Category: Con Lạc cháu Hồng

  • Giang hồ Sài Gòn trước 1975

    Giang hồ Sài Gòn trước 1975

    Diện mạo giang hồ thời Pháp thuộc

    Thời Pháp thuộc, giang hồ miền Nam phần lớn là những tá điền “dốt đặc cán mai”, một chữ bẻ đôi không biết, chịu không nổi ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào, ác bá bèn bỏ xứ đi làm trộm cướp, y như nhân vật thầy giáo Hai Thành trong vở cải lương Đời cô Lựu.

    Giang hồ người Hoa vùng Chợ Lớn đội lốt đoàn lân

    Giang hồ người Hoa vùng Chợ Lớn đội lốt đoàn lân.

    Những nông dân tay lấm, chân bùn này trôi dạt lên Sài Gòn – Chợ Lớn sống lang thang ven kênh rạch, bến xe thổ mộ, nhà ga… Ban ngày, họ nai lưng làm cu-li. Tối đến, họ cởi áo bôi mặt nhọ nồi, lận mã tấu trong cạp quần hành nghề “đạo tặc”.

    Khắp Nam kỳ lục tỉnh thời kỳ này đừng hòng đào đâu ra một tay giang hồ quậy phá làng xóm hoặc trộm chó, bắt gà. Giang hồ thời Tây sống anh hùng mã thượng, “trọng nghĩa, khinh tài” và luôn luôn “kiến nghĩa bất vi” y như những nhân vật “quân tử Tàu” trong truyện Thất hiệp ngũ nghĩa, Thất kiếm thập tam hiệp. Cũng chính vì vậy, chính quyền thực dân Pháp cùng bọn tay sai ác ôn luôn ăn không ngon, ngủ không yên. Chúng tìm mọi cách bắt bớ, giam cầm, thậm chí lén lút thủ tiêu họ nhằm trừ hậu họa.

    Lãnh địa giới giang hồ hùng cứ vào những năm 20 – 30 thế kỷ trước là Chợ Lớn, Lăng Ông – Bà Chiểu, Xóm Thuốc (Gò Vấp), bến phà Thủ Thiêm, cầu Sắt (Đa Kao) và bến xe Lục tỉnh. Nét đặc biệt của giang hồ đầu thế kỷ 20 so với du đãng bây giờ chính là bản lĩnh. Tay anh chị nào cũng võ nghệ đầy mình, không giỏi quyền cước thì đừng hòng trụ vững ở cái thế giới “lắm người, nhiều ma” này.

    Khi có chuyện phải “đối thoại” với nhau bằng dao búa, họ không bao giờ ỷ lại vào lực lượng hùng hậu để “đánh hội đồng” theo kiểu “ruồi bu cùi bắp” như đám choai choai bây giờ mà sẵn sàng chơi “bặc-co” tay đôi “một chọi một”. Có thể kể đến cuộc đụng độ của Bảy Viễn với Mười Trí, quyền sư Mai Thái Hòa so tài với gã giang hồ Tư Ngang tại “hãng phân” Khánh Hội (Q.4), “thầy ngải” Nguyễn Nhiều bẻ lọi tay trùm du đãng khu lò heo Gia Định – Phillip – ở cầu Sơn (Thị Nghè)…

    Giang hồ xưa tuy nghèo chữ nghĩa nhưng giàu chữ “tín”, cư xử với nhau rất “nghĩa khí”, bởi thế mới sinh ra từ “điệu nghệ” do từ “đạo nghĩa” đọc trại ra. Thời kỳ này, giang hồ Sài Gòn ít nhiều chịu ảnh hưởng từ nhân vật trong các pho truyện “Tàu” được bán khắp các bến xe do nhà in Tín Đức Thư Xã ấn hành.

    Giang hồ Sài Gòn trước 1975
    Giang hồ khu Cầu Muối (Sài Gòn) thập niên 1950.

    Thực tế cho thấy, không ít tay du đãng sừng sỏ từng lấy biệt danh là Võ Tòng, La Thành, Đơn Hùng Tín, Tiểu Lý Quảng, Triệu Tử Long, Đông Phương Sóc… như là một thứ “danh thiếp”nhằm khẳng định tên tuổi trong chốn giang hồ.

    Những cuộc “long tranh, hổ đấu”

    Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng trong võ lâm giang hồ vẫn tồn tại 2 câu chuyện thuộc vào hàng “điển tích”. Câu chuyện thứ nhất xảy ra vào năm 1936, trùm du đãng Bảy Viễn bị đày ra đảo Côn Lôn vì can tội cướp tiệm vàng. Tại đây, hắn bị biệt giam tại phòng 5 và đã đụng độ tên cọp rằn ác ôn người Miên tên Khăm Chay – một tướng cướp trên núi Tà Lơn. Tên này võ nghệ cao cường, có luyện “gồng Trà Kha”, được chúa đảo Bouvier đỡ đầu với chính sách dùng tù Miên trị tù Việt.

    Trong cuộc so tài, Bảy Viễn đã tung một cú đá xỉa bằng năm đầu ngón chân (Kim Tiêu cước) nhanh và hiểm trúng vào nhân trung (yếu huyệt) Khăm Chay khiến hắn bể sóng mũi, giập môi, gãy răng, máu tuôn xối xả, tràn cả vào mồm. Khăm Chay lảo đảo vài bước rồi đổ gục xuống nền buồng giam. Từ đó, cọp rằn Khăm Chay lặn mất tăm. Phục ở chỗ, gã không hề dựa hơi chúa đảo người Pháp phái lính mã tà tra tấn địch nhân hay kéo bọn tù đàn em dùng số đông trả thù Bảy Viễn. Kể ra đó cũng là nghĩa khí của đấng trượng phu!

    Giang hồ Sài Gòn trước 1975
    Hình tượng giang hồ Bình Xuyên – Bảy Viễn – trong phim Dưới cờ đại nghĩa.

    Câu chuyện thứ 2 là khi thủ lĩnh Bình Xuyên – Ba Dương – đề nghị Sáu Cường ủy lạo gạo, tiền nuôi binh đánh Tây. Gã anh chị có chân to như “chân voi” (hai bàn chân Sáu Cường chiều dài hơn 3 tấc) đã dõng dạc tuyên bố: “Nếu Ba Dương chịu nổi một cước của Sáu Cường này thì muốn bao nhiêu gạo cũng được”. Ba Dương chấp nhận. Trận thư hùng diễn ra tại bến xe An Đông.

