[Tổng hợp] Văn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Đường đi lối lại và người đi trên đường là một đối tượng nghiên cứu thú vị của khoa Nhân học. Xã hội phong kiến phương Đông hay xã hội thời Trung cổ phương Tây có nhiều nét đặc biệt về giao thông, mà đã lâu người ta không quan niệm được nữa.

1. Đa phần cho rằng giao thông thời phong kiến và Trung cổ rất kém, chất lượng đường không tốt bao gồm cả xe cộ và con đường, tất nhiên cũng do nhu cầu đi lại của người ta lúc đó tưởng như không lớn. Đa phần nông dân chỉ loanh quanh trong làng của mình, trong lãnh địa của mình, xa lắm là đi sang làng bên. Lúc đó đi và về trong một ngày được coi là đi gần, đi và về qua đêm được coi là đi xa. Tốc độ trung bình của người đi bộ từ 4 – 10km/giờ, ngựa có thể đạt tốc độ từ 20 – 30km/giờ, theo cách tính của người phương Tây, trên thực tế ở Việt Nam tốc độ này thấp hơn nhiều.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Ngựa trạm và lính truyền tin. Ảnh chụp đầu thế kỷ 20. Nguồn: Internet

Ở Việt Nam, người đi bộ tối đa từ 4 – 5km/giờ, đi ngựa đạt từ 15 – 20km/ giờ và thực ra con ngựa Việt bé nhỏ, người ta cưỡi để khỏi tự đi bộ, chứ không phi mà cũng đi thủng thẳng như người chân đất, vả lại còn có một vài tay hầu nhỏ cắp tráp đi sau (người cưỡi ngựa thường là quan lại hay nhà giàu). Nếu phải gánh gồng, người ta cũng không đi chậm hơn người đi tay không bao nhiêu, vì hàng nặng luôn có quán tính lao đi, cũng không thể chậm chạp quá được.


2.
Để đi hết một tỉnh hay chiều dài đất nước, có lẽ người ta mất cả năm trời. Đối với đất nước tương đối vuông vắn như nước Pháp, người ta đi từ chiều nọ sang chiều kia, mất từ 20 ngày đến vài tháng, thành thử vào thời cổ, đất nước nào cũng rộng hơn bay giờ nhiều, và cũng bí hiểm hơn vì có bao nhiêu thứ ở các vùng khác nhau người ta chưa từng biết đến. Cái cảm giác về đất nước ở các thời đại hoàn toàn khác nhau, ví như ngày nay người Việt thấy đất nước mình là nhỏ, cũng vì tốc độ mà con người hiện đại đạt được là rất lớn. Đi máy bay từ Hà Nội đi Sài Gòn, mất có gần hai giờ, so với người ở thế kỷ 19, đi bộ vào Nam có lẽ mất sáu tháng. Thế kỷ 11, người ta cảm giác về Đại Việt khác thế kỷ 15, khi mà vua Lê Thánh Tông đã dẫn quân vào tận Phan Rang. Thế kỷ 16 trở đi người ta đã có cảm giác về một đất nước như bây giờ và nhìn ra biển người ta thấy cả Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà Nguyễn lấy Huế làm kinh đô, cũng một phần do quản lý thông tin lúc đó chỉ bằng ngựa chạy trạm, từ Huế đi ra Bắc và vào Nam có khoảng cách tương tự, nhưng ra vào cũng mất một tháng trời, thông tin mới tới nơi.

Trước thế kỷ 17, mỗi lần đi sứ Trung Quốc, chuyến đi kéo dài tới ba năm và người ta coi sứ giả như người đã chết, bị đi sứ có nghĩa là đang bị giáng cấp, hoặc mang trọng trách rất quan trọng nào đó.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay3. Ở phương Tây Trung cổ, những con đường hình thành ngay từ thời Tiền sử để lại, đó là những lối mòn vắt qua nhiều nước châu Âu, qua núi non. Người La Mã chiếm gần hết phía Nam Địa Trung Hải và Bắc Phi, một đế quốc bao la ngay trước Công nguyên, đã cho xây dựng những con đường trên đế quốc của mình, những con đường đó lát đá, đủ cho hai cỗ xe ngựa chạy song song, và luôn thẳng tiến, bất kể trước mặt là núi hay sông. Với một đế quốc rộng lớn như vậy, đường thẳng là đường ngắn nhất.

