Category: Con Lạc cháu Hồng

  • Vua Hùng tên thật là gì?

    Vua Hùng tên thật là gì?

    Vua Hùng tên thật là gì?

    1. Hùng và Lạc

    Chữ Hùng (雄: trong Hùng vương, Hùng điền) hay chữ Lạc (雒: trong Lạc vương, Lạc điền, Lạc hầu, Lạc tướng) chữ nào có trước?

    Chữ Lạc có trước, xuất hiện trong văn bản Giao Châu ngoại vực kí [交州外域記, Jiaozhou waiyu ji]. Cụ thể như sau:

    交州外域記曰,交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民。設雒王雒侯主諸郡縣。縣多為雒將。雒將銅印青綬。

    Giao châu ngoại vực kí viết: “Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền, kì điền tòng triều thủy thượng hạ/thướng há, dân khẩn thực kì điền, nhân danh vi lạc dân. Thiết lạc vương lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện đa vi lạc tướng. Lạc tướng đồng ấn thanh viện.”

    Giao châu ngoại vực kí nói rằng: ‘Jiaozhi/ Giao Chỉ thời xưa khi chưa có quận huyện, đất đai (thì) có ruộnglạc. Những ruộng này theo (sự) lên xuống của con nước, và người dân cày cấy lấy cái ăn [ở] ruộng đó vì thế được gọi là dân lạc. Đặt các ông hoàng lạc (lạc vương), các ông quanlạc (lạc hầu) cai quản ở các quận huyện. Nhiều huyện có tướng lạc (lạc tướng). Các tướng lạc có dấu đồng và dải xanh.’

    Chữ Hùng có sau, xuất hiện trong Nam Việt chí. Cụ thể như sau:

    交趾之地頗爲膏腴,徙民居之,始知播植,厥土惟黑壤,厥氣惟雄,故今稱其田為雄田,其民為雄民,有君長亦曰雄王,有輔佐焉亦曰雄侯,分其地以為雄將。(出南越志)

    Giao Chỉ chi địa phả vi cao du, tỉ dân cư chi, thủy tri bá thực, quyết thổ duy hắc nhưỡng, quyết khí duy hùng, cố kim xưng kì điền vi hùng điền, kì dân vi hùng dân, hữu quân trưởng diệc viết hùng vương, hữu phụ tá yên diệc viết hùng hầu, phân kì địa dĩ vi hùng tướng.

    Vùng đất Jiaozhi/ Giao Chỉ tương đối màu mỡ. Di dân đến sống ở đó, mới bắt đầu biết gieo trồng. Đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen. Khí ở đây mạnh (hùng). Cho nên bây giờ gọi những ruộng ở đây là ruộng hùng, dân ở đây là dân hùng. Có người lãnh đạo tối cao (quân trưởng) cũng gọi là vua hùng (hùng vương). Có những người phụ tá ông ấy [tức ông vuahùng] thì cũng gọi là quan hùng (hùng hầu). Chia đất ở đây để cho các tướng hùng (hùng tướng).

    2. Hùng hay Lạc

    Nam Việt chí ra đời sau Giao Châu ngoại vực ký hàng trăm năm. Quan trọng hơn, chữ Lạc (雒) chữ chỉ là để phiên âm từ tiếng Việt cổ qua chữ Hán cổ. Còn chữ Hùng (雄) là một chữ có nghĩa.

    3. Chữ Lạc từ đâu mà có

    Người Việt cổ không có họ. Tên đặt theo nghề. Đến đời Trần vẫn đặt tên theo nghề cá. Lần ngược lên thời Hai Bà, tên người được đặt theo nghề nuôi tằm (Trứng Chắc, Trứng Nhì, rồi được người Tàu văn bản hóa bằng hán tự, rồi được các nhà sử học ngày xưa của VN dịch về tiếng ta thành Trưng Trắc, Trưng Nhị. Có rất nhiều ví dụ về tên nôm của danh nhân được người Tàu hán tự hóa rồi dịch ngược ra tiếng ta. Ai đọc Tạ Chí Đại Trường sẽ nhớ trường hợp rất thú vị của Lý Thường Kiệt – Thằng Kặc. Ngay cả trong lịch sử cận đại, nhiều tên riêng do phiên âm qua chữ latin rồi sau này dịch ngược lại qua tiếng Việt cũng có những biến thể thú vị như Chí Hòa – Kỳ Hòa, Vũng Quýt – Dung Quất).

    Quay trở lại với văn bản Giao Châu ngoại vực ký đã nói ở trên, thời cổ người dân sống bằng nghề nông, trồng cây lạc, trên các thửa ruộng lạc, tưới tiêu bằng thủy lợi tự nhiên, dân sống trên ruộng lạc, gọi là dân lạc, thủ lĩnh của dân lạc gọi là lạc vương, dưới lạc vương là các lạc hầu, lạc tướng.

    Chữ lạc chính là chữ lúaRuộng lạc là ruộng lúaDân lạc là dân (trồng) lúa. Tiếng Việt cổ gọi lúa là lọ. Phiên âm qua tiếng Hán rồi phiên âm ngược lại tiếng Việt mà trở thành lạc.

    Người Mường (cùng ngôn ngữ với người Việt cổ) gọi lúa là lọ hoặc . Tục ngữ người Mường có câu “Cơm mường Vó, lọ mường Vang”.

    Qua bao năm lạc lối, tên riêng lúa của cha ông chúng ta, chạy qua bên Tàu, quay về với các nhà viết sử Việt thời cổ, lạc tiếp vài lần nữa, thành chữ lạc. Nay nhờ 5xu biết google nghiên cứu mà tìm ra nghĩa gốc của từ. Chúc mừng Vua Lúa (nước) tục gọi Hùng Vương. Chúng con xin trả tên đúng về cho cụ.

    (Nguồn: http://5xublog.org. Ngày 06/01/2012)

  • Ảnh thật của các vị vua chúa Việt Nam thời nhà Nguyễn

    Bạn muốn biết diện mạo thực sự của các vua chúa Việt Nam  thời nhà Nguyễn ra làm sao không?

    Bộ sưu tập gồm các bức ảnh chụp, duy chỉ có chân dung của vua Gia Long và Hoàng tử Cảnh là tranh vẽ truyền thần.

    Vua Gia Long, người thành lập Triều đại nhà Nguyễn (1802-1820):

    Hoàng tử Cảnh (hình vẽ bên Pháp bởi họa sĩ Maupérin vào năm 1787)

    Vua Minh Mạng (1820-1840)

    Di ảnh vua Hàm Nghi

    Vua Đồng Khánh (1885-1889)

    Còn đây là một số hình ảnh sinh hoạt xã hội dưới các triều đại nhà Nguyễn…

     

    Ấn của vua Minh Mạng



    Lăng vua Minh Mạng ở Huế

    3.Vua Tự Ðức (1847-1883)

    Các bà vợ vua Tự Ðức sống đến đầu thế kỷ thứ 20 :

    4. Vua Hàm Nghi (1884-1885)

    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)

    Dân chúng chờ đợi xe đám cưới

    Ngôi mộ của vua Hàm Nghi ở làng Thonac (France)

    5.Vua Ðồng Khánh (1885-1889)

    6. Vua Thành Thái (1889-1907)

    Từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm.
    Các em của Vua Thành Thái (1891)

    Hai người vợ của vua Thành Thái

    Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo)

    Vua Thành Thái trong triều phục

    Hình ảnh Việt Nam sưu tầm từ ddth.vn

  • Thâm cung nội chiến: Nếu sử Việt lên ngôi

    Thâm cung nội chiến: Nếu sử Việt lên ngôi

     

    Thâm cung bí sử :
    Hình minh họa

    Lịch sử Việt Nam không thiếu chuyện hậu cung tranh sủng thâm sâu ngàn lớp, độc kế trùng trùng, chẳng thua các chuyện được nhà làm phim Trung Quốc khai thác triệt để như Cung Tâm Kế, Chân Hoàn Truyện hay gần đây là Võ Mị Nương Truyền Kỳ. Chẳng qua, vì nền phim ảnh truyền hình nước ta còn yếu mỏng, nên đa phần khán giả trẻ chỉ nghe sơ sài về án oan Lệ Chi Viên, Thái hậu Dương Vân Nga, hay cuộc đời truân chuyên của Hoàng hậu Nam Phương. Chính sử Việt Nam còn dày và truyền cảm hứng nhiều hơn thế!

