Category: Con Lạc cháu Hồng

  • Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc)

    Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc)

    Ăn mày thời xưa

    Những người ăn mày ở đất Bắc (thời Pháp thuộc)

     

    Bốn mẹ con người ăn mày mù lòa
    Bốn mẹ con người ăn mày mù lòa

     

    Các bạn đọc gần xa có các bức ảnh về những người cơ cực thời xưa, mang giá trị lịch sử và văn hóa,.. vui lòng gửi ảnh cho HinhanhVietNam.com hoàn thiện bài viết này nhé!

    Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, từ đời Lý, nhiều năm mưa to, bão lớn khiến ruộng đồng ngập hết. Có năm, nước dâng cao tràn cả vào cửa Đại Hưng (nay là khu vực Cửa Nam) của thành Thăng Long. Nước ngập, lúa và hoa màu không sống nổi, dân đói ăn tràn về Thăng Long và triều đình phải mở kho lương phát cứu đói nhưng cũng không xuể. Đến đời Trần, trước thảm họa do thiên nhiên gây ra, nhà vua đã cho đắp đê quai vạc từ đầu nguồn sông Hồng ra đến cửa biển. Nhưng vì đê thấp, nước lại cao nên lũ lụt vẫn xảy ra.

    Để ngăn đê vỡ, lũ tràn, các vua triều Nguyễn bỏ rất nhiều tiền bạc, công sức để tôn đê lên cao hơn nhưng vẫn không thể trấn trị được thủy thần. Chỉ tính riêng tỉnh Hưng Yên, từ năm 1863 đến 1886, đê Văn Giang vỡ tới 18 lần. Vỡ đê, người dân chỉ còn cách đi xin ăn nên có câu thành ngữ “Oai oái như phủ Khoái xin ăn”. Ca dao tục ngữ Hà Nội xưa cũng có câu: “Đông thành là mẹ, là cha/Đói cơm rách áo thì ra Đông thành”.Chợ Đông thành (tương ứng với các phố Hàng Than, Hàng Giấy, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào… bây giờ) là chợ lớn nhất Thăng Long có từ thời Hậu Lê. Chợ sầm uất, bán buôn đủ các mặt hàng. Ăn mày đến đây luôn được người bán hàng, người đi chợ cho vài chinh, gạo hay cơm. Không chỉ ở chợ Đông thành, Thăng Long còn có 8 chợ lớn khác nằm rải rác ở các phường. Trong “Vũ Trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ viết: “Vào những năm lũ lụt hay mất mùa, dân đói ăn từ các nơi đổ về chợ xin ăn, trông rách rưới và thương tâm, người đi chợ không nỡ ngoảnh mặt đi qua”. Điều đó cũng cho thấy tấm lòng “lá lành đùm lá rách” của người dân đất Kẻ Chợ.

    Đến đời vua Tự Đức, ăn mày dồn về Hà Nội nhiều hơn. Ngoài nguyên nhân mất mùa, còn có nguyên nhân nữa là xã hội giai đoạn này phân hóa ngày càng sâu sắc, dân chúng ở quê đói kém, nợ nần buộc phải bán tư điền cho chức sắc trong làng. Không còn đất canh tác, không có nghề thủ công, họ chỉ còn cách đi ăn mày. Phillip Papine, tác giả của cuốn “Lịch sử Hà Nội” đã viết: “Không còn đất, một bộ phận nông dân trở thành kẻ làm thuê và lang thang ra thành phố xin ăn”.

    Chiếm được Nam kỳ, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch đánh chiếm Bắc kỳ. Năm 1873, quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, chiếm được thành rồi lại phải rút, nhưng họ cũng buộc vua Tự Đức phải ký hiệp ước cấp đất cho Pháp mở lãnh sự ở khu Đồn Thủy (nay là khu vực phố Phạm Ngũ Lão). Lại thêm quân Cờ đen quấy phá nên nông dân một số tỉnh bỏ ruộng, buôn bán cũng bị đình trệ làm kinh tế sa sút, nạn đói diễn ra ở nhiều nơi. Trong thư gửi cho Chính phủ Pháp ngày 30-4-1876, Kergaradec, Lãnh sự của khu nhượng địa Đồn Thủy viết: “Cứ 5 ngày một lần, ăn mày ở thành phố và các vùng lân cận, một đội quân thực sự chen nhau ở Trường Thi (nay là Thư viện Quốc gia). Người ta cho từng người vào một và nhận được nửa cân gạo. Sau đó, cả 9 cửa cùng mở để mọi người đi ra. Tuy nhiên, chút gạo bố thí nhỏ nhoi đó vừa đủ một ngày nhưng người ta cũng chỉ phát cho người già, trẻ em, phụ nữ và người tàn tật. Những người đàn ông có vẻ kiếm sống được đều bị đám lính xua đuổi rất kiên quyết. Nhưng lần phát chẩn cuối cùng vẫn còn 22.000 người tới nhận”.

    Năm 1882, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, sau đó tiến hành bình định các tỉnh trung du và miền núi Bắc kỳ, trấn áp phong trào Cần vương. Chiến trận diễn ra ở nhiều tỉnh làm dân hoảng loạn bỏ quê ra Hà Nội. Trong hồi ký “Ở Bắc kỳ – Ghi chép và kỷ niệm” (Au Tonkin – Notes et souvenirs, xuất bản 1925), Bonnal (Công sứ Hà Nội 1883-1885) viết: “Hà Nội bị xâm chiếm bởi hàng nghìn người từ các tỉnh lân cận đổ về. Những toán đàn bà, trẻ con rách rưới bám theo binh lính của chúng ta khi đi dạo trong những phố buôn bán, nơi rất khó vạch ra lối đi ngay khi vung gậy xua đuổi. Quang cảnh của những sự khốn cùng ấy mới chỉ là đáng buồn nhưng khi gặp phải một toán quân hủi đến cản đường trong phố thì một người Âu kém tế nhị nhất cũng phải tháo chạy càng nhanh càng tốt. Người ta nhìn thấy họ nằm lăn ra trên những manh chiếu rách, chân tay vặn vẹo những tư thế kỳ cục, không còn giọng nói để cất lên lời xin bố thí”.