    Khi Ba Dương đến, đám thuộc hạ của Sáu Cường đồng loạt cười ồ bởi ngoại hình tay thủ lĩnh lực lượng quân đội Bình Xuyên quá “mỏng cơm”. Nhưng sau khi Sáu Cường xuất chiêu mới biết là mình đã lầm.

    Để khắc chế cú đá nặng ngàn cân của đối phương, thân hình Ba Dương luồn lách uyển chuyển như con rắn, dùng “xà tấn” lòn thấp người tránh né đồng thời dùng “hạc quyền” khẽ chạm vào hạ bộ của “thần cước” Sáu Cường. Liên tục 3 cú đá mạnh và nhanh như điện mà Sáu Cường tung ra, đối thủ đều né tránh tài tình. Cùng lúc, Ba Dương 3 lần dùng tuyệt kỹ võ hạc “mổ” nhẹ vào “của quý” Sáu Cường, dụng ý chỉ nhằm cảnh cáo.

    Biết mình đã lỡ đụng nhằm cao thủ, trùm giang hồ bến xe An Đông lập tức dừng đòn, nghiêng người cúi đầu đưa hai tay cung kính bái phục Ba Dương như một hiệp khách bại trận và tất nhiên giao kèo trước đó được hai tay anh chị thực thi chóng vánh. Không hề có chuyện Sáu Cường giở trò chơi dơ “lật kèo” ỷ nhiều đánh ít, mặc dù Ba Dương đến bến xe An Đông “phó hội” đơn thân độc mã, tay không tấc sắt.

    “Cao bồi” xuất hiện

    Sau khi chế độ Diệm – Nhu bị đảo chính và triệt hạ, giang hồ theo kiểu “108 anh hùng Lương Sơn Bạc” coi như xóa sổ. Cho đến những năm đầu 60, khi trào lưu “Làn Sóng Mới” (Le Nouvel Vague) từ phương Tây đổ bộ lên “Hòn ngọc Viễn Đông”, một số tay anh chị bắt đầu xuất hiện trở lại và chia nhau hùng cứ những khu vực manh mún ở Sài Gòn.

    Cụm từ “hippy choai choai” do báo chí Sài Gòn đặt, ám chỉ lớp người trẻ ăn mặc theo kiểu cao bồi miền viễn Tây Texas (Hoa Kỳ) cưỡi ngựa chăn bò với quần jean, áo sơmi ca rô sọc to xanh đỏ, giày ống cao gót, tóc dài phủ gáy, phóng xe máy Sachs như điên trên đường phố, miệng phì phèo thuốc lá Salem. Ban ngày, các “cao bồi” này “ngồi đồng” ở các quán cà phê nhạc ngoại quốc trên đại lộ Lê Lợi, Nguyễn Huệ.

     Giang hồ Sài Gòn trước 1975

    Trần Đại (Trần Quang đóng) đánh Bốn “lơ xe” (Tâm Phan đóng) trong phim Điệu ru nước mắt của đạo diễn Lê Hoàng Hoa.

    Tối đến, họ “đóng đô” ở các phòng trà, vũ trường giá “bèo” như Anh Vũ, Bồng Lai, Melody, Lai Yun (Lệ Uyển), Arc En Ciel (khu Tổng Đốc Phương), ngã tư Bảy Hiền, hồ bơi Chi Lăng, Victoria (Phú Nhuận)…, sẵn sàng gây sự và đánh lộn, đập phá, đâm chém chỉ để nhằm khẳng định mình là “cao bồi” chính hiệu!

    Sau cuộc chính biến lật đổ “Ngô triều” vào đầu thập niên 60, trật tự đô thị Sài Gòn trở nên hỗn độn, khó kiểm soát. Nhân cơ hội này, nhiều thành phần “cao bồi” manh nha xuất hiện, “vỗ ngực xưng tên”. Nổi trội trong giới giang hồ là những “đại ca” tên tuổi như Cà Na ở khu Tân Định (sau theo võ sư Huỳnh Tiền, đấu võ đài 8 trận toàn thắng với biệt danh Huỳnh Sơn), Bích “Pasteur”, Búp “Moderne”, Bình “thẹo”, Lộc “đen” (vua nhảy bebop), Hân “Faucauld”, Sáu “già”, Nhã “xóm chùa”…

    Quận 1 – vùng đất màu mỡ trù phú – do “tứ đại thiên vương” Lê Đại, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế chia nhau cai quản. Đám lâu la đông hàng trăm tên gồm A “chó”, Hải “sún”, Lâm “khùng” (tức Lâm “chín ngón” sau này), Lương “chột”, Hùng “đầu bò”, Việt “Parker”, Đực “đen”.

    Khu vực quận 3 có Minh “nhảy dù”, Cẩm “Mambo”, Lâm “thợ điện” (nhà ở đường Nguyễn Thiện Thuật bán đồ điện gia dụng), Hùng “mặt mụn” (thủ phạm đâm chết Lâm “thợ điện” ở bệnh viện Từ Dũ bằng con dao cắt bánh mì sau một vụ cãi nhau vớ vẩn vì chiếc xe đạp Martin). Xuôi về quận 5 hướng chợ Nancy rồi Đại Thế Giới (chợ Soái Kình Lâm – “đèn năm ngọn”) là lãnh địa của những trùm giang hồ người Hoa như Tín Mã Nàm (Nàm Chẩy), Sú Hùng, Hổi Phoòng Kiên, Trần Cửu Can, Ngô Tài…

    Bóng hồng sát thủ

    Trong giới giang hồ Sài Gòn thập niên 60 – 70 xuất hiện một “bóng hồng sát thủ”, đó là Lệ Hải – “người tình một năm” của ông trùm Đại “Cathay”. Lệ Hải xuất thân con nhà giàu có, gia giáo, trâm anh thế phiệt, cựu nữ sinh trường Marie Curie, thi đỗ tú tài I. Năm 17 tuổi, Lệ Hải đã thi lấy bằng lái ô tô, hằng đêm lướt đến các vũ trường trên chiếc Toyota Corolla màu đỏ cánh sen bóng lộn.

    Là một giai nhân giàu có lại “biết chữ”, Lệ Hải không thèm cặp bồ với những tay giang hồ thô kệch võ biền mà chấp nhận làm người tình của bác sĩ Nghiệp – một thầy thuốc có ngoại hình trí thức kèm máu du đãng nổi tiếng Sài Gòn bởi luôn có mặt bên cạnh Đại “Cathay” ở các phòng trà, động hút. Sau khi đã “hoa chán, nguyệt chê” Lệ Hải, gã bác sĩ bèn “sang tay” người tình cho Đại “Cathay” trong một đêm sinh nhật thác loạn tổ chức ở phòng trà Lido trên đại lộ Trần Hưng Đạo, Q.5.