    #1: Lưỡng triều Thái hậu Dương Vân Nga

    Nhiều sử gia cho rằng Dương Vân Nga là người nữ nhân đẹp nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam. Gương mặt bà bầu bĩnh như khuôn trăng song vẫn có nét thanh tú, cao sang như áng mây bồng bềnh. Bà là Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, có với vua ba con trai, một con gái. Nhưng sau khi Đinh Tiên Hoàng qua đời, là một thái hậu “thức thời”, bà đã gá nghĩa kết hôn với Lê Đại Hành để tìm chỗ dựa cho triều đình trong lúc giặc ngoại xâm đang hăm he xâu xé. Vì vậy, Dương Vân Nga trở thành Hoàng hậu đầu tiên của triều Tiền Lê, là người phụ nữ đầu tiên của sử Việt trở thành Hoàng hậu của hai vị hoàng đế hùng mạnh, mưu lược.

    Thâm cung bí sử :
    Hình minh họa

    #2: Nguyên phi Ỷ Lan từ thôn nữ thành Thái hậu hai lần buông rèm nhiếp chính

    Nguyên phi Ỷ Lan là vợ vua Lý Thánh Tông, được vua tuyển nhập cung trong một lần vua về viếng thăm chùa Dâu và bắt gặp nàng. Khi ấy, dân làng ai cũng nô nức ra xem thánh giá, chỉ có một cô thôn nữ nhan sắc thanh tú vẫn tiếp tục hái dâu, hờ hững như không. Thấy thế, vua vời đến hỏi thì biết nàng xuất thân nghèo khó nên dặn bản thân phải chăm làm, không muốn xem lễ hội. Tuy nhiên, đời sau nhiều người lại bảo đấy là “chiêu thức” của nàng Nguyên Phi đặng khiến bản thân nổi bật gây chú ý. Sau khi vua chồng mất, là mẹ đẻ của vua con lại là người tinh thông chính trị, Nguyên Phi Ỷ Lan hai lần buông rèm nhiếp chính, giúp đem lại một thời thái bình thịnh trị. Nhưng chính sử vẫn luận tội Ỷ Lan ngầm hãm hại Dương Thái Hậu vốn là vợ chính của vua chồng, sai khiến vua con đày Dương Hậu vào lãnh cung rồi xử chết cùng 72 cung nữ để bản thân được thỏa mộng quyền lực.

    Thâm cung bí sử :
    Hình minh họa

    #3:  Lý Chiêu Thánh & Lý Thuận Thiên – tình em duyên chị

    Lý Chiêu Thánh và Lý Thuận Thiên là hai công chúa cuối cùng của nhà Lý, con gái Lý Huệ Tông và Hoàng hậu Trần Thị Dung. Khi Lý Huệ Tông băng hà, truyền ngôi lại cho con gái thứ là Chiêu Thánh trở thành Nữ hoàng (duy nhất của lịch sử Việt Nam). Thái hậu Trần Thị Dung cấu kết cùng Thái sư Trần Thủ Độ gả Nữ hoàng Chiêu Thánh cho cháu mình là Trần Cảnh, rồi năm sau ép Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng – vương triều Lý chính thức khép lại, mở ra triều nhà Trần. Trần Cảnh lên ngôi thành Trần Thái Tông, lập Chiêu Thánh thành Hoàng hậu. Câu chuyện không dừng ở đó. Chị của Chiêu Thánh là Công chúa Thuận Thiên vốn được gả cho anh trai của Trần Cảnh là Trần Liễu từ năm 6, 7 tuổi. Nhưng Chiêu Thánh mười năm trong cung không có con khiến Thái sư Trần Thủ Độ và Công chúa Trần Thị Dung lo lắng không có hậu duệ nương tựa nên đã bày kế ép Thuận Thiên đang mang thai phải bỏ anh lấy em, vào cung thành Hoàng hậu mới của Trần Cảnh để sinh ra thừa tự. Hoàng hậu Chiêu Thánh bị phế và biếm khỏi cung, phải lên chùa tu một thời gian. Có tích nói ở tuổi 40, bà bị triều đình đem gả làm món quà cho một danh tướng có công là Lê Phụ Trần.

    Thâm cung bí sử :
    Hình minh họa

    #4: Lê Thái Tông & Tam cung tranh sủng

    Lê Thái Tông có năm người vợ nổi bật là Dương Thị Bí, Nguyễn Thị Anh, Ngô Thị Ngọc Dao. Sủng phi Dương Thị Bí xinh đẹp sinh được hoàng tử trưởng Lê Nghi Dân nên địa vị trong cung rất cao, được vua nhất mực yêu chiều. Được sủng ái sinh cao ngạo, Dương Thị tỏ thái độ với cả vua chồng khiến bản thân bị chán ghét, phế xuống thành Chiêu nghi. Thái Tông lập Nguyễn Thị Anh là mẹ của Hoàng tử Lê Bang Cơ làm Hoàng hậu. Nhưng rồi, lại có dị nghị rằng Nguyễn Thị Anh vào cung chỉ sáu tháng đã sinh con nên Bang Cơ không phải cốt nhục hoàng gia, cùng lúc ấy Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao cũng sinh con trai. Nguyễn Thị Anh sợ Ngô Tiệp dư sẽ tranh sủng tranh quyền, nên đã sát hại vua Thái Tông rồi đổ cho vợ chồng Nguyễn Trãi, thành án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng đời đời mà vẫn nhiều uẩn khúc chưa thể kết luận.

    Thâm cung bí sử :
    Nam Phương Hoàng Hậu

    Chính sử Việt Nam thời phong kiến còn rất nhiều những câu chuyện ly kỳ được sách vở truyền tụng và nhân dân nhiều đời thêu dệt, như hai Công chúa Đông Đô thành Hoàng hậu Phú Xuân (Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc Bình), Công chúa Ngọc Vạn và hành trình trở thành Vương hậu Chân Lạp, Công chúa Huyền Trân cắt duyên đầu chấp nhận gả xa để mở mang bờ cõi… Hy vọng, những nhà làm phim Việt và các thế hệ đạo diễn trẻ có thể tìm về lịch sử nước nhà mà xây dựng những bộ phim hoành tráng, vừa là mồi nhử cho lớp trẻ tìm tòi lịch sử, vừa có thể đem sử Việt đi khuấy động châu Á như các bộ phim Trung, Hàn đang làm.

    LANA (lanasomething) Bài viết gốc có tiêu đề : Thâm cung nội chiến: Nếu sử Việt lên ngôi .

  • Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc “bó tay”!

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc “bó tay”!

    Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm – Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên độ hộ một trăm năm.

    Đó là câu đối chưa biết tên tác giả mà cố giáo sư Lưu Trung Khảo đọc trong một buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ.

    Nguyên văn tiếng Trung của câu đối là:

    地 轉 我 種 越 居 北 方, 歐 洲 境 內 無 蒙 騎 樅 橫 千 萬 里

    天 生 此 良 材 於 宋 室, 中 國 史 前 免 元 朝 都 護 一 百 年

    Dịch Hán Việt là:

    Địa chuyển ngã chủng Việt cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý.

    Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên Triều đô hộ nhất bách niên.

    Diễn nghĩa là:

    Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm

    Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên độ hộ một trăm năm

    Câu đối này ý chỉ một vị tướng tài đã lãnh đạo người Việt đánh bại quân Nguyên, đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông đã làm được điều mà cả châu Âu và Trung Quốc không ai làm được.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Ảnh minh họa)

    Vậy vì sao mà cả châu Âu và Trung Quốc đều muốn có được Trần Hưng Đạo? Chúng ta hãy cùng quay về lịch sử, thời điểm vó ngựa quân Mông Thát tung hoành khắp nơi để tìm câu trả lời.

    “Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”

    Tại châu Âu, sau một thời gian tung hoành chiếm hết trung Á, vó ngựa Mông Cổ dồn dập tiến vào châu lục này, các thành phố lớn như Moscow đều bị đốt cháy.

    Liên quân châu Âu được thành lập nhắm chống lại quân Mông Cổ cũng bị đập tan. Nhiều nước mong muốn cầu hòa và cống nạp cho quân Mông Cổ.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Tranh mô tả Trận Legnica năm 1241, diễn ra ở khu vực nay thuộc Ba Lan, giữa quân Mông Cổ và liên quân châu Âu: Quân Mông Cổ được ví như cưỡi trên những con ngựa có cánh. Họ còn nổi tiếng với việc cắt tai người làm chiến lợi phẩm (Ảnh minh họa)

    Khi các Vương công nước Nga chịu thần phục, quân Mông Cổ cho ván để lên đầu các vương công Nga để đặt bàn tiệc ăn mừng. Sáu Vương công bị đè đến chết.