    Đầu thế kỷ XX, ăn mày ngồi la liệt, bày biện đủ thứ hình ảnh đau khổ kêu khóc có bài ở Ô Cầu Dền vì Sở Cẩm không cho ăn mày vào nội thành. Tuy nhiên cũng có người trốn vào nhưng lại bị cảnh sát bắt đem ra cửa ô hay xua đi. Hà Nội phát triển về phía tây và phía nam, chính quyền không ngăn nổi ăn mày. Những năm 1920 đã xuất hiện “Ngõ ăn mày” ở gần Ô Chợ Dừa (nay là ngõ Đoàn Kết phố Khâm Thiên). Họ dựng lều sơ sài bên những vùng lầy lội và hồ ao đầy cỏ dại, ban ngày kéo nhau đi ăn xin, tối về ngủ. Năm 1945, lũ lụt, mất mùa, chiến tranh, quân Nhật bắt phá lúa trồng đay đã khiến dân chết đầy đường Hà Nội. Các hội thiện cùng chính quyền phải đi thu gom xác chết mang chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện (nay là khu vực Nhà máy sợi Hà Nội ở phố Minh Khai).

    ….
    Nguồn: Facebook, báo Hà Nội mới.
  • Ban nhạc tài tử Nam Kỳ tại Hội chợ triển lãm Marseille 1906

    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ tại Hội chợ triển lãm Marseille 1906

    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ tại Hội chợ triển lãm Marseille 1906

    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ do ông Viang (người đứng một mình hàng trên cùng) làm làm trưởng đoàn, tại Hội chợ triển lãm Marseille 1906
    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ do ông Viang (người đứng một mình hàng trên cùng) làm làm trưởng đoàn, tại Hội chợ triển lãm Marseille 1906
    Hội chợ triển lãm Thuộc địa Marseille 1906 - Ban nhạc của Nhà nghỉ Thượng khách xứ Nam Kỳ.
    Hội chợ triển lãm Thuộc địa Marseille 1906 – Ban nhạc của Nhà nghỉ Thượng khách xứ Nam Kỳ.
    Người đứng giữa chống nạnh chính là ông Nguyễn Tống Triều. Người mặc áo đen bên trái là trưởng đoàn, ông 'Viang'
    Người đứng giữa chống nạnh chính là ông Nguyễn Tống Triều. Người mặc áo đen bên trái là trưởng đoàn, ông ‘Viang’
    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ tham dự Hội chợ Marseille 190
    Ban nhạc tài tử Nam Kỳ tham dự Hội chợ Marseille 190
    L'INDOCHINE 1906 - Les acteurs, actrices et figurants du théâtre indo-chinois à l'Exposition de Marseille
    L’INDOCHINE 1906 – Les acteurs, actrices et figurants du théâtre indo-chinois à l’Exposition de Marseille
    Gánh hát bội của xứ Đông Dương
    Gánh hát bội của xứ Đông Dương
    L'INDOCHINE 1906 - Le Jeune Li-Nhan
    L’INDOCHINE 1906 – Le Jeune Li-Nhan
    Exposition Coloniale Paris 1931
    Exposition Coloniale Paris 1931
    Nhóm múa Bắc Kỳ tại Đấu xảo Thuộc địa Quốc tế Paris 1931  1931 Groupe de danseurs (Tonkin) à Exposition coloniale internationale de Paris (1931). Photo by Paul Pivot
    Nhóm múa Bắc Kỳ tại Đấu xảo Thuộc địa Quốc tế Paris 1931
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin) à Exposition coloniale internationale de Paris (1931). Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)  Danse se faisant également pendant une procession rituelle pour obtenir la pluie ou tout autre bienfait. Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)
    Danse se faisant également pendant une procession rituelle pour obtenir la pluie ou tout autre bienfait. Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)  Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)
    Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)  Photo by Paul Pivot
    1931 Groupe de danseurs (Tonkin)
    Photo by Paul Pivot
     Joueurs de flûte traversière - Nhạc công thổi sáo
    Joueurs de flûte traversière – Nhạc công thổi sáo
    Joueurs de vièles Dàn Nhi (vièles à deux cordes) - Nhạc công chơi đàn nhị
    Joueurs de vièles Dàn Nhi (vièles à deux cordes) – Nhạc công chơi đàn nhị
    Ban nhạc bát âm: 4 cây sáo trúc, 2 cây đàn nhị, một trống cơm và một nhạc cụ gõ tên là "xênh tiền"
    Ban nhạc bát âm: 4 cây sáo trúc, 2 cây đàn nhị, một trống cơm và một nhạc cụ gõ tên là “xênh tiền”
    Người chơi trống tiểu và trống trung  Joueur de tambour Tièu Cô (à gauche) et de tambour Trong Com (à droite) (petit et moyen tambours).Người chơi trống tiểu và trống trung  Joueur de tambour Tièu Cô (à gauche) et de tambour Trong Com (à droite) (petit et moyen tambours).
    Người chơi trống tiểu và trống trung
    Joueur de tambour Tièu Cô (à gauche) et de tambour Trong Com (à droite) (petit et moyen tambours).
    Người chơi xênh tiền  Joueur de Xênh-trên -   "Xêng tiền" là một loại nhạc cụ gõ của người Mường, nhịp điệu Xêng tiền là một trong những tiết tấu cơ bản của âm nhạc dân gian dân tộc Mường
    Người chơi xênh tiền
    Joueur de Xênh-trên –
    “Xêng tiền” là một loại nhạc cụ gõ của người Mường, nhịp điệu Xêng tiền là một trong những tiết tấu cơ bản của âm nhạc dân gian dân tộc Mường
    Joueur de monocorde : M. Nguyen Song. Instrument monocorde;Dàn Kinh dôc huyên
    Joueur de monocorde : M. Nguyen Song. Instrument monocorde;Dàn Kinh dôc huyên
    M. Kim-Chi, chanteur
    M. Kim-Chi, chanteur
    M. Huyen-U, chanteur
    M. Huyen-U, chanteur
    Un groupe de musiciens annamites 1900-1926
    Un groupe de musiciens annamites 1900-1926
    Đoàn hát bội ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille 1906
    Đoàn hát bội ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille 1906
    Đoàn nghệ sĩ xứ thuộc địa Nam Kỳ đi dự Hội chợ Marseille 1906 tại Pháp
    Đoàn nghệ sĩ xứ thuộc địa Nam Kỳ đi dự Hội chợ Marseille 1906 tại Pháp

     

    Ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều dự Hội chợ thuộc địa Marseille 1906 tại Pháp
    Ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều dự Hội chợ thuộc địa Marseille 1906 tại Pháp
    Ngôi nhà có kiến trúc theo kiểu ngôi đình truyền thống này do tỉnh Thủ Dầu Một thực hiện cho xứ Nam Kỳ tham dự Hội chợ Thuộc địa Marseille 1906, và kế tiếp là Hội chợ Thuộc địa Nogent-sur-Marne năm 1907. Ngôi nhà sau đó được chính phủ Pháp mua lại và năm 1917 đã giao cho tổ chức Kỷ niệm Đông Dương dùng làm Đền Kỷ niệm các binh sĩ Đông Dương hy sinh cho nước Pháp trong Đệ nhất Thế chiến. Ngày 9-6-1920 Đền Kỷ niệm Đông Dương đã được khánh thành. Do chất lượng nghệ thuật của tòa nhà, năm 1965 công trình đã được đưa vào danh mục các công trình lịch sử, nhưng vì công việc bảo trì không được làm đầy đủ, sau một thời gian dài tòa nhà đã bị hư hỏng đáng kể. Một chương trình trùng tu đã được lên kế hoạch vào năm 1983, tuy nhiên khi công việc vừa mới khởi sự thì tòa nhà đã bị thiêu hủy hoàn toàn vì một vụ cố ý gây hỏa hoạn..
    Ngôi nhà có kiến trúc theo kiểu ngôi đình truyền thống này do tỉnh Thủ Dầu Một thực hiện cho xứ Nam Kỳ tham dự Hội chợ Thuộc địa Marseille 1906, và kế tiếp là Hội chợ Thuộc địa Nogent-sur-Marne năm 1907. Ngôi nhà sau đó được chính phủ Pháp mua lại và năm 1917 đã giao cho tổ chức Kỷ niệm Đông Dương dùng làm Đền Kỷ niệm các binh sĩ Đông Dương hy sinh cho nước Pháp trong Đệ nhất Thế chiến. Ngày 9-6-1920 Đền Kỷ niệm Đông Dương đã được khánh thành. Do chất lượng nghệ thuật của tòa nhà, năm 1965 công trình đã được đưa vào danh mục các công trình lịch sử, nhưng vì công việc bảo trì không được làm đầy đủ, sau một thời gian dài tòa nhà đã bị hư hỏng đáng kể. Một chương trình trùng tu đã được lên kế hoạch vào năm 1983, tuy nhiên khi công việc vừa mới khởi sự thì tòa nhà đã bị thiêu hủy hoàn toàn vì một vụ cố ý gây hỏa hoạn..
    Cochinchine - Saigon - Groupe de Musiciens au Repos
    Cochinchine – Saigon – Groupe de Musiciens au Repos

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

  • Cộng đồng người Hoa thời xưa tại Sài Gòn Chợ Lớn

    Cộng đồng người Hoa thời xưa tại Sài Gòn Chợ Lớn

    Lịch sử Trung Quốc và Việt Nam rất gắn liền nhau, sự hiện diện của người Hoa trên đất Việt đã có từ ngàn xưa, người dân Trung Quốc rất giỏi về buôn bán, họ hay sống chung đoàn tụ lại với nhau. “Chợ Lớn” là khu phố người Hoa rất lớn ở Saigon, cũng giống như là quận 13 của Paris vậy.

    Cộng đồng người Hoa
    Cộng đồng người Hoa
    Cộng đồng người Hoa
    Cộng đồng người Hoa
    Phái đoàn Trung Quốc
    Phái đoàn Trung Quốc
    Chợ lớn thuở sơ khai
    Chợ lớn thuở sơ khai
    Thợ sửa giày
    Thợ sửa giày
    Bán hủ tiếu
    Bán hủ tiếu
    Ðám ma
    Ðám ma
    Back to the Future
    Back to the Future
    Hút thuốc phiện
    Hút thuốc phiện
    Ðang làm vịt quay
    Ðang làm vịt quay
    Ðoàn hát Quảng
    Ðoàn hát Quảng
    Nhà hát người Tàu
    Nhà hát người Tàu
    Chùa Tàu
    Chùa Tàu
    Một ngôi chùa ở Chợ Lớn
    Một ngôi chùa ở Chợ Lớn
    Ðường Canton trong Chợ lớn
    Ðường Canton trong Chợ lớn
    Hút thuốc (phiện, thuốc lào)
    Hút thuốc (phiện, thuốc lào)
    Hút thuốc phiện
    Hút thuốc phiện
    Gia đình giàu người Hoa
    Gia đình giàu người Hoa
    Bán thuốc rong
    Bán thuốc rong
    Một nhà sư người Tàu
    Một nhà sư người Tàu
    Nam nghệ sĩ
    Nam nghệ sĩ
    Nữ nghệ sĩ
    Nữ nghệ sĩ
    Một cô gái Nûng
    Một cô gái Nûng
    Một người Hoa trung lưu
    Một người Hoa trung lưu
    Đám rước
    Đám rước
    Đám múa lân, Cholon_la_procession_du_dragon
    Đám múa lân
    Đốt pháo ở Chợ Lớn, Cholon_tir_des_petards_n49
    Đốt pháo ở Chợ Lớn
    Bên trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn
    Bên trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn
    Một gia đình người Hoa ở Chợ Lớn
    Một gia đình người Hoa ở Chợ Lớn
    Một gia đình người Hoa ở Lào Kay
    Một gia đình người Hoa ở Lào Kay
    Tiệm bán thịt
    Tiệm bán thịt
    Thương mại
    Thương mại
    Thợ máy người Hoa
    Thợ máy người Hoa
    Tập tục bó chân của người Hoa
    Tập tục bó chân của người Hoa

     

     

     

  • Đỗ Hữu Vị – phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân

    Đỗ Hữu Vị – phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân

    Kỷ niệm 100 năm – Lính Việt trong Thế Chiến Thứ Nhất 1914-1918: Đại Úy Đổ Hữu Vị (1883-1916) cũng là phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân. (nguồn hình: St.-Cyr Coetquidan, Frères d’Armes).