Đến thời Trung cổ những con đường đó vẫn còn được sử dụng và nó bị phân cắt khi đi qua các lãnh địa thuộc về sở hữu riêng của các lãnh chúa địa phương. Những lãnh chúa này có trách nhiệm đảm bảo an ninh trong đất đai của mình, nếu người đi đường bị ăn cướp, thì lãnh chúa phải bồi thường.

  • Ảnh bên: Thuyền buồm, phương tiện di chuyển của người Việt trên sông và biển (Ảnh: Jean Haeflinger, khoảng 1855. Nguồn: Internet)


4.
Những con đường ở Việt Nam được hình thành như thế nào là một vấn đề lịch sử, có lẽ con đường quốc lộ một là một huyết mạch hình thành sớm, và có nhiều ý kiến cho rằng, thời đầu Công nguyên, khi đồng bằng còn chưa được bồi đắp đầy đủ, đó là con đường chạy sát biển. Cố đô Hoa Lư không phải là một nơi phòng thủ thuần túy như người ta nghĩ mà nó cũng nằm ngay sát biển, nơi đổ ra bể của sông Hoàng Long. Chúng ta nên nhớ huyện Kim Sơn về căn bản mới được khai thác và bồi đắp từ thời Nguyễn Công Trứ, đầu thế kỷ 19. Họa sỹ Phan Bảo cho rằng, người xưa lấy đê làm đường đi, nên từ Đê chính là nguồn của từ Đường. Trong tiếng Nùng, Lồ là đường đi tương đương với chữ Lộ trong tiếng Hán, trong tiếng Tày, Tàng là đường đi. Vậy người Việt và người Tày có chung gần nhau từ đường đi là Đường hay Tàng, người ta còn gọi là Đàng(Đi một ngày đàng học một sàng khôn  – tục ngữ ).

Con đường xuyên Nam Bắc cuối cùng được nhà Nguyễn chỉnh đốn thành con đường Thiên lý (đường ngàn dặm), cứ vài cây số, hay mươi cây số tùy từng nơi, lại đặt một quán trạm, cho lính đưa tin nghỉ ngơi, thay ngựa, người đi đường nghỉ chân, trên thực tế các quán trạm hình thành tự nhiên do tầm đi lại, và các thị trấn ven đường mọc ra. Chúng ta thấy rằng tầm 5- 7km có vẻ hợp lý, vì nhiều ga, bến, chợ đã hình thành ven đường đi như vậy.

Tuy nhiên đi từ Bắc xuống Nam, người ta gặp rất nhiều con sông cắt ngang, những con sông này vốn chạy theo hướng tây – đông, giao thông đường bộ rất khó khăn, các bến đò ngang hình thành, cầu chỉ được bắc qua sông nhỏ, nhưng những con sông hướng tây bắc – đông nam lại khá lớn. Sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Cầu, sông Hồng, sông Châu Giang, sông Mã, sông Gianh, sông Hương… và ở đồng bằng Nam bộ là chín nhánh của sông Mê Kông, nên gọi là sông Cửu Long.

Khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long ông đã đi bằng thuyền, từ sông Hoàng Long, lên sông Đáy, từ sông Đáy vào sông Hồng, rồi từ sông Hồng vào sông Kim Ngưu. Đây chỉ là ước đoán, có thể hành trình lúc đó còn phức tạp hơn.


5.
Đường đi thì thời nào cũng có, nhưng chất lượng đường thời xưa phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế tự nhiên, chủ yếu là đắp đất, và một số ít được lát gạch và đá. Có đường quốc lộ chung cho cả nước, mà cụ thể là con đường Thiên lý.

