Category: Con Lạc cháu Hồng

  • Ảnh thiếu nữ Việt khỏa thân thời Pháp thuộc

    Ảnh thiếu nữ Việt khỏa thân thời Pháp thuộc

    ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1) ẢNH KHỎA THÂN THIẾU NỮ VIỆT NAM - ẢNH nude việt nam xưa (1)

    Những bức ảnh phụ nữ Việt khỏa thân này nằm trong số hàng nghìn bức ảnh chân thực về Việt Nam dưới thời Pháp thuộc của nhà nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Pháp Pierre Dieulefils (1862-1937).

    Ông đã mô tả rất chân thực hình ảnh và cuộc sống của những tầng lớp người Việt Nam dưới thời Pháp cai trị. Những bức ảnh đó được đánh giá cao bởi tính chân thực, giàu tính tư liệu, được chụp bởi tay máy chuyên nghiệp biết tôn trọng văn hoá bản địa, và còn được chụp với với một tinh thần dân tộc học rõ nét nhằm truyền đạt những thông tin văn hóa bằng hình ảnh.

    Năm 1885, Pierre Dieulefils gia nhập pháo binh Pháp ở Bắc Kỳ. Năm 1886, ông mở triển lãm ảnh đầu tiên của mình tại Hà Nội.

    Từ năm 1888, sau khi giải ngũ, ông hành nghề ảnh tại Hà Nội. Năm 1889, ông đoạt huy chương đồng tại Exposition Universelle tại Paris nhờ những bức ảnh chụp tại Đông Dương.

    Ông cưới vợ là bà Marie Glais năm 1889 và đưa vợ sang sống tại Hà Nội. Năm 1900 ông đoạt huy chương vàng tại Exposition Universelle tại Paris. Năm 1910, ông lại đoạt huy chương vàng tại l’Exposition Internationale de Bruxelles.

    Bộ ảnh này sau đó được nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain mua và lưu giữ. Mời độc giả thưởng thức trọn vẹn cả bộ ảnh đậm chất văn hóa và nghệ thuật này.

    Thêm một số bức ảnh nude thời xưa :

    anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20) anh nude thoi xua viet nam - anh khoa than con gai vietnam xua (20)

     

     

    Hình Ảnh Việt Nam sưu tầm từ nhiều nguồn.

  • Hoạn quan trong Sử Việt

    Hoạn quan trong Sử Việt

    Thái giám Vương triều Nguyễn
    Thái giám Vương triều Nguyễn

    Sử sách của ta chỉ chép tỉ mỉ từ đời Lý, trước đó nước ta có hoạn quan hay không thì không rõ, nhưng xét ra có lẽ chế độ hoạn quan của ta bắt chước Trung quốc.

    Theo các sách Chu lễ và Kinh lễ thì đời nhà Chu các hoạn quan chỉ giữ việc quét dọn, canh phòng, hầu hạ trong cung cấm, thường được gọi là Tư nhân, hay Yêm doãn (yêm = thiến, doãn = trưởng quan) sau mới đổi ra hoạn quan nghe tôn quý hơn. (Ở Việt Nam thường gọi là : nội thị, quan thị, nội giám, ông Giám, ông Bõ).

    Tuy tổng số có thể lên đến 3000 người, nhưng chỉ mộ số ít được giữ việc chuyển đạt mệnh lệnh của vua đến các phi tần. Những người này đều có tên khắc chữ vàng trên thẻ ngọc. Mỗi khi vua muốn triệu ai thì chọn thẻ giao cho viên nội giám giữ việc ấy để đem đèn đến treo trước cửa người cung phi được chọn. Cô này thấy hiệu bèn trang điểm rồi trút bỏ xiêm y, viên nội giám dùng một cái áo choàng rộng màu đỏ bọc lại rồi ẵm đến tận cung vua. Sau đó viên này phải ghi rõ ngày giờ vào sổ để nếu sau có sinh con trai thì đó là bằng chứng.

    Theo ông Hoàng Xuân Hãn thì từ cuối đời Hán hoạn quan mới tiếm quyền trong triều, nắm giữ cả văn ban lẫn võ ban, kết giao với các đại thần, gây vây cánh…

    Năm 1653, vua thấy hoạn quan lũng đoạn triều chính thái quá bèn ra sắc lệnh không cho những người này làm quan quá tứ phẩm, cấm dự bàn quốc sự, cấm không đuợc giao hảo với các đại thần, nếu không sẽ bị họa phân thây. Tuy nhiên, trên thực tế, đạo luật này ít khi được áp dụng.

    I.- NHỮNG HOẠN QUAN DANH TIẾNG Ở NƯỚC TA

    * Đời Lý

    . Lý Nhân Nghĩa.

    Nói đến hoạn quan đời Lý ai cũng nghĩ ngay đến Lý Thường Kiệt nhưng viên hoạn quan đầu tiên được nêu tên trong sử lại là Lý Nhân Nghĩa.

    Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, thái tử Phật Mã lên ngôi, ba vương là Đông Chính, Dực Thánh và Vũ Đức mưu phản, đem quân mai phục trong Long Thành và ngoài cửa Quang Phục. Thái tử biết có biến sai vệ sĩ phòng giữ và sai bọn hoạn quan đóng các cửa điện, nhưng dùng dằng không nỡ quyết liệt với anh em. Nội thị Lý Nhân Nghĩa xin ra đánh, tâu : ” Nay ba vương làm phản thì là anh em hay cừu địch ?…Tiên đế cho điện hạ là người có đức, có thể nối được chí nên lấy thiên hạ phó thác cho điện hạ, nay giặc đến tận cửa cung mà ẩn nhẩn như thế thì đối với sự phó thác của tiên đế ra sao ? “. Thái tử lẳng lặng hồi lâu nói : ” Vì ta muốn giấu tội ác của ba vương cho tự ý rút quân để trọn nghĩa anh em “. Sau thấy ba vương đánh gấp, thái tử liền ủy cho bọn Lý Nhân Nghĩa và cung quan là Dương Bình, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu đánh dẹp. Hiểu giết được Vũ Đức, còn Đông Chinh và Dực Thánh chạy thoát.

    Đến tháng tư năm 1028, vua Thái Tông đi đánh phủ Trường Yên, cũng giao cho Lý Nhân Nghĩa ở lại giữ kinh sư, phòng Khai quốc vương làm phản (1).

    Xem thế đủ biết Lý Nhân Nghĩa không phải loại hoạn quan nô bộc mà là người có quyền can gián vua và rất được vua tín nhiệm.

    . Lý Thường Kiệt (1019-1105).

    Lý Thường Kiệt quê ở Thăng Long, húy là Tuấn, tự là Thường Kiệt. Người cha sung chức Sùng ban lang tướng. Năm Thường Kiệt 13 tuổi thì mồ côi cha. Người chồng của cô là Tạ Đức thấy có chí bèn gả cháu gái là Thuần Khanh và dậy cho binh thư Tôn Ngô. Trước năm 1040 Thường Kiệt cũng được học đạo Nho.

    Nhờ phụ ấm, lúc đầu giữ một chức quan nhỏ là Kỵ mã hiệu úy. Năm 23 tuổi (1041) sung chức Hoàng môn chỉ hậu, khi ấy đã là hoạn quan. Có hai thuyết nói về việc Thường Kiệt tự hoạn :

    – Vì vua thấy Thường Kiệt mặt mũi đẹp đẽ nên cho ba vạn quan bảo tự hoạn để vào cung hầu hạ ;

    – Vua Thái Tông đánh Chiêm Thành bắt được Nùng Trí Cao lại tha về. Thường Kiệt can ngăn, vua cho là thất lễ bắt phải tĩnh thân, sau đó triệu cho vào hầu cận.

    Thuyết đầu có lẽ có lý hơn vì em ông là Thường Hiến cũng là hoạn quan, chẳng lẽ vua cũng bắt tự hoạn chỉ vì Thường Kiệt ” thất lễ ” ? Ông Hoàng Xuân Hãn còn vạch ra rằng từ khi bình Chiêm, tha Nùng Trí Cao đến khi bắt Thường Kiệt tự hoạn rồi lại trọng dụng chỉ vỏn vẹn có mấy tháng, thời gian hơi ngăén để làm đủ từng ấy chuyện.

    Vào cung chưa được một kỷ (12 năm) Thường Kiệt được thăng Đô Tri, coi tất cả mọi việc trong cung cấm.

    Năm 1054, vua Lý Thánh Tông lên ngôi, Thường Kiệt sung chức Bổng hành quân quốc Hiệu úy, rồi Kiểm hiệu Thái bảo, một chức rất cao tại triều.

    Năm 1601, vua sai ông dẹp loạn ở cõi Tây nam, Man Lào.

    Năm 1069, vua Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, phong ông làm Đại tướng, cho em ông là Thường Hiến giữ chức Tân kỵ vũ úy. Thường Kiệt bắt được Chế củ, Củ dâng đất chuộc tội được tha về. Thường Kiệt thăng Phụ quốc Thái phó (chức thứ ba trong hàng Tể chấp) Đao Thụ Nam bình Tiết độ sứ (chức thứ hai trong hàng tướng) Thượng Trụ quốc, Khai quốc công, Thiên tử nghĩa nam (hàng vương). Sau lại thăng Thái Úy Đồng Trung Thư môn hạ Bình chương sự (chức thứ hai sau Thái sư Lý Đạo Thành) trông nom quốc chính.

    Năm 1072, Thánh Tông mất, Nhân Tông là con Ỷ Lan Thái phi lên ngôi. Lý Đạo Thành ở ngôi Tể tướng đã 18 năm, nay làm Phụ chính, tôn Thượng Dương Thái hậu lên chấp chính nhưng Thường Kiệt lại tôn phò Ỷ Lan, chia thành hai phe. Bốn tháng sau phe Thường Kiệt thắng, Lý Đạo Thành bị giáng chức.

    Năm 1073, vua Nhân Tông ban cho Thường Kiệt chức Đôn quốc Thái úy, Đại tướng quân, Đại Tư đồ coi việc văn võ kiêm cả chức cấm quan.

    Năm 1075, nhà Tống định thôn tính nước ta, Thường Kiệt biết ý đón đánh, Tống quân thất bại phải lui về.

    Năm sau nhà Tống sang báo thù, nhưng thủy quân không tinh nhuệ bằng quân Nam, lại thất bại lần nữa. Thường Kiệt không muốn chiến tranh kéo dài, dùng biện sĩ dàn hòa. Năm 1077 Tống lui binh, tổn thất binh sĩ, tiền của rất nhiều mà chỉ chiếm được có 5 châu miền rừng núi. Thường Kiệt lại dùng mưu kế chiếm lại 5 châu, khi thì dùng vũ lực, lúc xúi dân cướp phá, hoặc giảng hòa đòi đất…

    Khi đánh Tống, ông làm bài thơ khuyến khích quân sĩ, nay còn lưu truyền :

    Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.dịch nghĩa :

    Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
    Phận định nghìn xưa tại sách Trời.
    Như bọn giặc nào sang cướp lấn,
    Là thua tan hết lũ bay coi.

    (Đại Việt sử lược, tr. 159)

     

    Năm 1082, vua Nhân Tông trưởng thành, tự cầm quyền chính, cho Thường Kiệt ra trấn giữ Thanh Hóa trong 19 năm.

    Đến 1101, Thường Kiệt được triệu về kinh coi hết các việc trong ngoài cung điện.

    Năm 1104, Chiêm Thành quấy nhiễu miền nam, Thường Kiệt lúc ấy đã 85 tuổi, kéo quân vào, quân Chiêm vội lui, Thường Kiệt cũng không đuổi theo. Vua chế bài hát tán dương công trạng Thường Kiệt, lại ban thêm chức tước.

    Năm 1105, Lý Thường Kiệt mất ở kinh đô, thọ 86 tuổi. Mộ táng ở làng Yên Lạc, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Được truy phong Nhập nội điện, Đô tri Kiểm hiệu Thái úy, Bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, cho thực ấp vạn hộ(2).

    * Đời Trần

    . Phạm Ứng Mộng. Sử chép năm 1253, vua Trần Thái Tông một hôm chiêm bao thấy thần nhân trỏ vào một người bảo có thể làm Hành khiển (chức Tể tướng thứ hai, chế độ nhà Lý dành cho hoạn quan). Đến năm 1254, một hôm đi chơi ngoài thành, vua gặp một người giống hệt người trong mộng bèn cho 400 quan tiền bảo tự thiến để vào hầu, đặt tên là Ứng Mộng. Sau quả nhiên làm đến chức Hành khiển(3).

    Theo Samuel Baron(4) thì đời Trần có một trong ba hoạn quan danh tiếng tên là ” Ong Ja Tu Lea ” (” Ong Ja ” trỏ vào người đáng kính) nổi tiếng vừa nhờ tài trí, thăng chức mau chóng, vừa vì cái chết bi thảm. Chính ông là người vua Trần đã thấy trong mộng và cho tiền để tự hoạn, sau làm quan càng ngày càng quyền cao, chức trọng, được mọi người kính nể, xu nịnh, sợ hãi còn hơn sợ vua. Do đó vua chán ghét, cuối cùng hạ lệnh xử tử bốn ngựa phanh thây, đem xác đốt thành tro, đổ xuống sông. Như thế thì ” Ong Ja Tu Lea ” hẳn là Phạm Ứng Mộng, song không thấy sử chép Phạm Ứng Mộng còn có tên là ” Tu Lea “, và cũng không thấy nói Phạm Ứng Mộng bị xử tử.

    * Đời Lê

    . Lương Đăng. Tháng giêng năm 1437, Vua Lê Thái Tông sai Hành khiển Nguyễn Trãi cùng với Lỗ bộ ty giám Lương Đăng đốc làm loan giá, nhạc khí, dậy tập nhạc và múa. Đến tháng 5, Nguyễn Trãi tâu : ” Bọn thần sở kiến không giống nhau, thần xin trả lại mệnh ấy “. Lương Đăng dâng nhạc mới bắt chước quy chế của nhà Minh, định các nghi thức đại triều. Vua theo đề nghị của Lương Đăng, sai chép lại các nghi thức ấy treo ở ngoài cửa Thừa Thiên. Vua lễ yết Thái miếu, các quan mặc triều phục làm lễ bắt đầu từ đấy.

    Bọn hành khiển Nguyễn Trãi, Tham Tri hạ tịch Nguyễn Tuyển, Đào Công Soạn, Nguyễn văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu tâu : ” Đặt lễ, làm nhạc, được như Chu Công thì mới không có ai chê trách. Nay sai kẻ hoạn quan Lương Đăng một mình định lễ nhạc, cả nước chẳng nhục lắm ư ? Lễ nhạc của y không bằng cứ vào đâu, như đánh trống là báo giờ ra chầu buổi sớm, nay vua ra chầu rồi mới đánh trống. Theo quy chế xưa, lúc vua ra, bên tả đánh chuông hoàng chung, rồi 5 chuông bên hữu ứng theo. Nay vua ra chầu đánh 108 tiếng chuông, đó là số nhà sư lần tràng hạt… Làm xe thì đằng trước có diềm, đằng sau mở cửa, nay mở cửa ở đằng trước, quy chế đời xưa như thế sao ?… ” Đăng tâu : ” Thần không có học thuật, không biết quy chế đời xưa, nay làm ra chỉ biết hết kiến thức của thần, việc nên thi hành hay không là quyền ở bệ hạ, thần đâu dám chuyên “. Nguyễn Liễu nói : ” Từ xưa chưa có hoạn quan nào chuyên phá hoại thiên hạ như thế “. Hoạn quan Đinh Thắng từ bên trong mắng ra : ” Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước “. Bèn giao Liễu cho hình quan xét tội, xét án xong, tội đáng chém, vua đặc chỉ cho thích chữ vào mặt, lưu ra viễn châu(5).

    Vua coi chầu lúc ra lúc vào có đập roi dẹp đường bắt đầu từ đấy.

    Tháng 10, Lương Đăng thăng chức Đô giám. An phủ sứ Lạng Sơn, Bùi Cầm Hổ can : ” Tiên đế thấy Lương Đăng biết chút chữ nghĩa cho làm nội nhân Phó chưởng, nhưng rồi thấy hắn chỉ khúm núm bề ngoài, không thẳng thắn, không thể gần gũi được mới cho ra làm văn đội. Thế mà nay cho lên chức quan to, xin bệ hạ nghĩ lại “(6).

    Lương Đăng làm quan to nhưng không tham dự triều chính, không kết bè đảng nắm giữ quyền uy, không giết hại ai, chỉ vì đặt quy chế lễ nhạc không giống với Trung Quốc mà bị các đại thần xúm nhau lại chê trách.

    . Hoàng Công Phụ sinh quán ở Thăng Long, đẻ ra đã có khuyết tật. Năm 14 tuổi vào hầu trong phủ Chúa Trịnh, dần dần được Chúa tin dùng, uy quyền tột bậc.

    Năm 1739, Trịnh Giang nghe lời Hoàng Công Phụ triệu sĩ tử vào thi ở phủ đường, cho Trịnh Tuệ đỗ Tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh. Không đầy vài năm Tuệ làm đến chức Tham tụng đứng đầu các quan trong phủ chúa.

    Trịnh Giang mắc bệnh kinh quy, sợ sấm sét, Phụ sai đào hầm làm cung Thưởng Trì cho ở, không ra đến ngoài nữa, nói vì dâm dục quá nên ác báo. Rồi Phụ cùng Trịnh Tuệ và đồ đảng chuyên quyền, giết hại đại thần không kiêng kỵ sợ hãi ai, phủ dịch nặng nề, lòng dân oán thán. Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương xui dân làm loạn, người các xứ Đông, Nam, Bắc theo rất nhiều.

    Năm 1740, Thái phi Vũ Thị, mẹ Trịnh Giang và Trịng Doanh, muốn triệt bớt uy quyền của Phụ, cho Doanh lập ” Phủ đề nhiếp “. Phụ ghét Doanh sáng suốt, quả quyết, chỉ cho ở nhà nhỏ phía nam phủ chúa, lại cấm các quan không được dùng chữ ” Bẩm ” khi tâu với Doanh mà phải dùng chữ ” Thân ” (=Trình).

    Khi tin cáo cấp về Nguyễn Tuyển đến kinh, Phụ nghĩ Tuyển trước ở nhà mình, có quen biết, muốn thân đi vỗ yên, đem hết binh lính bản bộ theo, bỏ kinh thành trống. Bọn Nguyễn Quý Kính muốn ép Doanh lên ngôi. Nội giám Phan Lại Hầu lên tiếng hặc, Tào Thái đem sắc chỉ của vua đến, Phan đứng cạnh la trách. Đô đốc Đồng tri Trịnh Khuông mắng là vô lễ, sai giam ngục. Nguyễn Công Thái truyền ý chỉ của Thái phi, Khuê quận công Giáp Nguyễn Khoa (hoạn quan) lên lầu nổi hiệu trống, các quan lạy mừng Doanh lên ngôi.

    Năm 1761, Doanh đặc biệt thưởng công mười người phò lập mình, trong số đó có Giáp Nguyễn Khoa Khuê quận công được ruộng thái ấp để hưởng lộc.

    Không thấy sử chép số phận Hoàng Công Phụ ra sao(7).

