
• Giặc thổ ở Lộc Châu là Vi Đạt Lễ, xâm phạm châu Tư Lăng của Trung Quốc (1605)
• Thái phó Thanh quận công Trịnh Tráng đem binh đánh dẹp các xứ Yên Quảng để mở rộng bờ cõi (1614)
• Thái bảo Trấn quận công Trịnh Lâm cầm quân đi đánh đảng ngụy ở Vũ Nhai (1618)
• Quân Lê – Trịnh do Thanh quận công chỉ huy tấn công Cao Bằng (1621)
• Vạn quận công Trịnh Xuân tranh ngôi nổi loạn (1623)
• Nhà Mạc tái chiếm Thăng Long lần thứ hai (1623)
• Quân Lê Trịnh tấn công Cao Bằng – bắt Mạc Kính Cung (1625)
• Cuộc xung đột dai dẳng với quân Lê-Trịnh của họ Mạc khi cát cứ Cao Bằng (1638-1677)
Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627-1672)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ nhất (1627)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ hai (1633)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ ba (1643)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ năm (1655-1660)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ sáu (1661-1662)
• Chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ bẩy (1672)
Nội loạn và Khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài
• Cuộc nội loạn trong phủ chúa của Trịnh Lịch và Trịnh Sầm (1645)
• Loạn kiêu binh lần thứ nhất (1674)
• Cuộc khởi nghĩa Tam Đảo của hoà thượng Nguyễn Dương Hưng (1737)
• Cuộc tạo phản của giặc Ngân Già Vũ Đình Dung (1739-1740)
• Cuộc khởi nghĩa của Đô Tế và Nguyễn Danh Phương (1739-1751)
• Cuộc khởi nghĩa của chúa Mường Thanh Hoàng Công Chất (1739-1769)
• Cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật (1740-1770)
• Cuộc chính biến lật đổ chúa Trịnh Giang (1740)
• Loạn kiêu binh lần thứ hai (1741)
• Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ và Nguyễn Hữu Cầu (1741-1743)
• Cuộc hành quân của Nguyễn Bá Lân đánh đuổi giặc Mạc Tam cướp phá Cao Bằng (1746)
Các cuộc xung đột ở Đàng Trong
• Cuộc hành quân đánh tan sự cướp phá của người Lan Xang (1621)
• Cuộc tấn công đánh bại Chiêm Thành mở mang bờ cõi lần thứ nhất (1629)
• Xung đột Công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Trong (1641-1643)
• Cuộc tấn công đánh bại nước Chiêm Thành mở mang bờ cõi lần thứ hai (1653)
• Cuộc can thiệp vào công việc nội bộ của Thủy Cao Miên (1658)
• Cuộc chiến tranh quy mô lớn bình định Chân Lạp của chúa Nguyễn (1689-1690)
• Cuộc chiến tranh xóa sổ hoàn toàn nước Chiêm Thành trên vũ đài lịch sử (1692-1693)
• Cuộc phản công giành lại vùng đất Sài Gòn-Gia Định của người Chân Lạp (1699)
• Cuộc can thiệp sang nội bộ Chân Lạp giúp Nặc Yêm lên ngôi (1711-1714)
• Cuộc nổi dậy giành giật lại khu vực Cửu Long Giang của người Chân Lạp (1729-1735)
• Chiến tranh Cao Miên-Chúa Nguyễn (1755-1756)
• Cuộc can thiệp quân sự của chúa Nguyễn sang Cao Miên lần thứ hai (1757)
• Cuộc kháng cự chống quân Xiêm La của Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên (1769)
• Xung đột Xiệm La-Chúa Nguyễn (1771-1772)
• Khởi nghĩa Chàng Lía
Chiến tranh thời Tây Sơn
• Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn, 1771-1785
• Cuộc nam tiến của chúa Trịnh chống quân Tây Sơn (1774-1775)
• Loạn kiêu binh lần thứ ba (1782-1786)
• Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Trịnh lần thứ nhất (1786)
• Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Trịnh lần thứ hai (1786)
• Cuộc biến loạn của Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm (1786-1788)
• Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn, 1787-1802
• Chiến tranh Việt – Xiêm (1784)
• Cuộc chiến tranh nội bộ của anh em nhà Tây Sơn (1787)
• Chiến tranh Thanh-An Nam (1788-1789)
• Cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa các tướng lĩnh nhà Tây Sơn (1795) Theo : Fb/nghiên cứu lịch sử
Ngoài vụ công bố nguyên nhân cá chết đang nóng trên mạng xã hội hiện nay mà ai cũng biết nguyên nhân từ lâu thì vụ việc Hướng dẫn viên người Trung Quốc nói: “14 thế kỷ trước Việt Nam thuộc một bộ phận phía bắc Trung Quốc. Sau này Việt Nam đã độc lập rồi tự thành lập một quốc gia, nhưng nó vẫn là quốc gia phụ thuộc, phải triều cống cho Trung Quốc”. đang nóng trên mạng xã hội hiện nay.