    Vó ngựa quân Mông Cổ gây kinh hoàng khắp châu Âu, biên niên sử còn ghi lại rằng: “Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Quân Mông Cổ tại châu Âu (Ảnh minh họa)

    Tại châu Á, khi quân Mông Cổ đánh Trung Quốc là vào thời kỳ nhà Tống, quân Tống bị đại bại, phải bỏ kinh thành rồi tháo chạy hết lần này tới lần khác, quân Mông Cổ truy đuổi theo.

    Năm 1258, quân Mông Cổ lần thứ nhất thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống. Trận đánh lần thứ nhất này quân Mông Cổ chưa thật sự dành nhiều tinh lực vào Đại Việt, mà chỉ muốn thôn tính nốt nhà Nam Tống. Cuối cùng, vào năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Mông Cổ thôn tính.

    Trận đánh cuối cùng giữa quân Mông Cổ và quân Tống là trận Nhai Môn trên biển. Quân Tống có 20 vạn người, nhưng phần lớn trong đó là hoàng thân quốc thích, và quân phục dịch chạy trốn giặc Mông Cổ. Quân Mông Cổ ít hơn rất nhiều những vẫn bao vây tấn công quân Tống.

    Thần phụ chính Lục Tú Phu thấy tình thế tuyệt vọng ôm Vua Tống còn nhỏ nhảy xuống biển tự vẫn, người Tống nhìn thấy cảnh này đều khóc than rồi lần lượt nhảy xuống biển chết theo vua, khung cảnh thật bi thương. 7 ngày sau, hàng trăm ngàn xác người nổi đầy khắp mặt biển, đây được xem là một trong những sự kiện bi thương nhất trong lịch sử Trung Quốc.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Thần phụ chính và vua Tống nhảy xuống biển (Ảnh minh họa)

    Nhà Tống bị diệt vong, Đại Hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên trở thành Hoàng đế Trung Hoa, Trung Quốc bị đô hộ suốt 100 năm. Đó quả là thời kỳ đen tối trong lịch sử Trung Quốc.

    Sau khi đánh tan nhà Tống, quân Nguyên tiếp tục mưu đồ tràn xuống phía Nam. Ngay từ tháng 8 năm 1279, sau khi diệt nhà Tống, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.

    Năm 1285, Hốt Tất Liệt phong cho con trai Thoát Hoan là Trấn Nam Vương dẫn hàng chục vạn quân tiến đánh Đại Việt lần thứ hai. Thế nhưng đến đây, vó ngựa đại quân Nguyên Mông vốn đã giày xéo khắp nơi từ Á sang u đã bị chặn lại bởi Trần Quốc Tuấn, vị Quốc Công Tiết Chế lừng danh sử Việt và thế giới.

    Lúc xuất quân Thoát Hoan hùng hổ bao nhiêu thì lúc chạy thục mạng về nước nhục nhã bấy nhiêu. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh tên của quân dân Đại Việt rồi bắt lính khiêng chạy trối chết về nước.

    Quân Mông Cổ chạy về đến đất Nguyên ở Trung Quốc rồi, quân Đại Việt vượt qua cả biên giới tiến sâu vào châu Tư Minh của Trung Quốc để tiêu diệt giặc, khiến quân Nguyên hoảng sợ, chạy thoát rồi vẫn chưa hết run, tối ngủ không được vì ác mộng.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. (Ảnh minh họa)

    Ngày 25/12/1287, lần thứ ba quân Nguyên sang đánh Đại Việt, vẫn là Trấn Nam Vương Thoát Hoan cùng hàng chục vạn hùng binh, thế nhưng Quốc Công Tiết Chế Trần Quốc Tuấn rất điềm nhiên “năm nay đánh giặc nhàn”. Quả nhiên lần này hùng binh của quân Nguyên bị đánh cho đại bại, thêm một lần nữa nhục nhã rút về nước.

    Có thể có người cho rằng đâu chỉ có Đại Việt đánh thắng quân Nguyên, vì Nhật Bản, Chiêm Thành và Miến Điện cũng đánh thắng quân Nguyên. Nhưng chiến thắng của Nhật Bản có được còn nhờ sự đóng góp quan trọng của “Thiên thời”. Ngoài tinh thần cảm tử của quân Nhật ra, hai lần bão tố và thiên tai đã giúp người Nhật đánh chìm nhiều chiến thuyền Nguyên Mông. Trong cuộc chiến với quân Nguyên tại Chiêm Thành và Miến Điện, về mặt quy mô và tinh lực của quân Nguyên, thì không có lần nào có thể so với lần xâm lược thứ hai và thứ ba trên đất Việt cả. Cuộc chiến với quân Nguyên tại Chiêm Thành cũng nhờ có Đại Việt cử viện binh tiếp ứng.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Quân Mông Cổ tràn vào Nhật Bản (Ảnh minh họa)

    Trong khi đó, chiến thắng của Đại Việt là nhờ sự đồng lòng của người dân và vua quan nhà Trần, cùng tài thao lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Vây làm thế nào mà Trần Quốc Tuấn có thể đánh bại quân Nguyên hùng mạnh khiến cả châu Á và châu Âu đều run sợ?

    Kế sách của Trần Quốc Tuấn

    Quân Nguyên đánh thắng khắp nơi từ Á sang Âu, nhưng chưa ở đâu gặp phải kế sách từ ngoại giao cho đến đánh trận như ở Đại Việt.

    Đầu tiên, trước khi tiến binh, quân Nguyên đã quen với việc uy hiếp nước khác bằng cách dùng sứ giả khuyên hàng. Thế nhưng khi sứ giả quân Nguyên đến thì nhà Trần bắt phải quỳ trước mặt Vua theo đúng phép tắc.

    Kế sách của Trần Quốc Tuấn khi đánh quân Nguyên có thể gói gọn trong mấy chữ: vườn không nhà trống, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng đoản binh phá trường trận.

    Khi đánh nước khác, quân Nguyên thích đánh vào kinh thành, vì nơi đây tập trung đa phần quân chủ lực. Đánh kinh thành thì cũng tiêu diệt được quân chủ lực đối phương, lại có thể cướp bóc lương thực và nhu yếu phẩm.

    Thế nhưng khi đánh Đại Việt thì quân Đại Việt lại chủ động rút khỏi kinh thành, thực hiện “vườn không nhà trống”. Điều này khiến cho quân Nguyên dù chiếm kinh thành vẫn không gặp được quân chủ lực của Đại Việt, kinh thành lại trống không nên không thể cướp bóc được gì.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Ngoài kế sách trên bộ, kế sách tuyệt diệu khác của Hưng Đạo Vương là trận địa cọc trên sông Bạch Đằng (Ảnh minh họa)

    Quân Nguyên tiến đánh với sách lược đánh nhanh thắng nhanh, nhưng quân chủ lực của ta lại rút đi nhằm bảo toàn lực lượng, khiến quân Nguyên không thể đánh nhanh thắng nhanh được. Trần Quốc Tuấn lại cho các toán quân nhỏ liên tục chặn bước tiến của địch, đánh để tiêu hao sinh lực và phá hủy lương thực rồi rút ngay. Quân Nguyên truy kích không tìm thấy các toán quân này vì không thông thạo địa thế.

    Quân Nguyên không gặp được quân chủ lực Đại Việt để đánh, cũng không biết quân chủ lực rút về đâu mà đuổi theo. Lâu ngày quân sĩ lại mệt mỏi vì phải liên tục chống đỡ các cuộc tập kích của các cánh quân nhỏ vẫn diễn ra hàng ngày.

    Dần dần tình hình quân Nguyên lương thực đã cạn, quân sĩ mệt mỏi không muốn tiếp tục cuộc chiến nữa, sĩ khí không còn. Lúc này Trần Quốc Tuấn mới điều động đội quân chủ lực phản công đánh thẳng vào quân Nguyên.

    Trước sức mạnh tấn công của Đại Việt, quân Nguyên hoảng sợ, không hiểu các cánh quân ở đâu hiện ra nhiều không kể xiết. Do tâm lý mệt mỏi, quân Nguyên không thể thắng được sĩ khí của Đại Việt nên đại bại, rút chạy về nước.