    . Phạm Huy Đỉnh ( ?- 1776)

    người xã Cao Mỗ huyện Thần Khê. Khi Trịnh Sâm còn là Thế tử, Chính phi của Trịnh Doanh là Nguyễn Thị Vinh, ngăn không cho Sâm ngồi cùng mâm với Thái tử Lê Duy Vĩ để giữ lễ vua tôi. Sâm căm giận Thái tử, sau khi lên cầm quyền, năm 1769, mưu với Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Đỉnh vu cho Thái tử thông dâm với cung nhân của Trịnh Doanh, sai Đỉnh đem thân binh đi bắt. Thái tử biết, trốn vào tẩm điện của vua. Đỉnh đến Đông cung không tìm thấy, đi thẳng vào điện vua kể tội Thái tử, điệu về phủ Chúa. Sâm sai lập án, bắt vua ký, giáng Thái tử làm thường dân, giam lại. Năm 1771, lại vu cho bọn Trần Trọng Lâm, Nguyễn Hữu Kỳ…muốn cướp ngục đem Thái tử ra. Sâm sai tra tấn, Vũ Bá Xưởng đau quá nhận bừa. Thái tử bị ghép tội xử giảo.

    Năm 1773, Đỉnh thăng chức Thự phủ sự (Tể tướng) phủ Chúa. Lê Quý Đôn tuy tài giỏi, nhưng cả Trịnh Doanh và Trịnh Sâm đều không trọng dụng, phải kết giao với Đỉnh, sau được giữ chức Bồi tụng (Phó Tể tướng).

    Sâm lại nghe Hoàng Ngũ Phúc cho Đỉnh làm Hiệp đốc suất đạo Thanh Hoá, tước Công hai chữ (nhỏ hơn tước Công một chữ, như Bằng Công thì cao hơn Bằng Trung Công), phong là Đại vương.

    Năm 1776, Thự phủ sự Thiều quận công Phạm Huy Đỉnh mất ở Nghệ An, truy phong Phúc thần.

    Đỉnh là người có tính đố kỵ, hà khắc, thâm độc, nhiều lần gây ra những vụ án lớn như vụ giết Thái tử Duy Vĩ(8).

    . Hoàng Ngũ Phúc (1713 – 1776)

    người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, xứ Kinh Bắc. Lúc trẻ tự hoạn để được vào hầu trong cung.

    Năm 1740, giữ chức Tả Thiếu giám, tước Việp Trung hầu.

    Năm 1743, đề xuất 12 điều quân pháp, được Trịnh Doanh cho thi hành.

    Từ 1744 đến 1750, cùng Phan Đình Trọng dẹp loạn Nguyễn Hữu Cầu, thu phục lại Kinh Bắc. Cầu phải chạy vào Nghệ An. Phúc được phong Trấn thủ Kinh Bắc kiêm thống lĩnh Bắc đạo, tước Việp quận công.

    Năm 1751 đánh Nguyễn Doanh Phương, bắt được ở Lập Thạch, công bậc nhất, được phong Đại Tư đồ, Trấn thủ Sơn Nam.

    Đến 1765 được ban kim bài khắc bốn chữ ” Dự quốc đồng hưu ” (cùng hưởng yên vui, sung sướng với nước).

    Năm 1769 cùng Trịnh Sâm và Phạm Huy Đỉnh vu tội cho Thái tử Duy Vĩ rồi đem giết.

    Đến 1774, xin về hưu, được ban cho hiệu Quốc lão.

    Sau Sâm lại triệu ra phong Thượng tướng, sai đem 36000 quân thủy bộ đánh dẹp miền Nam, Phúc luôn luôn thắng trận, tiến đến Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan, chúa Nguyễn phải bỏ chạy.

    1775 tiến vào Quảng Nam, chiếm được hai đồn Câu Dê và Trung Sơn rồi mới cho quân tạm nghỉ.

    Vì mắc bệnh tê liệt, được trở về Thăng Long. Trên đường về kinh sư, mất ở trên thuyền tại Vĩnh Dinh (Nghệ An) năm 1776.

    Hoàng Ngũ Phúc tư thế oai phong, quân lệnh nghiêm minh, hành quân rất có kỷ luật. Khi chiếm được Phú Xuân, Phúc thu nhặt những thứ quý giá dâng chúa Trịnh, còn thì niêm phong.

    Thuộc hạ Thế trung hầu Hoàng Đình Thể cướp của dân, Phúc sai Uông Sĩ Điển tra hỏi, đem trả lại dân rồi không bàn đến chuyện thưởng công đánh được Lũy Thầy.

    Với Nguyễn Nhạc, Phúc tỏ ra viên tướng biết quyền bính, thay triều đình làm tờ hiểu dụ, ban cho Nhạc mũ áo…

    Khi Phúc đi Nam chinh, Sâm mấy lần gửi trát thăm hỏi, đưa chỉ dụ khen, thưởng vàng bạc, quần áo đồ dùng, sâm quý vài mươi lạng, cho chạy ngựa trạm đem đến. Lại thăng cho làm Đại Trấn thủ Thanh Hoá…

    Phúc ốm nặng còn gửi khải về tâu bàn với Chúa khoan đánh Quảng Nam, hãy cho quân sĩ nghỉ ngơi vài năm, Sâm nghe theo.

    Khi Phúc mất, Sâm bãi chầu.

    Phúc có tiếng là người cẩn trọng, việc lớn nhỏ trong quân đều tự mình xem xét, dụng binh không cậy may rũi, xử sự quả quyết, trung tín, rất được lòng người. Nguyễn Hữu Chỉnh coi Phúc là quan thầy.

    Phúc không có con, nuôi người cháu là Hoàng Đình Bảo (tức quận Huy) làm con nuôi. Bảo lại lấy con gái chúa Trịnh Doanh. Vây cánh, thuộc hạ của Phúc đầy triều, quyền uy lừng lẫy dến nỗi dân chúng đồn là Phúc muốn cướp ngôi để lập ” Triều đình Hoàng thị ” sau này truyền cho Bảo, đặt ra những lời sấm truyền :

    ” Thổ sất vân yểm nguyệt ” = con rể là đám mây che mặt trăng (chỉ chữ ” tế ” = con rễ, tức Hoàng Đình Bảo).

    ” Hoàng hoa nhật điệu hương ” = hoa vàng càng ngày càng tỏa hương thơm (chỉ chữ ” Việp “, tức Hoàng Ngũ Phúc).

    Còn có câu ” Một lợn đuổi đàn dê ” vì Bảo tuổi hợi (con lợn) còn Sâm và Khải đều tuổi mùi (con dê) ; Bảo trước tên là Đăng Bảo, có thể hiểu là �lên ngôi vua “, Phúc muốn tránh hiềm nghi cho đổi ra Tố Lý, sau mới đổi lại thành Đình Bảo.

    Phúc là một viên tướng lỗi lạc, chiến công, danh vọng nhiều, đối với chúa Trịnh tỏ ra hết lòng trung trực, duy có chuyện nhúng tay vào vụ giết Thái tử Duy Vĩ là một hành động không được quang minh.

    Sau khi chết được truy tặng Thượng đẳng Phúc thần(9).

    * Đời Nguyễn

    . Lê văn Duyệt (1763 – 1832)

    sinh quán làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi.

    Năm 1780, Nguyễn Ánh biết Duyệt có khuyết tật, sung làm Thái giám nội dinh.

    Năm 1800, Duyệt dùng hỏa công đốt thuỷ trại Tây Sơn ở cửa bể Thị Nại, thu phục Qui Nhơn.

    1812, làm Tổng trấn Gia Định cho đến 1816 thì về kinh.

    1820 lại ra giữ chức Tổng trấn Gia Định cho tới khi mất.

    Duyệt là một viên tướng tài, giúp Chúa Nguyễn Ánh đánh Trịnh, dẹp Tây Sơn, biết quyền biến.

    Tuy có tính trực ngôn nhưng ngoại giao cũng khôn khéo. Khi sứ Xiêm đến Hà Tiên, năm 1820, không chịu trình quốc thư, lời lẽ có chỗ không hợp lệ, triều đình giao cho ông tuỳ nghi hành sự, ông bắt bẻ, sứ Xiêm phải nhận lỗi và nhất nhất vâng lời. Sứ Xiêm đem vàng bạc tặng, ông không nhận(10).

    Là một nhà chính trị xuất sắc, ông rất được lòng dân, người ta tôn xưng ông là Đức Thượng công.

    Cả hai vua Gia Long và Minh Mệnh đều biệt đãi ông. Khi cha ông tạ thế, năm 1827, triều đình không những gia phong chức tước, ban tiền bạc, còn sai quan đến tế và 300 lính hộ tang. Khi ông ốm ở Gia Định, cũng được tạm nghỉ việc để điều dưỡng, lại cho phép con ông là Kiêu kỵ đô uý Lê văn Yến đi thăm nom.

    Theo người Pháp thì khi vua Gia Long mất, ông có ý muốn tôn phò dòng chính thống, hậu duệ của Hoàng tử Cảnh, lại khi vua Minh Mệnh lên cầm quyền, ông khuyên can không nên bạc đãi những công thần người Pháp nên bị vua để bụng ghét. Sau khi ông mất, năm 1833, vua giao cho triều đình nghị tội mưu phản, san bằng ngôi mộ, dựng bia đeo xiềng mang hàng chữ ” Quyền yêm Lê văn Duyệt phục pháp xử ” (=tên hoạn quan Lê văn Duyệt chịu phép nước ở đây). Sau dân chúng đổ cho là vì xúc phạm đến mộ phần của ông nên Trời ra tai, nên đến 1835, vua Tự Đức cho ông phục chức Vọng các công thần Chưởng tả quan, Bình tây tướng quân, tước quận công và được thờ trong miếu Trung Hưng công thần.

    Lăng ông ở Gia Định(11).

    II.- CHỨC VỤ VÀ PHẨM PHỤC

    A/ Chức vụ

    Trên nguyên tắc, hoạn quan chỉ giữ những công việc hầu hạ trong cung. Michel Đức Chaigneau kể khi lên 8 tuổi được triệu vào cung gặp hoàng hậu và các phi tần của vua Gia Long, do một viên hoạn quan dẫn đường. Viên này mặc một chiếc áo ngắn màu lam, quần lụa trắng, chít khăn rộng bản, cung kính đi sau một quãng chứ không dám đi ngang hàng. Lần thứ nhì, khoảng hai chục tuổi, sau khi ở Pháp trở lại Việt Nam, Michel Đức lại được vua Minh Mệnh triệu vào cung hỏi han chuyện nước Pháp. Michel Đức liếc thấy trong phòng có một bọn ” đầy tớ ” chừng 15-20 tuổi, đứng ở góc phòng, tựa lưng vào tường đợi lệnh. Hễ vua ra hiệu thì lập tức quỳ dâng điếu thuốc lá đã châm sẵn và trước khi dâng phải hút thử vài hơi…

    Theo S. Baron, chúa Trịnh rất ưa hoạn quan. Những người này sau khi phục vụ độ 8 năm trong triều liền được cất nhắc ra giữ những chức quan trọng, có khi lấn át cả các đại thần có thực tài.

    Riêng chúa Trịnh Khải thì sự liên hệ với quan hoạn không phải là ít. Nguyên mẹ Trịnh Khải là Dương thị Ngọc Hoan không được Trịnh Sâm ưa. Một hôm nằm mơ thấy thần nhân cho một tấm đoạn có vẽ đầu rồng, tỉnh dậy kể cho hoạn quan Khê Trung hầu Chu Xuân Đán nghe. Hầu cho là điềm sinh quý tử, có ý giúp đỡ. Khi Sâm cho đòi Ngọc Khoan (cũng có chỗ chép là Ngọc Hoàn) vào chầu, Hầu giả cách nghe nhầm đưa Ngọc Hoan tới, Sâm không nở đuổi về, sau trách mắng thì Hầu đem chuyện kể lại, Sâm nín lặng. Sau đó Ngọc Hoan có thai sinh ra Trịnh Khải nhưng Sâm vẫn không ưa, trù trừ không muốn lập làm thế tử, chỉ định cho hoạn quan Nguyễn Phương Đỉnh làm Bảo phó… Khi Trịnh Khải mưu cướp ngôi Trịnh Cán, Sâm sai Ngô Thời Nhậm cùng bọn hoạn quan Ngạn Trung Hầu, Đường Trung Hầu, Án Trung Hầu cùng tra án(12).

    Người ta trách hoạn quan chỉ nhờ xiểm nịnh được lòng vua chúa, rồi nắm quyền chính, tác oai tác phúc…song ta đã thấy Lương Đăng làm quan to nhưng không hề tham dự quốc sự, gây bè đảng làm mưa làm gió, mà chỉ hoàn tất việc quy định mũ áo và lễ nhạc, song vẫn bị các đại thần chê trách.

    Trong Vũ Trung Tuỳ Bút có Tả Chí Hầu cũng là hoạn quan có thực tài, hiểu thuật bóp gân xương, biết hát xướng, xem tướng, vẽ truyền thần giỏi.

    Những hoạn quan tiến cống cho Trung Quốc có một số được sử sách nhắc đến :

    Minh Thái Tổ bắt ta cống nộp sư sải, gái đẹp biết đấm bóp và hoà giả (hoạn quan), sau thả sư và gái đẹp về chỉ giữ lại hoạn quan và đãi rất hậu. Năm 1405, Minh Thành Tổ mưu đồ xâm lăng, sai bọn hoạn quan Nguyễn Toán, Nguyễn Trung, Từ Cá, Ngô Tín đi sứ, dò xét địa hình nước ta. Bọn này dặn họ hàng hễ quân Minh tràn sang thì dựng cờ biên rõ là thân thuộc của nội quan nào thì sẽ thoát nạn. Hồ Hán Thương biết chuyện sai giết hết thân thuộc bọn Nguyễn Toán(13).

    Tuy nhiên, những người bị tiến cống cho Trung Quốc không phải toàn bọn bán nước lập công mà còn có những người có biệt tài như Trần Vũ và Nguyễn An.

    Minh sử chép rằng niên hiệu Vĩnh Lạc, Minh Thành Tổ ra lệnh lùng bắt những văn nhân Giao Chỉ cất nhắc cho giữ chức Tri huyện hay Tri phủ, lập tuyển bọn trung quan (hoạn quan) lấy người ngay thẳng, trung hậu, mẫn cán, thông suốt, cho hầu nội cấm sảnh. Trần Vũ được tuyển vào hầu Tuyên Công, thăng chức Thái giám, sau cho đổi tên thành Vương Ngọc Cận, đi theo vua đánh Cao Hú (tức con Minh Thành Tổ, làm phản) có công to được ban đai ngọc, yên vàng, ngựa tốt, vàng lụa…lại đúc bốn quả ấn vàng khắc những chữ ” Trung can nghĩa đảm ” (lá gan trung thành, quả mật nghĩa khí), ” Kim điêu quý khách ” (quý khách đội mũ điêu vàng, tức mũ hoạn quan có con ve bằng vàng), ” Trung thành tự lệ ” (tự mài dũa lòng trung), ” Tâm tích song thanh ” (bụng dạ và hình tích đều trogn sáng).

    Theo Hoàng Minh thông ký có Nguyễn An trải 5 đời vua Minh (Thái Tông, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông và Cảnh Tông) là người giản dị, khắc khổ, cứng rắn, liêm khiết, giỏi về mưu mẹo, tính toán, rất sở trường những công việc xây dựng. Việc tu tạo thành Bắc kinh 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn 6 bộ và các trường xưởng, nhà trạm, An đều thân hành xếp đặt, tỏ ra rất có công lao. Các tơ tào trong bộ Công chỉ việc theo kế hoạch của An mà làm. Bình sinh được vua ban cho thứ gì đều đem nộp lại kho công không sót một li(14).

    Thời nhà Nguyễn, vua Minh Mệnh thấy các hoạn quan đời trước chuyên quyền, lũng đoạn triều chính (có người nói vì vua ghét Lê văn Duyệt) nên năm 1836 hạ lệnh từ nay hoạn quan không được giữ những chức phẩm như các quan đại thần, làm quan cũng không được quá tứ phẩm. Sắc lệnh này được khắc bia đá để trước Quốc Tử Giám, đến năm 1918 vẫn còn ở cạnh Văn Miếu.

    Vua lại đặt ra những chức tước riêng biệt dành cho hoạn quan :

    Hạng Chức Lương tháng

    Bát gạo quan tiền

    Hạng nhất Thủ đẳng Quảng Vụ và Điển sự Thái giám 48 72

    Hạng nhì Thứ đẳng Kiểm sự và Phụng nghi Thái giám 36 60

    Hạng ba Trung đẳng Thừa vụ và Điển thảng Thái giám 36 48

    Hạng tư Á đẳng Cung sự và Hộ Thảng Thái giám 24 36

    Hạng năm Hạ đẳng Cung phụng và Thừa biện Thái giám 24 24

    3 hạng trên có quyền xin chức Nhiêu phụ cho cha, và chức Miễn nhiêu cho an hem hay cháu trai, hạng 4 và 5 chỉ được xin Miễn nhiêu.

    Vua Thành Thái không ưa hoạn quan nên thay thế bằng cung nữ. Khi vua ngự thiện (ăn) thì đầu bếp dâng mỗi người một món, đưa cho Thị vệ đem đến cho nội giám, những người này lại chuyển giao cho cung nữ quỳ dâng(15).

    B/ Phẩm phục

    * Đời Trần

    Sách Toàn Thư chỉchép hoạn quan đời Trần mặc áo xanh và từ 1306 dùng quần hai ống chứ không dùng xiêm nữa.

    Trong An nam chí lược (tr. 222) Lê Tắc viết cặn kẽ hơn :

    Các nội quan Thượng phẩm đội mũ dương thường đính ong bướm vàng, mặc phẩm phục. Bình thường thì đội khăn nhung mầu tía xen mầu biếc, làm 6 tua kết sau khăn ; đai thắt ngang để tỏ vẻ quan quý.

    Hạng Trung phẩm mũ áo sắc chế hơi giảm. Thường phục thì khăn kết tua mầu tía.

    Hạ phẩm đội mũ dương thường tía, áo tía ; khăn ngày thường có tua đen, dát ngọc, vàng, đồi mồi.

    Không dùng hốt.

    Chắp tay lạy vua.

    * Nhà Lê quy định y phục hoạn quan rất rõ ràng. Theo Lê triều chiếu lịnh thiện chính thì các chức Tổng Thái giám, Đô Thái giám, Quản đốc ty nội giám, tước quận công ăn mặc như sau :

    – Vào chầu vua đội mũ cánh chuồn, mặc áo mầu hồng, bố tử thêu hổ báo (như các hoàng tử, vương tử tước quận công), đai dát đồi mồi bịt bạc, chân đi hia tất.

    – Vào chầu phủ Chúa đội mũ ô sa(16) áo lam có vạt che sau, giây lưng kép dát ngọc.

    – Đưọc đem theo hai người hầu.

    – Khi đi đường khăn chít một, võng ba đòn sơn đen, yên ngựa sơn tía thếp thau.

    Đi ra ngoài thành thêm một lọng mầu xanh, vẽ hoa xanh có ngù rủ.

    – Áo mặc thường, bằng gấm vóc các mầu, hòm áo sơn son thếp vàng một vạch, hòm mũ sơn đen thếp chỉ vàng.

    Cấm không được vẽ rồng, phượng, kỳ lân.

    Mâm, án thư bằng tre đan, thếp chỉ bạc

    Bát đĩa Tầu bịt thau.

    *Thời nhà Nguyễn, theo sắc lệnh của vua Minh Mệnh thì mũ áo hoạn quan như sau :

    – Áo mầu lục cho các quan cao cấp, mầu lam cho những người chức thấp, bố tử mầu đỏ thêu hoa xanh lục.