Tuyến đường Thiên lý ngày nay được xác định chính là con đường số 1 từ Lạng Sơn xuống. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vào thời Bắc thuộc, giai đoạn đầu Công nguyên đến thế kỷ 7, con đường xuyên từ Quảng Ninh, vắt qua Phả Lại vào Luy Lâu, Thuận Thành (Bắc Ninh), rồi sang Hà Nội mới là huyết mạch chính. Lúc đó Luy Lâu là thủ phủ của chính quyền đô hộ, đây cũng là trung tâm tín ngưỡng Tứ pháp cổ xưa và Phật giáo sớm ở Đại Việt. Đương nhiên khi kinh đô hay thủ phủ ở đâu, những con đường tới đó và từ đó đi ra là quan trọng.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Con đường đất từ Hải Phòng ra Đồ Sơn. Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20. Nguồn: Internet

Như vậy chúng ta cần xác định các con đường ra vào các trung tâm cổ như: Việt Trì, Mê Linh, Cổ Loa, Luy Lâu, Hoa Lư, Thăng Long, Tây Đô, Huế, Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Phan Rang, Gia Định – đây đều là những trung tâm đô hội của các triều đại cổ xưa trong lịch sử.

Khi nghiên cứu trung tâm Luy Lâu, chúng tôi thấy đường giao thông cho đến thế kỷ 18,  đầu thế kỷ 19, vẫn phụ thuộc rất nhiều vào con sông Dâu. Các hoàng thân quốc thích hoàng tộc Lê Trịnh đến chùa Bút Tháp, thường đi thuyền sông Dâu từ cung Cổ Bi, đến tận cửa chùa (con đường trước mặt chùa mời hình thành những năm giữa thế kỷ 20 và rất nhỏ). Con sông này có thể đưa người ta đi từ sông Cầu, qua sông Tiêu Tương xuống, đi lại từ Hà Nội qua Luy Lâu và xuống Hưng Yên vào sông Châu Giang, đồng thời có thể ngược lên sông Phả Lại. Để vào Luy Lâu, nếu đi đường bộ, người ta phải qua rất nhiều bến đò.


6.
Đường quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện và liên xã, cuối cùng là đường làng. Hầu hết các con đường này đều chỉ là đường đất, trong đó các tuyến đê chạy theo hai bên bờ sông cũng rất quan trọng cho người ta đi về từng vùng miền.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Xe đẩy bánh gỗ. Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20. Nguồn: Internet

Một nghịch lý là trong khi Thăng Long đến thế kỷ 19 vẫn còn nhiều con phố trong phường thợ là đường đất, thì rất nhiều đường làng đã được lát gạch. Số là các làng có một quy ước, nếu đôi trai gái nào cưới xin, thì phải lát cho làng vài thước đường đi, quy định này nhiều hay ít phụ thuộc vào kinh tế của từng làng, tối thiểu là 1 thước và có thể tối đa lên đến 5, 10 thước. Các đường làng đều nhỏ hẹp, chỉ từ 80 phân đến 1 thước, nhưng gạch lát theo chiều nghiêng, nên rất vững chắc. Có vài làng, như làng Phù Lưu được những viên quan người địa phương cho lát đá đường làng với hệ thống cống rãnh rất hoàn chỉnh.

Đường lát gạch và đá của quốc gia chỉ có từng đoạn ngắn ở kinh kỳ gần cung cấm và các vương phủ, quan phủ, đền chùa miếu mạo. Đường liên xã, huyện, tỉnh hình thành tự nhiên theo các địa lý hành chính và cũng được củng cố thường xuyên. Thời phong kiến tất cả những con đường này đều đắp bằng đất, người ta thường đào hai bên đường, hoặc một bên đường, đắp một con đường cao lên, chỗ đất bị đào xuống nhân thể làm thành những con mương dẫn nước. Do là đường đất, vào mùa mưa rất trơn và nhiều bùn lầy, mùa nắng đám bùn đó biến thành bụi, ở những xứ đất đỏ đôi khi cây cối ven đường bị nhuốm màu, nhất là vào thời có những phương tiện giao thông cơ giới.