    Đỗ Hữu Vị - phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân
    Đại úy Đổ Hữu Vị và sổ quân bạ mang số 107.924

    Đỗ Hữu Vị - phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân

    Đỗ Hữu Vị - phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân

    Xin mời xem một video Youtube ngắn (2 phút) về Đỗ Hữu Vị vừa được chiếu trên TV Pháp. Năm 2012, Pháp kỷ niệm 100 năm Thế chiến 1 nên có nhiều hình ảnh đặc biệt.
    Đỗ Hữu Vị (1883 – 1916) là con trai của Đỗ Hữu Phương (còn gọi là Tổng đốc Phương), một điền chủ giàu có lừng lẫy tiếng tăm ở Nam Kỳ khi người Pháp mới chiếm miền Nam.
    Sau khi tốt nghiệp Trường Trung học Lasan Taberd (Sài Gòn), Đỗ Hữu Vị được cha gửi qua Pháp du học tại trường Collège St.Barbe ở Paris, nói và viết Pháp văn như người Pháp. Sau 3 năm ra trường, ông xin theo học không quân tại Trường Võ bị Saint-Cyr của Pháp. Sau đó một năm, ông đã có được bằng lái máy bay do Aéroclub de France cấp và tham gia quân đội Pháp.
    Lúc bấy giờ thế giới mới phát minh máy bay nên lái máy bay được xem là rất phi thường. Tạp chí Nam Phong số tháng 2-1920 có bài viết nói rằng, Đỗ Hữu Vị là một trong những người đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp. Khi máy bay hiệu Gaudron được đem ra thử nghiệm, ông là người đầu tiên lái thử. Khi bay lên độ cao 300m thì máy bay rơi, nhưng ông may mắn thoát chết.
    Ông làm phi công tác chiến trong phi đoàn ở Maroc. Để cổ vũ tinh thần người dân thuộc địa phục vụ cho “mẫu quốc”, Pháp gửi ông về Việt Nam lái máy bay biểu diễn ở Sài Gòn và Hà Nội, dân chúng khâm phục, hãnh diện và bàn tán sôi nổi một thời.
    Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, ông trở lại Pháp tham gia đánh Đức. Trong một lần giao tranh tại sông Somme, ông bị thương nặng rồi chết, được tưởng thưởng nhiều huy chương và truy thăng đại úy. Pháp cho in hình ông trên con tem phát hành khắp Đông Dương, lấy tên ông đặt cho nhiều trường học *, nhiều đường phố ở Việt Nam thời đó.
    Nhiều tài liệu cho rằng Đỗ Hữu Vị “là người Việt Nam đầu tiên lái máy bay chiến đấu, tham gia Thế chiến thứ nhất trong quân đội Pháp” như bài viết “Nhì Phương” trong tứ đại phú (trong loạt bài Những nhân vật “Sài Gòn đệ nhất”) đăng trên báo Thanh Niên số ra ngày 24-8-2010.
    Đây là người phi công đầu tiên của VN , Đỗ Hữu Vị (1881-1916) trên máy bay Blériot, ông là con của Tổng Đốc Phương .Có vài trang web giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Đỗ Hữu Vị, như trang Diễn đàn về Thế chiến thứ nhất (Forum pages 14-18 tại địa chỉ http://pages14-18.mesdiscussions.net, viết bằng tiếng Pháp). Trang này cho biết, với những công lao đóng góp thành công như một nhà tiền phong cho không quân tại Maroc (1912-1913), ông đã được đặt tên cho một con đường tại Casablanca – thành phố được coi là thủ đô kinh tế ở miền tây Maroc, nằm trên bờ Đại Tây Dương. Trang này cũng nhắc lại câu nói của ông lúc sinh thời: “Il me faut être doublement courageux, car je suis à la fois Français et Annamite”. (“Sự can đảm của tôi phải cần gấp đôi người thường, vì tôi vừa là dân Pháp, vừa là dân Việt”.
    Đỗ Hữu Vị - phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân
    Loại máy bay Caudron G-3 trong Đại chiến thứ nhất, do Đỗ Hữu Vị lái
    Đỗ Hữu Vị - phi công Việt đầu tiên trong lịch sử Không Quân
    Phiếu ghi nơi tử trận tại làng Dompierre (Picardie) năm 1915 của Đỗ Hữu Vị.

     

    HinhanhVietNam.com tổng hợp từ internet

  • Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Ðây là đoàn lính người Việt đi làm cho Tây, còn được gọi là Lính Tập, họ nằm dưới sự chỉ huy của người Pháp, khác với người Lính Thú là lính của Việt Nam, nằm dưới quyền chỉ huy của các Vua Quan Việt Nam.

    Có nhiều loại Lính Tập : Lính ở các tỉnh, phủ, huyện gọi là lính Khố Xanh : ngang lưng có thắt cái đaixanh phía trong áo, chỉ để lòi ra 1 mảnh. Lính của chánh phủ Ðông Dương gọi là lính Khố Ðỏ (cũng thắt đai y như vậy nhưng là màu đỏ)

    Tây đã đem người Việt qua Pháp để chiến đấu trong kỳ đệ nhất thế chiến, trong đó có 43 000 quân (với 1 123 thiệt mạng) và 49 000 nhân công(1).

    (1) Tài liệu trong sách “L’Indochine en cartes postales” của Jean Noury, nhà xuất bản publi-fusion.

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính Việt trong mặt trận sông Marne, 1918 Pháp
    Lính Việt trong mặt trận sông Marne, 1918 Pháp
    Lính Việt trồng rau trong vườn của điện Versailles
    Lính Việt trồng rau trong vườn của điện Versailles
    Một đoàn lính Việt (bên Pháp)
    Một đoàn lính Việt (bên Pháp)
    Lính Việt nấu cơm (bên Pháp)
    Lính Việt nấu cơm (bên Pháp)

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Bữa cơm (bên Pháp)
    Bữa cơm (bên Pháp)
    Trong một nhà máy chế tạo súng đạn ở Pháp
    Trong một nhà máy chế tạo súng đạn ở Pháp
    Lễ phát huy chương cho quan Việt Nam ở bệnh viện Nogent-sur-Marne
    Lễ phát huy chương cho quan Việt Nam ở bệnh viện Nogent-sur-Marne
    Quân đội Việt Nam đi diễn hành (bên Pháp) trong ngày quốc khánh Pháp (1913)
    Quân đội Việt Nam đi diễn hành (bên Pháp) trong ngày quốc khánh Pháp (1913)
    Ðoàn lính Việt viễn chinh
    Ðoàn lính Việt viễn chinh
    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính Vĩnh Long

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Ngựa chiến của lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Ngựa chiến của lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Một buổi huấn luyện binh lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc
    Một buổi huấn luyện binh lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

     

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính đông dương ở Lào-Cai
    Lính đông dương ở Lào-Cai

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính đánh thuê người  Algérien
    Lính đánh thuê người Algérien
    Con lính
    Con lính
    Khánh thành đài tưởng niệm
    Khánh thành đài tưởng niệm
    Lính bị phạt
    Lính bị phạt

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Một cuộc dừng quân trong chiến dịch năm 1894
    Một cuộc dừng quân trong chiến dịch năm 1894