Nó được nhiều người Việt phản ứng gay gắt, lịch sử lại một lần nữa được nhắc đến dù nó bị cố tình lãng quên bấy lâu nay. Nhiều người điên tức vì câu nói không có gì sai trên, như tôi đã nói từ lâu người Việt nên học lại lịch sử từ căn bản. Dù rất ghét TQ nhưng HDV này nói có sai gì đâu mà phản ứng gay gắt như vậy. 14 thế kỷ trước rơi vào thế kỷ 7 sau công nguyên, lúc này Việt Nam có tên là An Nam đô hộ phủ thuộc triều đại nhà Đường. Đất nước chúng ta đã bị xóa sổ trên bản đồ thế giới (nếu có) cả mấy trăm năm trước. Cụ thể, sau vụ án “đẫm nước mắt” Mỵ Châu, nhà nước tự chủ Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tín năm 179 TCN. Ngày nay, có nhiều sử gia đặt lại vấn đề nguồn gốc của Triệu Đà và nước Nam Việt, phải chăng đó là một cuộc nội chiến của các cư dân Bách Việt, cái này nếu có thời gian, mình sẽ biên ở bài sau. Như vậy, Việt Nam đã mất nước chí ít từ năm 179 TCN hoặc muộn hơn là năm 111 TCN khi nhà Hán xâm lược và thôn tín nước Nam Việt vua họ Triệu. Đất nước ta trở thành quận huyện của TQ, lần lượt bị cai trị bởi các triều đại phong kiến phương Bắc và bị đổi thành các tên gọi khác nhau. 14 thế kỷ trước rõ ràng Việt Nam đã bị TQ xâm lược và đô hộ và sự thật không thể chối cãi đó là đất của Trung Quốc. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, thì dân Việt lúc đó là công dân mang quốc tịch Trung Quốc. Có quyền và nghĩa vụ như người TQ ở khắp mọi nơi khác. Rất nhiều người Việt đã đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng của nhà Đường, nhiều sĩ tử gốc Việt đỗ đạt và làm quan dưới thời Đường. Trong xã hội, văn hóa Trung Quốc có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, sự đồng hóa ngày một tăng cao.
tranh vẽ lịch sử việt nam thời kỳ Hồng Bàng
Ngày càng có nhiều người Việt, chủ yếu thuộc tầng lớp trung lưu học tập văn hóa TQ như viết chữ Hán, nói tiếng Trung, ăn mặc theo văn hóa Hán… tiếng Việt vẫn được bảo tồn và gìn giữ trong các làng xã nhưng nó vẫn bị biến thể theo thời gian (ngôn ngữ gốc người Việt hiện nay có thể là tiếng Mường ở vùng núi Thanh Hóa, Phú Thọ). Chúng ta dễ dàng nhận ra trong phương ngữ của mình có tiếng Hán và chúng ta đã vay mượn rất nhiều từ Hán Việt. Trong mỗi cái tên người Việt hiện nay, trên 95% là không thuần Việt nữa.
Song song với quá trình hóa đó là quá trình di dân Trung Quốc sang Việt Nam, nên đã có sự lai tạo giữa các giống người với nhau. Cứ tưởng tượng người Việt lúc đó như các bộ tộc người dân tộc thiểu số hiện nay đang sinh sống trên đất nước ta. Họ vẫn bảo tồn tiếng nói và văn hóa cũng mình đồng thời sử dụng tiếng Kinh (tiếng Việt) là ngôn ngữ thứ hai của họ. Khác với những bộ tộc này, người Việt có nền tảng văn hóa mạnh hơn, do đã có quốc gia độc lập khoảng 6,7 thế kỷ mới bị mất nước nên ý thức đấu tranh giành độc lập rất quật cường. Với lũy tre làng người Việt đã gìn giữ văn hóa của mình rất quyết liệt. Có thể nói, giai đoạn này chúng ta mất nước mà không mất làng. Với câu nói của vị hướng dẫn viên trên chẳng có gì sai cả.