Để làm cho vững chắc con đường, người ta có thể rải ít đá dăm và sỏi, rồi đầm vào mặt đường, tuy nhiên đó thường là yêu cầu của chiến tranh, chứ bình nhật người ta không mấy quan tâm đến độ bền của đường đất. Nhưng đê điều – tuyến giao thông và chống lũ lụt quan trọng, thường được quan tâm kỹ. Có cả quan phụ trách riêng, luôn huy động dân công đắp đê bằng công quỹ từ triều đình và đóng góp của địa phương.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Xe kéo tay. Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20. Nguồn: Internet


7.
Thuyền là phương tiện chuyên chở chính, nhất là những hàng nặng. Những năm 1398, khi Hồ Quý Ly chuẩn bị cho xây thành Tây Đô và Ly Cung ở Thanh Hóa, do thời gian gấp, ông cho tháo nhiều cung điện ở Thăng Long chở bằng thuyền vào xứ Thanh. Đến cuối thế kỷ 19, khi cha Sáu cho xây nhà thờ đá Phát Diệm ông cũng vận chuyển đá từ Thanh Hóa ra bằng thuyền.

Xe ngựa thì hầu như không chở được vật liệu nặng và cũng không được dùng phổ biến, nhất là trong những địa hình đồi núi. Xe trâu đắc lực hơn và trâu có thể kéo xe lên xuống dốc tốt. Xe một bánh đặc bằng một khoang gỗ tròn cũng là một phương tiện vận chuyển cá nhân, còn lại người Việt đem đôi vai ra gánh vác một cách thường xuyên và hàng ngày. Thương nghiệp không được chú trọng thời phong kiến, một mặt do sản xuất hàng hóa hầu hết mang tính chất tự cung tự cấp, nhưng mặt khác do giao thông và phương tiện giao thông rất hạn chế của thương nhân Việt thời phong kiến.

Nhà phê bình Phan Cẩm Thượng

==============================================================================

Ảnh: Giao thông Hà Nội, góc nhìn xưa và nay

Giao thông Hà Nội ngày xưa với khung cảnh đường phố vắng vẻ, tiếng tàu điện leng keng, đường phố hiếm khi nào bị tắc nghẽn hoặc ô nhiễm khói xe, tiếng ồn thì nay những hình ảnh đó chỉ còn lại trong ký ức của của những người cao tuổi, bậc trung niên.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Phương tiện giao thông trên phố Tràng Tiền xưa thưa thớt người qua lại (ảnh tư liệu) và nay là cảnh tắc đường ở khắp mọi nơi.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Một thời xe kéo tay trên phố (ảnh tư liệu). Ngày nay xe kéo tay hầu như đã “tuyệt chủng” thay vào đó là các phương tiện khác như xe ôm, taxi.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Những chiếc xích lô ngày xưa, một hình ảnh vốn đã thân thuộc và gắn bó với nhiều thế hệ, đây là một nét đẹp văn hóa của Việt Nam (ảnh tư liệu). Ngày nay xe xích lô hầu như chỉ dành riêng để phục vụ khách du lịch nước ngoài có nhu cầu tham quan phố cổ.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Mấy chục năm trước, chiếc xe đạp trị giá cả cây vàng, được cấp giấy chứng nhận sở hữu, có biển số và được giữ gìn như vật báu trong nhà (ảnh tư liệu). Hiện nay cả nước có hơn 46,5 triệu xe máy, tính trung bình cứ 2 người dân Việt Nam thì có 1 chiếc xe máy.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tàu điện ngầm leng keng, một nét văn hóa rất riêng thời bao cấp (ảnh tư liệu). Ngày nay, hình ảnh tàu điện ngầm chỉ còn lại trong ký ức, thay vào đó là hàng trăm tuyến xe buýt len lỏi mọi ngõ ngách ở Thủ đô.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Giao thông tại khu phố cổ Hà Nội xưa (ảnh tư liệu). Và nay, chỉ có duy nhất sáng mùng 1 Tết mới có lại khung cảnh đường phố Hà Nội vắng vẻ và bình yên đến vậy.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Ngày xưa người dân chủ yếu sử dụng xe thồ, xe cải tiến làm phương tiện vận chuyển hàng hóa với con người làm sức kéo (ảnh tư liệu). Ngày nay, xe kéo tay hầu như đã không còn được sử dụng thay vào đó là xe ba gác, xe máy chở hàng cồng kềnh trên phố.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