    Lính thuộc địa dưới thời Pháp thuộcLính thuộc địa dưới thời Pháp thuộc

    Lính đông dương ở Móng-Cái
    Lính đông dương ở Móng-Cái
    Lính phòng bị
    Lính phòng bị
    Lính thuộc địa của tiểu đoàn 10
    Lính thuộc địa của tiểu đoàn 10

    HinhanhVietNam.com sưu tầm từ free.fr

     

  • Các vị vua chúa triều đại nhà Nguyễn

    Các vị vua chúa triều đại nhà Nguyễn

    Hình ảnh các vị vua chúa triều đại nhà Nguyễn

    Vào thời đại phong kiến, chỉ cần nhìn mặt vua là cũng có thể rơi đầu vì chỉ muốn ám sát vua nên mới muốn biết mặt vua như thế nào mà thôi. Cũng nhờ vào cái tục lệ nầy mà xưa kia vua Lê Lợi đã thoát chết khi bị quân Minh vây, chỉ cần vua mặc quần áo thường là có thể chạy thoát vì không ai biết mặt vua ra sao.

    Dưới thời Pháp thuộc, các ông Vua Việt Nam đã trở thành những “tài tử” nổi tiếng để Pháp bán bưu thiệp, thời đó phải coi là một nhục quốc thể. Nhưng cũng “nhờ” vào đó mà ngày nay chúng ta mới biết được khuôn mặt của các vì vua.

    Vua Gia Long (1802-1820)

    Vua Gia Long, người thành lập Triều đại nhà Nguyễn
    Vua Gia Long, người thành lập Triều đại nhà Nguyễn
    Hoàng tử Cảnh (hình vẽ bên Pháp bởi họa sĩ Maupérin vào năm 1787)
    Hoàng tử Cảnh (hình vẽ bên Pháp bởi họa sĩ Maupérin vào năm 1787)

    Vua Minh Mạng (1820-1840)

    Vua Minh Mạng
    Vua Minh Mạng
    Ấn của vua Minh Mạng
    Ấn của vua Minh Mạng
    Lăng vua Minh Mạng ở Huế
    Lăng vua Minh Mạng ở Huế
    Cổng vào lăng vua Minh Mạng
    Cổng vào lăng vua Minh Mạng

    Vua Tự Ðức (1847-1883)

    Vua Tự Ðức
    Vua Tự Ðức
    Các bà vợ vua Tự Ðức sống đến đầu thế kỷ thứ 20
    Các bà vợ vua Tự Ðức sống đến đầu thế kỷ thứ 20

    Vua Hàm Nghi (1884-1885)

    Vua Hàm Nghi
    Vua Hàm Nghi
    Di ảnh vua Hàm nghi thờ tại lâu đài De la Nauche (France)
    Di ảnh vua Hàm nghi thờ tại lâu đài De la Nauche (France)
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie
    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie
    Dân chúng chờ đợi xe đám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie
    Dân chúng chờ đợi xe đám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie
    Ngôi mộ của vua Hàm Nghi ở làng Thonac (France
    Ngôi mộ của vua Hàm Nghi ở làng Thonac (France

    Vua Ðồng Khánh (1885-1889)

    Vua Ðồng Khánh
    Vua Ðồng Khánh

    Vua Thành Thái (1889-1907)

    Từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm. Các em của Vua Thành Thái (1891)
    Từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm. Các em của Vua Thành Thái (1891)
    Hai người vợ của vua Thành Thái
    Hai người vợ của vua Thành Thái
    Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo)
    Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo)
    Vua Thành Thái
    Vua Thành Thái
    Vua Thành Thái trong triều phục
    Vua Thành Thái trong triều phục
    Vua Thành Thái trong lúc còn tại vị
    Vua Thành Thái trong lúc còn tại vị
    Vua Thành Thái trong lúc bị đày bên đảo Réunion
    Vua Thành Thái trong lúc bị đày bên đảo Réunion
    Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)
    Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)
    Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)
    Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)
    Cựu hoàng Thành Thái về thăm Huế lần cuối (1953)
    Cựu hoàng Thành Thái về thăm Huế lần cuối (1953)
    Vua Bảo Ðại đến thăm cựu hoàng Thành Thái tại Saigon (1953)
    Vua Bảo Ðại đến thăm cựu hoàng Thành Thái tại Saigon (1953)
    Hoàng hậu Từ Minh, thân mẫu cựu hoàng Thành Thái
    Hoàng hậu Từ Minh, thân mẫu cựu hoàng Thành Thái
    Bà Ðoàn Thị Châu, thứ phi của cựu hoàng Thành Thái
    Bà Ðoàn Thị Châu, thứ phi của cựu hoàng Thành Thái

    Vua Duy Tân (1907-1916)

    Vua Duy Tân (5-9-1907)
    Vua Duy Tân (5-9-1907)
    Vua Duy Tân (19-9-1907)
    Vua Duy Tân (19-9-1907)
    Vua Duy Tân
    Vua Duy Tân
    Vua Duy Tân (1907)
    Vua Duy Tân (1907)
    Vua Duy Tân (năm 30 tuổi)
    Vua Duy Tân (năm 30 tuổi)
    Bà Nguyễn Thị Ðịnh, thứ phi của cựu hoàng Thành Thái, mẹ của vua Duy Tân
    Bà Nguyễn Thị Ðịnh, thứ phi của cựu hoàng Thành Thái, mẹ của vua Duy Tân
    Bà vương phi Mai Thị Vàng, một trong những thứ phi của vua Duy Tân (năm 72 tuổi)
    Bà vương phi Mai Thị Vàng, một trong những thứ phi của vua Duy Tân (năm 72 tuổi)
    Duy Tân và các anh chị em
    Duy Tân và các anh chị em

    Vua Khải Ðịnh (1916-1925)

    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh
    Vua Khải Ðịnh và thái tử Vĩnh Thụy tại Paris năm 1922
    Vua Khải Ðịnh và thái tử Vĩnh Thụy tại Paris năm 1922
    Bà Ân phi Hồ Thị Chỉ, vợ của vua Khải Định (theo ông Nguyễn Duy Chính ở VN)
    Bà Ân phi Hồ Thị Chỉ, vợ của vua Khải Định (theo ông Nguyễn Duy Chính ở VN)

    Vua Bảo Ðại (1925-1945)

    Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Ðại trong tương lai)
    Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Ðại trong tương lai)
    Thái tử Vĩnh Thụy  (1925)
    Thái tử Vĩnh Thụy (1925)
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại và Hoàng hậu Nam Phương
    Vua Bảo Ðại và Hoàng hậu Nam Phương
    Hoàng hậu Nam Phương, vợ của vua Bảo Ðại
    Hoàng hậu Nam Phương, vợ của vua Bảo Ðại
    Hoàng hậu Nam Phương
    Hoàng hậu Nam Phương
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại
    Vua Bảo Ðại trong một buổi lễ năm 1933
    Vua Bảo Ðại trong một buổi lễ năm 1933
    Cựu hoàng Bảo Ðại bên Pháp (tháng 12 năm 1995)
    Cựu hoàng Bảo Ðại bên Pháp (tháng 12 năm 1995)
    Cựu hoàng Bảo Ðại và chiếc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu
    Cựu hoàng Bảo Ðại và chiếc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu
    Chiếc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu
    Chiếc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu
    Thái tử Bảo Long, con của vua Bảo Ðại
    Thái tử Bảo Long, con của vua Bảo Ðại
    Thái tử Bảo Long và các quan đại thần
    Thái tử Bảo Long và các quan đại thần

    Những người trong hoàng tộc

    Một Hoàng Thái hậu (không biết tên gì)
    Một Hoàng Thái hậu (không biết tên gì)
    Ðám ma mẹ vua (không biết của ai) (1908)
    Ðám ma mẹ vua (không biết của ai) (1908)
    Ðám ma mẹ vua (không biết của ai) (1908)
    Ðám ma mẹ vua (không biết của ai) (1908)

    HinhanhVietNam.com sưu tầm từ Free.fr

  • Cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám

    Cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám

    Cuộc khởi nghĩa Yên Thế bắt nguồn tại vùng Yên Thế Thượng. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn nhất trong lịch sử đấu tranh chống Pháp của dân tộc Việt-Nam và cũng là một trong những cuộc khởi nghĩa duy nhất mà người Pháp đã lưu lại trên bưu thiệp.

    Sau hoà ước Quí-mùi (1883) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở Bắc-kỳ, Vua Việt-Nam kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp. Ðề-Ðốc Trương-Văn-Thám đã hưởng ứng phong trào này và nổi dậy chống Pháp chiếm giữ các vùng Bắc-Giang, Thái-Nguyên và Hưng-Hóa. Dân chúng gọi ông là Ðề-Thám.<

    Pháp đem quân đánh mãi mà không được nên năm 1894, Pháp phải xử hoà với ông, cho ông cai quản 22 xã trong vùng Yên-Thế, Ðề-Thám lập căn cứ ở Chợ-Gò. Dân chúng gọi ông là con “Hùm thiêng Yên-Thế”. Nhưng hai năm sau thì Ðề-Thám lại nổi lên đánh Pháp, tới năm 1898 thì Pháp lại xin ký hoà ước nhường cho ông thêm nhiều quyền lợi nữa. Ðề-Thám sống yên cho tới năm 1905 thì lại nổi dậy đánh Pháp một lần nữa (những tấm hình ông chụp với gia đình là trong khoãng nầy).
    Năm 1908, Ðề-Thám quyết định đánh một cú lớn để chiếm thành Hà-Nội nên đã âm mưu với nhiều người đầu bếp để bỏ thuốc độc (bột datura) cho 200 lính Pháp giữ thành ăn, nhưng vì liều thuốc hơi yếu nên lính Pháp chỉ bị lảo đảo chứ không chết, cuộc âm mưu bất thành.

    Ðầu năm 1909, quân đội Pháp quyết định mở chiến dịch lớn để tấn công Ðề-Thám trong tận sào huyệt, Ðề-Thám thua nên bỏ trốn vào rừng. Pháp ra giải thưởng 25.000 đồng cho ai bắt hay giết được Ðề-Thám. Có ba tay lãng tử người Tàu vì ham tiền nên tìm đến Ðề-Thám để xin gia nhập rồi thừa lúc ban đêm ông ngủ mà xúm đến chặt đầu ông đem về lãnh thưởng ngày 10 tháng 2 năm quí-sửu (18-3-1913), chấm dứt một cuộc kháng chiến trường kỳ trên một phần tư thế kỷ.

    Mời đọc giả HinhanhVietNam.com xem các bức hình rất quý về cuộc khởi nghĩa Yên Thế – Yên Bái từ năm 1884-1913