    “Gái giang hồ” hội ngộ “trai tứ chiếng”, vóc dáng “du đãng mang nét mặt thư sinh” của Đại “Cathay” nhanh chóng thu hút “nữ quái” đa tình. Từ sau đêm đó, Lệ Hải bỏ nhà đi “sống bụi đời” cùng Đại “Cathay” như vợ chồng. Thế nhưng, cuộc tình “sét đánh” cũng nhanh chóng vỡ tan sau một năm chăn gối mặn nồng. Lệ Hải bỏ người tình, cặp bồ với nhiều nhân vật giàu có thế lực, vừa thỏa mãn tình lại dễ moi tiền.

    Với gương mặt ưa nhìn, nét đẹp thanh tú, cao ráo, trắng trẻo, lại có học thức, Lệ Hải dễ dàng dùng “mỹ nhân kế” mồi chài những ông chủ salon lắm tiền nhiều của, các dân biểu “tai to mặt lớn” hay sĩ quan tướng lĩnh Sài Gòn “vui vẻ qua đêm”. Chẳng bao lâu, Lệ Hải đã lột xác thành một nữ chúa trong giới giang hồ sau khi nhờ Đạt “ba thau” xăm trổ hình bông hồng đỏ dưới rốn và con rắn phùng mang nơi ngực trái.

    Qua sự giới thiệu của “nhà văn chém mướn” Nguyễn Đình Thiều, nhà văn Nhã Ca đã hội ngộ Lệ Hải tại vũ trường Ritz và được “yêu nữ” đồng ý cho chắp bút về cuộc đời du đãng của mình. Tiểu thuyết Cô hippy lạc loài ấn hành đã gây xôn xao dư luận. Những gia đình khá giả có con gái đang độ tuổi trưởng thành đọc xong tiểu thuyết của Nhã Ca đều lo ngay ngáy, ăn ngủ không yên.

    Ăn theo cuốn tiểu thuyết này, năm 1973, Lidac Film giao cho đạo diễn Lê Dân thực hiện bộ phim màu 35mm màn ảnh rộng với tựa Hoa mới nở qua sự diễn xuất của Bạch Liên, Vũ Thái Bình, Mỹ Hòa, Cát Phượng, La Thoại Tân, bà Bảy Ngọc, bà Năm Sa Đéc, Đinh Xuân Hòa… Bộ phim đã dự Liên hoan thanh niên thế giới lần 8 tổ chức tại Canada năm 1974.

    Nhà thơ trẻ Văn Mạc Thảo sau một đêm “tâm sự” cùng Lệ Hải đã cảm hứng sáng tác một bài thơ, trong đó có hai câu “Ta gọi tên em là yêu nữ/ Là loài yêu mị, gái hồ ly”. Bài thơ sau đó được Ngọc Chánh (trưởng ban nhạc Shotguns) phổ nhạc với tiếng hát nam danh ca Elvis Phương: “Loài yêu nữ mang tên em…” được giới “hippy choai choai” Sài Gòn thuộc nằm lòng. Nữ văn sĩ Lệ Hằng cũng gặp Lệ Hải tìm cảm hứng sáng tác Kinh tình yêu và Bản tango cuối cùng – 2 quyển tiểu thuyết “hit” nhất trên văn đàn miền Nam năm 1973.

    Tháng 4.1975, khi quân giải phóng đánh chiếm sân bay Biên Hòa, Lệ Hải vội vã cùng chồng hờ – một ông chủ salon ô tô người Hoa giàu sụ – mua tàu vượt biển di tản qua Úc rồi sau đó định cư tại Anh. Khi gã chồng Hoa kiều bất ngờ đột tử sau một đêm ân ái, Lệ Hải sống lặng lẽ, cô độc trong tòa biệt thự xa hoa, lộng lẫy, không con cái cũng chẳng có người thân, từng ngày buồn bã gặm nhắm về những tháng ngày dữ dội của thế giới du đãng Sài Gòn trong sương mù London rét buốt.
    Trong các tiểu thuyết viết về thế giới du đãng của nhà văn Duyên Anh – Vũ Mộng Long xuất bản trước 1975, chỉ có 4 nhân vật là những nguyên mẫu có thật ngoài đời gồm Lê Văn Đại (tức Đại “Cathay”), Trần Thị Diễm Châu, Chương “còm” và Dũng “Đa Kao” còn những Hoàng “guitar”, Quyên “Tân Định”, Bồn “lừa”, Hưng “mập”, Danh “ná”, Vọng “ghẻ”, thằng Khoa, thằng Côn, thằng Vũ, con Thúy… là do nhà văn phịa ra bên bàn đèn thuốc phiện. Tương tự, nhân vật “Loan mắt nhung” trong tiểu thuyết cùng tên cũng do nhà văn Nguyễn Thụy Long hư cấu.
    Theo Dân Việt/Dòng Đời
  • Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Ít ai biết rằng ngay từ thời Pháp thuộc, tại Sài Gòn đã tổ chức khá nhiều cuộc thi sắc đẹp để chọn ra những ngôi sao nhan sắc. Vậy ai là cô gái đầu tiên giành được giải hoa hậu của xứ Nam Kỳ?

    Có rất nhiều tài liệu chứng minh rằng, ngay từ thời Pháp thuộc, khi chế độ phong kiến vẫn còn hà khắc với người phụ nữ, thì tại đất Nam kỳ người Pháp đã tổ chức khá nhiều cuộc thi sắc đẹp nhằm tìm kiếm những gương mặt khả ái nhất vùng. Trên nền tảng những cuộc thi đó, người Việt cũng đã manh nha tổ chức những cuộc thi sắc đẹp có uy tín. Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những giai nhân nức danh Nam Kỳ một thời, để tìm xem những ai được người dân gọi là hoa hậu đầu tiên của Nam Kỳ.

    Cô Ba “xà bông” – Hoa khôi đầu tiên của đất Nam Kỳ

    Cô Thiệu Trà Vinh còn được dân gian thường gọi là cô Ba Xà Bông là con thầy thông Chánh ở đất Trà Vinh xưa. Cô được nhiều người trong vùng ngưỡng mộ vì sở hữu một ngoại hình yêu kiều khó ai sánh bằng. Người ta nói rằng mẹ của cô vốn rất xinh đẹp, thế nên cô Ba được thừa hưởng những nét đẹp đó từ mẹ của mình. Trong cuốn “Sài Gòn tạp pín lù” của học giả Vương Hồng Sển, tác giả giới thiệu vẻ đẹp của cô Ba Thiệu như sau: “Kể về người đẹp trong Nam, xưa hơn hết, có cô Ba, con thầy Thông Chánh”.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Cô Ba Thiệu là người giành chiến thắng trong cuộc thi sắc đẹp đầu tiên ở Nam Kỳ do người Việt tổ chức.