    Các Thái giám thời xưa đeo một vòng lụa trắng rủ xuống hai bên ngực đến tận thắt lưng, sau này chỉ đeo một thẻ bài ngà khắc rõ chức phận.

    – Mũ Thái giám bằng phẳng ở trên đỉnh và hình bầu dục (khác với mũ các quan triều hình tròn và nóc khum khum) có dát vàng bạc theo chức tước và đính một quả bông.

    Theo Hậu Hán chí, thời xưa mũ hoạn quan có tua vàng điểm một con ve sầu và một cái đuôi chuột, ngụ ý rằng ve sầu thanh khiết chỉ sống toàn bằng sương sớm, còn chuột thì có thể len lỏi vào tất cả những chỗ rất kín đáo trong thâm cung.

    Viên hoạn quan mà Crawfurd đã gặp năm 1822 (có lẽ là Lê văn Duyệt ?) tuy giữ chức ” Governor ” (Tổng trấn ?) nhưng ăn mặc rất đơn giản : áo lụa trắng trơn và khăn nhiễu cũng mầu trắng.

    Hoạn quan trong Sử Việt

    quan ao thoi phong kien 2

    III.- ĐỜI SỐNG

    Hoạn quan có hai loại :

    – Một loại sinh ra đã có khuyết tật hay bị tai nạn, như chó cắn, mà thành tật. Người xưa tin rằng những người này có số làm quan to.

    – Loại thứ nhì tự hoạn hay do cha mẹ đem con ra thiến.

    Hạng thứ nhất, khi đứa trẻ sinh ra thấy có tật, thì gia đình hay xóm làng liền khai trình xin cho lớn lên được sung chức nội thị. Khoảng 10 tuổi đứa trẻ được tiến cung, giao cho các hoạn quan già huấn luyện công việc chầu hầu trong cung.

    Hạng thứ nhì thì từ triều Lý đã có lệnh nghiêm cấm : Năm 1162, xuống chiếu kẻ nào tự thiến xử 80 trượng, thích 23 chữ vào mặt.

    Quốc triều hình luật thời Lê cũng chép : ” Ai tự hoạn xử tội lưu, ai thiến hộ hoặc chứa chấp giảm tội một bậc, xã quan không phát giác xử tội đồ (giam cầm làm khổ sai)(17).

    Sở dĩ có lệnh nghiêm cấm như thế vì hoạn quan có thể giữ những chức vụ trọng yếu, có nhiều quyền uy, giúp đỡ gia đình hay xóm làng được nên nhiều người ham. Lê triều chiếu lịnh thiện chính cho biết các nội giám sung chức Thái bảo, Thái sư, Thiếu sư, Thái phó, Thiếu phó với tước quận công thì 8 người con được phong là Quan viên tử, 7 người cháu được phong là Quan viên tôn(18).

    Đọc đến đây hẳn ai cũng lạ : đã là hoạn quan sao lại có con ? Hiển nhiên trường hợp này xẩy ra đủ nhiều để có cả một đạo luật dành cho con cháu hoạn quan. Cương mục chẳng hạn chép năm 1480 khi Nghi Dân nổi loạn, nội quan Thị hậu Phó chưởng Đào Biểu tử tiết, gia sản bị sung công. Khi Thánh Tông lên ngôi, truy tăng Đào Biểu một tư, ban cho 5 mẫu tư điền để cúng tế, lại trả điền sản bị tịch thu trước cho vợ con(19).

    Có lẽ những người này, như Lý Thường Kiệt, đã lấy vợ trước khi tự hoạn, hoặc cũng muốn có gia đình riêng, lấy một cung nữ đã bị thải hay lấy con nhà hàng phố rồi nuôi con nuôi. A. Laborde kể chuyện ở Huế xưa có một thiếu phụ lấy chồng hoạn quan nhưng ngây thơ không hiểu chồng mình bất bình thường, mãi đến khi chồng chết, đi cải giá mới rõ và đem chuyện mình tâm sự với một vài người bạn.

    Cũng theo Laborde, có một viên Đội Thị vệ bị án tử hình vì ăn ở với một hoạn quan và…sinh ra một đứa con !

    Chúa Trịnh dùng tới 4-5000 hoạn quan nhưng đến đời vua Thành Thái nhà Nguyễn vì không ưa hoạn quan nên số người hầu cận vua trước có 15 sau chỉ còn 9. Đến năm 1918 lại có lệnh cấm bổ dụng thêm hoạn quan mới, những người cũ cho tiếp tục giữ chức.

    &Tướng mạo và tính tình

    hoan quan thoi phong kien viet

    Khi nói đến hoạn quan người ta thường nhắc đến cái cằm không râu, dáng điệu ẻo lả như phụ nữ, và tính tình khó thương, ngạo mạn, vô lễ…dường như để bù lại những mặc cảm tự ty. Sau đây là hoạn quan nhìn qua con mắt các chứng nhân Việt cũng như ngoại quốc :

    – Năm 1778, Chapman, một người do công ty Ấn độ của Anh gửi sang, đã gặp ở Huế một viên hoạn quan giữ chức ” Quan Tam Quon “, quyền uy vượt cả viên ” Viceroy ” (Tổng trấn ?). Viên này có tánh hay hoạnh hoẹ, khinh người. Trước hết bắt Chapman phải đứng chờ ngoài cổng cả nửa giờ mới cho vào nhà. Vào rồi cũng không thèm ra tiếp ngay, chỉ ở trong nhà hỏi vọng ra mấy câu, mãi sau mới cho cuốn rèm lên và Chapman thấy dưới ánh nến vàng vọt một đống thịt lù lù, dị dạng, người có vẻ thấp lùn, má xệ xuống…Khi Chapman phàn nàn những người dưới quyền mình bị ngược đãi, viên Tổng trấn xin lỗi rằng ông không có quyền hành gì, mọi sự cứ điều đình thẳng với viên hoạn quan. Viên này tỏ ra rất vô lễ, chửi rủa và còn sai đem tặng vật của Chapman, một chiếc đồng hồ, ra trả lại nói rằng đồng hồ đã vỡ, trở nên vô dụng(20).

    Ngày 2/9/1822, Crawfurd đã gặp một hoạn quan giữ chức ” Governor of Saigon ” (có lẽ là Lê văn Duyệt ?) và tả một cuộc gặp gỡ khá tường tận : ” Giữa phòng, trên một cái sập cao hơn thường lệ, là viên ” Tổng trấn ” ( ?) đang ngồi chễm chệ. Chúng tôi tiến lên cúi chào, ông ta cứ ngồi yên không đáp lễ. Sau đó người ta chỉ cho chúng tôi ngồi xuống dẫy ghế bên phải ông ta, ghế bên trái dành cho viên quan cao cấp bậc nhì trong phòng, những người khác đứng đằng sau hoặc ngồi trên một cái sập khác. Viên ” Tổng trấn ” già là một hoạn quan nhưng nếu không biết trước thì không thể đoán ra. Tuy cằm ông ta không có râu và giọng nói yếu ớt như đàn bà, nhưng chưa tới mức khiến người ta phải nghi ngờ. Ông ta có vẻ không quan tâm mấy tới y phục, chỉ mặc một áo lụa trắng trơn và đội một chiếc khăn nhiễu rộng bản cũng mầu trắng “. Crawfurd đem lễ vật ra tặng nhưng viên ” Tổng trấn ” từ chối nói rằng hai bên đang ở thế điều đình, tặng lễ vật bây giờ quá sớm, ông không thể nhận. Crawfurd rất phục tư cách viên ” Tổng trấn ” khi đem ôn gta ra so sánh với các quan chức người Xiêm. Nhưng vừa về đến nhà thì thấy ” Tổng trấn ” sai người đem thực phẩm tới tặng : trâu, dê, lợn, gạo vv… và nhân thể cho biết lúc nẫy quan ” Tổng trấn ” không tiện nhận quà trước mặt công chúng nhưng ngài rất vui lòng nhận mấy khẩu súng và cái ống viễn kính mà Crawfurd định biếu(21).
    Phạm Khắc Hòe, trong Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc kể rằng tháng 8 năm 1945, khi ông đi chào bà Từ cung để ra Hà Nội, thì đột nhiên một viên Thái giám già chạy đến trước mặt sụp lạy. Viên này mặt xanh như tàu lá, đầu bạc, cằm không râu, má nhăn nheo, miệng xệ xuống, mắt rưng rưng, cất giọng khàn khàn hỏi về số phận của mình sẽ đượcđịnh đoạt ra sao ? có được lĩnh lương tháng 8 hay không ? sau này sẽ làm gì ?…Hỏi ra mới biết viên này do cha mẹ thiến từ năm 12 tuổi, đời vua Thành Thái, đã gần 50 năm. Khi mới vào cung được học Tứ thư, Ngũ kinh, tập làm việc vặt, đến 20 tuổi sung chức Thừa Biện Thái giám, năm 1945 giữ chức Phụng nghi Thái giám. Nhiệm vụ chính là chuyển đạt mệnh lệnh của vua tới phi tần và khi vua ngự tới bà nào thì ghi chép ngày giờ cho đúng để phòng việc tranh chấp về sau. Từ khi vua Khải Định mất thì không phải làm việc này nữa, chỉ còn nhiệm vụ chầu hầu bà Từ cung, giúp đỡ các phi tần trong việc cúng bái, tu hành và liên lạc với bên ngoài.

    Năm 1958, cụ Vương Hồng Sển đi thăm lăng Diên Thọ (Gia Long) nhằm ngày lễ Thanh minh, tình cờ được chứng kiến một buổi tế lễ và liếc thấy nơi gian nhà sau chỗ tế có một nhóm quan thị ” rất đông “, mặc áo màu lam, đang đứng chờ tế lễ xong thì chia phần, có người đã già sụm, kẻ còn sồn sồn, người nào cằm cũng nhẵn thín không một sợi râu.

    Hoạn quan không phải người nào cũng xấu xí, ẻo lả. Trong Vũ Trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ cho biết Tả Chí Hầu, nội thị thời Trịnh Khương (Giang) “tướng mạo hùng vĩ, phảng phất giống Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc”.

    A. Laborde đã chụp được ảnh một viên hoạn quan 62 tuổi, một trong những người có địa vị quan trọng hồi đầu thế kỷ XX, trông coi một cái lăng, giữ gìn đồ thờ cúng và phát lương cho 9 người cung nhân già ở đó. Tiếc rằng Laborde không cho in ảnh viên hoạn quan mà chỉ cho biết mặt mũi viên này giống mặt bà già, vú cũng xệ xuống như ngực bà già.

    & Cung giám viện

    Khi các hoạn quan không phải hầu chầu thì có quyền rút về Cung giám viện. Viện này gồm 9 gian, cũng là nơi ăn học của các nội giám trẻ và là chỗ trú ngụ của gia đình hoạn quan tới thăm. Năm 1918, viện dã đổ nát chỉ còn nhà bếp, một cái miếu thờ thần và cái cổng mang hàng chữ ” Cung giám viện môn “.

    & Chùa Từ Hiếu

    Chùa xây trên một chiếc đồi nhỏ, trên đường đi đến lăng Tực Đức, khuất sau một lùm cây. Khung cảnh rất tĩnh mịch và tuyệt đẹp có suối chảy, có thông reo, chim hót, dế kêu. Bia dựng ở cổng chùa cho biết đây thuộc làng Dương Xuân, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên, núi Ngự Bình ở phía Đông Nam, Hương Giang ở Tây Bắc.

    Chùa do thiền sư Nhật Định tạo dựng, sau có ba viên nội giám về hưu đến trú và xin được triều đình trợ cấp nhiều tiền. Đến 1893, các hoạn quan tự đóng góp tiền xây lại chùa, mở rộng ra và dùng làm nhà dưỡng lão cùng nơi thờ cúng những hoạn quan đã mất. Bia dựng ở chùa ghi : ” Khi còn sống chúng tôi đến chùa tìm yên tĩnh, khi ốm đau chúng tôi về đây dưỡng bệnh và sau khi chết chúng tôi cùng được chôn cất với nhau ở đây. Dù sống hay chết, chùa cũng là nơi yên nghỉ của chúng tôi ” (22).

    nghia dia hoan quan
    Nghĩa địa của hoạn quan

    Ngay cạnh chùa là nghĩa địa của hoạn quan. Những ngôi mộ ở đây được xây cất cân đối nhau chung quanh một cái sân gạch. Năm 1918, khi Laborde tới thăm, có tất cả 18 ngôi mộ nhưng chỉ có 9 ngôi đã xây, những cái kia còn để ngỏ.

    & Tháp Bồ Đề

    Trước cửa chùa có tháp Bồ đề do thiền sư Từ Hiếu xây từ năm 1896 với sự giúp đỡ của các hoạn quan, xin được tiền trợ cấp của Thái phi. Tháp dựng để chứa những pho tượng vỡ hay những quyển kinh đã cũ nát mà người ta không được vứt đi, phải để cho chúng tự mục nát dần. Tháp chỉ có một cửa ở từng thứ hai, muốn ném bỏ vật gì vào tháp phải bắt thang.

    Tháng giêng, 1994

    Chú thích

    1. Toàn Thư I, tr. 190.

    Đại Việt Sử lược tr. 117 chép là cửa Quảng Phúc, chứ không phải Quang Phục, nằm ở phía tây Long Thành, cửa Đại Hưng phía nam, cửa Tường Phù phía đông, cửa Diệu Đức phía bắc.

    2. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt

    3. Cương Mục V, tr. 30 và Toàn Thư II, tr. 25

    4. S. Baron, tr. 64

    5. Đến 1442, Đinh Thắng cũng bị giết vì trước khi chịu tử hình Nguyễn Trãi tỏ ý hối tiếc đã không nghe lời Đinh Thắng, Đinh Phúc.

    6. Cương Mục IX, tr. 67 và Toàn Thư III, tr. 112-125.

    7. Cương Mục XVII, tr. 31 và Tục Biên tr. 159 và Vũ Trung tuỳ bút.

    8. Cương Mục XIX, tr.32 và Tục Biên tr. 329.

    Hoàng Lê nhất thống chí chép là Nguyễn Quang Đỉnh.

    9. Tục Biên tr. 329-404, Cương Mục XIX, tr. 56-7.

    10. Nếu Lê văn Duyệt đúng là viên “Governor” của Saigon mà Crawfurd đã gặp năm 1822 thì sự thanh liêm, không nhận lễ vật, chỉ là bề ngoài. (Xin xem phần III, Đời sống).

    11. Đại Nam thực lục chính biên V, tr. 132.

    Laborde, ” Les eunuques à la cour de Huê “, BAVH

    Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam danh nhân tự điển.

    12. Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 17.

    13. Toàn Thư II, tr. 216.

    14. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, tr. 254-56.

    15. P. Pasquier, L�Annam d�autrefois, tr. 81.

    16. Mũ ô sa kết bằng tóc có thêu chữ nổi màu đen (Lê triều chiếu lịnh thiện chính, 199).

    17. Quốc triều hình luật, tr. 119.

    18. Lê triều chiếu lịnh thiện chính, tr. 29.

    19. Cương Mục X, tr. 63-4.

    20. A. Lamb, tr. 112-18.

    21. Crawfurd, tr. 216-17.

    22. A. Laborde, ” Les eunuques à la cour de Huê “.

    Sách tham khảo :– BARON Samuel, Description du royaume du Tonkin, traduit par H. Deseille.

    – CHAIGNEAU Michel Đức, Souvenirs de Huế, Paris 1867.

    – CHAPMAN ” The Chapman mission, 1778 “, trích trong The mandarin road to old Huế của A. Lamb, London, Chatto & Windus, 1970.

    – CRAWFURD John, Journal of an Ambassy from the Governor General of India to the Courts of Siam and Cochinchina. London: Henri Colburn, 1828.

    – HOÀNG Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Saigon, Viện Đại học tái bản lần thứ nhất, 1966.

    – LABORDE A., Les eunuques à la cour de Huế, Bulletin des amis du vieux Huế, N°2, 5è année, Avril-Juin 1918.

    – LÊ Quý Đôn, Kiến văn tiệu lục, Hà Nội : KHXH, 1977.

    – NGÔ Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội, KHXH, 1993.

    – NGÔ Thì Chí, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố. Saigon : Phong trào Văn hoá tái bản, 1969.

    – NGUYỄN Huyền Anh, Việt Nam danh nhân từ điển, Zieleks, 1981.

    – PASQUIER P., L’Annam d’autrefois, Paris : Société des éditions, 1929.

    – PHẠM Đình Hổ, Vũ Trung tuỳ bút, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, Đông Nam Á tái bản.

    – PHẠM Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt bắc, Huế : Thuận Hoá, 1987.

    – TÔN NỮ Quỳnh Trân chủ biên, Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Hồ Chí Minh : Văn hoá Thông tin, 1993.

    – TRƯƠNG Hữu Quýnh, PHAN Đại Doãn, Danh nhân lịch sử Việt Nam, I, Hà Nội : Giáo dục, 1987.

    – VƯƠNG Hồng Sển, Hơn nửa đời hư. Hồ Chí Minh : Tổng Hợp, 1993.

    1. Đại Nam thực lục chính biên, Hà Nội, Viện Sử học, 1962-78.

    2. Đại Việt sử ký tục biên. Hà Nội : KHXH, 1991. Dịch giả : Ngô Thế Long, Nguyễn Kim Hưng.

    3. Đại Việt sử lược. Dịch giả : Nguyễn Gia Tường. Hồ Chí Minh, 1993.

    4. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Hà Nội : Viện sử học biên dịch, 1960.

    5. Lê triều chiếu lịnh thiện chính. Saigon. Trường Luật khoa, 1961. Dịch giả : Nguyễn Sĩ Giác.

    6. Quốc triều hình luật, Hà Nội : Pháp lý, 1991. Dịch giả : Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá Nhị.

    Nguồn bài đăng

  • Truy tìm gốc tích người Kinh

    Truy tìm gốc tích người Kinh

    Là sắc tộc đa số, giữ vị trí trung tâm của cộng dồng dân cư Việt Nam nên từ cuối thế kỷ XIX, nguồn gốc, văn hóa, lịch sử người Kinh được các học giả nổi tiếng phương Tây bỏ nhiều công sức tìm hiểu. Sau khi giành được độc lập, các học giả người Việt trên cơ bản tiếp tục đường hướng nghiên cứu này. Hơn thế kỷ khảo cứu của nhiều lớp nhà Việt học đem lại kết quả nhất định, tạo nên cái nhìn như hôm nay. Tuy nhiên, với những khám phá mới về nguồn gốc dân tộc Việt, nhiều vấn đề về người Kinh cần được xem xét lại. Bài viết này trình bày một lý giải mới về nguồn gốc người Kinh.

    Xem thêm bài viết: Người Kinh (Việt) tại Trung Quốc

    Truy tìm gốc tích người Kinh

    I. Về giả thuyết Tiền Việt-Mường

    Cho đến nay phần lớn các học giả đồng thuận cho rằng: Người Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết khoảng thế kỷ thứ XI trở về sau.

    Ý tưởng này được nhà ngữ học người Pháp H. Maspéro [1] đề xuất đầu tiên. Tiếp đó là V. Goloubew [2]. Sau năm 1954, các học giả Việt Nam kế tục quan điểm của trường phái Viễn Đông Bác cổ với Nguyễn Thế Phương [3], Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương [4] rồi Nguyễn Tài Cẩn [5]. Dựa trên ngôn ngữ học so sánh, giới ngữ học cho rằng: thoạt kỳ thủy, từ ngôn ngữ Tiền Việt-Mường chia thành nhánh Chứt-Pọong và nhánh Việt-Mường chung. Sau đó Việt-Mường chung tách ra Việt và Mường.