Vế thứ 2 anh ta bảo “Sau này Việt Nam đã độc lập rồi tự thành lập một quốc gia, nhưng nó vẫn là quốc gia phụ thuộc, phải triều cống cho Trung Quốc”. Cái này lại càng không sai. Bởi mặc dù giành được độc lập nhưng trên phương diện ngoại giao Việt Nam vẫn thần phục và triều cống cho thiên triều. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành lại quyền độc lập tự chủ, nhưng Ông cũng chỉ là một tiết độ sứ trong triều đình nhà Đường. Cháu của Ông là Khúc Thừa Mỹ cũng xưng là tiết độ sứ thần phục nhà hậu Lương. Năm 938, Ngô Quyền đánh tan 2 vạn quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Sau đó tự xưng là Ngô Vương chứ chưa dám xưng Đế. Về sau, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, họ Lý, họ Trần đều xưng thiên tử với thần dân của mình nhưng trong các chiếu thư cầu sắc phong đều xưng vương với các hoàng đế TQ và vẫn cống nạp đều đặn. Các vua Lý, Trần cứ vài ba năm là được sắc phong từ nhỏ đến lớn về cuối đời mới được phong là An Nam Quốc Vương. Khi Lê Lợi quét sạch bóng quân Minh trên lãnh thổ nước ta, “không may” giết chết Liễu Thăng. Minh chủ được Lê Lợi dựng lên lúc bấy giờ là Trần Cảo. Sau đó, Lê Lợi cho giết chết vị minh chủ này và sang nhà Minh cầu phong. Bảo là Trần Cảo đã chết, dòng dõi họ Trần đã tuyệt tự. Nhân dân trong nước muốn Lê Lợi làm vua. Và để được sắc phong từ hoàng đế Đại Minh, họ Lê phải chấp nhận điều kiện cứ 3 năm một lần phải cống nạp tượng vàng Liễu Thăng để để đền “tội”. “truyền thống” cống nạp này duy trì đến thời Nguyễn Huệ mới được bãi bỏ.
Năm 1592, họ Trịnh đánh đuổi họ Mạc ra khỏi Thăng Long, phải chạy lên Cao Bằng. Họ Trịnh có ý định đánh lên, nhưng họ Mạc đã nhờ nhà Minh can thiệp nên mới giữ được đất Cao Bằng. Mãi cho đến sự biến Ngô Tam Quế, họ Trịnh mới dám đánh Cao Bằng, xóa sạch tàn dư nhà Mạc ở đây. -Hay việc, các chúa Nguyễn sau một thời gian dài mở đất ở Đàng Trong, lúc đầu vẫn xưng thần với Lê – Trịnh, nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương và sai người sang Trung Quốc xin được chấp nhận. Nhưng nhà Thanh không chấp nhận yêu cầu này do đã công nhận vua Lê ở Đàng Ngoài. Về sau, ta thấy tên tướng bại trận Sầm Nghi Đống vẫn được vua Quang Trung cho lập đền thờ.
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đến thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!
(thơ Hồ Xuân Hương)
Quang Trung sau khi đánh tan tác đội quân của Tôn Sĩ Nghị cũng phải sai sứ sang nhà Thanh cầu phong, phân bua “tội” của mình.
Dưới thời nhà Nguyễn, Năm 1804 Gia Long sai sứ sang xin sắc phong, đặt tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh chuẩn y nhưng đổi tên nước thành Việt Nam do lo sợ nhà Nguyễn có ý định đòi lại Lưỡng Quảng thời họ Triệu. Cái quốc hiệu của chúng ta cũng bị nhà Thanh đổi, cho thấy sự phụ thuộc phần nào trong quan hệ giữa hai nước. Việc sứ giả Trung Quốc vào tận kinh đô Huế để đưa chiếu chỉ thôi đã được nhà Nguyễn đánh giá là một bước thắng lợi lớn trên quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Về nội trị, Việt Nam hoàn toàn độc lập nhưng khi quan hệ với các nước khác có sự phụ thuộc không nhỏ với Trung Quốc. Phải dùng ấn chỉ của nhà Thanh ban cho mới có tính chất pháp lý. Nhà Nguyễn có 2 ấn tỷ, 1 dùng trong nước, 2 dùng với với nước ngoài (ấn này do Trung Quốc đưa sang và buộc phải dùng).