    Có tài liệu cho rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt Nam do chính người Việt đứng ra là một cuộc thi mang tên Miss Sài Gòn được tổ chức vào năm 1865. Đây là cuộc thi sắc đẹp dành cho tất cả các cô gái Việt Nam ở Sài Gòn và những vùng lân cận. Tuy là lần đầu tổ chức nhưng cuộc thi đã thu hút gần 100 cô gái đăng ký dự thi. Và kết quả chung cuộc người đoạt được vương miện và trở thành hoa khôi Nam kỳ là cô Ba Thiệu.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Khi mô tả về vẻ đẹp của cô Ba, học giả Vương Hồng Sển viết rằng: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến, có cô Ba, con gái thầy Thông Chánh, là đẹp không ai bì; đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Nhà thơ Dây thép (Bưu điện), và một hiệu buôn xà bông xin phép họa hình làm mẫu rao hàng: xà bông Cô Ba; muốn biết danh tiếng bực nào xin ráng tìm các bà cỡ 1900 hỏi lại!”.

    Khi cô đăng quang, nhiều người Pháp đã đề nghị cô chụp ảnh để đăng báo ở chính quốc. Họ rất muốn chụp cô trong trang phục áo tắm nhưng cô không đồng ý.

    Vì hình của người đẹp này được in nổi trên các sản phẩm nổi tiếng của Hãng xà bông Việt Nam do ông Trương Văn Bền lập ra, nên mọi người thường quen gọi cô Ba Thiệu là cô Ba Xà Bông. Có thể nói cô Ba là gương mặt thương hiệu đầu tiên ở đất Nam Kỳ vì trở thành “người mẫu” gắn liền với một thương hiệu nổi tiếng Việt Nam ra đời đầu thế kỷ 20.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Hình của cô Ba Thiệu được in trên hộp của một hãng xà bông của Việt Nam.

    Cuộc đời cô Ba xà bông gặp khá nhiều truân chuyên. Sau khi đoạt giải hoa khôi, cô cưới biện lý Jaboin và sống một cuộc sống khép kín. Tuy nhiên vào năm 1893, ông Chánh và Jaboin xảy ra mâu thuẫn, cô Ba đã cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin. Cô bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19/6/1893 và bị xử tử ngày 18/1/1894 tại Trà Vinh.

    Nam phương hoàng hậu – Người đẹp 3 lần giành giải hoa hậu Đông Dương

    Nam Phương hoàng hậu tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan sinh ra tại huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường (nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang). Bà là vị hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Nam phương hoàng hậu vốn là cháu ngoại của đại phú gia giàu có bậc nhất Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 – huyện Sỹ Lê Phát Đạt. Người thời đó cho rằng số tài sản của Huyện Sỹ còn nhiều hơn tổng tài sản của Vua Bảo Đại.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Năm 1932, người đẹp này đã nổi danh về nhan sắc khắp vùng Nam Kỳ và cả Đông Dương. Nhiều tài liệu cho rằng trước khi Thị Lan trở thành chính cung hoàng hậu của vua Bảo Đại, bà đã 3 lần giành được giải hoa hậu Đông Dương.

    Tuy nhiên, theo nghiên cứu của nhà sử học Dương Trung Quốc thì trong thời Pháp thuộc tuy có tổ chức nhiều cuộc thi sắc đẹp, nhưng không có cuộc thi nào mang tên Hoa hậu Đông Dương. Vì vậy có thể danh hiệu này được người dân trao tặng cho hoàng hậu vì yêu quý nhan sắc tuyệt trần của bà.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Cô Ba Trà – Ngôi Sao Sài Gòn

    Cô Ba Trà tên thật là Trần Ngọc Trà, sinh năm 1906, bà là người phụ nữ sinh đẹp nổi tiếng đất Sài thành vào những năm đầu thế kỷ 20, và được mệnh danh là Étoile de Saigon (tạm dịch: ngôi sao Sài Gòn).

    Xuất thân từ một làng quê nghèo ở Cần Đước (Long An). Năm 16 tuổi, sau khi cha qua đời, cô Ba Trà một mình lên Sài Gòn để mưu sinh. Nhiều người cho chính những bi thương từ thuở ấu thơ đã góp phần hình thành nên tính cách của người phụ nữ này: coi đời lạnh như băng.

    Cô Ba Trà sớm bộc lộ dung mạo xinh đẹp khi mới chỉ 16 tuổi và nhanh chóng trở thành “ngôi sao” của đất Sài Gòn hoa lệ. Với vẻ đẹp “sắc nước nghiêng thành”, cùng một trí thông minh và cách nói chuyện khôn khéo, cô Ba Trà đã đốn ngã hàng loạt tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất đất Nam Kỳ như Hắc công tử (Trần Trinh Huy), Bạch công tử (Lê Công Phước), công tử Bích. Chính vì thế dù không đoạt được danh hiệu chính thức nào, nhưng người dân vẫn thường dành tặng cho cô Ba danh hiệu Người đẹp Nam Kỳ.

    Trải qua 4 cuộc hôn nhân lần lượt là: viên quan ba người Pháp, con trai tỷ phú đất Phan Rang, bác sĩ Trần Ngọc Án, và cuối cùng là một triệu phú trẻ tuổi, nhưng tất cả đều tan vỡ. Kể từ đó, người đẹp lao vào ăn chơi, cặp kè hết người này đến người khác và dấn sâu vào con đường bài bạc.

    Hình ảnh những hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn xưa

    Những canh bạc lớn đã đốt sạch gia sản của người đẹp. Khi còn trẻ, cô Ba Trà được nhiều người săn đón bao nhiêu thì đến lúc già, cô lại phải sống trong cảnh cô độc, nghèo túng. Đến cuối đời, hoa khôi Trần Ngọc Trà lâm vào cảnh nợ nần, túng bấn và phải đi làm công ở một cửa tiệm tồi tàn để kiếm sống qua ngày. Hết tiền, cô Ba phải bán nhà và sống trong một xó chân cầu thang của một chung cư, tài sản duy nhất là cái ghế bố cô nằm. Người ta nói rằng họ thấy cô Ba Trà chết trên ghế bố dưới chân cầu thang một chung cư ở Sài Gòn.