    Trần Quốc Tuấn vực dậy tinh thần cho quân dân Đại Việt

    Trước sức mạnh của đội quân làm run sợ khắp nơi trên thế giới, Đại Việt cũng không ít người xuống tinh thần. Lúc đó, Trần Quốc Tuấn đã làm “hịch tướng sĩ” để vực dậy tinh thần kháng Nguyên của quân sĩ.

    Khi các tướng sĩ lo lắng Trần Quốc Tuấn có hiềm khích với nhà Trần, anh em không thể hòa thuận, ông đã tắm cho em họ của mình là Trần Quang Khải trên chiến thuyền trước sự hò reo của ba quân.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Trần Quang Khải (Ảnh minh họa)

    Khi quân ta rút khỏi Thăng Long, người rời đi sau cùng là Trần Quốc Tuấn.

    Khi quân ta phải rút lui trước sức mạnh của giặc, nhà Vua hội họp các tướng rồi dò hỏi: “Hay là nên hàng”, Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái nói ngay: “Xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước đã rồi hẵng hàng”.

    Từ đó mọi niềm tin và ánh mắt của triều đình đều dồn cả vào Trần Quốc Tuấn, ông trở thành trụ cột của Nhà Trần trong 2 lần đánh quân Nguyên Mông (lần thứ 2 và thứ 3).

    Tấm lòng trung sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt

    Cũng giống như ông, dưới trướng của Trần Quốc Tuấn đều là những người tài giỏi như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu.

    Khi nhiều người nhắc lại mối thù nhà, ông hỏi hai gia nô cũng là tướng giỏi lúc đó là Yết Kiêu và Dã Tượng về chuyện này, hai vị tướng này đáp rằng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu”. Nghe xong Quốc Tuấn rất cảm động.

    Vị tướng người Việt làm được điều mà cả Châu Âu và Trung Quốc
    Trần Quốc Tuấn (Ảnh minh họa)

    Sau đó con ông là Trần Quốc Tảng có nhắc lại lời trăn trối của An Sinh Vương Trần Liễu, muốn cùng ông cướp ngôi vua, ông nổi giận rút gươm toan chém đứa con này. Dưới sự can ngăn của mọi người, ông thay đổi ý định nhưng từ đó kiên quyết không gặp Quốc Tảng, thậm chí dặn dò sau này ông chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Tảng vào viếng.

    Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm

    Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên đô hộ một trăm năm.

    Câu đối trên cho thấy châu Âu và Trung Quốc đều muốn có con người này đến thế nào. Thế nhưng Trời xanh đã đặt định cho Trần Quốc Tuấn trở thành con dân của Đại Việt.

    Trong dân gian có truyền thuyết rằng mẹ của Trần Quốc Tuấn nằm mơ thấy có một vị thiên thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh Tiên Đồng Tử sẽ xuống đầu thai. Lúc Trần Quốc Tuấn vừa được sinh ra đã có hào quang toả sáng rực cả nhà.

    Dù truyền thuyết đẹp đó có thật hay chỉ xuất phát từ sự kính ngưỡng Hưng Đạo Đại Vương mà thành, thì người ta vẫn không khỏi suy ngẫm rằng: Phải chăng Thiên Thượng đã phái Trần Quốc Tuấn xuống giúp nước Nam đánh bại quân Nguyên Mông, lưu lại giai đoạn lịch sử xán lạn cho con dân Đại Việt?

    Trần Hưng ( Trí Thức Việt Nam)

  • Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Nụ cười nữ sinh, cảnh tắm giặt trên vỉa hè, những trò chơi truyền thống… là các hình ảnh thú vị về trẻ em ở miền Nam Việt Nam trước 1975 do một người Mỹ ghi lại. Đó là những hình ảnh do tay máy Henk Hilterman thực hiện năm 1967 ở Sài Gòn và vùng ngoại vi. ( Phần bên dưới  có tổng hợp thêm ảnh từ những nguồn khác nhau)

    Những khung hình đẹp được chụp với phong cách chuyên nghiệp, chủ yếu ghi lại những khoảnh khắc hồn nhiên của trẻ em này hứa hẹn sẽ đem lại cho người xem nhiều cảm xúc khó quên.


    Nữ sinh trong một ngôi trường xếp hàng vào lớp.


    Ngày nay bé gái này là một quý bà U60!.


    Vẻ hồn nhiên của các nam sinh.


    Học sinh chơi đánh đáo.


    Những đứa trẻ vây quanh một gánh hàng quà vặt trên đường Phạm Ngũ Lạo, gần ga tàu hỏa.


    Trẻ em tắm giặt ngay trên vỉa hè.


    Bơi lội và đùa giỡn trên sông.


    Trẻ em nghèo chờ đợi để nhận sữa tại chương trình phát sữa cho trẻ em nghèo do Hội Hồng Thập Tự tiến hành.


    Hai cậu bé đứng trước một bức tường làm từ vỏ bình đựng xăng dầu.


    Trẻ em nghèo miền Nam Việt Nam.


    Những đứa trẻ chơi ô ăn quan.


    Cậu bé múc nước bằng xô thiếc.


    Người phụ nữ và những đứa trẻ bên túp lều của mình ở ngoại ô.


    Trẻ em lao động tại một công trường xây dựng.


    Trẻ em bị dịch bệnh được chăm sóc tại một bệnh viện.


    Ảnh tổng hợp

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Trẻ em trong một khu chợ ở Sài Gòn

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975
    Nữ sinh với áo dài và nón truyền thống

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Ông bố và những đứa con bên tàu Bệnh viện Helgoland của Đức, được Mỹ thuê trong thời gian chiến tranh leo thang tại Việt Nam

    Trẻ em miền Nam ngày xưa cho dù ở quê hay là ở thành thị đều đủ ăn, đủ mặc, ko có ai là bị thiếu đói cả. Ngoài ra chính phủ Mỹ hồi đó có chương trình viện trợ nhu yếu phẩm, lương thực, giáo dục cho trẻ em nghèo rất đầy đủ. Post thêm vài tấm hình cùng của tác giả Henk Hilterman:

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Người dân xếp hàng chờ phân phát lương thực tại Nhà Bè

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Trẻ em nghèo chờ đợi để nhận sữa tại chương trình phát sữa cho trẻ em nghèo do Hội Hồng Thập Tự tiến hành

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

    Tinh khôi nụ cười trẻ em Miền Nam Việt Nam trước năm 1975
    Sở thú SG 1965- Thomas W. Johnson
  • Bộ ảnh bí mật chiến tranh Việt Nam chưa từng được công bố

    Bộ ảnh bí mật chiến tranh Việt Nam chưa từng được công bố

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Võ Anh Khánh: Các cán bộ cách mạng gặp nhau trong rừng Năm Căn. Họ phải che mặt để giấu kín thân phận, không cho người khác biết về mình, nhằm đề phòng tình huống bị bắt giữ và thẩm vấn. Theo nhiếp ảnh gia Võ Anh Khánh, chuyển ảnh từ nơi này ra miền Bắc là công việc rất khó khăn. Đôi khi các bức ảnh bị thất lạc hoặc bị tịch thu trong lúc đang trên đường ra Bắc.

    Rất nhiều bức ảnh nổi tiếng đó là tác phẩm của các phóng viên ảnh, hãng tin phương Tây, hoạt động bên cạnh lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng hòa. Nhưng quân giải phóng cũng có hàng trăm phóng viên ảnh chiến trường của riêng họ và những người này đã ghi lại nhiều góc cạnh của cuộc chiến, dưới những điều kiện nguy hiểm nhất.

    Gần như các tay máy của quân giải phóng đều tự học và họ làm việc cho Thông tấn xã Việt Nam, Mặt trận giải phóng dân tộc, quân đội hoặc nhiều tờ báo khác nhau. Nhiều người đã giấu tên hoặc dùng tên giả khi gửi về các cuốn phim, với suy nghĩ rằng mình cũng chỉ là một phần nhỏ bé của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vốn lớn hơn nhiều.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 7/1967, Bảo Hạnh: Tân binh kiểm tra sức khỏe ở Hải Phòng. Hệ thống tuyển quân dựa trên sự tình nguyện của miền Bắc đã chuyển thành chế độ nghĩa vụ quân sự vào năm 1973, khi tất cả nam giới có khả năng chiến đấu đều phải nhập ngũ. Từ một lực lượng chỉ 35.000 người vào năm 1950, quân giải phóng đã tăng số lượng lên hơn nửa triệu người vào giữa những năm 1970. Đây là lực lượng được chính quân đội Mỹ thừa nhận là thuộc hàng tinh nhuệ bậc nhất thế giới.