    Cũng thời gian này, giới nhân học vào cuộc. Trong Nhân chủng học Đông Nam Á,[6] từ tư liệu “Hình thái nhân chủng một số nhóm nam giới Việt, Mường, Chứt” và “Tần xuất nhóm máu ABO ở người Việt và người Mường,” Nguyễn Đình Khoa nhận định: “Ngôn ngữ Việt – Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loaị hình nhân chủng Anhđônêdiên và Nam Á.” (t.128) Đồng thời tác giả cũng lưu ý rằng, “Ở Việt Nam (có thể đại bộ phận bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á), thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (thời đại đồ Đồng), thành phần Anhđônêdiên thì hình thành sớm (thời đá mới). Như vậy phải đặt câu hỏi: Ngôn ngữ Việt – Mường cũng có một cội nguồn cổ xưa như những người indonesian nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt – Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người có thể khác nhau về tiếng nói, về nguồn gốc?(t.128)

    Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương viết: “Tiếng Việt và tiếng Mường có nguồn gốc Nam Á, nhưng do sự tiếp xúc lâu dài với các ngôn ngữ Tày cổ nên nhóm Việt-Mường đã tách khỏi khối Tiền Việt-Mường.” Về mốc thời gian, hai tác giả cho rằng: “Ngôn ngữ Tiền Việt-Mường đã xuất hiện ở vùng lưu vực sông Hồng cách đây khoảng 4000 năm. Tại đây, ngôn ngữ này đã tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ nhóm Tày cổ để hình thành ngôn ngữ Việt-Mường chung.” Do khám phá việc xuất hiện loại hình Nam Á ở Việt Nam và bán đảo Đông Dương vào thời đại đồ đồng từ quá trình chuyển hóa của người Indonesian nguyên thủy nên Nguyễn Đình Khoa cho là có sự liên quan giữa quá trình chuyển biến Indonesian thành Nam Á và giả thuyết về hình thành ngôn ngữ Việt-Mường.

    Nguyễn Đình Khoa lưu ý tới vai trò của những tộc người ngôn ngữ Môn-Khmer. Họ được nhất trí xếp vào dòng ngôn ngữ Nam Á, là một trong những thành phần bản địa lâu đời nhất ở bán đảo Đông Dương, là con cháu của người Indonesian nguyên thủy. Do vậy, tiếng nói và tổ tiên họ phải là một dạng Nam Á cổ, trong đó theo Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương, có yếu tố Tiền Việt-Mường. Tiếp xúc với ngôn ngữ Tày cổ thì tách ra ngôn ngữ Việt-Mường chung. Giai đoạn này có thể tương ứng với quá trình chuyển biến nhân chủng từ Indonesian thành Nam Á.

    Có thể nhận ra rằng, sự đồng thuận này không dễ dàng mà là việc nhượng bộ của những quan niệm rất khác nhau thậm chí trái ngược:

    Trong tài liệu đã dẫn, Maspéro coi tiếng Việt là một nhóm trong dòng Hán-Tạng vì về cú pháp và thanh điệu tiếng Việt gần với tiếng Thái. Nhưng trước đó người ta đã phát hiện trong tiếng Thái có yếu tố ngôn ngữ Môn-Khmer và cả ngôn ngữ Mã Lai. Năm 1924, Przyluxki viết: “…tuy trong tiếng Thái có nhiều từ Hán nhưng nó lại có nhiều yếu tố chung với các ngôn ngữ Môn-Khmer…Có thể trong tương lai, cứ liệu thực tế buộc chúng ta phải đặt tiếng Thái vào ngữ hệ Nam Á.” [7]

    Như vậy là, tiếng Việt được sắp xếp trong một biên độ rất rộng, từ Hán Tạng tới Môn-Khmer rồi Nam Á. Điều này chứng tỏ, có gì đó chung cho các ngôn ngữ của cộng đồng dân cư Việt Nam nên việc chia tách chúng một cách rành rẽ là điều khiên cưỡng. Từ những trích dẫn trên, có thể đưa tới nhận xét rằng, dù ra đời hơn trăm năm trước và không ngừng được củng cố thì ý tưởng người Mường chuyển hóa thành người Việt cũng chưa thực sự thuyết phục. Những thắc mắc nảy sinh:

    1. Nhận định: “Ngôn ngữ Tiền Việt-Mường đã xuất hiện ở vùng lưu vực sông Hồng cách đây khoảng 4000 năm. Tại đây, ngôn ngữ này đã tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ nhóm Tày cổ để hình thành ngôn ngữ Việt-Mường chung,” phải chăng là hữu lý? Bởi lẽ, 4000 năm cách nay, đồng bằng sông Hồng còn chưa được tạo lập, nên sự tiếp xúc của ngôn ngữ Tiền Việt-Mường với nhóm Tày cổ chỉ diễn ra tại miền núi, trung du Bắc Bộ và vùng đất cao của châu thổ sông Hồng. Do vậy, người nói ngôn ngữ Việt phải xuất hiện tại khu vực này trước chứ không phải ở đồng bằng sông Hồng! Trong khi trên thực tế, người Việt là chủ thể của đồng bằng?

    2. Thực tế lịch sử cho thấy, những nhóm gọi là Tày cổ hiện nay cũng chỉ từ Trung Quốc di cư về vào thời Nguyên. 4000 năm trước, thứ ngôn ngữ Tày cổ đó chưa xuất hiện. Vì vậy không thể có chuyện nó “tiếp xúc với Tiền Việt Mường để sinh ra người Việt.”

    3. Nếu: “ngôn ngữ Việt – Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình nhân chủng Anhđônêdiên và Nam Á,” có nghĩa là, từ 2000 năm TCN, dân cư trên đất Việt Nam chỉ một chủng duy nhất Mongoloid phương Nam và ngôn ngữ Nam Á thì vì lẽ gì chỉ có người Mường chuyển thành người Việt?

    4. Được tách ra từ Tiền Việt-Mường vì sao mà số lượng người Việt cực lớn, còn số lượng người Mường quá nhỏ, chỉ hơn 600.000 người?

    5. Câu hỏi quan trọng: “Ngôn ngữ Việt – Mường cũng có một cội nguồn cổ xưa như những người Anhđônêdiên nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt – Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người có thể khác nhau về tiếng nói, về nguồn gốc”,vẫn chưa có lời đáp!

    Đánh giá một cách công bằng, có thể cho rằng, là nhà ngữ học uyên bác, khi phát hiện sự tương đồng khá cao về tiếng nói giữa người Mường và người Việt đồng thời cũng nhận ra những yếu tố của ngôn ngữ Tày trong tiếng Việt, H. Maspéro đã đề xuất ý tưởng trên. Sau này, cảm nhận sự “hợp lý” của nó, các tác giả khác đã tiếp thu và phát triển, góp phần đưa tới một cách nhìn nhận về con người và tiếng nói Việt Nam hiện nay.

    Tuy nhiên ngôn ngữ cũng như tư liệu metric (số đo) sọ, không phải là chứng cứ đáng tin cậy giúp phân định chủng người. Như nhà nhân học lớn nước Mỹ Jared Diamond khẳng định: “Những gì thuộc về con người mà chưa được di truyền học xác nhận, đều không đáng tin cậy.” Sang thế kỷ này, để giải quyết bài toán nguồn gốc người Việt, cần một công trình độ sộ vẽ bản đồ gen người Việt. Trong khi chờ đợi kết luận cuối cùng từ công trình như vậy, tôi xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc người Kinh.

    II. Nguồn gốc người Kinh theo cách nhìn mới.

    Trước hết cần xác định lại một số thuật ngữ. Các tài liệu hành chính hiện nay viết rằng, Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Đây là cách dùng từ không chuẩn do không phân biệt hai khái niệmtộc người hay sắc tộc (race) và dân tộc (nation). Dân tộc là cộng đồng người cùng một chủng tộc trong một quốc gia. Trong một quốc gia có một hay nhiều dân tộc với ý nghĩa chủng người.Tộc người là những sắc dân trong một chủng người. Sau năm 1954, ảnh hưởng của tài liệu dân cư học Trung Quốc cho rằng ở “Trung Quốc có 56 dân tộc anh em”, các nhà làm chính sách của Việt Nam cũng ghi trong hiến pháp: Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Tuy nhiên sau đó, phát hiện sai lầm, người Trung Quốc đã sửa: Trung Quốc có 56 tộc người thuộc năm dân tộc là Hán, Hồi, Mông, Mãn, Tạng. Trong khi đó, do chưa có sự phân định rõ ràng, Việt Nam vẫn giữ 54 dân tộc trong các văn bản hành chính.

    Các tài liệu nhân chủng học cho thấy, từ 2000 năm TCN, dân cư Việt Nam gồm duy nhất chủng người Mongoloid phương Nam. Đến nay nước Việt Nam bao gồm một dân tộc duy nhất là dân tộc Việt. Kinh, Mường, Mán, Tày, Thổ, H’Mông, Dao, Khmer, Chăm, Bana, Êdê, Giarai… là những tộc người hay sắc tộc trong dân tộc Việt. Vì vậy, thuật ngữ NGƯỜI VIỆT dùng chỉ chung mọi tộc người bản địa Việt Nam. Người Kinh là một tộc người hay sắc tộc trong 54 sắc tộc Việt. Việc gọi người Kinh là người Việt là sai lầm, là sự tiếm xưng, đưa tới nhận thức lệch lạc: chỉ người Kinh mới là người Việt, còn các sắc tộc khác không phải là người Việt. Trước đây, do cách nhìn kỳ thị của chính quyền quân chủ, các sắc dân Việt này bị gọi miệt thị là man, mọi!

    Vì vậy, từ đây, tôi dùng thuật ngữ người Kinh thay cho người Việt trong thảo luận.

    Người Kinh là một tộc người (race) trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Do vậy, muốn tìm nguồn gốc người Kinh cần phải biết quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Tri thức của thế kỷ mới cho thấy, 70000 năm trước, hai đại chủng người Khôn ngoan Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây họ hòa huyết sinh ra hai chủng người Việt cổ là Indonesian và Melanesian. Trong đó người Indonesian (Lạc Việt) giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Ngôn ngữ Lạc Việt là tiếng nói chủ thể của cộng đồng. Khoảng 40000 năm trước, người Việt đi lên khai phá đất Trung Hoa và xây dựng nơi đây nền nông nghiệp phát triển. Khoảng 7000 năm trước, tại trung lưu Hoàng Hà, người Việt tiếp xúc với người Mongoloid phương Bắc, sinh ra chủng người Việt mới Mongoloid phương Nam. Khoảng 5000 năm trước, người Mongoloid phương Nam tăng nhân số, trở thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà mà trung tâm là đồng bằng Trong Nguồn. Khoảng năm 2698 TCN, người Mông Cổ du mục do Hiên Viên lãnh đạo tấn công vào Trác Lộc, xâm chiếm đất của người Việt phía Nam Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế. Do cuộc xâm lăng này, người Việt từ lưu vực Hoàng Hà di cư xuống phía Nam, mang nguồn gen Mongoloid chuyển hóa di truyền dân cư Đông Nam Á sang Mongoloid phương Nam. Khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận dân cư Đông Nam Á trong đó có bán đảo Đông Dương được chuyển hóa thành người Mongoloid phương Nam. Chủng Lạc Việt Indonesian chuyển thành dạng Mongoloid phương Nam điển hình. Chủng Melanesian chuyển thành loại hình Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. Tiếng Lạc Việt là ngôn ngữ chung. Như vậy, câu hỏi 5 ở trên được giải đáp: người Nam Á ra đời sau nhưng ngôn ngữ Nam Á (Lạc Việt) xuất hiện đồng thời với hai chủng người Indonesian và Melanesian trên đất Việt Nam.[8]

    Thời kỳ này đồng bằng sông Hồng và đồng bằng miền Trung chưa hình thành nên người Việt cư trú trên vùng trung du và rừng núi miền Bắc và miền Trung. Khoảng vài ba trăm năm trước Công nguyên, đồng bằng sông Hồng được bồi tụ cơ bản đồng thời nhờ nước biển rút, một châu thổ phù sa phì nhiêu xuất hiện [9]. Người Việt từ khắp nơi dồn về vùng đất mới: từ Thanh Nghệ ra, từ Hòa Bình, từ trung du và miền núi Bắc Bộ xuống và từ Trung Quốc trở về… Việt Nam bước vào văn hóa Đông Sơn muộn, lưỡi cày đồng ra đời, khiến năng suất nông nghiệp tăng, lương thực dồi dào. Nhờ vậy nhân số đồng bằng sông Hồng tăng nhanh. Do từ lâu người Việt đã cùng một chủng tộc nên tại đồng bằng, dân cư không có chuyển biến lớn về di truyền mà chỉ người Indonesian nhận thêm nguồn gen Mongolic để chuyển hóa thành dạng Mongoloid phương Nam điển hình.

    Cũng do sự tập trung này mà tại đồng bằng, ngôn ngữ Lạc Việt được củng cố. Tuy nhiên về sau do tiếp xúc rộng với nhiều nguồn dân cư nên ngôn ngữ có những yếu tố mới. Trong những người di cư về từ Trung Quốc, có nhóm Tày-Thái, người Hakka, người Hán… Họ là con cháu người Lạc Việt ra đi từ hàng vạn năm trước, sống và tạo lập văn hóa nông nghiệp trên lưu vực Hoàng Hà. Do biến động của lịch sử, họ trở thành dân cư của các vương triều Trung Hoa cũng như các tiểu quốc Việt còn độc lập với triều đình Hoa Hạ tại lưu vực Hoàng Hà.

    Từ thời Thương, Chu, chữ tượng hình được sử dụng khiến cho ngôn ngữ vùng Trung Nguyên trở nên đơn âm và hữu thanh hóa. Quá trình như sau. Chữ tượng hình từ 6000 năm trước được người Lạc Việt ở Nam Dương Tử chế ra để ghi âm những tiếng dùng trong bói toán, bùa chú, cúng tế. Tiếng Việt vốn đa âm nhưng chữ hình vẽ thì đơn lập, không thể ghép với nhau. Vì vậy, những tiếng muốn được ký âm buộc phải chuyển thành đơn âm như blời  trời  thiên; tlủ  sủ  trâu; krong  sông, rồng, long… Trong dân gian người Việt, từ lâu quá trình đơn âm hóa ngôn ngữ đã xảy ra. Khi nhà Ân chiếm đất An Dương của người Việt ở Hà Nam, phát hiện chữ Giáp cốt, đã tập trung phát triển loại chữ này. Sang thời Chu, chữ được phổ biến hơn và được sử dụng rộng rãi vào thời Chiến Quốc. Nhà Tần đã quy chuẩn hóa chữ vuông. Nhờ vậy, tiếng nói dân cư Trung Nguyên đơn âm hóa mạnh. Khi tiếng nói đơn âm thì cũng tự nhiên xuất hiện thanh điệu: chỉ cần đổi dấu thanh sẽ được tiếng mới với nghĩa mới. Thí dụ Thanh  Thành  Thánh  Thạnh…

    Khi di cư về Việt Nam, người Thái, người Hẹ (Hakka), người Hán… mang theo tiếng nói đơn âm và hữu thanh về, góp phần làm biến đổi tiếng nói của cộng đồng, khiến cho tiếng Việt trở nên đơn âm và có thanh điệu. Khi sáp nhập Âu Lạc với Nam Việt, nhà Triệu đem chữ Nho vào dạy và sử dụng ở nước ta. Nhất là từ sau cuộc xâm lăng của người Hán, chữ Nho thành quốc ngữ, được dùng trong hành chính và giáo dục, quá trình chuyển hóa tiếng Việt sang đơn âm và hữu thanh được tăng cường.

    Cùng với việc đô thị hóa, giao lưu thương nghiệp, văn hóa của đồng bằng mở rộng với khu vực nên dần dần hình thành một dạng dân cư mới sống ở đồng bằng, được gọi là người Kinh với nghĩa dân cư vùng kinh đô. Theo thời gian, người Kinh phân biệt với dân cư các vùng khác bởi tiếng nói, văn hóa, cách sinh hoạt, phong tục tập quán mà thành một sắc tộc riêng.

    Như vậy, người Kinh là sản phẩm của quá trình khai phá đồng bằng sông Hồng. Khi biển rút, đồng bằng mở ra, những phần tử ưu tú, năng động nhất trong các bộ lạc người Việt từ các vùng khác nhau kéo xuống khai thác đất mới. Mỗi nhóm người đóng góp phần tốt đẹp nhất của mình tạo nên một cộng đồng dân cư mới. Đồng thời mỗi sắc dân cũng hòa lẫn trong cộng đồng. Thí dụ tiêu biểu của việc này là sự kiện 40.000 tù binh người Chăm được đưa tới đồng bằng Bắc Bộ vào thời Lý. Nay con cháu họ là ai? Một thí dụ khác: Quảng Nam là địa bàn phân bố từ xa xưa của người Chăm. Nhưng vì nằm trên đường mở nước nên hơn 500 năm điễn ra cuộc tiếp xúc liên tục với người Kinh. Kết quả là phần lớn dân cư nơi đây được Kinh hóa, trở thành người Quảng Nam hôm nay…

    Vì thế, về mặt di truyền, không có chuyện chỉ riêng người Mường phân hóa thành người Kinh mà do tiếng Mường giữ được nhiều nhất yếu tố ngôn ngữ Lạc Việt nên khi so sánh ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học ngộ nhận cho rằng chỉ có người Mường phân hóa thành người Kinh. Cũng vậy, hiện tượng đơn âm và hữu thanh của tiếng Kinh được ảnh hưởng từ nhiều nguồn: người Tày-Thái, người Hẹ, người Hán… từng có mặt tại đồng bằng nhưng rồi những dòng người này bị đồng hóa, hòa tan trong dân cư đồng bằng, không để lại dấu vết. Trong khi đó một số nhóm Tày-Thái Tây Bắc, di cư về muộn hơn nhưng do sống khá biệt lập, đã bảo lưu được phong tục tập quán và tiếng nói hình thành trên đất Trung Hoa nên khi phát hiện ra, các học giả cho rằng,người Mường tiếp thu ngôn ngữ của nhóm Tày cổ để biến thành người Kinh. Trong khi thực tế không phải vậy.

    Quá trình tương tự cũng diễn ra tại đồng bằng Thanh-Nghệ-Tĩnh. Vùng đồi núi Thanh-Nghệ là nơi cư trú sớm nhất của người Việt cổ từ thềm lục địa đi lên, nên là nơi phát tích của dân cư Việt Nam. Khi đồng bằng miền Trung hình thành từ phù sa sông Cả, sông Mã, sông Chu, các dòng người cũng tập trung về đây, hòa huyết và hòa nhập văn hóa sinh ra cộng đồng người Kinh miền Trung. Do sinh ra từ miền đất cổ nên phương ngữ miền Trung là phương ngữ cổ xưa nhất của Việt Nam. Phương ngữ miền Trung được chia cho phương ngữ đồng bằng sông Hồng và phương ngữ miền Nam.

    III. Kết luận

    Người Tiền Việt-Mường tiếp xúc với nhóm Tày cổ sinh ra người Kinh…” là câu chuyện hư cấu kéo dài hơn thế kỷ. Tiền Việt-Mường chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng. Ngay cả chuyện ngôn ngữ Tày cổ góp phần làm nên tiếng Việt cũng không có thực.

