Category: Con Lạc cháu Hồng

  • Tìm hiểu về dòng họ Tôn Thất và Tôn Nữ

    Tìm hiểu về dòng họ Tôn Thất và Tôn Nữ

    Không phải ai cũng biết về nguồn gốc và lịch sử dòng họ trâm anh này.

    Bạn đã từng nghe đến cái tên “Công Tằng Tôn Nữ” trong các tiểu phẩm. Ai cũng biết dòng họ này chỉ dành cho công chúa, người phụ nữ có hoàng thân quốc thích.

    Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934
    Nam Phương Hoàng Hậu – Vợ của Vua Bảo Đại (Bà là dâu họ Nguyễn, không mang họ Tôn Nữ, nhưng xin minh họa để thể hiện vẻ đẹp xa xưa)

    “Nếu như người Việt Nam theo nguyên tắc Phụ Hệ và chỉ có con gái mới có mang họ Công Tằng Tôn Nữ. Vậy tại sao bây giờ vẫn có người mang họ đó (bởi con gái mang họ cha). Hoặc đây chỉ có thể là do một nguyên tắc chân truyền nào đó” ?

    Hãy cùng HinhanhVietNam.com tìm hiểu vấn đề này:

    Họ “Công Tằng Tôn Nữ” được dùng cho các cháu gái bên nhà họ nội của các đời vua Nguyễn xuất phát từ thời Minh Mạng. Vua Minh Mạng (Tên húy: Nguyễn Phúc Đảm) đã định ra một chính hệ từ đời vua Gia Long trở về sau theo nguyên tắc sau: con cháu các chúa Nguyễn thì được xếp vào hệ Tôn Thất cho nam và Tôn Nữ dành cho nữ.

    Từ năm Minh Mạng thứ 3 (1923), những người trong Hoàng tộc thuộc dòng dõi các chúa bắt đầu được thay tên là Tôn Thất thay cho họ Nguyễn Phúc.

    Gia phả 13 đời Vua Nguyễn

    Còn sự khác nhau giữa Tôn Nữ và Công Tằng Tôn Nữ là ở chỗ cách đặt tên theo thế hệ các con gái, cháu gái :

    • Công Chúa : chị em vua Minh Mạng.
    • Công Nữ : con của vua.
    • Công Tôn Nữ : cháu của vua.
    • Công Tằng Tôn Nữ : chắt của vua.
    • Công Huyền Tôn Nữ : chít của vua.
    • Huyền Tôn Nữ : dùng chung cho thế hệ này trở về sau .

    Nhưng cũng theo một số tài liệu thì Tôn Nữ được sử dụng chung cho thế hệ thứ 2 trở đi với ý nghĩa là chỉ cháu gái.

    Các nhân vật nổi tiếng trong dòng họ Tôn Thất – Tôn Nữ

    Tôn Thất:

    Tôn Thất Hiệp: Tướng chúa Nguyễn

    Tôn Thất Thuyết: Đại thần nhà Nguyễn.

    Tôn Thất Đàm: Khâm sai chưởng lý quân vụ đại thần nhà Nguyễn một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.

    Tôn Thất Tiệp: Một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.

    Tôn Thất Hân: Phụ Chánh Thân Thần nhà Nguyễn, thay mặt vua Bảo Đại trong thời gian vua đi du học

    Tôn Thất Tùng: Bác Sĩ Hàng Đầu Việt Nam thế kỷ 20

    Tôn Thất Bách: Bác Sĩ, Nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, Hiệu Trưởng Đại học Y Hà Nội

    Tôn Thất Tiết: Nhà Soạn Nhạc Người Pháp Gốc Việt

    Tôn Thất Lập: Nhạc Sĩ

    Tôn Thất Đào: Họa Sĩ, Hiệu Trưởng Đầu Tiên Của Cao đẳng Mỹ thuật Huế

    Tôn Thất Thiện: nhà dân tộc chủ nghĩa

    Tôn Thất Uẩn: Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Đính: Thiếu tướng Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Xứng: Thiếu tướng Việt Nam Cộng Hòa

    Tôn Thất Khiên: Đại tá Việt Nam Cộng Hòa Tỉnh Trưởng Thừa Thiên Huế

    Tôn Thất Sanh: Thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa Trợ Lý Quyền Tham mưu Trưởng Tư lệnh Vùng 2.

    Tôn Nữ:

    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh – Bà từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam bên cạnh Liên minh châu Âu EU và tại Bỉ. Bà cũng từng là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam.

    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh
    Công Tằng Tôn Nữ Thị Ninh

    Công Tằng Tôn Nữ Kim Anh – nhân vật chính trong chuyện tình có thật của tác giả bài hát Giọt Lệ Đài Trang với cô tiểu thư con nhà trâm anh thế phiệt.

    Tổng hợp từ  dembuon.vn , congnghe5giay.com …

    P/S: Nếu có sai sót, xin các bạn comment vào bên dưới. Hình ảnh Việt Nam.com sẽ đính chính!

  • Lỗ Mạnh Hùng – Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Lỗ Mạnh Hùng – Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Trong lịch sử Sài Gòn trước năm 1975, cậu bé Lỗ Mạnh Hùng đã khiến nhiều người khâm phục khi là phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Trước năm 1975, cậu bé Lỗ Mạnh Hùng được biết đến như một phóng viên ảnh chuyên nhiệp nhỏ tuổi nhất làng báo chí.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Cậu bé tác nghiệp từ năm 1967, khi mới 11 tuổi, với tư cách một nhiếp ảnh viên của Lỗ Vinh Ảnh Xã – hãng thông tấn quy mô nhỏ do cha cậu đứng đầu.

    Lỗ Mạnh Hùng - Lỗ Vinh
    Lỗ Mạnh Hùng – Lỗ Vinh

     

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Dù chỉ là một đứa trẻ nhưng Lỗ Mạnh Hùng được cha mình – một phóng viên chiến trường kỳ cựu – đào tạo bài bản, được trang bị đẩy đủ như một phóng viên ảnh chuyên nghiệp.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Cậu đảm nhiệm những công việc khó khăn như bất cứ phóng viên chiến trường nào khác ở Sài Gòn…

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    … sẵn sàng có mặt tại những điểm chiến sự nóng bỏng của thành phố trong biến cố Tết Mậu Thân 1968.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Công việc của Lỗ Mạnh Hùng khiến nhiều người khâm phục.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Nhưng cũng có không ít ý kiến chỉ trích đây là hành vi lạm dụng trẻ em cùng quan ngại cậu bé có thể bị tổn thương vị cuộc chiến.

    Lỗ Mạnh Hùng - Lỗ Vinh
    Qúa trinh tác nghiệp
    Lỗ Mạnh Hùng - Lỗ Vinh
    Gia đình Lỗ Mạnh Cường

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Năm 1968, tờ Southeast Missourian của Mỹ có đăng một bài viết về Lỗ Mạnh Hùng với tiêu đề: “Một cậu bé nhiếp ảnh gia tìm kiếm hiểm nguy khi những người khác bỏ chạy”.

    Lỗ Mạnh Hùng - Phóng viên chiến trường nhỏ tuổi nhất Sài Gòn trước 1975

    Sau đó, cậu bé dường như đã âm thầm biến mất khỏi làng báo Sài Gòn. Không ai rõ số phận của chàng phóng viên đặc biệt sau này ra sao.

    Theo Kiến Thức

  • Những bức ảnh cực hiếm về cuộc đời Vua Bảo Đại

    Bảo Đại là vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của nước ta. Cai trị đất nước giữa thời kỳ “bản lề”, lại thấm nhuần văn hóa Pháp từ bé, những hình ảnh đáng nhớ về ông thường gắn với đời sống quý tộc phong lưu, “Âu hóa” hơn là chuyện vận mệnh đất nước. 