    Trang thiết bị và nguồn vật liệu tạo ảnh rất hiếm hoi. Hóa chất xử lý ảnh thường được trộn trong các ấm trà, cùng với nước suối. Phim đã chụp chỉ được rửa vào ban đêm. Một phóng viên ảnh, ông Trần Ấm, chỉ có một cuộn phim duy nhất, với 70 bức ảnh, để sử dụng trong suốt thời gian chiến tranh diễn ra.

    Đối mặt với nguy cơ thiệt mạng do trúng phi pháo, trúng đạn hay từ môi trường độc hại, các nhiếp ảnh gia ấy vẫn không ngại khó khăn, vượt qua hiểm nguy gian khổ để ghi lại đời sống chiến đấu dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh; các phong trào kháng chiến ở đồng bằng sông Mekong và tác động đẫm máu từ cuộc chiến lên dân thường vô tội.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1973, Lê Minh Trường: Một cô du kích đứng gác ở đồng bằng sông Mekong. Nhiếp ảnh gia Lê Minh Trường cho biết: “Bạn có thể tìm thấy những người phụ nữ như thế này ở gần như mọi nơi trong chiến tranh. Cô ấy mới 24 tuổi, nhưng đã mất chồng 2 lần. Cả 2 người chồng của cô ấy đều là quân nhân. Tôi thấy cô ấy là hiện thân của một nữ du kích lý tưởng, người đã có những hy sinh vĩ đại cho đất nước”.

    Một số chụp ảnh để ghi lại lịch sử và số khác dùng máy ảnh của họ làm vũ khí trong cuộc chiến tuyên truyền. Do phải chụp ảnh trong bí mật ở miền Nam, phóng viên ảnh Võ Anh Khánh đã không thể đưa ảnh ra Hà Nội. Nhưng ông triển lãm các bức ảnh ngay trong những cánh rừng đước ở đồng bằng sông Mekong để truyền cảm hứng cho lực lượng kháng chiến.

    Nhiều bức ảnh trong số này hiếm khi được nhìn thấy ở Việt Nam, chưa nói tới thế giới. Trong những năm 1990, các phóng viên ảnh lừng danh Tim Page và Doug Niven đã bắt đầu lần theo những nhiếp ảnh gia của quân giải phóng còn sống.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1970, Lê Minh Trường: Một người du kích chèo thuyền trên sông qua rừng đước ở đồng bằng sông Mekong. Người Mỹ dùng các loại chất độc diệt cỏ để phá hoại lớp vỏ che chắn tự nhiên của đối phương. Nhiếp ảnh gia Lê Minh Trường đã cảm thấy kinh khủng trước những gì ông chứng kiến, bởi người Việt coi các cánh rừng đước là khu vực có tiềm năng tốt cho hoạt động nông nghiệp và đánh bắt cá.

    Một trong số đó vẫn còn giữ một chiếc túi lầm bụi, chứa các cuốn phim âm bản chưa từng được rửa ảnh. Người khác thì giấu các cuộn phim dưới chậu rửa mặt trong buồng tắm. Võ Anh Khánh giữ các thước phim của ông trong một hộp đạn Mỹ, có sử dụng gạo để chống ẩm.

    Khoảng 180 bức ảnh chưa từng công bố đó và câu chuyện về những con người can đảm đã làm ra chúng vừa được tập hợp trong cuốn sách Another Vietnam: Pictures of the War from the Other Side (tạm dịch Một Việt Nam khác: Các bức ảnh về cuộc chiến tranh chụp từ phía bên kia).

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1974, Lê Minh Trường: Phụ nữ vất vả kéo lưới trên thượng nguồn sông Mekong. Họ đảm nhận một công việc thường chỉ do đàn ông thực hiện.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    9/1972, Đoàn Công Tính. Dân quân lục soát tại bãi xác một chiếc máy bay của Hải quân Mỹ bị bắn rơi ở ngoại ô Hà Nội. Đây có vẻ như là mảnh vỡ của chiếc A-7C Corsair II do phi công, Đại úy Hải quân Stephen Owen Musselman điều khiển. Chiếc máy bay này đã trúng tên lửa phòng không (SAM) ngay tại khu vực phía Nam Hà Nội khi đang bay hỗ trợ một nhiệm vụ ném bom của máy bay B-52 trong ngày 10/9/1972. Musselman đã nhấn nút phóng khẩn cấp ra khỏi máy bay trước khi nó đâm xuống đất. Anh bị đưa vào diện mất tích trong lúc làm nhiệm vụ cho tới ngày 1/3/1978, khi bộ trưởng Hải quân phê chuẩn văn bản cho rằng anh đã chết. Ngày 7/7/1981, di cốt được cho là của Musselman đã được chính phủ Việt Nam trao trả lại cho phía Mỹ.

    Trong cuốn sách, các phóng viên ảnh đã chia sẻ khá nhiều về công việc của họ. Ông Lâm Tấn Tài cho biết: “Cánh rừng tối đen đó chính là phòng tối khổng lồ của tôi. Vào buổi sáng, tôi thường rửa ảnh tại một con suối rồi phơi chúng trên cây cho khô. Vào buổi chiều, tôi sẽ cắt ảnh và viết chú thích. Sau đó tôi bọc các bức ảnh và phim âm bản trong giấy rồi để gần thân mình. Làm như thế, ảnh sẽ luôn được khô ráo và có thể dễ dàng được tìm thấy nếu tôi bị giết”.

    “Tại thời kỳ Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, tôi đã chụp được các bức ảnh đáng nhớ nhất của mình. Tôi chụp được cảnh chiếc máy bay của Thượng nghị sĩ John McCain rơi trên bầu trời Hà Nội. Tôi rất tự hào về bức ảnh đó và muốn nó chuyển tải thông điệp về lòng yêu nước trước mối đe dọa ngoại xâm”, ông Vũ Ba nói.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Lê Minh Trường. Du kích canh gác một tiền đồn trên biên giới Việt Nam – Campuchia, được bảo vệ bởi các ống tầm vông tẩm độc. Tầm vông thường được vót nhọn rồi làm cho cứng lại bằng lửa, trước khi được ngụy trang để bẫy kẻ thù. Những cái bẫy như thế chỉ nhằm gây thương thích chứ không giết chết nạn nhân, bởi người lính bị thương sẽ làm chậm tốc độ của đồng đội và hoạt động cứu thương sẽ làm lộ vị trí của đơn vị.

    “Chúng tôi thậm chí còn sáng tạo ra một dạng chụp ảnh bằng đèn flash mới để mô tả những người lính và dân làng của chúng tôi đang sống trong các hầm, hào tránh bom. Chúng tôi chế đèn flash bằng cách đổ thuốc súng vào một thiết bị cầm tay nhỏ rồi dùng diêm đốt thuốc súng. Khi cháy, thuốc súng sẽ tạo đủ lượng ánh sáng mà chúng tôi cần”, phóng viên ảnh Mai Nam chia sẻ.