    Anh hùng Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)
    Anh hùng Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)
    Ðề-Thám và mấy người con cháu (giữa 1898 và 1905)
    Ðề-Thám và mấy người con cháu (giữa 1898 và 1905)
    Những bạn cách mạng của Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)
    Những bạn cách mạng của Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)
    Những bạn cách mạng của Ðề-Thám
    Những bạn cách mạng của Ðề-Thám
    Ðại gia đình của Ðề-Thám trước khi bị bắt hết
    Ðại gia đình của Ðề-Thám trước khi bị bắt hết
    Gia đình cha vợ của Ðề-Thám bị bắt
    Gia đình cha vợ của Ðề-Thám bị bắt
    Cha vợ của Ðề Thám bị bắt
    Cha vợ của Ðề Thám bị bắt
    Thi Nho, người vợ thứ 3 của Ðề Thám bị bắt
    Thi Nho, người vợ thứ 3 của Ðề Thám bị bắt
    The Mui, người vợ thứ 2 của Cả Rinh (con nuôi của Ðề Thám)
    The Mui, người vợ thứ 2 của Cả Rinh (con nuôi của Ðề Thám)
    The Mui bị bắt
    The Mui bị bắt
    Yên Thế, 2 nghĩa quân bị bắt (1911)
    Yên Thế, 2 nghĩa quân bị bắt (1911)
    Ngôi chùa tuyên thệ của nhóm Ðề-Thám
    Ngôi chùa tuyên thệ của nhóm Ðề-Thám
    Một nghĩa quân và Quynh, con rể của Ðề Thám ra hàng
    Một nghĩa quân và Quynh, con rể của Ðề Thám ra hàng
    Cho Go, repaire de De Tham
    Cho Go, repaire de De Tham
    Một cái thành lũy của Ðề-Thám
    Một cái thành lũy của Ðề-Thám
    Phía trong của thành lũy
    Phía trong của thành lũy
    Phía trong của thành lũy
    Phía trong của thành lũy
    Một đồn lính Pháp trong vùng Yên-Thế
    Một đồn lính Pháp trong vùng Yên-Thế
    Ðường hào của quân đội Pháp để chống lại Ðề-Thám
    Ðường hào của quân đội Pháp để chống lại Ðề-Thám
    Pháp đang xây dựng một đồn lính trong vùng Yên-Thế
    Pháp đang xây dựng một đồn lính trong vùng Yên-Thế
    Lính Pháp trong vùng Yên-Thế
    Lính Pháp trong vùng Yên-Thế
    Vận tải một tử thương (1909)
    Vận tải một tử thương (1909)
    Chôn cất một lính Pháp tử trận (1909)
    Chôn cất một lính Pháp tử trận (1909)
    Chuyên chở một thương binh (1909)
    Chuyên chở một thương binh (1909)
    Thương binh Pháp (1909)
    Thương binh Pháp (1909)
    Yên Thế, lính Pháp đang nấu ăn
    Yên Thế, lính Pháp đang nấu ăn
    Yên Thế, lính thủy quân Pháp ở Mo Trang
    Yên Thế, lính thủy quân Pháp ở Mo Trang
    Khởi nghĩa Yên Thế
    Khởi nghĩa Yên Thế
    Khởi nghĩa Yên Thế
    Khởi nghĩa Yên Thế
    Khâm-Sai Lê-Hoàn, kẻ thù truyền kiếp của Ðề-Thám
    Khâm-Sai Lê-Hoàn, kẻ thù truyền kiếp của Ðề-Thám
    Nhóm quân của Phạm Quế Thắng
    Nhóm quân của Phạm Quế Thắng
    Một người trong nhóm Ðề-Thám đang bị hỏi cung
    Một người trong nhóm Ðề-Thám đang bị hỏi cung
    Nghĩa quân bị bắt làm tù binh
    Nghĩa quân bị bắt làm tù binh
    Một người trong nhóm Ðề-Thám bị bắt
    Một người trong nhóm Ðề-Thám bị bắt
    Tù binh Ðề-Thám trên hải cảng  Alger trước khi vào tù ở Guyane
    Tù binh Ðề-Thám trên hải cảng Alger trước khi vào tù ở Guyane
    Tù binh Ðề-Thám tới hải cảng Alger
    Tù binh Ðề-Thám tới hải cảng Alger
    Những anh hùng của nhóm Ðề-Thám bị xử tử (1908)
    Những anh hùng của nhóm Ðề-Thám bị xử tử (1908)
    Thủ cấp của những anh hùng nhóm Ðề-Thám
    Thủ cấp của những anh hùng nhóm Ðề-Thám
    Thủ cấp của một anh hùng nhóm Ðề-Thám
    Thủ cấp của một anh hùng nhóm Ðề-Thám
    Tù nhân bị bắt trong vụ "Ðầu Ðộc" (1908)
    Tù nhân bị bắt trong vụ “Ðầu Ðộc” (1908)
    Bị xử trảm (1908)
    Bị xử trảm (1908)
    Thủ cấp (1908)
    Thủ cấp (1908)
  • Vài hình ảnh về Triều Đình xưa

    Vài hình ảnh về Triều Đình xưa

    Triều Ðình (gồm có Vua và các quan) là cơ quan cai trị cả nước. Mỗi tháng Triều Ðình họp Ðại Triều 2 lần, vào các ngày mùng 1 và 15 âm lịch ở điện Thái Hoà. Các quan văn võ ở Kinh Ðô phải có mặt ở sân Rồng, đứng xếp hàng theo phẩm cấp của mình, lớn trước nhỏ sau.

    Ðứng đầu các tỉnh là có quan Tổng Ðốc, sau đó là tới quan Tri Phủ, Tri Huyện và Tri Châu, các quan nầy lo việc hành pháp (áp dụng luật lệ và lo vấn đề an ninh cho dân chúng).

    Muốn được làm quan phải là người có học, phải thi đậu các kỳ thi tổ chức bởi Triều Ðình như kỳ thi ở Nam Ðịnh (xin coi phần “Từ dân lên quan”).

    Quan càng cao chức thì khi đi lại càng có nhiều lọng (dù lớn).

    Vẹ binh Huế
    Vệ binh Huế

     

    Kỵ binh
    Kỵ binh
    Kỵ binh
    Kỵ binh
    Kỵ binh
    Kỵ binh
    Vệ binh Hoàng Thành Huế
    Vệ binh Hoàng Thành Huế
    Trưởng nhóm vệ binh. Hue chef de la garde royale
    Trưởng nhóm vệ binh. Hue chef de la garde royale
    Tượng binh
    Tượng binh
    Voi lạy
    Voi lạy
    Các quan chầu trong Sân Rồng
    Các quan chầu trong Sân Rồng
    Các quan chầu trong Sân Rồng
    Các quan chầu trong Sân Rồng
    Các quan đang làm lễ tế Nam Giao
    Các quan đang làm lễ tế Nam Giao
    Một ông quan uống trà
    Một ông quan uống trà
    Một ông quan tỉnh
    Một ông quan tỉnh
    Một ông quan nhà Nguyễn
    Một ông quan nhà Nguyễn
    Một ông quan lớn
    Một ông quan lớn
    Quan đi võng
    Quan đi võng
    Quan đi ngựa
    Quan đi ngựa
    Tổng Ðốc Hà Nội
    Tổng Ðốc Hà Nội
    Tổng Ðốc Hà Nội (1885)
    Tổng Ðốc Hà Nội (1885)
    Một ông quan và vợ
    Một ông quan và vợ
    Một ông quan
    Một ông quan
    Ðĩnh đồng
    Ðĩnh đồng
    Cư dinh của Hội trưởng Tôn Nhân phủ (hội đồng Hoàng tộc)
    Cư dinh của Hội trưởng Tôn Nhân phủ (hội đồng Hoàng tộc)
    Các quan lại
    Các quan lại
    Các quan lại
    Các quan lại
    Một quan lớn của triều đình
    Một quan lớn của triều đình
    Một ông Quan Huyện và các quan Châu
    Một ông Quan Huyện và các quan Châu
    Một quan Tri Châu
    Một quan Tri Châu
    Thái giám
    Thái giám
    Một người hầu của Vua
    Một người hầu của Vua
    Một người đánh chuông
    Một người đánh chuông
    Một cổng vào của thành xưa
    Một cổng vào của thành xưa
    Súng thần công
    Súng thần công
    Ban lễ nhạc
    Ban lễ nhạc
    Nhạc công trong hoàng cung
    Nhạc công trong hoàng cung