    Theo Toàn Nguyễn/Tri thức trẻ

  • Tướng mạo kỳ lạ của các vị Quân Vương Việt Nam

    Tướng mạo kỳ lạ của các vị Quân Vương Việt Nam

    Xem tướng số nhiều người cho rằng không đúng, bởi đừng nhìn mặt mà bắt hình dong. Tuy thế hàng ngàn năm nay dân gian vẫn lưu truyền và củng cố thuyết tướng mệnh; xem tướng biết vận mệnh. Đặc biệt trong số những vị vua tài giỏi của Việt Nam thời xưa, xuất hiện 4 vị có tướng mạo lạ kỳ của bậc quân vương. Mời các bạn cùng tìm hiểu:

    1.Lý Thái Tông

    Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.

    Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

    Tướng mạo kỳ lạ của các Ông Vua Tài Giỏi Việt Nam
    Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.

    Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.

    Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

    Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

    2.Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng

    Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.

    Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.

    Tướng mạo kỳ lạ của các Ông Vua Tài Giỏi Việt Nam
    Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.

    Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

    3.Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

    Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.

    Tướng mạo kỳ lạ của các Ông Vua Tài Giỏi Việt Nam
    Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

    Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

    Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

    Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.

    4.Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện

    Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.

    Tướng mạo kỳ lạ của các Ông Vua Tài Giỏi Việt Nam
    Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.

    So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…

    Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

    Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.

    Theo Đất Việt

  • Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Sau Hiệp định Genève chuẩn bị di cư vào Nam, một lượng lớn người dân làm cho Pháp, dân công giáo, những người không thích cộng sản,… đã theo tuyên truyền, hoặc tự nguyện di cư vào Nam.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Bán đồ đạc chuẩn bị di cư vào nam sau khi Hiệp định Genève được công bố

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … những ngày cuối cùng ở Hà Nội

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Việt Minh và Pháp bàn giao bót Hàng Trống

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … bộ đội tiến vào tiếp thu bót Hàng Trống, lúc này đang là Ty Cảnh Sát TP Hà Nội
    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … tiếp thu bót Hàng Trống

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội, phía trước Đoan Môn, chấm dứt hơn 70 năm chiếm đóng thành Hà Nội từ năm 1883 của quân Pháp.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội,

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội,

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … Tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. … Tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. … Tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … Jul 1954, dân chúng đọc Viet-Nam Presse

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. Jul 1954, dân chúng đọc Viet-Nam Presse

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …di cư vào nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. di cư vào nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Chuẩn bị lên tầu vào nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Chuẩn bị lên tầu vào nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … mẹ và hai con, tay xách nách mang, trên đường vào miền Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … tìm đường vào miền Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. ra phi trường Gia Lâm vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ,,,, ra phi trường Gia Lâm

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … phi trường Gia Lâm

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … … phi trường Gia Lâm

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … Hải Phòng

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lên tầu vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. di cư vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lên tầu vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lên tầu vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … lên tầu vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. lên tầu vào Nam

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … Hải Phòng 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Operation Passage to Freedom, October 1954 đi tìm tự do

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    … người ở lại

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. người ở lại

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hải Phòng 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …. Hải Phòng 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    …..

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    người công giáo bỏ đi khỏi vùng do CS kiểm soát giữa đêm đen nở nụ cười khi thuyền của họ cặp được vào tàu đổ bộ của Pháp mà sẽ đưa họ đến nơi tự do. Khoảng năm 1954.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    các thủy thủ Pháp giúp người tỵ nạn VN kéo thuyền của họ vào tàu đổ bộ của Hải quân ở Vạn Lý. Mặc cho những cảnh báo và hạn chế bởi công an của Việt Minh, hàng ngàn người công giáo trong vùng do CS kiểm soát đã lũ lượt di cư vào miền Nam để tái định cư ở các vùng không theo chế độ Cộng sản.

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    ….

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève. Xin làm nô lệ cho Nga, Tầu Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt. (thơ Tố Hữu)

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Man looking at posters of new leaders shortly before Communist takeover of city from the French. Oct 1954

    Hà Nội 1954 (Góc nhìn của người di cư vào Nam)

    Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève. Xin làm nô lệ cho Nga, Tầu Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt. (thơ Tố Hữu)

    Theo 36Phophuong

  • Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Thư sinh Hà Nội, ông quan Bắc Kỳ, em bé và quả mít…. là những chân dung sống động của người Việt Nam được in trên bưu thiếp cuối thế kỷ 19, đầu 20…

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Hai người đàn ông An Nam.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Chàng thư sinh Hà Nội .

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Ông quan xứ Bắc Kỳ và bà vợ.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Hai phú ông An Nam.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Quý bà ngồi ghế.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Cậu bé người Hoa hút thuốc bằng ống điếu.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Những người phụ nữ bán đồ ăn vỉa hè.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Những người phụ nữ bán đồ ăn vỉa hè.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Hau cậu bé bốc vác ngồi chơi với những đồng xu.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Cụ bà bán dứa.

    Lạ mắt với ảnh người Việt trên những tấm bưu thiếp trăm tuổi

    Hàng cháo vỉa hè Sài Gòn .
  • 17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Sự xuất hiện của người Pháp vào giữa thế kỷ 19 đã mang tới những thay đổi lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cũng chính nhờ họ mà ngày nay chúng ta còn có thể chiêm ngưỡng được những hình ảnh quý báu của quá khứ vương triều Việt.

     

    Nhà Nguyễn (1802 – 1945) là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Trong 143 năm tồn tại của mình, nhà Nguyễn đã ghi lại nhiều dấu ấn quan trọng trong dòng chảy lịch sử.
    Đó cũng là thời kỳ xã hội Việt Nam biến đổi đầy xáo trộn. Sự can thiệp vũ lực của người Pháp đã mang đến những thăng trầm lớn cho lịch sử. Các nhiếp ảnh gia đã lưu lại những hình ảnh tư liệu quý giá.