     

    Auto Draft

    Bảo Đại tiếp xúc với nền văn hóa Pháp từ rất sớm. Bức ảnh trên chụp khi ông còn đang là Hoàng tử Vĩnh Thụy, trong chuyến thăm tới Pháp năm 1922 cùng Vua cha Khải Định (Ảnh: T. Do Khac)

    Auto Draft

    Cũng trong năm 1922, Hoàng tử Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và bắt đầu quá trình học tập theo chương trình giáo dục Pháp. Đến năm 1932, ông theo học tại Trường Khoa học Chính trị Pháp (Ảnh: Bettmann)

    Auto Draft

    Do tiếp xúc, sống và học tập cùng văn hóa phương Tây từ nhỏ, Bảo Đại trưởng thành giống với một cậu trai pháp bảnh bao hơn là một vị Vua của một nước phong kiến châu Á (Ảnh: Bettmann/CORBIS)

    Auto Draft

    Vị Vua cuối cùng của Việt Nam có vóc dáng cao lớn (1m82), gương mặt điển trai, lối sống phóng khoáng, phong độ, vì vậy mà có đời sống tình cảm khá phực tạp, chịu điều tiếng là mê ăn chơi, hưởng lạc. Bức ảnh này được chụp Bảo Đại trong trang phục dạ hội tại Pháp vào năm 1932 (Ảnh: Agence Mondial)

    Auto Draft

    Bảo Đại được biết đến là một người cưỡi ngựa điêu luyện như một kỵ sỹ. Ông cũng yêu thích và hâm mộ nhiều môn thể thao thời thượng, quý tộc thời đó như golf, tennis, bơi thuyền. (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)

    Auto Draft

    Bảo Đại đặc biệt thích chơi Tennis. Vì vậy sau khi về nước ông đã cho xây dựng một sân quần vợt “tiêu chuẩn quốc tế” ngay tại kinh thành Huế, khiến nhiều du khách hiện nay tới thăm di tích Cố đô Huế vẫn nghĩ đó là một công trình hiện đại được xây sau này!

    Auto Draft

    Một bức ảnh hiếm hoi Bảo Đại chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không rõ ngày tháng của bức ảnh nhưng nhiều khả năng là giai đoạn sau khi ông thoái vị và tham gia Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Ảnh: T. Do Khac)

    Auto Draft

    Vào tháng 3/1946, trên tư cách cố vấn tham dự phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh, Trung Quốc, Bảo Đại đã không về nước mà đến Côn Minh rồi qua Hồng Kông, chấp nhận sống cuộc đời lưu vong. Bức ảnh trên nằm trong loạt ảnh được tạp chí Time của Mỹ thực hiện vào tháng 6/1948, tại căn hộ riêng của ông ở Hồng Kông (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Vị cựu Hoàng lưu vong tiếp phóng viên trong bộ vest sáng màu chải chuốt, tay châm thuốc lá như một tay chơi sành điệu. Tại Hồng Kông, để tiện ăn chơi mà không bị chú ý, Bảo Đại đổi tên thành Wang Kunney tiên sinh, tuy nhiên danh phận Đế vương của ông không thể che mắt được người thường. Dân thượng lưu Hồng Kông đồn rằng muốn xem mặt Bảo Đại chỉ cần tìm ở 14 tiệm nhảy, nếu không thấy thì tìm ở các sòng bạc (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bảo Đại hướng dẫn chú cún cưng của mình thực hiện động tác bắt tay (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bức ảnh chụp trong một chuyến công tác tới Pháp năm 1948 tại khách sạn Ritz, trung tâm Paris (Ảnh: Bettmann/CORBIS)

    Auto Draft

    Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên. Trong hình ông đang đứng nói chuyện với viên sỹ quan Pháp khi vừa đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà Nội vào tháng 3/1954, vẫn trong bộ âu phục chải chuốt quen thuộc cùng cặp kính râm lịch lãm (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Bảo Đại làm Quốc trưởng đến tháng 10/1955 thì bị Ngô Đình Diệm phế truất. Ông sau đó sang Pháp sống lưu vong tại Paris cho đến cuối đời (Ảnh: Life)

    Auto Draft

    Một bức ảnh kháp chụp trong cùng chuyến đi Hà Nội năm đó (Ảnh: Stringer/AFP)

    Auto Draft

    Bảo Đại chụp cùng Tướng Pháp Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi trong chuyến thăm đồng bào thiểu số Tây Nguyên tại Buôn Mê Thuột vào tháng 5/1950 (Ảnh: Stringer/AFP)

    Auto Draft

    Vua Bảo Đại trên trang bìa tạp chí Pháp Paris Match, số ra tháng 9/1953, vẫn với điếu thuốc lá trên tay – thứ gần như gắn liền với “thương hiệu” Bảo Đại (Ảnh: (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)

    Auto Draft

    Một bức ảnh “chất lừ” khác cũng trong số tạp chí đó (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)

    Auto Draft

    Bảo Đại cùng con gái, Công chúa Phương Mai hào hứng theo dõi cuộc đua Công thức một từ hàng ghế V.I.P tại đường đua Monza huyền thoại của Ý năm 1955. Có lẽ ông cũng là một trong những người Việt đầu tiên có cơ hội xem trực tiếp môn thể thao vốn dành cho giới nhà giàu này (Ảnh: Mario De Biasi/Mondadori Portfolio)

    Auto Draft

    Bảo Đại chụp cùng người vợ Pháp của mình, bà Monique Baudot vào năm 1992, 5 năm trước khi ông qua đời vào năm 1997 (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)

  • Tấm hình chân dung đầu tiên của người Việt

    Điều thú vị xung quanh chuyện: Ai là người được chụp ảnh chân dung đầu tiên?
    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) là bức ảnh chụp chân dung xưa nhất của người Việt Nam, bức ảnh được chụp vào năm 1863 tại Paris Pháp khi cụ Phan cầm đầu phái đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Pháp để xin chuộc lại 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ

    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản
    Bức ảnh chụp cụ Phan Thanh Giản

    Ông sang Pháp được ba tháng nhưng không gặp được vua Napoleon III, ông đành trở về Việt Nam với những lời hứa hẹn của Pháp, nhưng khi về đến Việt Nam thì Pháp đã đánh chiếm thêm 3 tỉnh miền tây

    Sau đó ông được triều đình nhà Nguyên phân bổ trách nhiệm vào trấn thủ miền nam, tới năm 1867 toàn bộ Nam Kỳ thất thủ và rơi vào tay người Pháp. Cảm thấy không thể hoàn thành được sứ mệnh của triều đình giao cho, ông uống thuốc độc tử tử chết cùng năm để lại di chúc cho con cháu là “không nên làm chính trị”

    Hiện tại bức hình này còn được lưu tại bảo tàng nhân chủng học ở Paris Pháp.

    Theo thôn tin mà HinhAnhVietNam được biết, một nhóm bạn trẻ đang hoàn thiện công nghệ in ảnh 3D để làm tượng từ ảnh thật : http://chibi3d.com bạn quan tâm thì cứ liên hệ thử nhé!