    Nhiếp ảnh gia Dương Thanh Phong thì chia sẻ: “Tôi không chụp ảnh vì giá trị thẩm mỹ. Tôi không nghĩ về vẻ đẹp. Những ngôi nhà cháy nham nhở và các xác chết rõ ràng không đẹp. Bất kỳ giá trị thẩm mỹ nào đó xuất hiện đều sẽ bị thay thế bởi các mục đích của chúng tôi trong việc ghi lại cuộc chiến”.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Ngày không rõ, Hoàng Mai. Quân giải phóng chiến đấu mặt đối mặt với đối phương, tại khu vực dường như là đồng bằng sông Mekong. Bức ảnh hiếm hoi này cho thấy cả hai bên trong chiến trận, với bóng dáng lính Việt Nam Cộng hòa ở góc trên của ảnh và quân giải phóng ở phía dưới. Những người lính giải phóng đã tấn công đối phương từ cả hai cánh trái và phải, có nghĩa đơn vị này của Việt Nam Cộng hòa sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 9/1965, Minh Đạo. Sử dụng bia tự chế, một đơn vị dân quân đang tập bắn máy bay ở Thanh Trì. Dù sử dụng các khẩu súng trường cổ lỗ có từ thời Thế chiến 2 như thế này, người Việt Nam vẫn có thể bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Đơn vị dân quân này, thuộc Đại đội 6 của làng Yên Mỹ, đã giành danh hiệu Lực lượng Dân quân xuất sắc trong 3 năm liên tiếp.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1973, nhiếp ảnh gia vô danh. Công nhân xây dựng đang thảo luận cách sửa chữa cầu Hàm Rồng. Do đây là tuyến đường duy nhất để máy móc và xe tải hạng nặng đi qua sông Mã nên nó được bảo vệ rất gắt gao. Vài chiếc máy bay Mỹ đã bị bắn rơi gần đó. Một đội tìm kiếm người mất tích của Mỹ đã tìm thấy một số di cốt của các phi công tại đó.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1966, Lê Minh Trường. Binh lính hành quân trên đường mòn Hồ Chí Minh trong dãy Trường Sơn chạy dọc theo Việt Nam. Với quân giải phóng, đường mòn Hồ Chí Minh còn được gọi là đường Trường Sơn.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 3/1971, Đoàn Công Tính. Du kích Lào dùng voi và sức người kéo hàng tại khu vực gần đường 9 ở Nam Lào, trong thời kỳ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tìm cách kiểm soát cung đường này. Màn tấn công của quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong chiến dịch Lam Sơn 719, nhằm kiểm tra khả năng của lực lượng này trong bối cảnh sự hỗ trợ từ Mỹ đang giảm dần. Tuy nhiên chiến dịch đã kết thúc trong thảm họa, với nhiều người lính Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy trong hoảng sợ.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    15/9/1970, Võ Anh Khánh. Một nạn nhân của hoạt động ném bom do Mỹ thực hiện, anh du kích người Campuchia có tên Danh Son Huol, đang được đưa tới phòng phẫu thuật nằm trong một cánh rừng đước ở Cà Mau. Đây thực sự là một ca phẫu thuật đang diễn ra, không phải một chiêu chụp ảnh để tuyên truyền. Tuy nhiên người phóng viên ảnh thấy rằng bức ảnh rất ấn tượng nên đã không in nó ra.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    1972, Nguyễn Đình Ưu. Binh lính quân giải phóng băng qua một vùng đất trống gần Đường 9 nam Lào trong Chiến dịch Lam Sơn 719, nỗ lực thất bại của quân Việt Nam Cộng hòa nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    30/4/1975. Giày lính bị bỏ lại la liệt trên con đường nằm ở ngoại ô Sài Gòn. Binh lính Việt Nam Cộng hòa đã vứt bỏ những đôi giày cùng bộ quân phục của họ nhằm che giấu thân phận. “Tôi không bao giờ quên những đôi giày và âm thanh lụp bụp vang lên khi chúng tôi chạy xe qua chúng”, Dương Thanh Phong nhớ lại. “Nhiều thập kỷ chiến tranh đã kết thúc và cuối cùng chúng tôi đã có hòa bình”.

    Những hình ảnh chụp trong điều kiện bí mật chưa từng công bố về chiến tranh Việt Nam

    Tháng 5/1975, Võ Anh Khánh. Người già từ miền Nam và miền Bắc Việt Nam ôm nhau. Họ đã sống đủ lâu để chứng kiến Việt Nam thống nhất và không còn bóng dáng của các lực lượng ngoại xâm.

    Hương Giang (Theo Mashable)

  • Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Bộ ảnh về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1975.

    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm một đơn vị bộ đội diễn tập năm 1957. Ảnh: TTXVN.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các anh hùng miền nam tại khu vườn Phủ Chủ tịch ngày 15/11/1965. Ảnh: TTXVN
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen ngợi nhân dân địa phương và anh chị em công nhân đội vận tải Sông Gianh, Quảng Bình đã góp phần tích cực vận chuyển hàng ra tiền tuyến năm 1968. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam quan sát Đại đội 6, Trung đoàn 233, Đoàn Cao xạ Đống Đa huấn luyện vào Tết Mậu Thân 1968. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng thăm thương, bệnh binh ở Quân y Viện 108 nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7/1969. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh miền Nam và Tư lệnh trưởng Bộ đội Trường Sơn Đồng Sĩ Nguyên bàn kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến dịch Đường 9 Nam Lào tại một cánh rừng Trường Sơn năm 1971. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng duyệt phương án đánh B52 của Mỹ tập kích vào Hà Nội năm 1972 tại Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Trong chuyến kiểm tra vùng biển Quảng Ninh sau chiến dịch phá thủy lôi năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Quyết tâm bảo vệ toàn vẹn vùng biển, hải đảo của tổ quốc”. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng nghiên cứu bản đồ tuyến vận tải chiến lược của bộ đội Trường Sơn trên đường đi thăm đoàn 559 vào tháng 3/1973. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm đơn vị lão dân quân Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đơn vị bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường, tại lễ duyệt binh nhân ngày Quốc khánh 2/9/1973. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Tháng 12/1974 đến tháng 1/1975, Bộ Chính trị quyết định Tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc tổ thường trực Bộ Tổng tham mưu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Trong bức điện mật ngày 7/4/1975 gửi các đoàn quân đang tiến về Sài Gòn, đại tướng viết: “…Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa…”. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Quân ủy Trung ương đang theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong ảnh, từ trái sang phải là Đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến), Thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó Tổng tham mưu), Thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), Thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương) và Trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Ngày 10/3/1977, Đại tướng dẫn đầu một phái đoàn quân sự của Việt Nam thăm Liên Xô theo lời mời của Nguyên soái Dmitry Ustinov. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Tháng 7/1980, Đại tướng cùng anh hùng Phạm Tuân (ngoài cùng bên trái) thăm Trung tâm Huấn luyện Gagarin ở Liên Xô. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng trong một buổi nói chuyện nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-1984) tại Hà Nội. Ảnh: Alex Bowie
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Tướng Giáp tại nhà riêng ở số 30 Hoàng Diệu, Hà Nội, hồi năm 1994. Đây là lúc ngay trước khi ông lên đường tới Điện Biên Phủ để kỷ niệm 40 năm chiến thắng chấn động địa cầu. Ảnh: Catherine Karnow
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng được bà con địa phương chào đón khi ông trở lại Điện Biên Phủ. Ảnh: Catherine Karnow
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Tướng Giáp bên một di tích chiến tranh ở Điện Biên Phủ năm 1994. Ảnh: Catherine Karnow
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp có cuộc gặp lịch sử với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara, đối thủ một thời của ông trên chiến trường, ngày 23/6/1995, khi McNamara tới Hà Nội dự hội nghị chuyên đề lịch sử về chiến tranh Việt Nam. Ảnh: AP
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Tướng Giáp ngồi chờ tàu ở ga Geneva để đến Zurich (Thụy Sĩ) năm 1996. Ảnh: Trần Tuấn
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2006, Tổng thống Venezuela Hugo Chavez đã tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp một bản sao thanh gươm quý của anh hùng Simon Bolivar, nhà cách mạng nổi tiếng, người lãnh đạo các phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19. Ảnh: AFP
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng đi bộ trên đường phố. Đây là môn thể dục ưa thích của ông. Ảnh: Sách ảnh “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”
    Ảnh hiếm về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1954 - 1975)
    Đại tướng và cháu trai Võ Thành Trung. Ảnh: Duy Anh

    Nhật Nam (tổng hợp)

    Nguồn:  VNEXPRESS.NET

  • Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”

    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”

    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”, đây là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước 1975.

    Xin gửi các bạn bộ ảnh Chân dung người mẫu ảnh trên bìa tạp chí Sài Gòn trước 1975

    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu ngồi thư giãn trên thảm cỏ của Thảo Cầm Viên.
    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Hot girl Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởng trang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972.
    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Hot girl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh, 24 tuổi, tốt nghiệp tại một trường trung học Công Giáo ở Đà Lạt, có sở thích chơi quần vợt và bơi lội, đang làm việc cho một công ty kinh doanh tại Sài Gòn thời điểm năm 1971.
    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Nữ diễn viên nổi tiếng Kim Vui, người đoạt Giải thưởng năm 1971 dành cho nữ diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất với vai cô đóng trong phim Chân Trời Tím.
    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đứng trên cánh đồng lúa vào mùa thu hoạch.
    Hình ảnh các người đẹp Sài Gòn trên trang bìa tạp chí “Vietnam”
    Lê Mai và Thanh Mai, hai nữ sinh ưu tú của trường Trung học Lê Bảo Tịnh tại Sài Gòn trước 1975.
  • Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Không chỉ là lời kể truyền khẩu, câu chuyện về Mai An Tiêm còn được nhiều thư tịch cổ đề cập tới dù có khác biệt đôi chút nhưng nhìn chung nội dung tương đồng.