CSGT điều tiết giao thông trên phố ngày xưa (ảnh tư liệu) và ngày nay.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng khu vực Hà Nội, nối hai quận Hoàn Kiếm và Long Biên, do Pháp xây dựng năm 1898-1902. Những năm 80 và trước đó, cầu chủ yếu phục vụ xe đạp, người đi bộ (ảnh tư liệu). Ngày nay, Hà Nội có tới 7 cây cầu bắc qua sông Hồng. Gồm: cầu Long Biên, Chương Dương, Thăng Long, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thịnh và cầu Nhật Tân mới được xây dựng và đưa vào sử dụng 2 năm nay.

============================================================================

Ký ức giao thông Hà Nội xưa & nay

Những mảnh ký ức về một Hà Nội xưa cũ và thân phận những con người ở nơi đây từ khoảng một thế kỷ trước được tái hiện trung thực, sâu sắc trong bộ sưu tập ảnh cổ những năm 1870-1954 của KTS Đoàn Bắc.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Lịch sử đã đi qua thì không bao giờ trở lại nên cần đặc biệt gìn giữ, trân trọng và lưu truyền lại cho các thế hệ tương lai.

Bộ ảnh “Ký ức Hà Nội xưa 1870- 1954” do KTS Đoàn Bắc và cha mình (nhà giáo lịch sử Đoàn Thịnh) sưu tầm, biên soạn và phục chế trong nhiều năm. Vào dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội (tháng 10 năm 2010), 1.820 bức ảnh của bộ sưu tập này đã được chọn lọc và công bố lần đầu tiên với công chúng tại Thủ đô Hà Nội.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Sau đó bộ ảnh này đã được triển lãm lưu động tại một số trường học, làng quê cổ ở Hà Nội. Đặc biệt trong tháng 5 năm 2012, bộ ảnh cổ về Hà Nội này cùng các vùng miền khác của Việt Nam đã được in lại để trưng bày và tặng lại cho đồng bào, chiến sĩ ở huyện đảo Trường Sa.

Bộ ảnh “Ký ức Hà Nội xưa 1870- 1954” của KTS Đoàn Bắc hiện nay có tổng cộng khoảng hơn 4.000 bức ảnh đã được chuyển sang định dạng kỹ thuật số. Trong bộ ảnh có rất nhiều chủ đề đan xen lẫn nhau và được chia thành các phần tiêu biểu như Thăng Long – Hà Nội (về cảnh vật, cuộc sống ở các khu và làng quê phố cổ), Hà Nội thời Pháp thuộc (về những dấu ấn của Châu Âu tại Hà Nội trong cảnh vật, cuộc sống) và đặc biệt là phần về Chân dung người Hà Nội (với đủ mọi thành phần, tầng lớp tiêu biểu trong xã hội ở Hà Nội thời kỳ đó).

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Đây là thành quả có được từ tâm huyết và công sức của những người con Hà Nội gốc và sự giúp đỡ của những người yêu Hà Nội ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Bộ ảnh “Phương tiện giao thông ở Hà Nội xưa” thuộc phần “Hà Nội thời Pháp thuộc” trong bộ ảnh. Đa phần các phương tiện giao thông này được du nhập và được chụp lại trong thời kỳ Pháp thuộc.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Bên cạnh hình ảnh về các phương tiện giao thông còn có thân phận những con người, sự kiện lịch sử gắn với chúng và gắn với ký ức của nhiều thế hệ đã từng sống ở Hà Nội. Từ những con thuyền buồm cổ đến những chiếc tàu hơi nước điển hình của một thành phố thương mại bên sông. Từ những chiếc ô tô vốn chạy bằng xăng, dầu vừa được du nhập vào Việt Nam cho tới khi chúng được người Hà Nội chuyển sang chạy bằng than cám khi xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu (đầu thế kỷ XX). Từ những chiếc xe kéo tay đã không còn tồn tại cho tới những chiếc xe xích lô vẫn gắn với đời sống lam lũ của người Hà Nội đến tận ngày nay.