  • Nghề giúp việc xưa và tên gọi con Sen, anh Xe, U già…

    Nghề giúp việc xưa và tên gọi con Sen, anh Xe, U già…

    Năm 1401, trong cải cách chế độ của Hồ Quý Ly có một quy định đó là hạn chế số lượng gia nô trong nhà quan. Gia nô là kẻ làm các công việc từ đồng áng đến việc nhà và gần như không có quyền tự do. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội, đô thị này xuất hiện nghề giúp việc cho các gia đình người Pháp và cả những gia đình người Việt ở tầng lớp trung lưu, từ đó xuất hiện những cái tên “anh xe”, “con sen”, “u già”…

    Có xe kéo tay thì phải có người kéo và cái tên “anh xe” có từ khi phương tiện này xuất hiện ở Hà Nội. Cuốn “Ở Bắc Kỳ, ghi chép và kỷ niệm” (Au Tonkin notes et souvenirs – xuất bản tại Hà Nội năm 1925) của Công sứ Bonnal (1883 – 1885) kể rằng, trong một chuyến đi Nhật, ông này đem về hai chiếc xe tay hiệu Djinnrickshas (pousse pousse – xe tay kéo), một chiếc để dùng còn chiếc kia tặng Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ. Sau đó, thuộc cấp của ông sai người làm giống như thế để họ dùng. Những người Châu Âu ở Hà Nội cũng bắt chước làm theo để dùng riêng. Đó là chiếc xe hòm có sàn để ngồi cao hơn trục bánh xe, bánh xe bằng sắt, lúc đó đường sá Hà Nội vẫn lổn nhổn gạch đá, duy nhất chỉ có phố Paul Berts (Tràng Tiền ngày nay) trải đá dăm nên rất dễ lật. Sự xuất hiện của xe tay dẫn đến một sự kiện quan trọng, Công sứ Bonnal đã cho phá bỏ các cổng cùng những cánh cửa vuông nặng trịch mà người Hoa dựng lên ở các phố họ sinh sống nhằm ngăn cách với khu người Việt để xe tay có thể ra vào dễ dàng mà không sợ tai nạn. Nhu cầu dùng xe tay tăng cao làm viên quan thuế đã nghỉ hưu là Leneven nhập xe từ Nhật và Hồng Công về cho thuê và trở nên giàu có. Năm 1890, Công ty Verneuil et Gravereand ở phố Rialan (nay là Phan Chu Trinh) đã sản xuất cả xe bánh sắt và xe bánh cao su, loại bánh sắt được bán về các tỉnh lân cận.
    Nghề giúp việc xưa
    Phu kéo xe tay ở Hà Nội đầu thế kỷ XIX.
    Việc mở mang các tuyến đường giao thông được chính quyền thành phố làm khá nhanh, tính đến ngày 1-1-1902, Hà Nội có 52km đường, trong đó hơn 10km đã rải đá và đây là yếu tố làm tăng nhanh chóng số lượng xe kéo. Theo văn bản thông qua quyết toán thuế do Công sứ Baille ký ngày 10-1-1902, số tiền thuế xe tay ở Hà Nội thu được năm 1897 là 26.530 đồng, năm 1898 là 32.165 đồng, năm 1899 là 40.450 đồng và năm 1901 là 43.370 đồng. Trước đó ngày 15-3-1892, Trú sứ Chavassieeux ký mức thuế một năm cho một chiếc xe tay là 60 đồng, như vậy năm 1897 có 442 xe, đến năm 1901, Hà Nội có tới 728 chiếc và như thế cũng có từng ấy người phu xe.Còn con sen có lẽ là phiên âm từ jeune servante trong tiếng Pháp nghĩa là người hầu trẻ, người giúp việc. Cũng như anh xe, con sen có từ cuối thế kỷ XIX, phần lớn trong số đó xuất thân từ nông thôn, ra thành phố tìm việc nhưng vì không có nghề nên họ chỉ có thể làm các công việc giản đơn trong đó có giúp việc gia đình. Sau khi quân Cờ Đen bị giải giáp phải rời khỏi Hà Nội, rồi Hà Nội (thời kỳ này rất hẹp, phía nam giới hạn đến phố Tràng Thi, phía tây chỉ đến đầu Thụy Khuê hiện nay và phía bắc và đông là đê sông Hồng) trở thành nhượng địa của Pháp năm 1888, thì nhiều công chức, sĩ quan Pháp đưa vợ con đến Hà Nội sinh sống. Vì chưa quen ở xứ thuộc địa nên họ cần có người giúp việc như đi chợ, khâu vá, bồi bếp… để cuộc sống của họ thuận tiện hơn; trong khi đó, dân ngoại ô, dân các tỉnh không có ruộng lại cần việc làm và thế là cung cầu gặp nhau, dẫn đến nghề giúp việc xuất hiện. Thế nhưng nhiều gia đình người Pháp vẫn chưa tin tưởng vào người mình sẽ thuê nên họ đã nhờ các cha cố ở Nhà thờ Lớn giới thiệu. Tuy nhiên ngôn ngữ vẫn là rào cản lớn vì thế cố Ân (tức cha cố Dronét) dùng ngôi trường 2 tầng ở phố Nhà Chung mở lớp dạy tiếng Pháp miễn phí cho họ.

    Thương mại phát triển, nhiều người Việt trở nên giàu có và họ cũng có nhu cầu thuê người giúp việc, thế nên đầu thế kỷ XX, số người giúp việc tăng lên đáng kể, nhiều gia đình mua xe tay và nuôi anh xe khỏe mạnh trong nhà để đưa ông chủ, bà chủ đi chơi, công việc, đưa con cái họ đi học… Cũng như con sen, chị khâu, u già… họ ở dãy nhà ngang của gia chủ và được trả lương theo tháng. Vào cuối những năm 1920, nhu cầu tìm việc ngoài thành phố ngày càng tăng vì Hà Nội được mở rộng về phía nam và phía tây nên đã xuất hiện những phố đưa người và một trong những phố đó là phố Mới (nay là Hàng Chiếu). Từ mờ sáng cho đến chiều tối, con phố này luôn có người tìm việc đứng chờ trong đó có chị em muốn “bán sữa” (vì con họ sau khi sinh đã chết). Xã hội văn minh nên nhiều phụ nữ cả Tây lẫn ta muốn giữ bộ ngực sau khi sinh con đã thuê họ về làm vú nuôi. Thậm chí nhiều gia đình Hoa kiều nuôi họ để hằng ngày vắt sữa cho cha mẹ già uống.

    Con sen, anh xe, u già, chị khâu… xuất hiện trên rất nhiều bài báo xuất bản trước năm 1954. Từ chuyện họ bị coi khinh hay lấy cắp tiền bạc đến chuyện chủ nhà có tình ý… Những con sen khép nép ở quê nhưng ra đô thị sẵn sàng đồng ý ngủ với đàn ông ở phòng trọ, anh xe có vợ ở quê song sẵn sàng bỏ tiền thuê nhà cho các cô bán hàng rong để thi thoảng chạy qua “cải thiện”… tất cả đều phơi trên mặt báo. Phóng sự dài kỳ “Cơm thầy, cơm cô” của nhà văn Vũ Trọng Phụng tuy không nêu cụ thể phố nào nhưng ai cũng biết ông viết về các quán cơm đồng thời là nhà trọ ở phố Hàng Chiếu. Phóng sự khiến những ai quan tâm đến gia phong, lễ giáo phải lo lắng bởi sự xuống cấp trong lối sống đô thị của chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến. Sự tha hóa đạo đức không chỉ có trong giới làm ăn, buôn bán mà còn có cả ở tầng lớp người giúp việc. Do kẻ đi ở ăn cắp của chủ rồi bỏ trốn khiến cảnh sát cũng khó mà truy tìm, nên từ năm 1935 có một người tên là Vy ở 87B phố Hàng Chiếu đã có sáng kiến bắt con sen, phu xe phải chụp ảnh, khai tên tuổi, quê quán và phải điểm chỉ vào. Năm 1936 có hàng chục người làm nghề “đưa người” ở phố Hàng Chiếu.

    Không chỉ xuất hiện trên các trang báo, họ còn là đề tài của các nhà văn, truyện ngắn “Thanh! Dạ” cho thấy sự khốn khổ của con sen, không biết nghe ai và nếu nghe người này thì bị người khác trong gia đình ấy hành hạ. Truyện “Quyền chủ” phản ánh chủ có sai thì họ vẫn đúng vì họ là chủ, truyện “Tờ giấy 100” kể chuyện vợ một anh giàu có đổ cho người ở lấy cắp tiền. Nhưng thương cảm nhất chính là truyện “Người ngựa ngựa người” cũng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, thân phận anh xe cũng là thân phận của kẻ đi ở, lại gặp gái mãi dâm cùng cảnh ngộ bế tắc không lối thoát. Trong hồi ký của Nguyễn Bắc (Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội 1954-1976) “Thành phố bị chiếm”, ông kể về bà vú ở chợ Hàng Da đã cứu thoát ông khỏi mật thám vào năm 1952.