    Từ quá trình hình thành dân cư Đông Á với những bằng chứng khảo cổ học, văn hóa học, ngôn ngữ học, cổ nhân chủng học, di truyền học và toàn bộ lịch sử Đông Á, ta có thể chắc rằng, người Kinh là tổng hòa những dòng di cư người Việt tới chiếm lĩnh đồng bằng sông Hồng bắt đầu từ khoảng 500 – 300 năm TCN. Sau nhiều vạn năm sống trên dải đất hẹp của trung du và rừng núi, đồng bằng sông Hồng khi nước rút, trở thành đất hứa thu hút những con người năng động quả cảm nhất trong các bộ tộc Lạc Việt kéo về khai phá. Trong những người di cư này, người Việt từ Trung Quốc trở về có vai trò đặc biệt. Cùng với tiếng nói đơn âm và thanh điệu, họ mang về đất tổ những con người tài năng với kinh nghiệm quý giá của cuộc sống năng động phía Bắc. Ta còn nhớ, năm 43 sau khi diệt cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện đã thi hành cuộc diệt chủng tàn khốc. Ông bắt 300 gia đình quý tộc hàng đầu của Âu Lạc (khoảng 3000 tới 4000 người) đi đày ở huyện Linh Lăng Nam Dương Tử. Mất tầng lớp ưu tú nhất, Âu Lạc như rắn mất đầu, hầu như không còn năng lực để vươn dậy. Phải 200 năm sau mới có cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh. Cũng phải 200 năm nữa mới có cuộc vùng dậy của Lý Bí, là hậu duệ đời thứ bảy của một người Giang Nam di tản thời Tây Hán. Đinh Bộ Lĩnh là con Đinh Công Trứ, Quyền Thứ sử Hoan châu kiêm Ngự Phiên Đô Đốc, một vị quan từ Giang Nam tới. Rồi tổ tiên những dòng vua rực rỡ nhất trong sử Việt như Lý, Trần cũng thuộc những lớp người di tản này…

    Là lứa con út của đại tộc Việt, người Kinh không chỉ thụ hưởng phần đất hương hỏa trù phú nhất của tổ tiên mà còn nhận được phẩm chất di truyền cùng văn hóa ưu việt từ giống nòi. Cũng như nước từ các sông suối tạo thành biển, các tộc người Việt gặp nhau ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng miền Trung hình thành người Kinh. Nhờ vậy, người Kinh trở thành tộc người tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

    Giả thuyết trên có thể phù hợp nhất với sự thực lịch sử. Tuy nhiên, như lời của Jared Diamond: “chỉ khi được di truyền học kiểm chứng mới đáng tin.” Mong rằng ngày sự thực được chứng minh không còn xa.

    Tài liệu tham khảo:

    1. H. Maspéro. Etude sue la phonétique historique de la langue annamite. BEFEO, T.XII Hanoi 1912 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)

    2. V. Goloubew. Le peuple de Dong Son et les Muongs. Catrier de I’Ecole frse, No 10 -1937 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)

    3. Nguyễn Thế Phương. Tiếng Mường và mối liên quan về nguồn gốc giữa người Mường và người Kinh Tập san Văn Sử Địa, số 42 năm 1958.

    4. Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương. Về ngôn ngữ tiền Việt-Mường. Dân tộc học, số 1-1978.

    5. Nguyễn Tài Cẩn – Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt. Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần I Hà Nội 1988.

    6. Nguyễn Đình Khoa – Nhân chủng học Đông Nam Á. (NXB DH&THCN, H. 1983)

    7. Przyluxki R – Les Langues sino-tibetanes. Les Langues du monde,1924 (dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)

    8. Hà Văn Thùy – Tiến trình lịch sử văn hóa Việt. SG xuất bản. Amazon.com

    9. Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam. Khảo cổ học đồng bằng sông Hồng.

    http://caf.vass.gov.vn/noidung/nghiencuukhoahoc/Lists/NghienCuuKhoaHoc/view_detail.aspx?iDCapCoQuan=47&ItemID=1714

  • Việt Nam có bao nhiêu họ?

    Số Tên Họ Tại Việt Nam

    Việt Nam là nước đa sắc tộc, trong đó 88% là người Kinh, tức Việt. Hiện nay, các nhà nghiên cứu, kể cả chính quyền, chưa có con số thống kê chính thức về tên họ, chỉ có những con số của một vài tác giả. Dĩ nhiên, những con số này không phản ảnh đúng tình hình tên họ. Muốn có danh sách đầy đủ, ta phải cậy nhờ vào chính quyền qua các cuộc kiểm kê dân số.

    Vào năm 1949, ông Nguyễn Bạt Tụy, trong bài Tên Người Việt Nam, cho biết có 308 tên họ. Ông Bình Nguyên Lộc liệt kê 147 tên họ. Ông Dã Lan viết có chừng 300 họ. Ông Vũ Hiệp viết: Khối người kinh có khoảng 150 tên họ, không kể các dân tộc thiểu số thì chưa có thống kê rõ về con số dòng họ, có lẽ độ 109 dòng họ của dân tộc thiểu số mà thôi. Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, trong bài Vietnamese Names and Titles, cho biết Việt Nam có khoảng 300 họ. Giáo sư dựa vào tài liệu của nhà địa lý học Pierre Gourou cho rằng đồng bằng Bắc Việt có 202 dòng họ. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cho là Việt Nam có khoảng 300 tên họ, nhưng thông dụng chỉ khoảng vài mươi. Giáo sư Hà Mai Phương và Bảng Phong, trong bài Lược Khảo Về Tên, Họ Người Việt Nam đưa ra danh sách 351 tên họ. Năm 1992, Tiến sĩ Lê Trung Hoa, trong sách Họ Và Tên Người Việt Nam, tạm đưa ra danh sách 931 họ.

    Tại các nước tây phương, nhờ các cuộc kiểm kê dân số, người ta biết được có bao nhiêu tên họ, họ nào ở đâu có đông người, và mỗi họ chiếm bao nhiêu phần trăm dân số. Ngoài ra, các nhà tính danh học tây phương còn biết được lịch sử, ý nghĩa và xuất xứ của đa số tên họ. Đối với Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ, sau mỗi cuộc kiểm kê dân số, chính quyền nên để ý đến vấn đề thống kê tên họ. Với cá nhân, khi làm công tác nghiên cứu này, lẽ ra chúng tôi phải đến mọi vùng đất nước, nhất là các vùng có người thiểu số để thu thập dữ kiện. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh chưa cho phép, nên xin tạm đưa ra danh sách tên họ, dựa trên tài liệu thâu thập được trong thực tế và trong sách vở. Ước mong quý vị thức giả, nhất là các nhà dân tộc học, xin để ý đến vấn đề ý nghĩa và xuất xứ tên họ để một khi có đủ tài liệu, ta biết được lịch sử, ý nghĩa, và sự phân phối các dòng họ Việt Nam như thế nào.

    Ðể độc giả biết các sắc tộc tại Việt Nam có họ như thế nào, chúng tôi liệt kê tên họ theo sắc tộc. Chọn lựa này giúp độc giả biết mỗi sắc tộc có họ gì, nhưng cũng dễ làm ta lẫn lộn người sắc tộc này với sắc tộc khác, vì nhiều sắc tộc khác nhau có cùng họ. Ví dụ: sắc tộc Bố Y, Thổ, Trung Hoa, Kinh (Việt) đều có họ Phan. Sắc tộc Bố Y, Cao Lan, Chàm, Trung Hoa, Kinh đều có họ Dương, rất nhiều sắc tộc có họ Hoàng v.v…

    TÊN HỌ VIỆT NAM XẾP THEO SẮC TỘC.

    Sắc tộc Bố Y: Dương (Zàng), Lỗ (Lồ), Lục (Lù), Ngũ (Ngủ, U), Phan (Phán), Vi (Vầy),Vủ (Vù).

    Sắc tộc Brâu : Kía.

    Sắc tộc Cao Lan – Sán Chỉ : Chu, Dương, Ðàm, Hà, Hoàng, La, Lý, Liêu, Lương, Ninh, Nông, Tiêu, Trần, Trưởng, Vi.

    Sắc tộc Co : Ðinh, Hồ, Lê, Trương.

    Sắc tộc Côống: Chang, Chảo, Hù, Ly, Lò, Lùng.

    Sắc tộc Cơ Ho (Chil): Adat, Buôr, Bondưng, Bontô (buolto), Brôl, Bullya, Chifichoreo, Chil, Chilyú, Chil Mup, Ðayout, Ðayk, Ðazur, Ðakriêng, Ðé, Ðoắt, Ðưngur, Kơ, Kdun, Klong, Kon Sar, Kơpa, Kơsă, Kơsar,Kơsor,Kơsơ,Krazanh, K’tol, Lâm Biêng, Lémou, Liêng Hót, Liêng Zarang, Lơmu, Mơ Bon (Mbon), Păng Tin, Próc, Rglê, Rờ Ô (Rơ Ô, Rờ Ôn), Sarem, Sơ Ao, Sơ Kết, Srê.

    Sắc tộc Cơ Tu : A Chuếch (nước), A Dốt (vượn), A Mu (chó), A Rắt (con cuốc), Drâm (cái đầu), Nđnok (con bò), Prông (con sóc), Vọt (con khỉ).

    Sắc tộc Cờ Lao : Cáo, Chảo, Chéng, Hồ Lý, Min, Sáng, Sềnh, Sú, Vần.

    Sắc tộc Chàm (Chăm): Bá, Bạch, Báo, Bố, Châu, Chế, Chiêm, Cửu, Dụng, Dương, Ðàng, Ðạo, Ðạt, Ðổng, Fatimah, Hàm, Hán, Hứa, Kiều, Kim La, Lâm, Lộ, Lưu, Ma, Mahomach, Mang, Mân, Miêu, Nại, Não, Nguyễn, Ông (Ôn), Phú, Qua, Quảng Ðại, Sa Mách, Tài, Từ, Thành, Thập, Thị, Thiên Sanh, Thiết, Thổ, Thuận, Trà, Trương, Trượng, Văn.

    Sắc tộc Chu Ru : B’nahria, Crugiang, Dnơng Sang, Ðơ Lơng, Ya, K’bao, B’nuh, Ma, M’hỏi.

    Sắc tộc Dao : Bạch, Bàn, Bao, Ðối, Ðường, Lan, Lý, Mãn, Mùng, Phùng, Phương, Trần, Triệu.

    Sắc tộc Ðan Lai : Da, La, Lê, Vi.

    Sắc tộc Ê Ðê : Adrâng (adrơng), Ayun, Ayun Cư, Ayun Tul H’wing, Arul, Atul, Buôn Yah (Yă), Buôn Krông, Duốt, Eban, Eban Rah Lan, Emô, Enuol, (Ênuôn), Êman, Êmê, H’dơk, H’druê, Hmok, Hwing, Jdrơng, Kbul, Kêbour, Knul, Kpă, Kpơr, Ksor, Ktla, Ktub, Ktul, Mjâo, Mlô Ðuôn Ðu, Mlô Hut, Mlô Ksêi, Niê Blô, Niê Buôn Ðáp, Niê Buôn Rip, Niê Căm, Niê Gok, Niê Kđăm, Niê Hrak, Niê Mhiêng, Niê Mkriêk, Niê Mla, Niê Mlô, Niê Siêng, Niê Sơr, Niê Suk, Niê Tô, Niê Tray.

    Sắc tộc Gia Rai : Hieu, Kpa, Ksor, Nây, Pui, Rahlan, Ramah, Rchom, Rơô, Siu.

    Sắc tộc Giáy : Vùi.

    Sắc tộc Giê – Triêng : Bluông, Bruôt, Căp Năng, Ê Duốt (tên loài chim) Khoông, Kriêng, Na Xó (vùng đất đỏ).

    Sắc tộc Hà Nhì : Bờ, Có (cáo), Chu, Lò, Ly, Lỳ, Phà, Phu, Sần, Sờ, Toán, Vù.

    Sắc tộc Hàng Tổng : Cảnh, Cầm, La, Lang, Lê, Lô, Lộc, Lự, Lưu, Mạc, Nà, Núi, Nguyễn, Phùng, Trần, Trịnh, Vi, Vũ.

    Sắc tộc Hmông : Giàng, Ly, Thào, Và, Vàng.

    Sắc tộc Trung Hoa (ở Việt Nam): An, Âu, Âu Dương, Bá, Bạch, Bàng, Bành, Bao, Bì, Bồ, Bùi, Cái, Cam, Can, Cao, Cáp, Cát, Cổ, Công, Cung, Chân, Chu, Chúc, Chử, Dao, Diệc, Diệp, Doãn, Dư, Dương, Ðái, Ðàm, Ðan (Ðơn) Ðào, Ðặng, Ðậu, Ðịch, Ðiền, Ðiêu, Ðinh, Ðoàn, Ðỗ, Ðông, Ðồng, Ðường, Giản, Giang, Giáp, Hà, Hạ, Hàn, Hán, Hạng, Hầu, Hinh, Hình, Hoa, Hoàng, Hoắc, Hồ, Hồng, Hùng, Hứa, Hướng, Kỉ, Kiều, Kim, Kha, Khoan, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khứa, Khưu, Khương, La, Lã (Lữ), Lạc, Lai, Lao, Lăng, Lâm, Lê, Lệ, Lý, Liên, Lô, Lộ, Lôi, Lu, Lục, Lư, Lương, Ma, Mã, Mạc, Mạch, Mai, Mạnh, Mao, Mẫn, Mộc, Mục, Ninh, Ngạc, Ngô, Ngũ, Ngụy, Ngươn, Nguyễn, Nghê, Nghị, Nghiêm, Nhan, Nhâm, Nhữ, Ô, Ông, Phạm, Phan, Phàn, Phó, Phù, Phú, Phùng, Phương, Quách, Quan, Quản, Quang, Sầm, Si, Sĩ, Sở, Sử, Tạ, Tả, Tào, Tăng, Tân, Tần, Tất, Tiêu, Tô, Tôn, Tống, Từ, Tưởng, Thái, Thang, Thành, Thẩm, Thân, Thiệu, Thời, Thường, Toàn, Trác, Trang, Trần, Triệu, Trình, Trịnh, Trương, Ung, Uông, Văn, Vân, Vu, Vũ, Vương, Vưu, Xa.

    Sắc tộc Kinh (Việt) : A, Ai, An, Áo, Ân, Âu, Bá, Bà, Bạc, Bạch, Bàn, Bàng, Bành, Bảo (Bửu), Bạt, Bằng, Bê, Bế, Bi, Bì, Bia, Biên, Biện, Bình, Bố, Bồ, Bổ, Bôi, Bông, Bu, Bùi, Ca, Cả, Cai, Cái, Cam, Cảm, Can, Càng, Cánh, Cảnh, Cao, Cáo, Cáp, Cát, Căn,Cắt, Cầm, Cần, Cấn, Chan Chàng, Châm, Chân, Châu, Chế, Chi, Chim, Chiêm, Chiều, Chu (Châu), Chúc, Chung, Chuyên, Chử, Chức, Chương, Cô, Cố, Cổ, Cốc, Công, Công Huyền, Công Nữ, Công Tằng Tôn Nữ, Công Tôn, Cống, Cù, Cung, Cự, Cửu, Dã, Danh, Dân, Dì, Dị, Diệc, Diệp, Diêu, Diệu, Doãn, Dụ, Dung, Duy, Dư, Dương, Ða, Ðác, Ðái, Ðàm, Ðan (Ðơn), Ðào, Ðạo, Ðắc, Ðằng, Ðặng, Ðấu, Ðẩu, Ðậu, Ðèo, Ðiêm, Ðiền, Ðiệp, Ðiêu, Ðiều, Ðiểu, Ðiệu, Ðịch, Ðinh, Ðình, Ðịnh, Ðoái, Ðoàn, Ðồ, Ðỗ, Ðối, Ðôn, Ðông, Ðồng, Ðống, Ðổng, Ðức, Ðường, Gan, Giao, Giản, Giang, Giáng, Giao, Giáp, Giệp, Gioãn, Giốc, Gương, Hà, Há, Hạ, Hai, Hàm, Hàn, Hán, Hang, Hàng, Hạnh, Hào, Hảo, Hạp, Hâm, Hầu, Hê, Hi, Hinh, Hình, Hò, Hoa, Hoài, Hoan, Hoàng (Huỳnh), Hoắc, Hồ, Hội, Hồng, Hung, Hùng, Hui, Huy, Hứa, Hương, Hướng, Kan, Kem, Kha, Khả, Khâm, Khâu, Kheo, Khiên, Khiếu, Khôi, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khương, Khưu, Kiên, Kiện, Kiều, Kiệu, Kim, Kỷ, La, Lã, (Lữ), Lại, Lại, Lang, Lanh, Lãnh, Lão, Lăng, Lâm, Lầu, Lê, Lều, Lịch, Liêm, Liên, Liêng, Liêu, Liễu, Linh, Lĩnh, Liu, Lò, Lô, Lỗ, Lộ, Lộc, Lôi, Lợi, Lù, Lục, Luyện, Lữ, Lương, Lưu, Lý, Ma, Mã, Mạc, Mạch, Mai, Man, Mang, Mạnh, Mao, Mẫn, Mật, Mậu, Mẫu, Mị, Miên, Minh, Mục, Mùi, Nan, Nga, Ngạc, Ngân, Nghê, Nghi, Nghĩa, Nghiêm, Nghiên, Ngọ, Ngọc, Ngô, Ngũ, Ngụy, Nguyễn, Ngư, Ngưu, Nhã (Nhữ), Nham, Nhan, Nhạn, Nhâm, Nhân, Nhất, Nhiếp, Nhung, Niên, Ninh, Nông, Nung, Nùng, On, Ong, Ô, Ôn, Ông, Phạm, Phan, Phàn, Phẩm, Phí, Phó, Phòng, Phô, Phù, Phú, Phúc, Phùng, Phương, Quách, Quan, Quản, Quang, Quảng, Quấc (Quốc), Quân, Quất, Quyên, Quyến, Quyền, Quỳnh, Roãn, Sa, Sái, Sam, Sâm, Sầm, Sẩm, Sĩ, Sở, Sơn, Sử, Sưu, Tạ, Tán, Tang, Tào, Tạo, Tảo, Tắc, Tăng, Tân, Tần, Tất, Teo, Tha, Thạc, Thạch, Thái, Thang, Thanh, Thành, Thảo, Thẩm, Thân, Thê, Thể, Thềm, Thi, Thiên, Thiện, Thiết, Thiệt, Thiều, Thiệu, Thịnh, Thông, Thôi, Thủ, Thục, Thượng, Ti, Tích, Tiên, Tiến, Tiệt, Tiêu, Toàn, Tô, Tôn, Tôn Thất (Tôn Nữ) Tống, Tuyên, Trà, Trác,Trang, Trầm, Trần, Tri, Trí, Triển, Triệu, Trình, Trịnh, Trong, Tru, Trung, Trừ, Trực, Trưng, Trương, Trượng, Tuân, Tuấn, Tùng, Tư, Từ, Tường, Tướng, Tưởng, Tượng, U, Ủ, Uất, Ung, Uông, Uyển, Ưng, Ứng, Ửng, Vạn, Văn, Vân, Vận, Vầu, Vệ, Vi, Viêm, Viên, Viết, Vinh, Vĩnh, Vịnh, Vu, Vũ (Võ), Vòng, Vỏng, Vô, Vù, Vương, Vưu, Vỹ, Xa, Xuân, Yết.