    Theo như Lĩnh Nam chích quái liệt truyện thì ngày xưa, đời Hùng Vương có một người ngoại quốc, mới được 7 tuổi theo thuyền buôn từ phương Nam đến nước Văn Lang, vua Hùng mua về làm đầy tớ.

    Khi trưởng thành, cậu bé ngày nào nay đã là một chàng trai cao lớn, diện mạo đoan chính, thông minh, tuấn tú; vua Hùng rất yêu mến mới nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai Yến, tên chữ là Mai An Tiêm và chọn một cô gái xinh đẹp, hiền thục gả cho làm vợ, sau sinh được một trai.

    Nhờ được vua yêu, tin dùng nên dần dần Mai An Tiêm thành phú quý, ai cũng muốn lấy lòng, thường đến dâng lễ vật không thức gì là không có; từ đó Mai An Tiêm sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng: “Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không cần nhờ vào sự ban ơn của vua”.

    Hùng Vương nghe được, nổi giận nói rằng:

    “Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra nơi không có người sinh sống để coi thử nó có còn cái vật tiền thân nữa hay không?”.

    Nói rồi ra lệnh đày Mai An Tiêm và vợ con ra một hòn đảo hoang ở ngoài cửa biển Nga Sơn, bốn phía không có dấu chân người, chỉ cấp cho lương thực đủ dùng trong 4-5 tháng mà thôi, ăn hết là chết đói.

    Vào ngày nọ, bỗng thấy một con bạch hạc lớn từ phương tây bay lại, đậu lên mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì 6-7 hạt màu đen rơi trên mặt cát, một thời gian sau hạt đơm hoa kết trái; chim chóc kéo đến mỏ khoét để ăn.

    An Tiêm thấy thế mừng rỡ nói: “Chim ăn được tất người ăn được. Đây chính là thứ mà trời ban cho để nuôi ta đó”.

    Quả thật, trái đó ăn vào mùi vị thơm tho ngọt ngào, mát ruột vô cùng. Mỗi năm trồng tỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi cho các thuyền buôn qua lại vùng biển đảo đó lấy lúa gạo nuôi vợ con. Có người hỏi Mai An Tiêm đây là quả gì, chợt nhớ đến chuyện chim tha hạt từ phương Tây đem đến nên đặt tên là quả Tây qua.

    Mai An Tiêm bị lưu đày ở đảo nào?!

    Lâu ngày, Hùng Vương nhớ đến người con nuôi của mình bèn sai người đến chỗ hòn đảo nơi Mai An Tiêm ở để xem có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại mọi chuyện với vua. Vua Hùng than thở hồi lâu mới nói rằng:

    – Lời nói của nó năm xưa tuy tự mãn nhưng quả thực là đúng như vậy!

    Sau đó vua Hùng cho gọi Mai An Tiêm về, trả quan chức lại và ban cho thêm của cải, lại đặt tên chỗ vợ chồng Mai An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”.

    Hòn đảo nơi Mai An Tiêm bị đày đến sau này dần dần được bồi đắp trở thành đất liền, người dân đến sinh sống ngày một đông, dựng thành làng ấp và đặt tên là làng Mai An, còn gọi là Mai Thôn (nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa).

    Tương truyền vì là vùng đất gốc nên là nơi trồng dưa ngon nhất nước; người dân ở đây tôn vợ chồng Mai An Tiêm là “Bố Cái dưa hấu” hay “ông bà tổ dưa tây”. Sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện cho biết khi lễ bái đều lấy quả dưa Tây qua làm đồ tế tự.

    Còn về xuất xứ tên gọi, quả dưa ban đầu có tên là Tây qua vì được chim tha từ phía Tây đến. Chuyện xem chừng không có gì đáng lưu ý nhưng thực ra xét theo khoa học là hoàn toàn có lý và logic vì nguồn gốc của loại quả này ở vùng Tây Á có tên Ả-rập là Baticha, tiếng Pháp là Pasteque.

    Còn về sau được gọi là dưa hấu, theo một số bản chép về câu chuyện này thì khi được về đất liền, Mai An Tiêm đã dâng lên vua Hùng một thuyền đầy dưa, vua ăn thấy ngọt mát thấu dạ nên truyền đặt là dưa thấu, chữ thấu ở đây còn hàm ý vua đã thấu hiểu được sự cố gắng và tấm lòng của Mai An Tiêm. Dưa thấu sau được đọc chệch gọi là dưa hấu.

    Lời bình

    Ý nghĩa của về Mai An Tiêm và sự tích quả dưa hấu chính là lời ngợi ca bản lĩnh, ý chí vượt khó khăn để sinh tồn. Bằng trí tuệ và sức lao động con người thời Hùng Vương, mà Mai An Tiêm là hình tượng tiêu biểu đã xây dựng, vun đắp lên một đời sống vật chất đầy đủ, sung túc.

    Theo trithuctre

  • An Dương Vương trong tâm thức người Việt

    An Dương Vương trong tâm thức người Việt

    An Dương Vương là ai: Tiểu sử, sự nghiệp, cuộc đời và dấu ấn cá nhân?

    “Chết thì bỏ con bỏ cháu

    Sống thì không bỏ mồng Sáu tháng Giêng”

    Câu ca với những lời lẽ quả quyết nhưng lại rất mộc mạc, hồn nhiên ấy là nói về tình cảm thiết tha với ngày Hội làng của dân xã Cổ Loa và 7 xã xung quanh, thuộc huyện Đông Anh, ngoại ô Hà nội. Tâm điểm của lễ hội là tòa Thành ốc (Cổ Loa) và tâm linh của lễ hội hướng về An Vương Vương. Đó là những di tích và nhân vật gắn liền với một thời đoạn lịch sử vẫn còn chất đầy huyền thoại tiếp nối thời đại các vua Hùng cũng vần vũ những đám mây ngũ sắc của những huyền thoại.

    An Dương Vương là ai

    Nếu thời đại các vua Hùng còn định vị đuowjc bởi địa danh Phong Châu mà các thế hệ sau tôn phong là Đất Tổ và xây dựng ngôi Đền thờ Tổ thì tên tuổi của An Dương Vương còn lại một chứng tích vật chất đầy sức thuyết phục, cũng là chứng tích vật chất về một cái mốc đầu tiên ghi nhận Hà Nội hôm nay bao gồm cả vùng đất từng là kinh đô trước khi  Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long hơn một thiên niên kỷ.

    Về An Dương Vương, “Từ điển bách khoa Việt Nam” viết một cách ngắn gọn: “tên thật là Thục Phán, người sáng lập và là vua nước Âu Lạc. Có giả thiết cho là thủ lĩnh người Tây Âu ở vùng núi phía Bắc đã từng xung đột với vua Hùng và cũng là người chống Tần thắng lợi (214 – 208 trước CN), nối ngôi vua Hùng, hợp nhất Tây Âu và Lạc Việt thành nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa. Tục truyền An Dương Vương được rùa thần giúp đỡ cho móng làm lẫy nỏ rất hiệu nghiệm, nên đã đánh bại nhiều lần xâm lược của Triệu Đà. Sau đó Triệu Đà dùng mưu (cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn với con gái An Dương Vương là Mỵ Châu) lấy cắp lẫy nỏ thần rồi mới đem quân sang đánh (179 trước CN) An Dương Vương thua chạy đến Nghệ An, nhảy xuống biển tự tử”

    Lời giảng nghĩa ngắn ngủi ấy cố gắng khẳng định một nhân vật có thật và một thời đại có thật trong lịch sử dân tộc ta là cái gạch nối giữa thời đại các vua Hùng với những thời đại sau đó trong dòng mạch liên tục của một quốc gia tự chủ và đã tạo dựng  được một nền văn minh có bản sắc riêng biệt bên cạnh một nền văn minh lớn cũng là một mối thử thách thường trực và khủng khiếp từ phương Bắc tràn xuống. Nhưng trong lời giảng nghĩa ấy vẫn phải nhắc đến những từ “giả thiết”,  “tục truyền”…