    Không phải ai làm anh xe, con sen, u già, vú em… đều có cuộc sống bất hạnh, nhờ có mức lương ổn định nhiều người đã cải thiện được cuộc sống của gia đình họ ở quê. Thậm chí có nhiều người từ đi ở đã trở thành giàu có nhờ may mắn, ví dụ như chủ hiệu nem Sài Gòn Tế Mỹ ở đầu phố Hàng Gai xuất thân từ nhà quê ra Hà Nội làm thuê và đi ở cho một hiệu nem đầu tiên ở phố Hàng Quạt do một người vợ Tây góa chồng mở. Một thời gian sau bà này bị liệt, anh này chăm sóc tận tình nên bà ta nhận làm con nuôi rồi nhường cửa hàng cho. Hay từ là người dọn hàng ở chợ Đồng Xuân, một người đàn ông ở Phú Thượng (nay thuộc quận Tây Hồ) đã trở nên giàu có nhờ may mắn và ý chí đã sở hữu cả khách sạn và quán ăn lớn ở phố Hàng Trống.

    Sau năm 1954, chế độ mới coi việc nuôi người làm trong nhà là giai cấp bóc lột nên đã cho họ về quê.

    Tuy nhiên, đến thời kỳ đổi mới thì mọi chuyện đã khác, quan niệm về người giúp việc không còn nặng nề như thời bao cấp. Các gia đình có điều kiện nhưng neo người đã thuê người ở nông thôn giúp việc cho gia đình. Năm 1994, VTV phát sóng bộ phim truyền hình dài tập “Oshin” của Nhật, phim kể về sự vươn lên của một cô gái tên là Oshin từ đi ở trở thành bà chủ và thế là từ đó xuất hiện cái tên “ô sin” dân gian gọi chung những người giúp việc nhà. Và cũng như trước năm 1954, nghề giúp việc thời nay cũng có biết bao nhiêu chuyện bi hài, hay dở khó mà kể hết…

    Ngọc Tiến
    Hà Nội Mới
  • Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Phần lớn người Việt di cư sang các nước phát triển trên thế giới. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!

    Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2015 có 2.558.678 người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy tính trung bình trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài.

    Hầu hết người Việt Nam di cư đến các nước phát triển, trong đó tập trung đông nhất là ở Mỹ (hơn 1,3 triệu người), Pháp (125,7 nghìn người), Đức (gần 113 nghìn người), Canada (182,8 nghìn người), Úc (227,3 nghìn người), Hàn Quốc (114 nghìn người),…

    Tại các nước Đông Âu, và một số nước châu Á như Lào, Campuchia, Malaysia mỗi nước có khoảng trên 10.000 người Việt di cư đến đây. Cũng theo tổ chức này, trong năm 2015, 2,67% công dân Việt Namsinh sống tại nước ngoài.

    Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài!Bản đồ di cư của người Việt. Biểu tượng chấm hoa chỉ những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Việt sinh sống. Nguồn: IOM

    Trong ấn bản “Migration and remittances factbook 2016” về di cư và kiều hối của các quốc gia trên thế giới, Ngân hàng Thế giới cho biết, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

    Trong năm 2015, Bộ Tư pháp cho biết đã trình Chủ tịch nước giải quyết 4.974 hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (giảm 1.524 hồ sơ so với năm 2014), trả lời 2.673 trường hợp tra cứu quốc tịch theo đề nghị của các cơ quan.

    Tính chung trong 5 năm qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chủ tịch nước cho phép hơn 40.000 trường hợp xin nhập, trở lại và thôi quốc tịch Việt Nam; trả lời tra cứu, xác minh hơn 15.000 trường hợp từ các cơ quan và các Sở Tư pháp gửi về.

    Theo một báo cáo của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao Việt Nam, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội,… đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng.

    Từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, đặc biệt là từ những năm 2000, do chính sách mở cửa của Nhà nước trong quan hệ đối ngoại cũng như do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá, số người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng đông. Họ ra nước ngoài để đoàn tụ gia đình hoặc làm ăn, kinh doanh, đi du học rồi ở lại. Cũng có nhiều trường hợp kết hôn với công dân nước ngoài rồi theo chồng ra nước ngoài định cư.

    Theo tài liệu “Quốc tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam” của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, ở các nước phương Tây, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước tư bản phát triển chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 4/5 tổng số người Việt Nam ở nước ngoài trên toàn thế giới.

    Người Việt Nam ở khu vực này phần đông đã có quốc tịch nước sở tại do thủ tục xin nhập quốc tịch các nước này ít phức tạp, không đòi hỏi phải xin thôi quốc tịch gốc, chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được nhập tịch.

    Riêng đối với Cộng hoà liên bang Đức, pháp luật về quốc tịch của Đức quy định người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Đức thì phải thôi quốc tịch mà họ đang có. Do đó, hàng năm, số người Việt Nam định cư ở Đức xin thôi quốc tịch Việt Nam khá nhiều.

    Như vậy, ngoại trừ số người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước sở tại thì hiện nay, còn nhiều người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài.

    Việc họ vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi đã được nhập quốc tịch nước ngoài là do nước mà họ định cư công nhận 2 quốc tịch hoặc chấp nhận 2 quốc tịch trên thực tế. Trong khi đó, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài này vẫn có một bộ phận chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa được nhập quốc tịch nước sở tại.

    Theo Vietnamfinance

  • 5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng

    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng

    Do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy, sắp đặt, giữa Việt Nam và Cao Ly xưa (nay là Hàn Quốc và Triều Tiên) đã có một mối liên hệ rất đặc biệt. Đó là quan hệ thiên di và huyết thống.

    Chỉ kể từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây, xác nhận đã có 5 cuộc người Hàn Quốc về Việt Nam nhận họ hàng hoặc tìm hiểu về lai lịch và huyết thống:

    1- Hậu duệ của Lý Dương Côn (người Việt sang Cao Ly, trước Lý Long Tường 100 năm) về Sài Gòn, để tìm lại họ hàng.

    2- Cách đây khoảng hai chục năm, Ông Lý Xương Căn và các hậu duệ của Hoàng thúc Lý Long Tường đời Lý đã về Đình Bảng – Kinh Bắc (Bắc Ninh) để nhận lại họ hàng. Hai bên đã nhận nhau là họ hàng.

    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Ông Lý Xương Căn, hậu duệ của Hoàng thúc triều Lý là Lý Long Tường về Việt Nam nhận họ hàng và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp. Ảnh của báo Tia Sáng.

    3- Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, vào năm 1959, Tổng thống Hàn Quốc là Lý Thừa Vãn đã về Sài Gòn để tìm lại họ hàng.

    4- Con cháu của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi tại Hàn Quốc cũng đã tìm về Việt Nam

    (cả ở Miền Nam trước 1975 và cả ở Miền Bắc sau 1975) để tìm lại họ hàng, dòng tộc.
    Theo truyền thuyết: Mạc Đĩnh Chi đi sứ Trung Quốc, gặp gỡ với sứ thần Cao Ly tại Trung Quốc. Sau khi xướng họa văn thơ, hai bên tương đắc vô cùng. Sứ thần Cao Ly (cũng là một Trạng nguyên) mời Mạc Đĩnh Chi sang thăm Cao Ly và gả cô cháu gái xinh đẹp cho Mạc Đĩnh Chi. Mạc Đĩnh Chi ở lại Cao Ly 6 tháng và có sinh với người thiếp này một người con trai.
    Mười năm sau, Mạc Đĩnh Chi lại được cử đi sứ Trung Quốc, gặp lại Sứ thần Cao Ly. Mạc Đĩnh Chi được sứ thần Cao Ly mời thăm lại Cao Ly. Ông gặp lại người thiếp yêu, lúc đó đã lập bàn thờ Mạc Đĩnh Chi, trong mừng tủi. Hai ông bà lại sinh thêm một đứa con. Lần này Mạc Đĩnh Chi lưu lại Cao Ly 1 năm.

    5- Tháng 5 /2015: Ngài Ban Ki-moon thăm nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn.