    Sắc tộc Khơ Me : Bàn, Binh, Chanh, Chau (Chao, Châu), Chiêm, Danh, Dương, Ðào, Ðiều, Ðoàn, Ðỗ, Hoàng (Huỳnh), Hứa, Kỳ, Kim, Khan, Khum, Khưu, La, Lâm, Lê, Lý, Liêu, Lộc, Lục, Lưu, Mai, Néang (Neong, Nương), Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Phạm, Sơn, Tăng, Tô, Từ, Tưng, Thạch, Thị, Thuận, Trà, Trần, U, Uônth, Xanh, Xath, Xum.

    Sắc tộc Khơ Mú : Chưndre, Di Vê, Goi, Hrlip, Ho Họa, Hual, Ir Glaa, Kưmbur, Khư Tlốc, Klảng, Lang Tu, Ma, Moong, Ôm Cô Tlê, Ôm Lít Praga, Rét, Ric, Rivi, Rvai Deer, Rvai Tlăp, Rvai Veng Ung, Rvai Xênh Khương, Tgoóc Xloóc Ôm, Tiác, Thrăng, Tmoong Hol, Tmoong Rung, Tong, Tvạ Ngăm, Tvạ Tờ Rông Blai, Tvạ Vơor, Xoong.

    Sắc tộc La Chí : Ly, Lùng, Tận, Vương.

    Sắc tộc La Hủ : Cha, Chang, Giàng, Hoàng, Ky, Ly, Lò, Pờ, Phản, Phù, (Lo Phù), Thàng, Vàng.

    Sắc tộc Lào : Ca, Lò, Lường, Vi.

    Sắc tộc Lô Lô : Bàn, Cáng, Cổ, Chi, Chông, Dào, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lồng, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thồ, Vàng, Văn.

    Sắc tộc Lữ : Lò, Tao, Vàng.

    Sắc tộc Mày : Cao, Hồ.

    Sắc tộc Man Thanh : Chưởng, Kha, Lang, Lò, Lô, Lộc, Lư, Ngân, Quang, Vì.

    Sắc tộc Mèo : Cù, Giàng, Hản, Hầu, Lâu, Ly, Lù, Lùng, Mã, Mùa, Pa, Sùng, Tẩn, Thào, Thèn, Tráng, Vàng, Vù.

    Sắc tộc Mnông : Ba Sưr, Bing, Byang, Bu Ðăm, Bu Ðớp, Bu Sor, Bu Tông, Bun Ô, Bun Tol, Buôn Krông, Chín, Ðak Cat (Ðắc Chắt), Ðinh Ðrang, Ja, Kliêng, Liêng, Liêng Hot, Long Ding, Lưk, Mbuôn, Mdrang, Mok, Nđu, Nong, N’tơr, Ong, Pang Pé, Pang Sur, Pang Ting, Pang Trong, Phi Mbre, Phok (Phôk), Rche, Rchil, Riam (Ryam), Rlăk, Sruk, Tơr, Tu Mol, Triek (Triếc) Uê Dak, Vmăk.

    Sắc tộc Mường : Bạch, Bùi, Cao, Ðinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh, Xa.

    Sắc tộc Nguồn : Cao, Ðinh, Hồ, Ngô, Nguyễn, Thái, Trương.

    Sắc tộc Nùng: Lành, Long, Mông, Vòng.

    Sắc tộc Ơ Ðu : Khăm, Lò.

    Sắc tộc Pà Thẻn : Ðờ (Ca Ðo) Hưng, Làn (Ca La Me), Lìu (Dìu), Phù (Ca Bô), Sình ( Ca Sơ),Táy, Tảy, Tấn, Tẩn, Vàn.

    Sắc tộc Pu Nà : Chảo (Triệu), Giàng (Dương), Phán (Phan), Trần, Vàng (Vương)

    Sắc tộc Pu Péo : Củng, Chồ, Chúng, Giàng, Lèng, Lù, Lùng, Ka Bởng, Ka Bu, Ka Căm, Ka Cung, Ka Chăm, Ka Rảm, Ka Ru, Ka Rựa, Ka Sô, Pề, Phủ, Thào, Tráng, Vàng,

    Sắc tộc Phù Lá: A Sí, Nhơ Hê

    Sắc tộc Quỉ : Hữu Vi, Lò Khăm (Sầm), Mướn Quán (Lang).

    Sắc tộc Raglai : Ba Rau, Bo Bo, Catơ (Katơr), Cà Mau, Copuró, Chamalé, Chip, Do, Hà Dài, Jarao, Lao, Man, Patau Axá, Pateh, Pinăng, Pupor.

    Sắc tộc Rhadé : Ayun, Buôn Driêng, Buôn Krong, Éban, Hdok, Mlô, Niê Kdam, Niê Hrah, Niê Kriêng, Niê Siêng.

    Sắc tộc Sán Dìu : Diệp, Lê, Lý, Ninh, Tạ, Từ, Trần, Trương.

    Sắc tộc Si La : Hù, Pồ (Bờ).

    Sắc tộc Stiêng : Ðiểu

    Sắc tộc Tà Ôi : Avét, Hoa Hăr.

    Sắc tộc Tày Mười : Anh, Kha, Lô, Lộc, Lương, Núi, Ngân, Vàng, Xay, Xền.

    Sắc tộc Tày Pọng : La, Viềng

    Sắc tộc Tu Dí : Cháng, Dì, Giàng, Hoàng, Lồ, Nùng, Phố, Phùng, Thàng, Vàng, Vùi.

    Sắc tộc Thái : Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà, Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Ðèo, Ðiều, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm),Lý, Lò (Lô, La), Lộc, Lự, Lường (Lương), Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Ðào), Tạo, Tòng (Toòng) Vang, Vì (Vi, Sa) Xa, Xin.

    Sắc tộc Thổ : Bùi, Cao, Chu, Hoàng, Hồ, Lê, Nguyễn, Phạm, Phan, Trần, Trương.

    Sắc tộc Thủy : Bàn, Lý, Mùng

    Sắc tộc Xá Khmú : Co, Cút, Hùng, Lự, Moong, Xeo.

    Sắc tộc Xinh Mun: Cút, Hoàng, Lò, Lường, Mè.

    Nguyễn Long Thao
    VietCatholic News (Chúa Nhật 19/12/2004)
  • Cụ Rùa Hồ Gươm bao nhiêu tuổi?

    Cụ Rùa Hồ Gươm bao nhiêu tuổi?

    Rùa Hồ Gươm hay còn được gọi là Cụ Rùa là con rùa đã từng sống tại Hồ Gươm, chết vào ngày 19 tháng 1 năm 2016

    Có thông tin cho rằng, cụ Rùa Hồ Gươm đã 700 tuổi, nhưng kết quả phân tích ADN lại cho thấy, cụ Rùa Hồ Gươm mới chỉ hơn 100 năm.

    Khoảng 16h30 ngày 19/1, các lực lượng quản lý hồ Gươm đã phát hiện cụ rùa hồ Gươm chết và nổi ở trong hồ gần khu vực đường Lê Thái Tổ.

    Đây là một tin rất đáng buồn đối với nhiều người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung, bởi hình ảnh “cụ rùa” và Hồ Gươm từ lâu nay vẫn gắn bó với những hoài niệm về một Hà Nội giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, xã hội.

    Ngay khi phát hiện, các ngành chức năng của thành phố Hà Nội đã mời giáo sư Hà Đình Đức tới để cùng các ngành chức năng của thành phố bàn giải pháp.

    PGS.TS Hà Đình Đức, người nhiều năm nghiên cứu về rùa Hồ Gươm cho biết, cá thể rùa duy nhất tại Hồ Gươm là loài đặc biệt quý hiếm, trên thế giới chỉ có 4 cá thể, trong đó 1 ở Hồ Gươm, 1 ở Đồng Mô (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) và 2 cá thể ở thượng Hải (Trung Quốc).

    Cụ Rùa Hồ Gươm. (Ảnh: Tiền Phong)
    Cụ Rùa Hồ Gươm. (Ảnh: Tiền Phong)

    Được biết, lần nổi lên gần đây nhất của cụ Rùa Hồ Gươm là vào trưa ngày 21/12/2015. Khi đó, “cụ” rùa nổi lên ở gần khu vực đối diện đường Lê Thái Tổ (Hoàn Kiếm – Hà Nội). Ở lần đó, cụ rùa nổi trong hơn hai tiếng từ 10h sáng đến hơn 12h. Ở lần nổi lên cuối cùng ngày, “cụ” xuất hiện với mai bóng nhẫy, trơn mượt.

    Vào năm 2011, cụ Rùa có cân nặng 169kg, chiều dài của mai Rùa 1,3m. Cũng trong năm này, Hà Nội đã đưa cụ Rùa lên khám bệnh và chữa trị trong hơn 3 tháng.

    Trước đó, báo giới trong nước đã từng đưa thông tin về tuổi của cụ Rùa. Tuy nhiên, các thông tin chưa nhất quán. Trong đó, có thông tin nói rằng cụ Rùa đã 700 tuổi song cũng lại có thông tin cho rằng cụ Rùa chỉ mới hơn 100 tuổi.

    Trong bài viết có tựa đề ““Giáo sư rùa” Hà Đình Đức” đăng trên tờ Người Lao Động có viết: “Theo nghiên cứu của PGS Hà Đình Đức, cụ Rùa Hồ Gươm ước đã 700 tuổi, nặng chừng hai tạ”.

    Thế nhưng, tháng 4/2011, hội đồng chữa trị cho cụ Rùa Hồ Gươm đã tiến hành phân tích ADN cho cụ Rùa và khẳng định, Rùa Hồ Gươm là rùa cái, tuổi thọ có thể hơn 100 năm.

    TS Bùi Quang Tề (trưởng nhóm chẩn đoán và chữa trị Rùa Hồ Gươm) thông tin trên tờ Tuổi Trẻ sau khi tiến hành phân tích ADN cho cụ Rùa như sau:

    “Qua lấy mẫu phân tích, có thể khẳng định Rùa Hồ Gươm là một loài mới khác hoàn toàn với loài rùa Thượng Hải, đồng thời cũng không cùng loài với rùa Đồng Mô”.

    Các nhà khoa học của Viện Công nghệ Sinh học khẳng định trên tờ Tiền Phong: “Cụ Rùa hiện sống tại Hồ Hoàn Kiếm là cùng loài với rùa thu thập tại Quảng Phú (Thanh Hóa), Suối Hai, Hương Ký (Hà Nội), đây là loại rùa lớn mai mềm nước ngọt đặc hữu của Việt Nam.

    Theo Phununews.vn

    Truyền thuyết “Trả Gươm”

    Truyện xưa kể rằng, khi dấy binh khởi nghĩa, Lê Lợi đã được Đức Long Quân cho mượn thanh Bảo Kiếm. Sau khi đánh đuổi hết quân xâm lược, giành lại giang sơn xã tắc, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế.

    Truyền thuyết "Trả Gươm"

    Một hôm nhà vua ngự trên thuyền rồng cùng bá quan văn võ du ngoạn  ngắm cảnh vật bên hồ Lục Thủy giữa kinh thành Thăng Long. Bỗng nhiên thần Kim Quy xuất hiện bơi đến trước mũi thuyền và tâu với nhà vua rằng:

    – Việc lớn đã xong xin Người hãy hoàn lại thanh Bảo Kiếm cho Đức Long Quân.

    Thanh Thần Kiếm vẫn bên mình nhà vua từ ngày dựng cờ khởi nghĩa bỗng rùng rùng rồi vút bay khỏi vỏ hướng đến  Rùa Vàng. Nhanh như chớp, thần Kim Quy đớp ngang lưỡi kiếm và lặn sâu xuống hồ. Từ đó một vệt sáng xanh ngắt bay vút thẳng lên trời. Khi đó thuyền của bá quan văn võ cũng vừa tới. Nhà vua liền phán:

    – Khi ta dựng cờ khởi nghĩa Đức Long Quân đã cho ta mượn  thanh Bảo Kiếm, nay việc lớn đã xong Người sai phái sứ thần đến đòi  ta đã trao trả lại.

    Kể từ đó hồ Lục Thủy đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm) hay Hồ Gươm.

  • Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa

    Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa

    3 Ngày Tết hay đi coi hát cải lương ở đây! Nhưng Bạn có biết :
    Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai không?

    Năm 1940 tại góc đường Général Marchand và Gallieni (Nguyễn Cư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 – 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.

    Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.

    Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.

    Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão.

    Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại….”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm.

    Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.

    Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.

    Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…

    Câu chuyện lập nghiệp của ông chủ Rạp Hưng Đạo xưa
    Thượng Hồng
    Theo Dân Sài Gòn xưa.

  • Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Cùng chiêm ngưỡng một số hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam, biết đâu trong những hình ảnh này bạn lại bắt gặp một hình dáng quen thuộc nào đó. Hãy cùng chúng tôi chiêm ngưỡng một nửa thế giới của chúng ta nhé!

    Thời xưa

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nayVẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

    Chiến tranh…

    Nhân vật trong ảnh là nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Cần, người Nghệ An. Cô là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh năm 1967. Thời đó, các nữ thanh niên xung phong gánh vác những nhiệm vụ như vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, cứu trợ thương binh và lấp hố bom mở đường.
    Nhân vật trong ảnh là nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Cần, người Nghệ An. Cô là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh năm 1967. Thời đó, các nữ thanh niên xung phong gánh vác những nhiệm vụ như vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, cứu trợ thương binh và lấp hố bom mở đường.
    Bức ảnh chụp “O du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai áp giải một phi công Mỹ bị bắt vào năm 1965. Hình ảnh một nữ dân quân nhỏ bé áp giải viên phi công cao lớn đã trở thành biểu tượng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giữa một dân tộc nhỏ bé với kẻ thù lớn hơn gấp nhiều lần
    Bức ảnh chụp “O du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai áp giải một phi công Mỹ bị bắt vào năm 1965. Hình ảnh một nữ dân quân nhỏ bé áp giải viên phi công cao lớn đã trở thành biểu tượng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giữa một dân tộc nhỏ bé với kẻ thù lớn hơn gấp nhiều lần
    Tấm ảnh chụp năm 1969 của nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam - La Thị Tám. Cô đã đếm và cắm tiêu 1.205 quả bom do địch trút xuống để lực lượng công binh của ta đến phá bom, đảm bảo thông suốt cho tuyến đường tiếp viện vào Nam. Cô được phong anh hùng khi mới 20 tuổi.
    Tấm ảnh chụp năm 1969 của nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam – La Thị Tám. Cô đã đếm và cắm tiêu 1.205 quả bom do địch trút xuống để lực lượng công binh của ta đến phá bom, đảm bảo thông suốt cho tuyến đường tiếp viện vào Nam. Cô được phong anh hùng khi mới 20 tuổi.
    Sự kiên cường toát lên trong ánh mắt của người nữ chiến sĩ trong bức ảnh. Thời đó, những cô gái xung phong ra chiến trường với khát khao bảo vệ cuộc sống hòa bình của quê hương, thành quả mà ngày nay mỗi chúng ta đang được thừa hưởng.
    Sự kiên cường toát lên trong ánh mắt của người nữ chiến sĩ trong bức ảnh. Thời đó, những cô gái xung phong ra chiến trường với khát khao bảo vệ cuộc sống hòa bình của quê hương, thành quả mà ngày nay mỗi chúng ta đang được thừa hưởng.
    Người nữ giải phóng quân nở một nụ cười tươi rói trong đợt tiến công cuối cùng vào giải phóng Sài Gòn. Công cuộc thống nhất đất nước có sự đóng góp không nhỏ của những người phụ nữ cầm súng, mà trong số họ có nhiều người đã nằm lại chiến trường.
    Người nữ giải phóng quân nở một nụ cười tươi rói trong đợt tiến công cuối cùng vào giải phóng Sài Gòn. Công cuộc thống nhất đất nước có sự đóng góp không nhỏ của những người phụ nữ cầm súng, mà trong số họ có nhiều người đã nằm lại chiến trường.

    Trong lao động sản xuất

    Trong cuộc sống hiện đại

    16PhuNu_VietNam 12PhuNu_VietNam480 10PhuNu_VietNam480 9PhuNu_VietNam480 6PhuNu_VietNam480… và Nghệ thuật

    20PhuNu_VietNam-size-0x0-znd 21PhuNu_VietNam480-size-0x0-znd 23PhuNu_VietNam500-size-0x0-znd 25PhuNu_VietNam500-size-0x0-znd

    Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam in đậm dấu ấn trong thơ ca, nhạc, họa, điêu khắc… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc.

    Phụ nữ Việt Nam (PNVN) từ xưa tới nay vốn mang vẻ đẹp thầm lặng thoang thoảng như hương quế giữa rừng xa:

    Em như cây quế giữa rừng

                                    Ngát thơm ai biết, lẫy lừng ai hay.

     

    Đó là vẻ đẹp chân quê, giản dị và đáng yêu. Ở họ không phải lúc nào cũng là liễu yếu đào tơ, là cái bóng của người đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức mạnh chẳng kém gì nam giới. Họ làmột nửa của cuộc sống nhân loại. Nhà văn M. Gôrky (người Nga) đã nói: Không có mặt trời thì hoa không nở/ Không có mẹ hiền, anh hùng, thi sĩ hỏi còn đâu?.

     

    Từ xưa, phụ nữ ta đã có truyền thống chống ngoại xâm: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Trong cuộc dựng nước và giữ nước đã có nhiều phụ nữ nổi tiếng như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan… đã làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn. Hai Bà Trưng đã từng:

    Hồng quần nhẹ bước chinh yên

                                   Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thùy.

    Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu hy sinh anh dũng của các chị: Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Võ Thị Thắng, chị Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Trương Mỹ Hoa v.v. Quyết tâm đánh giặc đến cùng của các mẹ, các chị là Còn cái lai quần cũng đánh (Người mẹ cầm súng – Nguyến Thi)

     

    Trên lĩnh vực Văn học Nghệ thuật, Giáo dục, Khoa học… nhiều phụ nữ là những nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ  nhạc sĩ, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ  tài năng như: Diệu Nhân (người Phú Thọ)- một thiền sư, nữ sĩ thời Lý; Nguyễn Thị Duệ (người Chí Linh- Hải Dương, bà Huyện Thanh Quan (tức Nguyễn Thị Hinh), người Hà Nội- một nhà thơ tài hoa ở thế kỷ thứ XIX; bà Bảng Nhãn (tức Lê Thị Liễu)- nữ sĩ nổi tiếng ở đất Quảng Nam; và các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… cho tới Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Cầm, Sương Nguyệt Ánh, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Thuý Bắc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dương Thị Xuân Qúy v.v.

     

    Trên bất kỳ lĩnh vực nào, ở giai đoạn lịch sử nào ta cũng đều bắt gặp tên tuổi của những phụ nữ nổi tiếng, làm vẻ vang dân tộc. Cả thế giới đều tôn vinh phụ nữ. Chúng ta hãy nhìn lại những quan niệm về vẻ đẹp của người PNVN xưa và nay. Vẻ đẹp ấy biểu hiện qua hình thể, lý tưởng và lẽ sống, trí tuệ và tâm hồn. Hay nói một cách khác đó là vẻ đẹp về hài hoà giữa hình thức và nội dung

     

    Trước CMT8 phần lớn PNVN nhuộm răng đen, búi tóc đuôi gà, mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao… Ca dao-dân ca, thơ văn, nhạc hoạ đã ghi lại:

     Một yêu tóc bỏ đuôi gà

                                        Hai yêu ăn nói mặn mà có duyên

                                                Ba yêu má lúm đồng tiền

                                        Bốn yêu răng nhuộm hạt huyền thêm xinh

                                               Năm yêu con mắt hữu tình…

    Hay như những câu:

    “Những người con mắt lá dăm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”

    “Ai làm cái nón quai thao/ Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”.