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay

Tiếng tàu điện leng keng là đặc trưng của đô thị Hà Nội thời Pháp thuộc vẫn là một kỷ niệm với nhiều người dân cho đến tận những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Hoài niệm lại ký ức để hiểu, trân trọng lịch sử và càng thêm yêu thành phố Hà Nội, dù bạn đến từ bất kỳ đâu. Đó là một trong những thông điệp chính của bộ sưu tập ảnh “Ký ức Hà Nội xưa 1870- 1954”.

(Theo HNM)

================================================================================

Trẻ em Việt đã từng có một văn hóa giao thông như thế…

Ít ai biết rằng, văn hóa sang đường như người Nhật, trẻ con Việt Nam cũng đã từng thực hiện chỉ mới hơn 60 năm về trước:

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Lính Pháp và người dân Hà Nội đứng chờ những học sinh Hà Nội trong trang phục truyền thống đang khoanh tay xin đi qua đường. (Ảnh: Robert Capa)
Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Lính Pháp và người dân Hà Nội đứng chờ những học sinh Hà Nội trong trang phục truyền thống đang khoanh tay xin đi qua đường. (Ảnh: Robert Capa)

Trên đường phố Hà Nội, những em học sinh mặc trang phục truyền thống khoanh tay cảm ơn mọi người trong khi đi qua đường. Đây là những bức ảnh cuối cùng trong sự nghiệp của nhiếp ảnh gia Robert Capa, vài ngày trước khi ông mất vì bẫy mìn chiến tranh…

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Đi đường cúi đầu chào, trẻ con biết lễ độ, người Việt Nam đã từng rất trọng “Lễ” – Nhìn vào những bức ảnh này, người ta cứ tưởng như đang chứng kiến người Nhật hiện đại (Ảnh: Tonkin)

Khi nghĩ về ngày xưa, đôi khi người Việt thường có quan niệm rằng: Thời đó phong kiến lắm, thời đó lạc hậu lắm. Thế nhưng người Việt của mấy chục năm về trước thôi đã văn minh hơn hẳn bây giờ. Hãy cứ thử nhìn lại cách sang đường “liều chết” của người Việt hiện đại mà xem:

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
(Ảnh: Xebmw.net)
Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
(Ảnh: GTVT)

Ở Việt Nam, người lớn hay trẻ nhỏ đều sang đường một cách rất nguy hiểm! Có vạch kẻ đường cho người đi bộ không sang, có cần cầu đường bộ trên cao không dùng, người đi bộ sang đường bất cứ nơi đâu họ muốn, bất chấp khu vực cấm hay trèo rào phân cách.

Người Việt hiện đại tham gia giao thông với phương châm: Tiện là chen, thích là lấn, không có cảnh sát là vượt, vội là leo lên vỉa hè, mà không vội thì cũng leo lên vỉa hè…

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
(Ảnh: Baodatviet.vn)
Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
(Ảnh: Bestie.vn)

Thậm chí gần đây có cư dân mạng còn so sánh hình ảnh giao thông của Việt Nam với sự giao thông của… đàn trâu!

Tổng hăn hóa giao thông Việt Nam: xưa và nay
Một cư dân mạng đã so sánh ý thức giao thông của người Việt còn kém cả đàn trâu (Ảnh: Facebook)

Tại sao văn hóa giao thông của Việt Nam ngày nay lại càng ngày xuống thấp như vậy? Xin mời các độc giả cùng bàn luận!

Xin bạn tích dấu sao

You might also like

Chúng tôi muốn nghe ý kiến/đóng góp của bạn!

Chúng tôi muốn nghe ý kiến/đóng góp của bạn!

Chia sẻ cũng là một cách để bảo tồn các giá trị văn hóa - lịch sử!