    Ngài dâng hương, xem gia phả và để lại lưu bút. Câu chuyện này làm chấn động dư luận và các nhà nghiên cứu đang quan tâm theo dõi, trước hết đó là cử chỉ thành kính của cá nhân ông Ban Ki-moon đối với dòng họ Phan. Trong bút tích lưu niệm, ông Ban Ki-moon có viết rõ ông là thành viên của họ Phan, cụ thể là hậu duệ của Phan Huy Chú (Theo lời GS Phan Huy Lê)
    .
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Hình ảnh Ngài Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn) đang ghi lưu bút trong chuyến thăm Nhà thờ dòng họ Phan Huy, dưới chân núi Chùa Thầy, Sài Sơn, Xứ Đoài.
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Lưu bút của Ngài Ban Ki-moon tại Nhà thờ dòng họ Phan Huy Chú
    5 lần người Hàn Quốc sang Việt Nam nhận họ hàng
    Bút tích và bản dịch của ông Ban Ki-moon được lưu giữ tại nhà thờ dòng họ Phan Huy
    (Nguồn: Báo Người Lao Động)

    Báo Thanh Niên dẫn lời GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học – Lịch sử Việt Nam, cho biết về chuyến thăm hồi tháng 5-2015:

    “Trong trao đổi ông nói là hậu duệ của họ Phan Huy và cụ thể hơn là hậu duệ của Phan Huy Chú.”

    “Về phương diện khoa học, tôi tin ông Ban Ki-moon nhưng cho đến nay, tôi chưa có tư liệu nào cho phép lý giải mối quan hệ giữa họ Phan của ông với Phan Huy Chú hay họ Phan Huy ở Việt Nam.”

    Theo chungta.com

  • Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Xuyên suốt dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, đã xuất hiện nhiều anh hùng, hào kiệt tiêu biểu cho nguyên khí quốc gia. Trong số đó có 4 danh tướng, mà công lao, sự nghiệp như trời đất bao la, kết tinh những tinh hoa tốt đẹp của dân tộc; mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc Việt Nam, trong mỗi con tim của con Hồng cháu Lạc.
    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Từ trái qua phải tượng các danh nhân: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ. 

     

    Người anh hùng dân tộc, danh tướng Lý thường Kiệt 

    Sinh ra ở Thăng Long (Hà Nội ngày nay), ông là danh tướng kiệt xuất thời nhà Lý, đã để lại cho đời những mốc son chói lọi về sự nghiệp quân sự cũng như những cải cách tiến bộ.

    Trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, ông để lại những trận đánh để đời, làm cho giặc xâm lăng bạt hồn kinh vía. Trận đánh cuối năm 1075, đầu năm 1076, trên đất nhà Tống là trận đánh rất độc đáo. Ông chủ động đánh phủ đầu làm tiêu hao sinh lực quân thù, tiêu hao hậu cần, san phẳng thành lũy…dập tắt ý đồ xâm lược nước ta của nhà Tống, làm nhụt nhuệ khí của bọn cầm quyền phương Bắc. Có được chiến thắng đó nhờ sự sáng suốt của ông là thông qua sự kết hợp giữa quân sự và dân vận làm cho nhân dân hai nước trên biên giới hiểu rõ chính nghĩa của ta là đánh giặc để giữ nước. Nhưng làm nên tên tuổi lẫy lừng  của người anh hùng dân tộc vĩ đại chính là chiến thắng giặc Tống trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay) đầu năm 1077. Đây là một trong những trận đánh hay nhất trong nghệ thuật quân sự hào hùng chống ngoại xâm của cha ông ta. Cái hay ở chỗ ông vừa dụ vừa đánh. Trong đêm ông sai người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát đọc bài thơ “Sông núi nước Nam”, với hồn thơ đanh thép khẳng định chủ quyền quốc gia thiêng liêng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. (Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ chi giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời). Giặc nghe bài thơ trên hồn vía thất lạc giảm nhụt ý chí, và tự động buông vũ khí đầu hàng. Chúng ta chiến thắng mà không bị đổ máu của tướng sĩ, hao tiền của của dân. Bài thơ bất hủ này được xem là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam.Tên tuổi và sự nghiệp của danh tướng Lý Thường Kiệt chói sáng mãi trong lịch sử vinh quang của dân tộc. Để ghi nhớ công lao to lớn của ông nhân dân ta đã lập đền thờ ông ở nhiều nơi, với tấm lòng thành kính bậc tiên hiền  đã có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Hình ảnh đại quân của Quang Trung tiến vào thành Thăng Long.

     

    Danh tướng kiệt xuất Trần Hưng Đạo

    Trần Hưng Đạo quê ở Nam Định, là danh tướng vĩ đại của nhà Trần.

    Đế chế Nguyên Mông nổi tiếng hưng thịnh và hùng mạnh nhất thế giới, vó ngựa của chúng tung hoành khắp nơi, chinh phạt trời Á sang Âu. Không có nước nào địch nổi đội quân hùng mạnh, thiện chiến của Hốt Tất Liệt. Nhưng cả ba lần (1258, 1285 và 1287), chúng sang xâm lược nước ta là cả ba lần phải nhận đại bại nhục nhã dưới tài chỉ huy của các danh tướng nhà Trần, mà tiêu biểu là Trần Hưng Đạo lừng danh. Chiến thắng giặc Nguyên Mông là đỉnh cao về nghệ thuật quân sự ở nước ta mà chiến lược gia không ai khác đó chính là thiên tài quân sự Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn. Ông dùng kế sách “ vườn không nhà trống”, không để  cho giặc lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, kéo dài chiến tranh không có lợi cho ta; xóa bỏ mọi hiềm khích, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, khích lệ tướng sĩ bằng hùng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ”. Đây là bản Tuyên ngôn thứ hai thể hiện hào khí chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tướng sĩ nghe lời hịch nấc lòng, thích vào tay hai chữ “Thát sát”  (giết giặc Mông Nguyên). Ông xây dựng khối đại đoàn kết trên dưới một lòng, giết giặc giữ nước, trọng dụng nhân tài như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật, Yết Kiêu, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản… để làm nên chiến thắng.

    Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến đã diễn ra “Hội nghị Diên Hồng” nổi tiếng. Ông đã khéo dựa vào sức dân để phát động nghệ thuật chiến tranh nhân dân hợp lực lại để  đánh bại chế độ hùng mạnh nhất bấy giờ. Tố chất xuất chúng của ông là biết chọn lựa thời cơ để đánh giặc. Minh chứng hùng hồn là trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 1287, ông đã dựa vào quy luật thiên nhiên để đánh thắng giặc, bằng cọc gỗ vát nhọn cắm xuống sông che lấp bằng thủy triều và nhử chúng vào sâu, vào thế trận của ta giăng sẵn rồi nhấn chìm tất cả kẻ thù xuống sông khi thủy triều xuống.

    Bằng nghệ thuật quân sự độc đáo này ông đã ba lần đánh bại quân Nguyên Mông xâm lược nước ta – Cáo chung một chế độ khét tiếng, làm sụp đổ một triều đại Hốt Tất Liệt hùng mạnh, mở ra  nền độc lập cường thịnh cho dân tộc Việt Nam. Tấm gương của ông là tài sản vô giá, là nguồn cổ vũ động viên to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đời này sang đời khác. Nhân dân ta lập đền thờ ông ở nhiều nơi để tưởng nhớ công lao to lớn của Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn và suy tôn ông là Đức Thánh Trần. Ngày nay ông trở thành vị Thánh thiêng liêng được thờ phụng trên mọi miền đất nước.

    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Trận chiến trên sông Bạch Đằng. 

    Người anh hùng áo vải, danh tướng kiệt xuất Nguyễn Huệ

    Ông là một danh tướng vĩ đại – một vị vua anh minh của triều đại Tây Sơn. Nguyễn Huệ là bậc kỳ tài trong thiên hạ, tài năng phát lộ rất sớm, mới ngoài hai mươi tuổi ông đã có công lớn trong việc dẹp hai thế lực hùng mạnh trong nước, Chúa Trịnh Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn Đàng Trong đã gây ra nội chiến triền miên, làm cho nước ta thời bấy giờ suy kiệt. Ông đã thực hiện sứ mệnh thống nhất đất nước mở ra triều đại Tây Sơn.