    HinhanhVietNam tham khảo từ free.fr

  • Cộng đồng Người Kinh (Việt) ở Trung Quốc

    Cộng đồng Người Kinh (Việt) ở Trung Quốc

    Đối với chúng ta, rất ít người biết có một cộng đồng rất nhỏ (khoảng 22,000) người Jing (người Kinh) sống ở Tam Đảo (Quảng Tây, Trung Quốc) là một “khám phá” gây nhiều cảm xúc. Rồi lúc được biết họ đã rời xa Việt Nam 500 năm mà vẫn cố gắng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Việt trước sức đồng hóa rất mạnh của TQ, xem những điệu múa, đánh đàn bầu, nghe họ hát tiếng Việt làm ta xúc động…

    Vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa. Người Kinh tại đây là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

    Người Kinh ở Trung Quốc mặc áo dài truyền thống
    Người Kinh ở Trung Quốc mặc áo dài truyền thống

    Thời gian trôi qua, nhóm người Việt này đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy họ vẫn nói tiếng Việt. Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), gọi chung là Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Choang Quảng Tây (cách cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam chừng 25 km) nhưng tiếng Việt của họ đã pha trộn nhiều với tiếng Hoa kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt.

    Họ được coi là cộng đồng người Kinh chủ yếu và còn mang nhiều bản sắc văn hóa Việt Nam nhất tại Trung Quốc với tư cách là một trong 56 dân tộc của đất nước này (không bao gồm cộng đồng người Việt mang quốc tịch Việt Nam hiện đang học tập và làm việc tại Trung Quốc)

    Tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung, tên gọi “Kinh tộc Tam Đảo”, có nghĩa là “Ba hòn đảo của người Kinh”, hiện vẫn được dùng tương đối phổ biến để chỉ cộng đồng người Kinh này cũng như để chỉ địa bàn sinh sống tập trung của họ tại ba hòn đảo nói trên (nay đã trở thành bán đảo do phù sa bồi lấp và nhờ chính quyền cùng nhân dân địa phương đã đắp đê, làm đường nối các đảo với đất liền).

    Vị trí Tam Đảo mà người Kinh sinh sống
    Vị trí Tam Đảo mà người Kinh sinh sống

    Với lịch sử định cư trải qua hơn 500 năm, hầu hết cư dân người Kinh ở khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm) cũng như một vài nơi khác ở Quảng Tây (chủ yếu tập trung tại Đông Hưng) đều có chung nguồn gốc là người Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam), còn lại số ít người Kinh trong đó có nguồn gốc từ một vài địa phương ven biển của Việt Nam di cư đến. Theo điều tra dân số tại Trung Quốc vào năm 2000, dân số người Kinh riêng tại khu vực nói trên là khoảng hơn 18.000 người trong tổng số trên dưới 22.000 người dân tộc Kinh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, một con số được coi là rất khiêm tốn nếu so với nhiều dân tộc khác đang cùng sinh sống trên đất nước đông dân nhất thế giới này.

    Người Kinh đánh trống trong một lễ hội
    Người Kinh đánh trống trong một lễ hội

    Dòng họ Tô là một dòng họ lớn và được xem là có ảnh hưởng nhất trong cộng đồng các dòng họ người dân tộc Kinh tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung. Họ Tô là một trong 12 dòng họ người Kinh hay còn gọi là người Việt gốc Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam). Nhiều người trong họ Tô đã có công nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống của người Kinh đồng thời cũng là cội nguồn của văn hóa Việt Nam đến nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn dù cho dân số của người Kinh tại Trung Quốc là rất khiêm tốn nếu so với nhiều cộng đồng dân tộc khác của đất nước này. Trải qua hơn 500 năm định cư trên đất Trung Quốc, hiện dòng họ Tô cũng như một số dòng họ người Kinh khác không chỉ tập trung sinh sống tại khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm) mà đã phân tán ra nhiều địa bàn khác quanh khu Phòng Thành Cảng của tỉnh Quảng Tây.

    Người Kinh đánh trống trong một lễ hội
    Người Kinh đánh trống trong một lễ hội

    Ngôn ngữ

    Người Kinh tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay tiếng Việt và sử dụng phổ biến chữ Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương là tiếng Quảng Đông và sử dụng Hán tự. Tuy nhiên, về ngữ pháp, người Kinh không nói ngược như dân Hán mà vẫn nói xuôi theo lối giao tiếp của người Việt.

    Phong tục

    Y phục của người Kinh đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ thích đeo khuyên tai, tóc rẽ ngôi ở giữa dùng vải đen hay khăn đen bọc lấy và vấn xung quanh đầu. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.

    Ngày nay, người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số người già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn vấn tóc và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác.

    Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau.

    Dân tộc Kinh tại Trung Quốc
    Dân tộc Kinh tại Trung Quốc

    Ẩm thực

    Về ẩm thực, người Kinh ở Tam Đảo ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn các loài hải sản như cá, tôm, cua. Đặc biệt, họ làm nước mắm từ cá biển để chấm và nêm thức ăn. Những món ăn ưa thích của họ là bánh đa làm bằng bột gạo có rắc vừng nướng trên than hồng mà sách Trung Quốc gọi là phong xuy hỉ (bánh phồng do gió thổi) và bún riêu, bún ốc sách Hán tự ghi là hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc.

    Tín ngưỡng, tôn giáo

    Tôn giáo chủ yếu là Phật giáo đại thừa và Đạo giáo. Ngoài ra họ còn duy trì tục cúng thần linh và tổ tiên.

    Người Kinh trong một lễ hội
    Người Kinh trong một lễ hội

    Sinh hoạt văn hóa

    Họ ưa thích lối hát đối đáp giao duyên (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ở miền Bắc Việt Nam bây giờ. Lối hát đúm hát đối này thường được tổ chức vào ngày Tết, ngày Hội. Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống, cồng và đàn bầu (độc huyền cầm) là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôi. Họ có một kho tàng văn học dân gian truyền khẩu phong phú với ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích… Những điệu múa ưa chuộng của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

    Y phục và nhạc cụ của người Kinh tại Quảng Tây
    Y phục và nhạc cụ của người Kinh tại Quảng Tây

    Đời sống kinh tế

    Người Kinh tại khu vực Tam đảo hoạt động chủ yếu trong các ngành như ngư nghiệp (đánh bắt, nuôi trồng hải sản, nông nghiệp, dịch vụ du lịch. Ngoài ra, một bộ phận dân cư hoạt động trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ.

    Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch nhiều. Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệu. Nước biển của vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ, và kê. Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất nhiều. Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da.

    Người Việt Nam cho dù ở đâu vẫn là người Việt Nam!

    Theo Truongsahoangsa.info