Như vậy, Việt Nam rơi vào ách Bắc thuộc hơn một thiên niên kỷ, lúc đó Việt Nam đã bị xóa sổ hoàn toàn. Nói Việt Nam thuộc Trung Quốc là không sai. Về sau, Việt Nam giành độc lập tuy nhiên phải giữ quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc. Trong khi chưa có ranh giới và chủ quyền như hiện nay, việc các triều đại phong kiến lấn chiếm, nuốt chửng lẫn nhau là điều bình thường. Việc giữ quan hệ hòa hiếu, cúng nạp và thần phục Trung Quốc là điều tất yếu.
Không chỉ riêng Việt Nam mà Lào, Cam-puchia, Thái Lan, Nhật Bản, Triều Tiên… đều thần phục và cúng nạp thiên triều Trung Quốc. Trong quan hệ bang giao giữa hai nước vua Việt xưng thần với vua Trung Quốc. Việc các triều đại phong kiến Việt Nam thân phục và cúng nạp Trung Quốc không có gì là xấu hổ. Đó là một chiến lược ngoại giao khôn khéo của tiền nhân. tránh được hiểm họa xâm lăng từ quốc gia to lớn láng giềng. Nhưng không phải triều cống, thần phục có nghĩa là ông cha ta sợ Trung Quốc. Mỗi khi có họa xâm lăng, truyền thống yêu nước liền trổi dậy và lịch sử cho thấy, chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong công cuộc bảo về nền độc lập của Trung Quốc.
Sự thần phục vào thiên triều kéo dài gần một thiên niên kỷ cho đến khi hiệp ước Thiên Tân được ký kết giữa Pháp và Trung Quốc. Kể từ đó, nhà Nguyễn cắt đứt mọi sự lệ thuộc vào thiên triều. Quan hệ giữa hai nước là bình đẳng thông qua người Pháp. giây phút lịch sử khi triều Nguyễn nung chảy con ấn của Trung Quốc nặng hơn 6 kg là thời khắc tuyệt vời. Kể từ giây phút đó, Việt Nam thoát khỏi sự bủa vây về chính trị, văn hóa… từ phương Bắc. Người Pháp xâm lược Việt Nam nhưng nhìn về mặt khách quan đó cũng là cái công lớn nhất của Pháp. Hiệp ước biên giới Pháp Thanh 1885 có nhiều điều khoản có lợi cho Việt Nam như ta thu hồi vùng đất Điện Biên, Lai Châu…Nếu không có sự kiên quyết của người Pháp thì có lẽ ta đã mất vùng đất phía Bắc sông Hồng về tay Trung Quốc.
Trong sách giáo khoa, chúng ta chỉ dạy học trò những trận đánh oanh liệt nhưng đã “quên” dạy về đối sách ngoại giao khôn khéo của ông cha ta, chính vì vậy, một bộ phận không nhỏ người Việt đã không biết những điều trên. Đến khi, HDV người Trung nói ra họ mới có thái độ giận dữ như vậy. Chính vì vậy, bây giờ chúng ta mới biết được ích lợi từ lịch sử đem lại như thế nào. Một giáo sư mà tôi rất nể trọng từng nói “Tôi sợ người Việt coi thường người Trung Quốc, người Việt cứ tưởng đã thắng được người Trung Quốc trong quá khứ thì bây giờ họ nghĩ sẽ thắng trong tương lai, họ có niềm tin như vậy. Họ coi thường người Trung Quốc, người TQ rất giỏi phải biết sức mạnh của họ mới có thể chế ngự được họ”. Hiện nay, cứ thấy cái gì liên quan đến TQ thì người Việt cứ nhảy cẫng lên, đòi đánh đòi giết. Hãy yêu nước bằng lý trí, đừng yêu nước bằng trái tim. Đã có hàng triệu người đổ máu vì trái tim nóng bỏng đó trong lịch sử dân tộc rồi. Có những cuộc đổ máu hoàn toàn vô ích.
Dùng lí trí để suy xét và đưa ra một đường lối đúng đắn và phù hợp. “Người Việt không có gì ngoài truyền thống yêu nước” Chúng ta, thế hệ trẻ hãy thay đổi quan điểm đó. Chúng ta phải có thật nhiều thứ để đương đầu với anh láng giềng hiếu chiến và thâm độc.
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường.
Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, giới sử gia miền Bắc vào thập niên 1960 phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.
Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh để lập Đại Việt thống nhất bao gồm cả vùng đất phía Nam. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.
Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ.
Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.
Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.
Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư -水书) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.
Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.
Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!
Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước! Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên. Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Bởi vậy, thiết nghĩ, chúng ta cần có những nghiên cứu nghiêm túc và kĩ càng về vấn đề này và các vấn đề khác của lịch sử dân tộc.