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Chân dung vua Thành Thái (1889-1907) trong bộ triều phục

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Một vương phi già trong triều đình ở Huế

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Thái tử Bảo Long, con vua Bảo Đại, ảnh chụp năm 1936

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Các quan hành lễ trước điện Thái Hòa

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Vua Khải Định bên cạnh các quan cố vấn triều đình

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Vua Khải Định ăn trưa tại điện Cần Chánh

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Lễ thiết triều của các quan lại triều Nguyễn, ảnh chụp năm 1926

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Bà Chúa Nhất, trưởng nữ của vua Dục Đức, chị cả của vua Thành Thái, ảnh chụp năm 1931

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Hai vị quan phục vụ trong triều, ảnh chụp tại Huế năm 1931

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Chân dung vua Bảo Đại, ảnh chụp năm 1928

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Nam Phương hoàng hậu thời thiếu nữ

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Nhan sắc của Nam Phương hoàng hậu

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Nam Phương hoàng hậu trong lễ tấn phong năm 1934

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Hai người vợ của vua Thành Thái năm 1907

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Vua Duy Tân chụp cùng quan lại trong triều năm 1907

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Vị vua trẻ tuổi Duy Tân ngồi trên kiệu, ảnh chụp năm 1907

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Ảnh chụp một vị quan triều Nguyễn cùng với vợ của mình năm 1899

    17 bức hình cực hiếm về các vua chúa triều Nguyễn

    Nhà Nguyễn (1802 – 1945) là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Trong 143 năm tồn tại của mình, nhà Nguyễn đã ghi lại nhiều dấu ấn quan trọng trong dòng chảy lịch sử.
  • 50 bức ảnh lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh

    50 bức ảnh lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mãi mãi đi xa, hình ảnh giản dị mà cao cả của Người sẽ còn sống mãi trong trái tim của nhân dân Việt Nam và nhân loại yêu chuộng hoà bình, chính nghĩa trên toàn thế giới.

     

    Dưới đây là những bức ảnh tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, scan từ ấn bản “Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, xuất bản tháng 11/1970.

    Auto Draft

    Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc năm 30 tuổi, khi ở Pháp.

    Auto Draft

    Tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp), tháng 12/1920, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Auto Draft

    Giữa năm 1923, Người sang Liên Xô.

    Auto Draft

    Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương.

    Auto Draft

    Đồng chí Nguyễn Ái Quốc năm 1930.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch năm 1945.

    Auto Draft

    Tháng 2/1946, Người nói chuyện với hơn 10 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội sau cuộc tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở Phủ chủ tịch năm 1946.

    Auto Draft

    Ngày 31/5/1945, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ ta sang đàm phán chính thức với chính phủ Pháp.

    Auto Draft

    Người làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951.

    Auto Draft

    Người dạy: “Thực túc thì binh cường” và ngày ngày Người tăng gia sản xuất cùng đồng bào, chiến sĩ.

    Auto Draft

    Năm 1949, Đoàn đại biểu Nam Bộ từ miền Nam ra thăm miền Bắc đã tới quây quần bên Hồ Chủ tịch.

    Auto Draft

    Từ chiếc máy đánh chữ của Người đã ra đời nhiều văn kiện liên quan đến vận mệnh đất nước.

    Auto Draft

    Là người sáng lập và lãnh đạo quân đội ta, Hồ Chủ tịch đã theo dõi mặt trận suốt thời gian chiến dịch biên giới.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch, vị Tổng tư lệnh tối cao.

    Auto Draft

    Người với các đại biểu Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt, năm 1951.

    Auto Draft

    Cuối năm 1953, tại Việt Bắc, Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Auto Draft

    Người chủ trì một phiên họp Hội đồng Chính phủ sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

    Auto Draft

    Thăm đền Hùng, Hồ Chủ tịch nói với các chiến sĩ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải ra sức giữ nước”.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (1954

    Auto Draft

    Người thăm nhà máy diêm Thống Nhất những năm đầu khôi phục kinh tế (1956).

    Auto Draft

    Đến thăm nhà máy xe lửa Gia Lâm, Người nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

    Auto Draft

    Đại biểu học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc thọ ) Hồ Chủ Tịch (5/1956).

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch thăm trường trung học Trung Hoà của Hoa Kiều ở Hà Nội.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch nói chuyện với học viên trường Nghệ thuật sân khấu trung ương.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ. Năm 1956, Người căn dặn các cán bộ phụ nữ toàn miền Bắc “đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hoà bình thế giới”.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch thăm kè Cố Đô, tình Hà Tây (1958).

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch tát nước chống hạn ở cánh đồng Quang Tô, xã Đại Thanh, tỉnh Hà Tây (1958).

    Auto Draft

    Xem hình mẫu xây dựng thủ đô Hà Nội, Người dặn dò về vấn đề nhà ở của nhân dân lao động (1959

    Auto Draft

    Người với các đại biểu đạo Thiên Chúa.

    Auto Draft

    Lên thăm khu tự trị tây Bắc (5/1959), Hồ Chủ tịch trao tặng đồng bào các dân tộc bức trướng của đồng báo Thủ đô Hà Nội.

    Auto Draft

    “Người ngồi đó với cây chì đỏ / Vạch đường đi từng bước, từng giờ” (Tố Hữu).

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch chúc mừng cụ Tôn Đức Thắng được Quốc hội khoá 2 bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (7/1960).

    Auto Draft

    Ngày 5/9/1960, Đảng lao Động Việt Nam họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3. Trong diễn văn kha mạc, Người nêu rõ: “Đại hội lần thứ hai là đại hội kháng chiến. Đại hội lần này là đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”.

    Auto Draft

    Người cầm nhịp hát bài “Đoàn kết”.

    Auto Draft

    Mười vạn nhân dân và cán bộ tỉnh Thanh Hoá hứa với Người sẽ ra sức xây dựng Thanh Hoá thành một tỉnh kiểu mẫu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1961).

    Auto Draft

    Ngày 9/12/1961, về thăm quê nhà lần thứ hai, Người chụp ảnh với các chiến sĩ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931.

    Auto Draft

    Người đến thăm các chiến sĩ của lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội (1966).

    Auto Draft

    Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam.

    Auto Draft

    Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch xem triển lãm tranh miền Nam.

    Auto Draft

    Bác Hồ trong trang phục của Hải quân nhân dân Việt Nam.

    Auto Draft

    Bác Hồ trong trang phục của Hải quân nhân dân Việt Nam.

    Auto Draft

    Người tặng hoa phong lan cho ba đại biểu dân quân gái Quảng Bình, Vĩnh Linh.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch và các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh.