    Bởi lẽ, từ nhiều thế kỷ trước trong các cuốn sách như “Viện điện u linh”; “Lĩnh Nam chích quái”, “đại Việt sử ký toàn thư” hay các tác phẩm của Nguyễn Trãi (Dư địa chí). Phan Huy Chú (lịch triều hiến chương loại chí) đều nhắc tới An Dương Vương họ Thục tên Phán là con của vua Thục (đất Tứ Xuyên – Trung Quốc ngày nay) vì xung khắc của tổ phụ với Hùng Vương của nước Văn Lang mà mang quân đánh chiếm, lập nước Âu Lạc, xưng vương và xây thành Cổ Loa. Nhưng rồi cuối thế kỷ XIX, một số sử thần lại cho rằng Âu Lạc và người đứng đầu Thục Vương không dính dáng gì đến nước Ba Thục mà chỉ là một thế lực ở lân cận “gắn liền với nước Văn Lang”. Sang đầu thế kỷ XX, có học giả còn cực đoan hơn khi cho rằng” nước Nam không có An Dương Vương nhà thục” (Nguyễn Văn Tố” còn một số sử gia người Pháp lại khẳng định “Trước nhà hán không có lịch sử An Nam”…

    Nhưng trong tâm thức của nhiều người Việt Nam nhất là của dân “bát xã hộ nhi” (tám làng thờ cúng và tham gia tế lễ trong ngày hội ở Chùa Thượng) thì An Dương Vương chính là Vua Chủ ăn sâu vào

                       (Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm – Số 4/2001)

    An Dương Vương xây thành Cổ Loa

    Sau chiến thắng vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa.

    Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành. Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân Rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa. Sự thực truyền thuyết đó như thế nào?
    Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy thành Cổ Loa được xây bằng đất ở chính địa phương. Thành có 9 vòng. Chu vi ngòai 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1.6km… Diện tích trung tâm lên tới 2km2 . Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 6-12m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Xem vậy công trình Cổ Loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Chính vì vậy, việc xây dựng thành Cổ Loa cực kỳ khố khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Nhưng điều đáng tự hào là cuối cùng thành đứng vững. Thục An Dương Vương đã biết dựa vào những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa thần chính là bí mật tổ tiên khám phá, xử lý. Ngày nay, khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao nhiêu đá để xử lý cho công trình? Kỹ thuật xếp đá? Đây quả là một kỳ công.

    Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc, Tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê – Hòang Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phướng đóng thuyền chiến.

    Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến thành quân cảng. Rồi nhân dân được điều tới khai phá rừng đa ( Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)v.v… thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ loại, bàn tay sáng tạo của cha ông ta đã chế tạo ra mỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đã được vua Thục khuyến khích. Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật tinh vi, dùng nỏ liên châu đã được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây.

    Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ gò cao nhô hẳn ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ.
    Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ vĩ của dân tộc.

  • Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Đệ nhất ân Phi Hồ Thị Chỉ là vợ vua Khải Định. Bà Chỉ nổi tiếng là nhan sắc mặn mà, thông minh, đàn hay, thông thạo tiếng Pháp, Hán Văn, Việt Ngữ. Bà Chỉ là con của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương quê ở làng Chuồn (xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế)
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Chân dung hai hoàng hậu Tiên Cung (vợ trước) và Thánh Cung (vợ sau) của vua Đồng Khánh

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Công chúa Thuyên Hoa, em gái vua Thành Thái có vẻ đẹp hiện đại
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Công chúa Mỹ Lương, Trưởng nữ của vua Dục Đức, chị cả của vua Thành Thái
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Cô Nguyễn Thị Cẩm Hà – thường gọi là Mệ Bông, con của Công chúa Mỹ Lương với vẻ đẹp dịu dàng

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức có nét đẹp rất hiền từ. Bà rất thương dân. Do trong dân gian thường gọi nhầm là Từ Dũ nên tên Từ Dũ sau này cũng vì thế được đặt cho bệnh viện phụ sản lớn nhất Sài Gòn từ trước năm 1975 cho đến nay
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng thái hậu Tự Cung – là Hoàng thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn rất đẹp, sắc sảo. Bà Từ Cung là vợ vua Khải Định và cũng là người duy nhất trong số 12 người vợ có con trai là hoàng đế Bảo Đại say này

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bà Từ Cung (giữa) cùng các người thân trong hoàng tộc
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bà Nguyễn Thị Định, là thứ phi của vua Thành Thái, mẹ vua Duy Tân, ảnh chụp khi bà đã lớn tuổi nhưng nét đẹp một thời vẫn còn trên khuôn mặt

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Một ảnh chụp khác của Vương phi Mai Thị Vàng, vợ yêu của vua Duy Tân lúc về già
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hình ảnh Nam Phương hoàng hậu lúc được tấn phong – vợ của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều đại phong kiến tại Việt Nam
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Nam Phương quê ở Tiền Giang, con của một gia đình rất giàu có. Bà 3 năm liền đoạt giải Hoa hậu Đông Dương, lấy vua Bảo Đại khi vừa 19 tuổi

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Thứ phi Mộng Điệp người Hà Nội rất được vua Bảo Đại sủng ái

    Sinh năm 1924 tại Bắc Ninh, khác với nhiều cung tần mỹ nữ thời trước, Mộng Điệp là phụ nữ đã có chồng và con. Tuy nhiên, nhan sắc mặn mà của người phụ nữ Kinh Bắc đã “đốn ngã” trái tim Bảo Đại mà ông từng tưởng rằng chỉ thuộc về duy nhất Nam Phương hoàng hậu.

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Nhan sắc của Mộng Điệp trở thành đề tài của rất nhiều bậc tài tử thời bấy giờ. Theo nhiều tài liệu lịch sử cho biết, trước khi lấy chồng nhà Mộng Điệp không thể đếm xuể bao nhiêu người qua lại ngỏ ý. Vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của cô gái Kinh Bắc dễ dàng làm siêu lòng bất kỳ chàng trai nào thời đó.

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc rất tình cảm của thứ phi Mộng Điệp với cựu hoàng Bảo Đại (ảnh tư liệu của nhà nghiên cứu Huế – Nguyễn Đắc Xuân)
    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng hậu Nam Phương sau khi sinh con vẫn giữ được nét đẹp quý phái

     

    Những phụ nữ quyền thế và xinh đẹp nhất triều Nguyễn
    Hoàng hậu Nam Phương và các hoàng tử, công chúa con của mình với nét đẹp chuẩn mực. Đây cũng là hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng của việt Nam đóng đô tại Huế với nhiều quá khứ vàng son (1802-1945)
  • Những con nghiện thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Những con nghiện thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Loạt ảnh về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn năm 1948 của tạp chí Life khiến người xem không khỏi bị sốc về mặt trái của “Hòn ngọc Viễn Đông” xưa.Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Cổng chính Nhà máy Chế biến Thuốc phiện ở số 74 đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng), Sài Gòn năm 1948.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Tờ thông báo gắn ở cổng nhà máy thuốc phiện Sài Gòn.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Sân trong nhà máy thuốc phiện Sài Gòn nhìn qua cửa sổ văn phòng nhà máy.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Dân nghiện cùng hút thuốc phiện trong một “dưỡng đường giải độc”, tên gọi một cách hoa mỹ cho các tiệm hút thuốc phiện công khai.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Những con nghiện thuốc phiện sau khi đăng ký với chính quyền sẽ được phép đến các tiệm thuốc phiện để thỏa mãn lạc thú cùng “nàng tiên nâu”.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Một con nghiện lớn tuổi sửa soạn đồ nghề hút chích.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Ngất ngây bên bàn đèn thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Một phụ nữ phương Tây trong động thuốc phiện Sài Gòn.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Nơi để ống điếu và bàn đèn tại một tiệm thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Từ khi chiếm đóng Đông Dương, người Pháp đã thúc đẩy việc tiêu thụ thuốc phiện trong người dân địa phương nhằm thu lợi từ hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc phiện.

    Ảnh độc về tệ nạn thuốc phiện ở Sài Gòn xưa

    Trong giai đoạn đỉnh cao, ngành công nghiệp thuốc phiện đã đóng góp trên 1/3 tổng thu nhập hàng năm của Pháp ở Đông Dương thuộc địa.

    Theo KIẾN THỨC