    Ông là nhà quân sự thiên tài sử dụng chiến thuật nước xa cứu lửa gần, bằng những cuộc hành quân thần tốc, đánh đòn chớp nhoáng làm cho quân thù trở tay không kịp. Thiên tài quân sự chói sáng với trận thủy chiến lừng danh Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) tháng 1/ 1785, chôn vùi 5 vạn quân Xiêm dưới sông sâu. Chiến thắng Kỷ Dậu (đầu năm 1789), đập tan 20 vạn quân Thanh. Đây là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của vị tướng và cũng là vị vua Hoàng đế 37 tuổi.

    Nguyễn Huệ là một trong những vị vua vĩ đại nhất trong các triều đại vua chúa phong kiến ở nước ta. Trên ngôi vị Hoàng đế ông đã thống nhất sơn hà mà còn mở mang bờ cõi, phát triểnkinh tế, lưu hành tiền mới, chăm lo cuộc sống cho nhân dân… Trọng dụng nhân tài, bang giao với các nước. Nguyễn Huệ đột ngột băng hà khi còn quá trẻ, khi tài năng tiếp tục tỏa sáng. Cũng như sứ mệnh lịch sử nước nhà lúc đó đang cần ông. Một mất mát vô cùng to lớn! Người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ là lãnh tụ nông dân kiệt xuất, là nhà quân sự, chính trị thiên tài, là anh hùng dân tộc vĩ đại trong thế kỷ XVIII. Ông có công lớn trong thống nhất đất nước sau 20 năm bị chia cắt.

    Nhân ta đã dựng tượng đài và đền thờ ông khắp nơi trong cả nước. Tại huyện Tây Sơn (Bình Định) đã xây tượng đài và nhà thờ Hoàng đế Quang Trung có quy mô cấp Nhà nước.

    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 

     

    Danh tướng kiệt xuất Võ Nguyên Giáp

    Ông quê ở Quảng Bình, là một nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự thiên tài, là danh tướng vĩ đại nhất của thế kỷ XX, là nhà văn hóa lớn của thời đại Hồ Chí Minh.

    Võ Nguyên Giáp  là Tư lệnh chiến trường đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chấn động địa cầu, kết thúc gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ trên không 1972, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút quân về nước vô điều kiện. Đại thắng mùa xuân 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

    Bốn danh tướng vĩ đại của dân tộc

    Cờ chiến thắng trên nóc hầm Đờ Cát ở Điện Biên Phủ.

    Ông không những là danh tướng vĩ đại nhất của thế kỷ XX, mà còn vĩ đại nhất của mọi thời đại. Tài thao lược và tác chiến của ông toàn diện trên mọi bình diện địa hình đất liền, rừng núi, trên sông, trên không, biển đảo, trên đất bạn (Lào, Campuchia) đều thắng lợi rực rỡ. Ông là một vị tướng làm theo lời dạy của Bác hồ “Kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

    Đất nước ta luôn ghi nhớ công ơn của ông và nhân dân ta đã suy tôn ông là vị tướng của nhân dân. Hàng ngày từng đoàn người nối dài, với lòng thành kính viếng ông ở nơi an nghỉ, những di tích và địa danh lịch sử gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của ông.

    Quang vinh thay những anh hùng dân tộc vĩ đại, những danh tướng kiệt xuất, tên tuổi của các ông mãi mãi trường tồn cùng non sông đất nước. Trong tương lai gần Nhà nước ta sẽ đề nghị UNESCO vinh danh những danh tướng vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng.

    LÊ PHAN/Lao động và Xã hội

  • Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy

    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy

    Chiến tranh Việt Nam, những hình ảnh ghi lại một thời bom đạn đã lấy đi xương máu của biết bao người con đất Việt. Những bức hình được chia sẻ trên mạng xã hội sau đây có thể cho bạn một cái nhìn ở góc độ khác về lịch sử. Trong sự đau thương và khốc liệt của chiến tranh, đâu đó vẫn hiện lên tình người ấm áp.

    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Các chiến sĩ tự vệ Hà Nội cứu vớt phi công John S. McCain ở Hồ Trúc Bạch – (Ảnh: Internet)
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Nữ du kích băng bó vết thương cho một lính Mỹ. (Ảnh: Internet)
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Bác sĩ khám bệnh thường kỳ cho tù binh phi công Mỹ tại trại giam. (Ảnh: thông qua soha.vn)
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Lời nhắn viết trên áo trấn thủ của một lính Mỹ, thể hiện sự ám ảnh của anh ta trước mức độ ác liệt của chiến trường Khe Sanh: “Cảnh báo: Làm lính thủy đánh bộ ở Khe Sanh là một trải nghiệm có hại cho sức khỏe”. (Ảnh: thông qua dantri.com.vn)

    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy

     

    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
    Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy
  • Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Bạn đã từng nghe về danh xưng Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn trước 1975 chưa?

    Thẩm Thúy Hằng
    Cho đến nay, chưa một diễn viên nào của Việt Nam được gọi là “minh tinh màn bạc” như Thẩm Thúy Hằng. Bà là nữ diễn viên thành công nhất của nền điện ảnh thương mại Sài Gòn trước năm 1975 với tên tuổi phủ sóng toàn châu Á. Sở dĩ gọi Thẩm Thúy Hằng là minh tinh màn bạc là bởi vì: bất kỳ khi đến nước nào, dù Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ hay Thái Lan, Indonesia, bà cũng được chào đón như một ngôi sao.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Thẩm Thúy Hằng xuất thân gốc Bắc, sinh năm 1940 tại Hải Phòng với tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Theo gia đình di cư vào Nam, bà lớn lên tại An Giang và theo học bậc trung học tại Sài Gòn. Năm 16 tuổi, bà giấu gia đình tham gia cuộc thi tuyển diễn viên của hãng phim Mỹ Vân và vượt qua hơn 2000 thí sinh để giành giải nhất. Ông bà chủ của hãng phim đã đặt cho bà nghệ danh Thẩm Thúy Hằng.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Vai diễn đầu tiên của Thẩm Thúy Hằng là nàng Tam Nương trong bộ phim Người đẹp Bình Dương (1958). Bộ phim này đã một bước đưa bà thành ngôi sao đình đám nhất của Sài Gòn và sau đó là ngôi sao đình đám nhất của Đông Á. Bà lập kỷ lục là người đóng nhiều phim nhất trong thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70. Sắc đẹp của Thẩm Thúy Hằng làm lu mờ tất cả những gì xung quanh, thậm chí khiến người ta bỏ qua cả tài năng diễn xuất không quá đặc biệt của bà.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Hào quang điện ảnh rực rỡ bao nhiêu thì chuyện riêng tư của Thẩm Thúy Hằng bí ẩn bấy nhiêu. Có tin đồn rằng năm 1958, khi vừa bước vào ánh hào quang của Người đẹp Bình Dương thì bà cũng mang thai một đứa bé. Sợ ảnh hưởng đến danh tiếng và sự nghiệp, Thẩm Thúy Hằng đã mang cho đi đứa con gái đầu lòng của mình. Để rồi sau này bà cất công lặn lội đi tìm con trong ân hận nhưng cô gái mãi mãi không muốn nhận mẹ mình. Thực hư câu chuyện không rõ, chỉ biết Thẩm Thúy Hằng có cuộc hôn nhân hạnh phúc đúng kiểu mẫu “chân dài – đại gia” với Tony Nguyễn Xuân Oánh – một tiến sĩ kinh tế hơn bà 19 tuổi, từng làm việc như một chuyên gia cao cấp của Ngân hàng thế giới, sau là Thống đốc ngân hàng và Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sau 1975, ông Nguyễn Xuân Oánh còn làm chuyên gia tư vấn cho TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bà sinh cho chồng 4 người con và sống hạnh phúc đến tận khi chồng mất vào năm 2003.Vì cuộc hôn nhân bền chặt này, sau 1975, bà không di cư mà ở lại Sài Gòn, tiếp tục hợp tác với điện ảnh cách mạng trong nhiều bộ phim nhưHồ sơ một đám cưới, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Cho cả ngày mai... Năm 1981, minh tinh Thẩm Thúy Hằng biến mất khỏi làng nghệ thuật mà không để lại một lời nhắn cho người hâm mộ.Chỉ đến thời gian gần đây, bất ngờ tấm hình Thẩm Thúy Hằng với khuôn mặt biến dạng bị tung lên mạng, người hâm mộ năm xưa mới bàng hoàng xa xót. Chỉ vì khao khát giữ mãi vẻ thanh xuân đã làm hàng triệu khán giả mến mộ, Thẩm Thúy Hằng đã lạm dụng phẫu thuật thẩm mỹ tới mức bị biến dạng hoàn toàn gương mặt xinh đẹp năm nào. Sau gần 30 năm tránh né, nhờ sự cứu rỗi của đạo Phật, Thẩm Thúy Hằng đã tự tin xuất hiện công khai với ngoại hình bị phẫu thuật thẩm mỹ tàn phá nhưng vẫn giữ phong thái kiêu hãnh của một minh tinh màn bạc năm nào.