    Auto Draft

    Lời Hồ Chủ tịch: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

    Auto Draft

    Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.
  • Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900
    Những hình ảnh dưới đây được giới thiệu trong một ấn phẩm có tiêu đề “Bắc Bộ 1900” (Le Tonkin eu 1900) được xuất bản nhân triển lãm thế giới tại Paris, Pháp vào năm 1900.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Người cửu vạn đẩy xe cút kít chở gạo.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Xe kéo tay là phương tiện kiếm cơm của rất nhiều người dân nghèo thời thuộc địa.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Một quầy hàng bán đồ gốm.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề lấy ráy tai dạo.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Cậu bé bán khoai.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Chở lợn bằng xe cút kít.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Cụ ông bán chiếu cói.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Sản xuất và bày bán dép ngay tại chỗ.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Sản xuất đồ gia dụng bằng tre.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề làm ô lọng.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Những người cửu vạn lúc rỗi việc.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Nghề khảm trai mỹ nghệ.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Một nghệ nhân thêu cờ phướn.

    Ảnh hiếm : Kế sinh nhai trên phố ở Việt Nam năm 1900

    Những tấm da đang được căng tại một xưởng thuộc da trâu bò.

    Theo KIẾN THỨC / BELLE INDOCHINE

  • Ảnh đời thường phụ nữ “ba đảm đang” thời bao cấp

    Ảnh đời thường phụ nữ “ba đảm đang” thời bao cấp

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Có những bộ sưu tập ảnh đáng quý về nếp sống đời thường ở Hà Nội, Việt Nam đã truyền bá cho vẻ đẹp con người và cảnh sắc, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển và hiểu về con người trong quá khứ nhất là với chị em phụ nữ Hà Nội, Việt Nam.

     

    Bộ ảnh thú vị của Nhiếp ảnh gia John Vink chụp HN năm 1990

     

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bán xổ số ở khu phố cổ Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Cô giáo dẫn các em học sinh qua đường ở Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Các nữ công nhân trong nhà máy sản xuất xe đạp.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Miệt mài chăm chút sản phẩm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Miệt mài chăm chút sản phẩm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Người bán hoa quả rong.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Buổi diễn tập trong rạp xiếc
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Trường xiếc ở Hà Nội.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Múa truyền thống
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Múa truyền thống

     

     

    Những ngày tháng lịch sử năm 1979, nhiếp ảnh gia Thomas Billhardt đã chụp lại những bức ảnh về không khí chiến đấu và sinh hoạt của người dân Việt Nam

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Các nữ quân nhân tham gia cuộc mít-tinh.

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Tập quân sự ngay trên đường phố.

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Hai em bé được mẹ chở bằng xe đạp trên phố.

     

     

    Nhiếp ảnh gia Đức Hans-Peter Grumpe thực hiện ở 20 tỉnh thành thuộc cả 3 miền Việt Nam từ năm 1991 – 1993

     

    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bếp điện được bày bán la liệt trên vỉa hè cùng nhiều vật dụng gia đình khác.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Một cửa hàng bán đồ điện.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Cửa hàng này bán đủ loại thuốc lá, từ hàng nội cho đến hàng ngoại.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bánh, mứt, kẹo các loại là mặt hàng chính của nhiều cửa hàng trên phố Hàng Buồm.
    Ảnh đời thường phụ nữ
    Bia 333 (bên trái) và những hộp bánh hình tròn (giữa ảnh) là những hàng hóa quen thuộc vẫn còn được bán cho đến ngày nay

     

    Ảnh đời thường phụ nữ

    Những người bán hàng đếm tiền sau một ngày buôn bán.

  • Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ nữ người Chăm, thiếu nữ Giáy, đàn ông Lào… là những bức chân dung đặc sắc về các dân tộc ở Đông Dương trước thập niên 1930. Các vũ công Lào, nét duyên phụ nữ Ê Đê… là hình ảnh khó quên về các cô gái dân tộc thiểu số Đông Dương 80 năm trước.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Cụ ông người dân tộc Kinh ở Hà Đông. Hình ảnh được giới thiệu trong một ấn phẩm về các dân tộc ở Đông Dương, xuất bản ở Pháp năm 1931, được đăng tải lại trên trang Belleindochine.free.fr.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Cốc.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tiền.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tả Pán.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Xê Đăng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Giáy.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Thái Trắng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Thái Trắng.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới và phụ nữ Thái Đen.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ công người Lào.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một người Hoa trong trang phục sân khấu.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Các vũ công người Chăm.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Chăm.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Mường ở Thanh Hóa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Hai người đàn ông Ê Đê ở Buôn Ma Thuột. Hình ảnh được giới thiệu trong một ấn phẩm về các dân tộc ở Đông Dương, xuất bản ở Pháp năm 1931, được đăng tải lại trên trang Belleindochine.free.fr.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ Ê Đê (trái) và phụ nữ Gia Rai (phải).

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Người Châu Mạ

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vị trưởng bản người Châu Mạ.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Các vũ công Lào ở Viêng Chăn.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Vũ công người dân tộc Lủ.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ dân tộc Thái ở Sầm Nưa, Lào

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một nhóm phụ nữ Thái ở Sầm Nưa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Một nhóm phụ nữ Thái ở Sầm Nưa.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới dân tộc H’Mông.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Nam giới dân tộc H’Mông.

    Ảnh chân dung các dân tộc Đông Dương ngày xưa

    Phụ nữ người Mán Tiền.

  • Lối sống điều độ của Vua Minh Mạng

    Lối sống điều độ của Vua Minh Mạng

    Để có thể lực cường tráng, chăn gối viên mãn, ngoài thuốc men tẩm bổ, Minh Mạng còn rèn luyện sức khỏe bằng phương pháp mà ngày nay rất phổ biến.

    Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi vào tháng giêng năm Canh Thìn (tức tháng 2/1820) khi 29 tuổi, độ tuổi thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết nhưng nhà vua không vì thế mà sa vào hưởng lạc, trái lại ông lấy công việc, hoạt động để nuôi dưỡng tinh thần, vun bồi thể chất.
    Không thể lấy chuyện Minh Mạng có nhiều con mà cho rằng vua ham mê sắc dục được, bản thân nhà vua xem thịnh suy, hưng vong của đế vương đời trước làm tấm gương để tự răn mình “không hề dám đắm say về lạc thú” và khẳng định rằng: “Cái đức của đấng quân vương là không có nhàn rỗi, dâm dật” (Đại Nam thực lục).