    “Ngó lên đầu tóc em bao/ Chéo khăn em bịt dạ nào chẳng xiêu”.

              “Cô kia bới tóc đuôi gà/ Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?”

              “Bước lên xe đầu đội khăn rằn/ Dáng đi yểu điệu, ngồi gần say mê”

              “Răng đen ai nhuộm cho mình/ Để duyên mình đẹp, để tình mình ưa”

              “Những người thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”.v.v…

     

    Hoặc trong thơ Nguyễn Bính:

     Nào đâu cái yếm lụa sồi

                                           Cái dây lưng đủi nhuộm hồi sang xuân

                                                 Nào đâu cái áo tứ thân

                                          Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?  (Chân quê).

     

    Một thời cha ông ta lại quan niệm người phụ nữ có khuôn mặt chữ điền mới đẹp Mặt chữ điền lắm tiền nhiều ruộng. Đó là vẻ đẹp phúc hậu, đã từng đi vào thơ Hàn Mặc Tử: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ). Đến thời hiện đại vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ thật lắm màu nhiều sắc. Cái áo tứ thân của mẹ ta xưa đã được cách điệu thành áo dài với nhiều kiểu dáng. Tà áo em bay bay, bay bay trong nắng dịu dàng/ Aó bay trên đường như mây xuống phố/ Áo trên sân trường tựa cánh chim câu. Đẹp biết bao quê hương cho em chiếc áo nhiệm màu! (Một thoáng quê hương – Từ Huy và Thanh Tùng).

    Vẻ đẹp của người Phụ nữ Việt Nam xưa và nay trong văn học

    Nhà thơ Nguyễn Duy đã đã nhớ lại một thời áo trắng sân trường:

    Thướt tha áo trắng nói cười

                                          Để ta thương nhớ một thời áo nâu  (Áo trắng má hồng).

    Nhà thơ Lê Đình Cánh thì:

    Ở đâu tôi cũng phải lòng

                                       Những cô thôn nữ nâu sồng áo quê   (Cảnh nghèo)

    Còn nhà thơ Phạm Đình Ân lại bị hút hồn bởi chiếc áo nâu của cô gái:

    Anh yêu áo trắng, áo hồng

                                         Lại càng yêu đến vô cùng: áo nâu!   (Áo nâu)

    Hoặc anh cảm nhận được vẻ đẹp nền nã của chiếc áo đen mà em đã mặc trong cái thuở ban đầu:

    Aó đen ai mặc tình cờ

                                       Để cho ai nhớ bây giờ ai quên?

                                         … Thanh tao nào phải kén màu

                                       Sắc đen ngậm ánh sáng vào bên trong…  (Áo  đen).

     

    Nhà thơ Bùi Văn Bồng trong một buổi chiều tà bên bờ sông Hậu khi nhìn thấy cô gái Nam Bộ mặc áo bà ba, chèo xuồng ba lá đã quên cả lối về, vì đã quá đam mê trước vẻ đẹp của tà áo diệu kỳ này:

    … Dòng sông thì rộng mênh mông

                                       Aó em lại thắt eo hông làm gì

                                             Khen ai khéo chít đường ly

                                      Để cho tà áo thầm thì lời quê.

    (Aó bà ba)

     

    Vẻ đẹp của chiếc áo bà ba ấy cũng đã hơn một lần được nhạc sĩ Nhật Trường- Trần Thiện Thanh ngợi ca: Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm/ Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon.

    Nhưng có lẽ vẻ đẹp lâu bền nhất của người con gái và có sức quyến rũ lạ kỳ là cái duyên ngầm. Chẳng thế mà khi chồng giận, cô gái đã khéo nhỏ nhẹ:

    Chồng giận thì vợ làm lành

                                        Miệng cười tủm tỉm: rằng anh giận gì?

     

    chứ không như cô gái khác quá vội vàng và dứt khoát để chia tay:

    Đất xấu vắt chẳng nên nồi

                                        Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng.

    Hoặc có cô thẳng thừng tuyên bố:

    Chồng gì anh, vợ gì tôi

                                         Chẳng qua là cái nợ đời cầm tay.

     

    Hạnh phúc của vợ chồng, của gia đình đôi khi chỉ vì một sự tự ái, một chút nghi ngờ thiếu cảm thông là có thể đổ vỡ. Nhưng đa số PNVN rất giàu lòng vị tha và có đức hy sinh. Có người đã tự hạ mình xuống tận cùng để giữ gìn hạnh phúc:

    Chàng ơi phụ thiếp làm chi

                                         Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.

    Hoặc có khi hạnh phúc đã tan vỡ,  người vợ đã chia tay anh chồng phụ bạc rồi nhưng vẫn còn khuyên và lo cho anh:

    Anh về lấy vợ bên sông

                                        Còn tôi tơ tưởng lấy con ông lái đò

                                               Phòng khi sóng cả, gió to

                                         Để tôi còn kịp chở đò đưa anh.

     

    Anh đã có vợ khác, tôi đã có chồng, nhưng tôi vẫn độ lượng cứu giúp anh những lúc thất cơ lỡ vận,  khi anh gặp phải cảnh cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Thế mới biết tấm lòng vị tha của PNVN đẹp biết chừng nào!

     

    Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đã làm một cuộc đổi đời cho dân tộc. Những cô yếm thắm răng đen, sột soạt quần nâu, mặc áo tứ thân đã cầm súng, cầm cuốc đi phá đường, cản bước tiến của thực dân Pháp, gác lại mọi chuyện gia đình:

     

    Nhà em phơi lúa chưa khô

                                      Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong

                                           Nhà em con bế con bồng

                                     Em cũng theo chồng đi phá đường quan.  (Tố Hữu)

     

    Họ là những phụ nữ ba đảm đang, ba sẵn sàng việc nước, việc nhà để chồng con yên tâm đánh giặc. Đã có biết bao bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về, mình mẹ lặng im (Tạ Hữu Yên). Có mẹ ở Hà Bắc đã vá hơn hai trăm chiếc áo cho bộ đội, chiến sĩ: …Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc, áo con rách thêm/ Nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo/ Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo/ Đời mẹ nghèo thương áo rách/ Áo rách nên thương/ (Nguyễn Văn Tý). Người mẹ trong bài thơ Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly đã Ðào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc/ Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác/ Bao đêm ròng tiếng cuốc vọng năm canh. Tấm lòng mẹ rộng mênh mông như luỹ như thành, có thể dấu cả sư đoàn dưới đất. Chính những việc làm tưởng như nhỏ nhoi của các mẹ, các chị đã góp phần làm nên một Dáng đứng Việt Nam, một sức mạnh Việt Nam tạc vào thế kỷ. Những bà má ở Hậu Giang, bà Bầm ở Trung du, bà Bủ ở Việt Bắc, mẹ Tơm ở Thanh Hoá, mẹ Suốt ở Quảng Bình, chị Út Tịch ở Cầu Kè, Trà Vinh… và biết bao các mẹ, các chị đã đi vào thơ ca, nhạc, hoạ. Chị Út Tịch với quyết tâm đánh Mỹ đến cùngCòn cái lai quần cũng đánh. Những cô gái người Pa cô, Vân Kiều đi tải đạn, và tay vót chông miệng hát không nghỉ. Những cô gái Châu Yên ở Tây Bắc với bàn tay vén khéo Đụng vào khung cửi vải thành hoa/ Vung nắm tấm hoá ra đàn gà, thế mà các cô đã dùng súng trường hạ thần sấm, con ma của không lực Huê kỳ. Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), tuổi đẹp như trăng rằm từ 18 đến 20 đã ngã xuống để làm xanh một khoảng trời con gái (Lâm Thị Mỹ Dạ). Nhiều cô gái Em ở nông trường hay ra biên giới miệng vẫn hát vang lời ca Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao! Những cô giáo ở Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay ở vùng sâu, vùng xa hy sinh cả tuổi xuân để đem chữ Cụ Hồ tới đàn em thơ ở các bản làng dân tộc xa xôi, hẻo lánh. Cô giáo người Tày Tô Thị Rĩnh đã dùng tiếng đàn để thu hút các em học sinh người Hmông tới lớp, lấy đồng lương ít ỏi của mình để mua tập vở cho các em. Ta hãy nghe lời tự hát, tự ru lòng mình đến rơi nước mắt của các cô giáo ở một bản làng heo hút vùng cao:

     

    Ở rừng tự hát ru nhau

                                         Lá trầu chị héo, quả cau em già

                                               Ước ao có một gian nhà

                                         Có trưa đưa võng đón bà lên chơi…   (Em đi – Lê Đình Cánh).

     

    Những người PNVN đẹp trong lao động, đẹp trong chiến đấu, và trong đời thường họ càng đẹp hơn. Người vợ đã nén nỗi đau, tiễn chồng ra trận và hứa với anh: Lúa tốt lắm anh ơi/ Giải thi đua em giật (Trần Hữu Thung), vẫn luôn xoè bàn tay bấm đốt , nhìn hoa bưởi, hoa chanh mà mong ngày anh về. Chị không mang nỗi buồn bi luỵ như người chinh phụ xưa trong buổi tiễn đưa:

     

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

                                      Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

                                            Ngàn dâu xanh ngắt một màu

                                     Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?      (Chinh phụ ngâm)

     

    Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã cảm nhận được vẻ đẹp kín đáo của một cô gái nông thôn gói bông bưởi vào chiếc khăn tay tặng người yêu ngày mai ra trận: Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu…/Hai người chia tay sao chẳng nói điều chi/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi. Nhiều cuộc chia tay đẹp như cánh nhạn lai bồng dưới một trời phượng đỏ.

     

    Những người mẹ, người vợ ở hậu phương luôn làm yên lòng người đi chiến đấu. Nàng dâu và mẹ chồng càng thương nhau hơn: Phải đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi/ Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong… (Xuân Quỳnh). Người mẹ nào mà chẳng thấy mát lòng hả dạ khi nghe những lời tâm tình của nàng dâu như thế! Người phụ nữ hôm nay không còn là những cô gái xưa trong thơ Nguyễn Bính: Em là con gái trong khung cửi/ Dệt lụa quanh năm với mẹ già. Họ cũng không hoá đá như nàng Tô Thị xưa. Họ là một nửa của vẻ đẹp cuộc sống, và chiếm hơn 50% dân số nhân loại.

     

    Vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của người PNVN ngày nay đã được nâng lên một bước phù hợp với thời đại trong xu thế hội nhập toàn cầu, nhưng vẫn giữ được tính dân tộc đậm đà. Họ vẫn phát huy vẻ đẹp của một thời anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang và còn mang vẻ đẹp về trí tuệ. Nhiều chị em là những giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ … ngang hàng hoặc vượt nam giới. Những hoa hậu, á hậu, hoa khôi, người đẹp thời trang hôm nay là những sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, biết hát hay, múa giỏi, trả lời ứng xử tinh thông. Họ không còn là những người đẹp trong cung cấm xưa để điểm tô cho ngai vàng phong kiến. Họ đang viết tiếp trang sử oanh liệt của Bà Triệu, Bà Trưng dưới thời đại mới, và họ có mặt khắp nơi trên mọi nẻo đường của Tổ quốc.

     

    Vẻ đẹp của người PNVN in dấu ấn đậm trong thơ ca, nhạc, họa, điêu khắc… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc.  Chúng ta hãy cùng chia sớt nỗi đau của các mẹ, các chị trong quá khứ, và cùng vui, cùng tự hào với những gì mà các mẹ, các chị đã góp phần làm nên vẻ đẹp của phụ nữ trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

    Nguồn: chiasesuckhoe.com, Facebook, Khoahoc.TV

  • Nam Phương Hoàng Hậu

    NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT DUY NHẤT MẶC ÁO VÀNG TRONG TRIỀU ĐÌNH

    Năm 1932 vua Bảo Đại về nước sau mười năm học tập ở Pháp. Bảo Đại (sinh 1913) là một ông vua đẹp trai, có Tây học, ham thích thể thao, săn bắn và âm nhạc, là hình ảnh lý tưởng của con gái Việt Nam, đặc biệt là con gái Huế thời bấy giờ và mãi nhiều năm về sau. Nhiều nhà quyền quý, có con gái đều nhắm đến vị Hoàng đế trẻ tuổi này.

    Sau ngày Bảo Đại về nước, bà Từ Cung – mẹ đẻ của vua Bảo Đại, đã chọn cô Bạch Yến con ông Phó bảng Nguyễn Đình Tiến quê ở làng Chí Long (Phong Điền, Thừa Thiên) để chuẩn bị tiến cung. Cô Bạch Yến được dạy đàn ca, thơ phú, dạy ăn nói, đi lại cho đúng với lễ nghi trong cung cấm. Hằng ngày cô được tắm gội bằng sữa dê để giữ làn da đẹp. Nhưng rồi thật bẽ bàng, cuối cùng cô Bạch Yến đã không được Bảo Đại lưu ý.

    Bởi vì Bảo Đại đã yêu cô Nguyễn Hữu Thị Lan (sinh 1914), con một nhà hào phú Nam bộ là ông Nguyễn Hữu Hào (gốc Gò Công). Bà còn là cháu ngoại ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ – người giàu nhất Nam bộ đầu thế kỷ XX, Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương.
    Tuy nhiên, với quyết định này của nhà vua, đã khiến Thái Hậu Từ Cung vô cùng phiền lòng, còn triều đình như phải đối mặt với một cơn sóng dữ.
    Bà Từ Cung bày tỏ không đồng tình việc Bảo Đại đòi lấy cô Nguyễn Hữu Thị Lan, vì tuy là con nhà giàu nhưng cha mẹ không có chức tước gì trong triều đình. Huống chi lại theo đạo Công giáo!.

    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934
    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934


    Bảo Đại còn cứng rắn thưa với mẹ rằng, nếu không lấy được Nguyễn Hữu Thị Lan thì thà ở vậy suốt đời. Vua cũng cam kết Hoàng hậu sẽ thắp nhang cúng vái tổ tiên theo đúng phong tục tập quán của người Việt.

    Người đứng đầu Tôn Nhân Phủ là Tôn Thất Hân lại càng phản đối kịch liệt. Tôn Thất Hân nêu lý do: “Thị Lan chỉ đậu tú tài toàn phần Pháp không thể so ra với Trạng Nguyên xứ ta, lại đòi làm Hoàng Hậu nữa thì không thể chấp nhận được”.
    Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại thẳng thắn trả lời Tôn Nhân Phủ như sau: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình đâu”.

    Tôn Thất Đàn, cựu thượng thư bộ Hình định thảo một kiến nghị có chữ ký của các đại thần đứng đầu các Bộ và các nha phủ quan trọng trong triều yêu cầu Nhà vua nên từ hôn với Nam Phương. Bản thân ông và bạn bè còn nghĩ đến buộc Nam Phương bỏ Công giáo theo đạo Phật pha trộn với đạo Lão đang thịnh hành ở Việt Nam nếu cứ lấy Bảo Đại. Vị cựu thượng thư còn nói thêm có một vài vị quan quyền cao đức trọng tỏ ý thà chết còn hơn được thấy việc hôn nhân này vi phạm những nguyên tắc của nhà nước quân chủ.

    Nhưng cuối cùng do sự quả quyết của Bảo Đại, bà Từ Cung và các quan đình đành phải nghe theo vua.

    Ngày 20/3/1934, hôn lễ được tổ chức tại Huế. Khi đó, Bảo Đại 21 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan 19. Bốn ngày sau, lễ Tấn Phong Hoàng Hậu rất trọng thể ở Điện Dưỡng Tâm. Nhà vua phong Hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Lan tước Nam Phương Hoàng Hậu.

    Việc phong hoàng hậu này cũng lại là một biệt lệ, vì bà cùng với Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, chính thất của Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế, là 2 vị Hoàng hậu duy nhất trong hoàng tộc nhà Nguyễn mang tước vị Hoàng hậu khi còn sống.

    Bảo Đại giải thích hai chữ Nam Phương như sau: “Tôi đã chọn tên trị vì của hoàng hậu mới là Nam Phương, có nghĩa là “Hương thơm của miền Nam” và tôi đã ra một chỉ dụ, đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng, là màu dành riêng cho Hoàng đế”.

    Với tư cách hoàng hậu, Nam Phương đã giúp cho vua Bảo Đại trong các hoạt động ngoại giao, đón tiếp các quốc khách, giao thiệp với Pháp. Nam Phương là vị Đệ nhất phu nhân Việt Nam đầu tiên được giao phụ trách các công việc xã hội, làm khuyến học, khen thưởng học sinh giỏi, giúp đỡ người nghèo, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội.
    Hoàng hậu Nam Phương có với Bảo Đại 5 người con. Hai hoàng tử và ba công chúa.

    Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam năm 1947. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng các con tại Perche, một làng cổ ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin nước Pháp. Bà mất ngày 14 tháng 9 năm 1963, đám tang được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ, thưa thớt, vắng vẻ. Bên ngôi mộ đơn sơ có tấm bia khắc chữ Pháp:

    CI REPOSE L’IMPÉRATRICE D’ANNAM NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN
    (Đây là nơi an nghỉ của Hoàng hậu nước An Nam, nhũ danh Maria Têrêsa Nguyễn Hữu Thị Lan)

    Loạt Ảnh Nam Phương Hoàng Hậu ở cuối bài viết này!
    Vatican (July 20, 1939) – Hoàng hậu Nam Phương
    Vatican (July 20, 1939) – Hoàng hậu Nam Phương
    VATICAN – The Empress of Annam received at Vatican – July 20, 1939
    VATICAN – The Empress of Annam received at Vatican – July 20, 1939
    Tràng An báo, Số 226, 4 Tháng Sáu 1937 — Yết kiến Nam Phương Hoàng hậu
    Tràng An báo, Số 226, 4 Tháng Sáu 1937 — Yết kiến Nam Phương Hoàng hậu
    Tem Nam Phương Hoàng Hậu
    Tem Nam Phương Hoàng Hậu
    Souverains et notabilites d’Indochine (8) – THÁI TỬ BẢO LONG
    Souverains et notabilites d’Indochine (8) – THÁI TỬ BẢO LONG
    Souverains et notabilites d’Indochine (5) NAM-PHƯƠNG HOÀNG-HẬU
    Souverains et notabilites d’Indochine (5) NAM-PHƯƠNG HOÀNG-HẬU
    Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    S.M. Nam-Phương Impératrice d’Annam
    S.M. Nam-Phương Impératrice d’Annam

    Souverains et notabilites d’Indochine (2)Portraits de Nam Phuong, impératrice d’Annam

    Pope Pius XII, Bao Dai king of Annam, his wife and his retinue on September 9, 1950 in the Vatican
    Pope Pius XII, Bao Dai king of Annam, his wife and his retinue on September 9, 1950 in the Vatican.
    September 09, 1950| Credit: Keystone-France
    Pope Pius XII
    https://en.wikipedia.org/wiki/Pope_Pius_XII
    Paris, France Ca. 1933 – Nam Phương Hoàng Hậu cùng các con viếng thăm trường Couvent des Oiseaux nơi bà từng theo học
    Nam Phuong HH cùng các con vi?ng tham tru?ng Couvent des Oiseaux noi bà t?ng theo h?c
    FRANCE – CIRCA 1933: Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the “couvent des Oiseaux”. 62, Ponthieu’s street where she was educated. (Photo by Roger Viollet Collection/Getty Images)
    Emperor Bao Dai And Wife Of South Vietna
    Paris, France — 10/23/1955-Paris, France: Emperor Bao Dai of South Vietnam and his wife appear before newsmen for an interview in their Paris apartment the day before the election in his country deciding between him and premier Ngo Dinnh Diem. Voters in South Vietnam were apparently voting overwhelmingly voting in favor of the primier Oct. 23. The Primier was United States supported, and the emperor Payboy hasn’t been in his native land form two years. — Image by © Bettmann/CORBIS
    Nam Phương Hoàng hậu với Thái tử Bảo Long và công chúa Phương Liên dạo chơi trong công viên
    Nam Phương Hoàng hậu với Thái tử Bảo Long và công chúa Phương Liên dạo chơi trong công viên
    Nam Phương Hoàng Hậu viếng thăm La Mã 21-7
    Nam Phương Hoàng Hậu viếng thăm La Mã 21-7
    Nam Phương và hoàng tử Bảo Thắng
    Nam Phương và hoàng tử Bảo Thắng
    Nam Phương ngày Lễ tấn phong Hoàng hậu
    Nam Phương ngày Lễ tấn phong Hoàng hậu
    Nam Phương Hoàng Hậu và Vua Bảo Đại chụp tại Hôtel Westminster ở Le Touquet France năm 1938
    Nam Phương Hoàng Hậu và Vua Bảo Đại chụp tại Hôtel Westminster ở Le Touquet France năm 1938
    Nam Phương Hoàng hậu thời còn là nữ sinh du học tại Pháp
    Nam Phương Hoàng hậu thời còn là nữ sinh du học tại Pháp

    Nam Phương Hoàng hậu

    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, have just receiv
    UNSPECIFIED – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, have just received the cross of commander of the public health. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)
    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in a Parisian pr
    FRANCE – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in a Parisian private school. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)

    Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (4) Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (3) Nam Phuong (1913), wife of Bao Dai, Annam’s empress. France, 1949 (2)

    Lăng Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu) tại Đà Lạt
    Lăng Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu) tại Đà Lạt
    KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU (1963)
    KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU (1963)
    Indochine 1934 – LE MARIAGE DE L’EMPEREUR D’ANNAM
    Indochine 1934 – LE MARIAGE DE L’EMPEREUR D’ANNAM
    INDOCHINE (2 Jan 1941) – PRINCE ANNAM
    INDOCHINE (2 Jan 1941) – PRINCE ANNAM
    Indochine – Carte-Photo – Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Indochine – Carte-Photo – Sa Majesté Nam Phuong impératrice d´Annam (Photographe_ Tang Vinh à Hué)
    Huế 1936 – lễ giới thiệu Thái Tử Bảo Long, con trưởng nam vua Bảo Đại
    Huế 1936 – lễ giới thiệu Thái Tử Bảo Long, con trưởng nam vua Bảo Đại
    Hoàng hậu Nam Phương với Hoàng tử Bảo Long và Công chúa Phương Mai
    Hoàng hậu Nam Phương với Hoàng tử Bảo Long và Công chúa Phương Mai
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc, TP Cannes, Pháp
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc, TP Cannes, Pháp
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc (thành phố Cannes, Pháp), khoảng 1950
    Hoàng hậu Nam Phương với 5 người con tại lâu đài Thorenc (thành phố Cannes, Pháp), khoảng 1950
    Hoàng hậu Nam Phương (1914) – hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ tại VN
    Hoàng hậu Nam Phương (1914) – hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ tại VN
    Hoàng gia Annam viếng thăm Điện Elysee trong thập niên 1930
    Hoàng gia Annam viếng thăm Điện Elysee trong thập niên 1930
    Gia đình vua Bảo Đại với Đức Từ Cung, mẹ của vua
    Gia đình vua Bảo Đại với Đức Từ Cung, mẹ của vua

    LA DERNIÈRE IMPÉRATRICE D’ANNAM – Nam Phuong la sacrifiée – Récit romancé de la première reine vietnamienne INDOCHINE – CIRCA 1943 – S.M. NAM-PHUONG, Impératrice d’Annam – Tem Nam Phương Hoàng Hậu do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ Impératrice d’Annam – Nam Phương Hoàng Hậu Hoàng hậu Nam Phương Hoàng hậu Nam Phương trước 1945 Hoàng hậu Nam Phương ngồi xe kéo đi trong Đại nội Hoàng hậu Nam Phương mặc âu phục, đầu những năm 1950 Hoàng hậu Nam Phương (2)

    The Imperial Family Of A Nice Annam 1950
    FRANCE – JUNE 21: The Imperial Family Of A Nice Annam 1950 (Photo by Keystone-France/Gamma-Keystone via Getty Images)
    FRANCE 1939_ Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the _Couvent des Oiseaux_ where she was educated
    Nam Phuong HH cùng các con vi?ng tham tru?ng Couvent des Oiseaux noi bà t?ng theo h?c
    FRANCE – CIRCA 1933: Nam Phuong, empress of Annam, wife of Bao Dai with her children at the “couvent des Oiseaux”. 62, Ponthieu’s street where she was educated. (Photo by Roger Viollet Collection/Getty Images)
    En avion au-dessus de VERNEUIL sur SEINE – Le couvent des oiseaux, le parc noir
    En avion au-dessus de VERNEUIL sur SEINE – Le couvent des oiseaux, le parc noir
    EN AVION AU DESSUS DU COUVENT DES OISEAUX
    EN AVION AU DESSUS DU COUVENT DES OISEAUX
    Empress Nam Phuong, wife of Emperor Bao Dai of Vietnam, waiting to be received by the Pope during a visit to the Vatican, Italy, July 28th 1954
    Empress Nam Phuong, wife of Emperor Bao Dai of Vietnam, waiting to be received by the Pope during a visit to the Vatican, Italy, July 28th 1954. (Photo by Keystone/Hulton Archive/Getty Images)
    ĐÁM CƯỚI VUA BẢO ĐẠI 16_4_1934
    ĐÁM CƯỚI VUA BẢO ĐẠI 16_4_1934
    Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in her father’s
    VIETNAM – CIRCA 1925: Nam Phuong, the Bao Dai’s spouse, in her father’s property, near Saigon. (Photo by Harlingue/Roger Viollet/Getty Images)
    Dalat – Le Tombeau du Duc Long-My – Lăng mộ Long Mỹ Quận công (thân phụ của Nam Phương Hoàng hậu)
    Dalat – Le Tombeau du Duc Long-My – Lăng mộ Long Mỹ Quận công (thân phụ của Nam Phương Hoàng hậu)
    Chân dung Hoàng hậu Nam Phương
    Chân dung Hoàng hậu Nam Phương
    Cha bề trên Eugène Larouche (1892) cùng Nam Phương Hoàng hậu và các con tại dòng Chúa Cứu Thế – Huế 1947
    Cha bề trên Eugène Larouche (1892) cùng Nam Phương Hoàng hậu và các con tại dòng Chúa Cứu Thế – Huế 1947
    Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương
    Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương
    Annam’s Empress and Children
    Annam’s Empress and Children — Image by © Bettmann/CORBIS
    Annam Emperor Bao Dai’s Marriage 1934
    Annam Emperor Bao Dai’s Marriage 1934
    Annam Dissatisfied With Young Emperor’s Fiance – The Lewiston Daily Sun – Mar 20, 1934
    Annam Dissatisfied With Young Emperor’s Fiance – The Lewiston Daily Sun – Mar 20, 1934
    ANNAM – TRUNG KỲ – Voi của vua – Hoàng hậu Annam trong lễ phục – Hoàng đế Annam Bảo Đại
    ANNAM – TRUNG KỲ – Voi của vua – Hoàng hậu Annam trong lễ phục – Hoàng đế Annam Bảo Đại
    ANNAM – S.M. BAO DAI, EMPEREUR D’ANNAM
    ANNAM – S.M. BAO DAI, EMPEREUR D’ANNAM

    ANNAM – L’ IMPÉRATRICE EN COSTUME DE CÉRÉMONIE – Hoàng hậu Annam trong lễ phục

    Tháng Tám 1933
    Ái tình và tôn giáo: Chung quanh chuyen cô Mariette Jeanne Nguyen- Huu-Hào làm Hoàng hâu nuoc Nam
    http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19330817.2.4&e=——-vi-20–1–img-txIN——#
    1954 President Coty’s WIfe Talks with Empress Nam-Phuong – Press Photo
    1954 President Coty’s WIfe Talks with Empress Nam-Phuong – Press Photo

    nam phuong hoang hau

    1945 ĐẾ QUỐC VIỆT NAM – Hoàng đế Bảo Đại & Nam Phương Hoàng Hậu (mẫu tem in thử)
    1945 ĐẾ QUỐC VIỆT NAM – Hoàng đế Bảo Đại & Nam Phương Hoàng Hậu (mẫu tem in thử)
    1942 Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đứng xem cuộc diễn hành của xứ Chùa Tháp chào mừng Hoàng gia Việt
    1942 Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đứng xem cuộc diễn hành của xứ Chùa Tháp chào mừng Hoàng gia Việt
    The Empress Of Received At Vatican Annam 1939
    The Empress Of Received At Vatican Annam 1939
    1939 – Đức Từ Cung, Hoàng Đế Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long và các quan chức Nam triều
    1939 – Đức Từ Cung, Hoàng Đế Bảo Đại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long và các quan chức Nam triều
    1934 Arrivo di NAM PHUONG, Imperatrice consorte dell’ANNAM
    1934 Arrivo di NAM PHUONG, Imperatrice consorte dell’ANNAM
    22 luglio 1939 – Roma – S.M. L’IMPERATRICE DELL’ANNAM
    22 luglio 1939 – Roma – S.M. L’IMPERATRICE DELL’ANNAM
    12 Empire of Vietnam 1945 Unissued Empress Nam Phuong Stamp Set
    Bộ tem “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” hình Nam Phương Hoàng Hậu gồm 12 con tem, mẫu in thử năm 1945, chưa phát hành.

    Hình ảnh Việt Nam Tổng hợp

  • Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu
    “Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu. Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.
    Trong căn nhà trọ nhỏ ở thị xã Bạc Liêu, ông Trần Trinh Đức – con trai của Công tử Bạc Liêu buồn bã ngắm nhìn cô con gái bị bệnh tâm thần phân liệt, cứ vô tư ngồi cười hềnh hệch. Bằng giọng trầm nhỏ, người đàn ông tuổi đã quá 60 cho hay, cuộc sống của gia đình ông hiện tại là chạy cơm mỗi bữa, tài sản duy nhất là chiếc xe máy để chạy xe ôm kiếm sống.
    Theo ông Đức, dòng họ ông bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế từ khi cha ông mất. Anh em ông bán căn biệt thự ở đường Nhất Linh, nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Gò Vấp, TP HCM để chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về ở nhờ nhà vợ tại đường Huỳnh Tịnh Của, quận 3. Dù buôn bán lặt vặt ở đất Sài Gòn nhưng nhờ được kế thừa một phần tài sản của Công tử Bạc Liêu nên cuộc sống tạm ổn. Thế rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền dẫn đến mắc nợ và bị bệnh tâm thần phân liệt. Vợ chồng ông phải bán hết tài sản còn lại để trả nợ cho con nhưng vẫn không đủ đành dắt díu nhau sang Campuchia lánh nợ với đủ thứ nghề.

    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu
    Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

    Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại TP HCM sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

    Nguồn: FB

  • Luật pháp ngày xưa

    Luật pháp ngày xưa

    Luật pháp nước ta ngày xưa rất nghiêm, tội nhân có thể bị trừng phạt bằng 5 cách:

    1-Suy (đánh bằng roi), 2-Trượng (đánh bằng gậy), 3-Ðồ (bắt đi làm việc công) 4- Lưu (đầy đi xa), 5- Tử (chết)

    Một toà án ngày xưa
    Một toà án ngày xưa
    Hỏi cung
    Hỏi cung
    thú tội
    thú tội
    Tội nhân nghe tuyên án
    Tội nhân nghe tuyên án
    Một ông quan đang xử
    Một ông quan đang xử
    ăn cắp bị phạt đòn
    ăn cắp bị phạt đòn
    ăn cắp bị phạt đòn
    ăn cắp bị phạt đòn
    ăn trộm bị phạt đòn (vở kịch)
    ăn trộm bị phạt đòn (vở kịch)
    tù nhân bị đi đày
    tù nhân bị đi đày
    tội tử hình
    tội tử hình
  • Nghệ sĩ cải lương tại Hội chợ Thuộc địa 1931

    Nghệ sĩ cải lương tại Hội chợ Thuộc địa 1931

    Hội chợ Thuộc địa Paris 1931 kéo dài trong 6 tháng, với quy mô quá sức to lớn, đã thu hút trên 33 triệu khách trên thế giới viếng thăm.

    Đoàn cải lương Phước Cương ở hội chợ thuộc địa Bois de Vicennes, Paris 1931, trong đó cô đào chính Năm Phỉ, nghệ sĩ Bảy Nhiêu, Tám Danh diễn trong vỡ “Sĩ vân công chúa”, dựa trên truyện “Tristan et Isolde”

    Các nghệ sĩ đoàn cải lương Phước Cương của xứ thuộc địa Nam Kỳ được đi thử máy bay lần đầu tiên ở Hội chợ Thuộc địa 1931, tổ chức tại Bois de Vincennes, Paris.
    Các nghệ sĩ đoàn cải lương Phước Cương của xứ thuộc địa Nam Kỳ được đi thử máy bay lần đầu tiên ở Hội chợ Thuộc địa 1931, tổ chức tại Bois de Vincennes, Paris.

    Người đứng trên máy bay là Cô Năm Phỉ tên thật là Lê-Thị-Phỉ, người đóng vai Sĩ-Vân công chúa, cặp đôi với ông hoàng tình tứ, do Cô Bảy Phùng Há đóng, khoảng 1931 (theo Hồi ký “50 Năm Mê Hát- Năm mươi năm cải lương” của cụ Vương Hồng Sển). 

    Chuyến bay đầu tiên của các nghệ sĩ Nam Kỳ tại Triển lãm thuộc địa 1931 - Baptême de l'air des danseuses cochinchinoises lors de l'exposition coloniale 1931
    Chuyến bay đầu tiên của các nghệ sĩ Nam Kỳ tại Triển lãm thuộc địa 1931 – Baptême de l’air des danseuses cochinchinoises lors de l’exposition coloniale 1931
    Đoàn nghệ sĩ Nam Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa Paris 1931
    Đoàn nghệ sĩ Nam Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa Paris 1931
    Các nghệ sĩ đoàn cải lương Phước Cương của xứ thuộc địa Nam Kỳ được đi thử máy bay lần đầu tiên ở Hội chợ Thuộc địa 1931, tổ chức tại Bois de Vincennes, Paris.
    Các nghệ sĩ đoàn cải lương Phước Cương của xứ thuộc địa Nam Kỳ được đi thử máy bay lần đầu tiên ở Hội chợ Thuộc địa 1931, tổ chức tại Bois de Vincennes, Paris.
    diễn viên bên bìa phải có lẽ là của Hoàng gia Campuchia nhưng trên postcard đã chú thích là Diễn viên cung đình Huế
    diễn viên bên bìa phải có lẽ là của Hoàng gia Campuchia nhưng trên postcard đã chú thích là Diễn viên cung đình Huế
    Vua Bảo Đại dự khai mạc Hội chợ Thuộc địa Paris 1931  Le jeune empereur Bao Dai, accompagné par le Gouverneur Général Pasquier, lors de l'inauguration, le 6 mai 1931. Nhà vua trẻ Bảo Đại, được Toàn quyền Pasquier tháp tùng, trong ngày khai mạc Hội chợ Thuộc địa Paris 1931. Trong ảnh là Tòa nhà "Bảo tàng các Thuộc địa" trong khu vực hội chợ.
    Vua Bảo Đại dự khai mạc Hội chợ Thuộc địa Paris 1931
    Le jeune empereur Bao Dai, accompagné par le Gouverneur Général Pasquier, lors de l’inauguration, le 6 mai 1931. Nhà vua trẻ Bảo Đại, được Toàn quyền Pasquier tháp tùng, trong ngày khai mạc Hội chợ Thuộc địa Paris 1931. Trong ảnh là Tòa nhà “Bảo tàng các Thuộc địa” trong khu vực hội chợ.
    Thợ lấy ráy tai - postcard vẽ tay bằng mực tàu, dịp Triển Lãm Thuộc Địa 1931.
    Thợ lấy ráy tai – postcard vẽ tay bằng mực tàu, dịp Triển Lãm Thuộc Địa 1931.

     

  • Ai xây chợ Bình Tây ?

    Ai xây chợ Bình Tây ?

    Quách Đàm (1863-1927) khởi nghiệp từ nghề mua bán ve chai, sau đó kèm thêm việc mua bán da trâu, vi cá và bong bóng cá. Khi đã có một số vốn, Quách Đàm bước vào nghề mua bán lúa gạo và trở nên giàu có. Ông luôn luôn làm việc bằng sức lao động chân chính, và ông đã tạo nên Thông Hiệp, một cơ sở kinh doanh danh tiếng ở khu vực Chợ Lớn ngày ấy. là một thương gia giàu có, và là người có công xây dựng nên chợ Bình Tây hay “Chợ Lớn Mới”, sau khi Chợ Cũ (ở vị trí nay là Bưu điện quận 5) bị thiêu tàn trong một vụ cháy. Chợ Bình Tây được khởi công từ năm 1928 và hoàn thành năm 1930.

    quach dam xay cho binh tay
    Nguyên thủy, đây là một vùng đất ruộng, được Quách Đàm mua lại, chuyển đất ruộng thành đất thổ trạch, rồi tự mình xuất tiền để xây dựng một khu chợ đồ sộ, được người dân quen gọi là chợ Quách Đàm.
    Chợ được xây cất bằng xi măng cốt thép theo kỹ thuật phương Tây, nhưng lại mang đậm nét kiến trúc Trung Quốc. Tháp giữa vươn cao có 4 mặt đồng hồ, có “lưỡng long chầu châu”, 4 góc có 4 chòi nhỏ, toàn bộ mái chợ lợp bằng ngói âm dương theo kiểu chồng lớp để tạo sự thông thoáng. Riêng mái ở các góc có nét uốn lượn theo kiểu chùa chiền phương Đông. Chính giữa chợ có khoảng sân trời rộng rãi, thoáng mát.
    Bên cạnh khu chợ, ông Quách Đàm cũng cho xây dựng khu phố nhà lầu theo kiểu phố buôn bán và vận động các quan chức cao cấp của Nam Kỳ, kể cả Thống đốc Cognac để dời Chợ Lớn về đây. Bên trong chợ, ông cũng cho đặt tượng đồng của mình nơi cửa chính. Tượng Đàm mặc triều phục Mãn Thanh, nón nhỏ, áo ngắn phủ trên một chiếc áo thụng, đầu để bím, tay cầm một bản đồ (ảnh đầu tiên) dưới bệ đá trắng có mấy con giao long bằng đồng phun vòi nước bạc.
    Tuy nhiên, thời kỳ đầu khi chợ mới được xây dựng, dù đồ sộ, nhưng xung quanh dân cư còn thưa thớt, hơn nữa, các thương gia người Hoa buôn bán tại Chợ Lớn Cũ vốn đã yên nơi yên chỗ cũng không muốn dời phố mới xa xôi thêm hao tốn, vì vậy Chợ Quách Đàm chưa sầm uất như bây giờ.
    1927 Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi đường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve và riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy “ngẫu” (năm đồng bạc) đền ơn có lòng đưa đón.