    Kiều Chinh
    Lớn lên và thành danh tại Sài Gòn, nhưng Kiều Chinh cũng là một cô gái Bắc. Bà sinh năm 1937 trong một gia đình thượng lưu tại phố cổ Hà Nội. Mẹ mất sớm vì bom đạn Nhật năm 1945, cô bé Nguyễn Thị Chinh được cha hết mực cưng chiều vì là con gái út. Mối quan hệ rộng rãi của cha với các văn nghệ sĩ Hà Nội trước cách mạng đã tạo một nền tảng nghệ thuật vững chắc cho bà ngay từ thời thơ ấu. Năm 1954, do biến cố lịch sử, gia đình bà chuẩn bị lên đường vào Nam thì anh trai bất ngờ bỏ trốn đi theo kháng chiến. Lúc này chị gái bà đã theo chồng sang Pháp định cư. Tại phi trường Bạch Mai, người cha chờ đợi mãi không thấy con trai đã đẩy vội cô lên phi cơ với lời nhắn nhủ vội vàng: “Tìm được anh trai con ba sẽ vào sau”.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    17 tuổi, một thân một mình bơ vơ nơi đất khách, Kiều Chinh đã được gia đình người bạn của cha cưu mang. Cô đã kết hôn với con trai của người ân nhân là nhạc sĩ Nguyễn Năng Tế. Hai người sống với nhau đến năm 1981 thì chia tay.Duyên điện ảnh của Kiều Chinh bắt đầu tại một bữa tiệc ở nhà hàng Continental. Ở tuổi 18 và vừa sinh con đầu lòng, Kiều Chinh đẹp lộng lẫy với thần thái thương lưu cao quý, sang trọng hiếm có. Bà đã lọt vào mắt xanh đạo diễn phim Hồi chuông Thiên Mụ và chính thức bước vào con đường nghệ thuật rực rỡ.Nếu như Thẩm Thúy Hằng là ngôi sao phim thương mại thì Kiều Chinh là ngôi sao của dòng phim nghệ thuật. Những bộ phim bà đóng nếu như không phải dự án điện ảnh lớn nhất Sài Gòn thì sẽ là dự án điện ảnh lớn của Hollywood. Lối diễn xuất mộc mạc, tự nhiên cùng lợi thế ngoại ngữ đã khiến cái tên Kiều Chinh luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà làm phim Hoa Kỳ. Thậm chí, khi cần vai diễn công chúa Ấn Độ, chính Kiều Chinh chứ không phải người Ấn Độ được chọn.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Năm 1975, khi Kiều Chinh đang quay bộ phim Full House tại Singapore thì Sài Gòn giải phóng. Bà vội vàng di tản sang Canada để hội tụ với ba người con trai đang du học tại đây. Ít lâu sau, chồng bà cũng tìm cách để sang Canada. Tại đất nước Bắc Mỹ xa lạ, Kiều Chinh từ bỏ hoàn toàn ánh hào quang của ngôi sao để trở thành một người lao động bình thường trong một trại gà kiếm 2 đô la Canada cho mỗi giờ làm việc. Không cam tâm, bà tìm mọi cách liên lạc với các minh tinh Hollywood đã từng hợp tác trong các bộ phim và may mắn được một nữ minh tinh bão lãnh cả gia đình sang Mỹ. Ngay lập tức, bà tìm cơ hội trở lại với điện ảnh.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Cho đến nay, chưa một diễn viên Việt Nam nào gây dựng được tên tuổi vững chắc tại kinh đô điện ảnh Hollywood như Kiều Chinh. Bà tham gia hơn 100 bộ phim truyền hình, điển hình như The Children of An Lac (1980), The Letter (1982), The Girl Who Spelled Freedom (1986), cùng hàng loạt phim điện ảnh nhưHamburger Hill (1987), Gleaming the Cube (1988), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What’s Cooking (2000), Face (2002), Returning Lyly (2002). Kiều Chinh đã ghi tên vào danh sách 50 vai diễn khiến khán giả khóc nhiều nhất thế kỷ XX với vai bà mẹ Trung Hoa trong phim The Joy Luck Club của đạo diễn Wayne Wang.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Ở tuổi 77, Kiều Chinh vẫn đang miệt mài với các dự án thiện nguyện tại Việt Nam. Dự án điện ảnh gần đây nhất của bà là phim ngắn Ngọc Viễn Đông của đạo diễn Cường Ngô.

    Thanh Nga
    Thanh Nga là một nghệ sĩ cải lương tài sắc nổi tiếng nhất của Việt Nam. Bà được mệnh danh là “nữ hoàng sân khấu” của Sài Gòn trước 1975 và mãi mãi là của biểu tưởng của sân khấu Việt Nam cho đến hôm nay.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Bà tên thật Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1942, quê quán Tây Ninh. Cha của bà là Nguyễn Văn Lợi, mẹ của bà là Nguyễn Thị Thơ, tức bà bầu Thơ, trưởng đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời. Với gen nghệ thuật, năm 16 tuổi, Thanh Nga đã xuất sắc dành giải Thanh Tâm triển vọng với vai sơn nữ Phà Ca trong vở Người vợ không bao giờ cười. Nhan sắc và tài năng của bà bắt đầu nở rộ từ đây.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Khó có thể liệt kê cho đủ những vai diễn xuất sắc của Thanh Nga trong 20 năm làm nghề ngắn ngủi. Bà luôn được giao những vai diễn các anh hùng nữ tướng, nếu không cũng phải là những mỹ nhân tuyệt sắc. Đó là Bàng Quý Phi (vở Xử án Bàng Quý Phi), Bà mẹ cách mạng (vở Sau ngày cưới), Điêu Thuyền (vở Phụng Nghi Đình), Dương Thái Chân (vở Chuyện tình An Lộc Sơn), Diệu Thiện (vở Ni cô Diệu Thiện), Dương Vân Nga (vở Thái hậu Dương Vân Nga), Trưng Trắc (vởTiếng trống Mê Linh).

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Cuộc đời của Thanh Nga lận đận chuyện duyên tình với hai cuộc tình tan vỡ, một với người chiến sĩ cách mạch và một với nghệ sĩ cải lương Thành Được – bạn diễn của bà. Thanh Nga kết hôn hai lần. Lần đầu với một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa để trả thù Thành Được. Và lần hai với luật sư Phạm Duy Lân. Cuộc hôn nhân lần hai mang đến cho Thanh Nga hạnh phục trọn vẹn với 1 cậu con trai tên Phạm Duy Hà Linh. Nhưng bất hạnh đã giáng xuống chấm dứt số phận hồng nhan. Thanh Nga bị sát hại cùng chồng ngày 26 tháng 11 năm 1978 ngay trước cửa nhà ở đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Lê Thị Riêng) TP. Hồ Chí Minh. Sau đó vài năm, dù người ta tuyên bố đã tìm thấy hai kẻ giết người và kết án tử hình, nhưng nhiều năm qua sự thực về cái chết của bà vẫn là một bí ẩn. Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1984.