    Lên ngôi không lâu, trong một buổi thiết triều, Minh Mạng nói với triều thần rằng:

    – Trẫm đang độ tuổi trẻ, còn sáng suốt về tinh thần, mạnh mẽ về sức lực, nên trẫm hằng chăm lo việc triều chính.
    Một lần khác, vua lại nói:

    – Trẫm với các khanh cùng hội họp, lòng trẫm lấy làm khoan khoái, há không hơn cả ngày ở trong cung đối diện với đám phụ nữ, không có điều gì để nói năng cả hay sao.
    Vua Minh Mạng

    Hoàng đế và đại thần

    Sách Minh Mạng chính yếu chép vào năm Kỷ Hợi (1839), nhân có quan Hiệp biện đại học sĩ, Tổng đốc tỉnh Bình Phú (Bình Định – Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn vào kinh chầu, vua Minh Mạng thấy ông râu tóc bạc phơ bèn hỏi tuổi và hỏi vì sao già mà vẫn có sức khỏe như vậy. Quan Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn mới tâu rằng:

    – Hạ thần nay đã 68 tuổi, ở tỉnh thời thường đến xem quân lính, nhân dân đốn cây, chặt củi, nên có thể trèo leo, lên xuống núi khe mà không biết mỏi mệt.

    Nghe vậy nhà vua nói rằng:

    – Trẫm ở trong cung, cũng thường đi bộ, tập giờ lâu mà không biết mệt mỏi, thế mới biết người ta phải tập vận động, cố gắng thì ngày một thêm mạnh, cứ ngồi yên mà lười biếng thì ngày một thêm yếu, không kể tuổi già hay trẻ vậy!

    Vua Minh Mạng
    Hoàng đế bộ hành

    Minh Mạng còn khuyên dạy các hoàng tử không nên lười nhác, phải chăm vận động. Vua nói rằng:

    – Ta xem các con ngày nay không bằng ta lúc còn trẻ tuổi. Trước kia ta theo đức Thế Tổ Cao hoàng đế [Gia Long], dừng xa giá tại tỉnh Gia Định, lúc xa giá ra trận, thường ở lại để coi giữ địa phương. Trời rét như cắt, ta mặc áo đơn, cưỡi thuyền đi lại trên mặt biển mà không biết lạnh. Các con tuổi mới trên dưới 30 mà không chịu nổi nóng lạnh, sau này đến năm sáu, bảy mươi tuổi làm sao mạnh mẽ được vậy. Ta nay hằng nghĩ đến tự cường, không dám để mình nhàn hạ quá. Các con nên theo ý ta, không mưu đồ sự an nhàn vui vẻ vậy!

    Theo Khám phá Huế.

  • Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử

    Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử

    Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.

    Cuốn sách Nguyễn Tri Phương nằm trong tủ sách “Góc nhìn sử Việt” do NXB Hồng Đức và Alphabooks ấn hành đã phần nào làm sống lại cuộc đời vị võ tướng anh dũng này.

    Hơn thế, thông qua cuộc đời Nguyễn Tri Phương, người đọc đã thấy lại một thời đoạn đầy biến động của nước ta trước ngoại bang phương Tây. Sách được viết bởi Phan Trần Chúc và Lê Quế in lần đầu năm 1956. Lần tái bản này, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Sơn đã hiệu đính dựa trên bản in tại Sài Gòn 1956.

    Võ tướng Nguyễn Tri Phương sinh tại Phủ Thừa Thiên, theo Đại Nam nhất thống chí, ngay từ nhỏ ông đã có chí lớn. Ông không ưa việc khoa cử mà chỉ đọc những cuốn sách có ứng dụng để giúp đời. Thời kỳ đầu triều vua Minh Mạng, nhà vua có chiếu kén những người hiền tài giúp nước. Nguyễn Tri Phương đã bước vào con đường hoạn lộ bằng một chức nhỏ mọn ở địa phương.

    Từ cuộc đời Nguyễn Tri Phương nhìn về một thời đoạn lịch sử
    Cuốn sách “Nguyễn Tri Phương”

    Làm nha lại không bao lâu, ở địa phương ông xẩy ra một vụ án rất bí mật. Quan huyện giao cho ông tra xét và ông đã khám phá ra được vụ án ấy. Đồng thời, ông đã thảo một tờ bẩm rất khúc chiết rõ ràng trình lên quan trên. Vụ án ông khám phá được báo lên tỉnh rồi vào cung vua. Tình cờ, vua Minh Mạng đọc được tờ bẩm và nhận ra tài năng của ông. Vua cho dẫn ông vào triều để từ đó cuộc đời Nguyễn Tri Phương thăng tiến rất nhanh trong triều đình.

    Cuộc đời ông gắn liền với chiến chinh trận mạc trải qua khắp ba miền của đất nước. Khi biên thùy phía Nam bị ngoại bang xâm lấn, chính ông đã làm chủ tướng đánh giặc và buộc giặc đầu hàng. Trong nhiều năm cầm quân ở vùng sông nước Cửu Long, ông luôn chủ trương thu phục lòng người hơn là dùng vũ lực.

    Nguyễn Tri Phương nói: “Công thành không bằng công tâm, toàn sự tức là toàn thắng”. Công cuộc “công tâm” của ông đã giúp các tỉnh vùng biên phía Nam yên bình không còn bóng giặc đánh phá nữa.

    Số phận của Nguyễn Tri Phương gắn liền với số phận của đất nước. Khi phương Tây chế tạo ra súng đạn thì nhiều quốc gia ở châu Á phải chịu khuất phục vì gươm giáo, cung tên không thể địch lại. Việt Nam nằm trong số các quốc gia bị phương Tây đánh chiếm bằng sức mạnh khoa học kỹ thuật như thế.

    Nguyễn Tri Phương đã nhận thấy điều này nên trình với vua đề nghị canh tân đất nước. Thế nhưng, nhiều quan lại trong triều đình đã chống lại ông nhằm hưởng nhàn cho tấm thân.

    Kết cục, Hà thành đã thất thủ khi Nguyễn Tri Phương được giao trọng trách bảo vệ. Ông đã nhịn ăn cho đến chết với câu nói bất hủ: “Làm tướng phải chết và chết ở trận tiền không phải là cái chết nhục nhã”.

    Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” viết về các danh nhân Việt Nam lừng danh một thời với lòng yêu nước nồng nàn và bất khuất trước kẻ thù. Việc đọc và học sử Việt đang là mối lo cấp bách trong toàn xã hội khi mà môn sử trong nhà trường ít được học trò yêu mến.

    Cuốn Nguyễn Tri Phương của Phan Trần Chúc và Lê Quế được viết theo loại “lịch sử ký sự” nên dễ đọc và hấp dẫn, lại được nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn hiệu đính rõ ràng, thiết nghĩ nên được phổ biến rộng trong các gia đình để lớp người trẻ biết sâu hơn về lớp cha ông.

    Theo Net Cố Đô.