    Kim Cương
    Kim Cương là người đầu tiên được mệnh danh là “Kỳ nữ”. Nhan sắc không sánh được với Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng hay Kiều Chinh, nhưng tài năng của Kim Cương trong cả hai lĩnh vực sân khấu và điện ảnh, cả diễn xuất lẫn viết kịch đều không có ai sánh bằng.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    NSND Kim Cương có tên họ đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Cương. Bà sinh năm 1937 tại Sài Gòn trong một gia đình dòng dõi quý tộc Huế. Thân phụ của bà là ông Nguyễn Ngọc Cương, con trai ruột của vua Thành Thái – vị vua yêu nước bị Thực dân Pháp đày đi biệt xứ. Mẹ bà là nghệ sĩ hát bội danh giá Bảy Nam. Vai diễn đầu tiên của bà là vào năm “10 ngày tuổi” – vai con Thị Màu trong vở của Quan Âm Thị Kính. Với “vai diễn” đầu đời này, bà được vinh hạnh “diễn” trong dịp mừng thọ Thái hậu Từ Cung với “đạo cụ” là một bình sữa.Sự nghiệp diễn xuất đến sớm, bà nhanh chóng trở thành đào non trong đoàn Đại Phước Cương, cùng cha mẹ và các thành viên trong đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Vai diễn chính thức đầu tiên của bà là vai Na Tra trong vở Na Tra lóc thịt do chính mẹ bà viết kịch bản. Bà nổi tiếng trong những vai kịch buồn rơi nước mắt hay những vai dí dỏm. Đến nay vai Diệu trong vở Lá sầu riêng của Kim Cương vẫn là một mẫu mực của sân khấu cải lương mà chưa có ai vượt qua được.

    Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa gồm những ai?

    Bên cạnh diễn xuất, bà từng soạn nhiều kịch bản kịch nói với bút danh Hoàng Dũng và giữ kỷ lục là người viết kịch bản kịch nói nhiều nhất Việt Nam hiện nay đồng thời là người mở đường cho kịch nói Sài Gòn sau năm 1975.Kim Cương có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi vì chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con cho đến lúc về già. Đến nay, bà đã từ bỏ ánh đèn sân khấu để chăm lo cho công tác thiện nguyện với trẻ em thiệt thòi.Thời trẻ, Kim Cương không phải chịu cảnh hồng nhan đa truân như các nữ nghệ sĩ khác bởi tính cách mạnh mẽ, cương quyết và lúc nào cũng đứng mũi chịu sào. Sự kiện ồn ào nhất và cũng tươi đẹp nhất của Kim Cương có lẽ là mối tình đơn phương mà thi sĩ Bùi Giáng dành cho bà suốt 40 năm. Nhà thơ “điên” đã viết ra những áng thơ tuyệt tác nhất để dành cho mối tình trong mộng của mình là Kim Cương, từ lúc còn thanh niên cho đến tận khi qua đời.

    Theo phunutoday

  • Cuộc sống “cực khổ” của các Hoàng tử nhà Nguyễn

    Cuộc sống “cực khổ” của các Hoàng tử nhà Nguyễn

    Cuộc sống “cực khổ” của các Hoàng tử nhà Nguyễn

    Xem thêm: Các vị vua chúa nhà Nguyễn

    Trong truyện hay phim Trung Quốc, các hoàng tử, vương gia thường là các nhân vật tự do tự tại, tiêu dao phóng túng. Nhưng sự thật lúc nào cũng phũ phàng, từ ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, ta có thể thấy các hoàng tử, ít nhất là hoàng tử Việt Nam, phải học tập rèn luyện “cực khổ” không thua gì người thường cả.

    Thái tử Bảo Long
    Thái tử Bảo Long

    Khi được tám tuổi, các hoàng tử sẽ bắt đầu học Khai tâm bảo giám và sách Tiểu học. Tiểu học là sách dùng cho các trò nhỏ, nội dung dạy về các nghi tiết như rảy nước, quét tước, thưa gửi, lui tới, trau dồi đạo đức cho thiếu nhi.

    Khi đã thông thạo Tiểu học, các hoàng tử sẽ phải học Tứ thư rồi tới Ngũ kinh và Chư sử. Vua Minh Mạng đã miêu tả cách dạy như sau:

    “Ngày chẵn, dạy truyện hay kinh, trước giảng chính văn rồi đến bản chú (chỉ những lời chú giải của các tiên nho, chủ yếu là của Chu Hi đời Tống) để cho sáng nghĩa ra. Về Kinh, Truyện, giảng đến thiên nào, trước hãy giảng chính văn, phải đọc thật thuộc lòng để biết rút lấy ý nghĩa chính tâm, tu thân và đạo lý hiếu, đễ, trung, tín.

    Ngày lẻ, dạy Chư sử cốt phân tích cho rõ ý nghĩa, không cần bắt đọc thuộc lòng. Khi giảng dạy, nếu có nghĩa gì ngờ, thì về Tứ thư, có Đại toàn phụ lục, về Ngũ kinh, có Ngũ kinh khâm định; về Chư sử, có Ngự phê cương giám ; tra cứu có các sách Tự điển. Hết thảy đều do Nội các phát sách công ra để dùng tra cứu.”

    Các hoàng tử dưới 11 tuổi thì học ở tư gia, còn từ 11 tuổi trở lên sẽ học tập ở bốn sở học trong Tử Cấm Thành: Minh Thiện đường, Dưỡng chính đường, Tập thiện đường và Quảng học đường. Vua Minh Mạng còn sai Nội các truyền họp trưởng sử 4 Quảng đường, tuyên chỉ rằng:

    “Lũ ngươi có trách nhiệm phụ đạo hoàng tử, nên khuyên bảo các hoàng tử chăm chỉ học hành, không được chơi đùa và nuôi gà chọi, chó săn, làm những việc vô ích, nếu sau khi học hỏi nghỉ ngơi, muốn chơi vui chốc lát, chỉ cho nuôi cá chậu 3, 5 con, còn ngoài ra đều không được, trái lệnh này tuy lỗi ở hoàng tử, nhưng lũ ngươi cũng có lỗi.”

    Thế nhưng, các trưởng sử dù sao vẫn là hạ thần, không đủ quyền để chấn chỉnh các hoàng tử:

    “Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói: “Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được”. Vua hỏi rằng: “Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à” ? Vị đáp rằng: “Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học”. Vua nói rằng: “Về phận trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao ?”.”

    Băn khoăn như vậy, nên vua còn định thêm vào ngày 6, 16, 26, buổi chiều khi đồng hồ cát rỏ đến đợt 6, các hoàng tử đều vào hầu ở điện Quang Minh và đem theo sách học tập, chờ xem vua có hỏi. Vua lại dụ các hoàng tử rằng:

    “Đến giờ theo lệ định, khi các con vào chầu phải dâng trình sách vở giảng tập để ta hỏi thử. Chẳng qua chỉ lấy đó làm chương trình hạn định. Các con càng phải xét lại ở mình lấy sách làm thầy trọng tình hữu ái, bỏ ý riêng tư không một việc nào, không một ngày nào không phải là học. Ngày sau con lên nối ngôi thì được có dân, được có người, các con làm thân vương, cũng lấy trung hiếu giữ trọn tiếng tốt, cái gì chẳng phải bởi học mà ra?”.

    Tuy thế, nhà vua vẫn rất ân cần với các con:

    “Trẫm đối với hoàng tử tuy lòng từ ái tự nhiên mà khi đến hầu riêng thì chưa từng lộ ra sắc mặt. Đến như khoá trình giảng học thì rất nghiêm, các hoàng tử không dám xin nghỉ. Nhưng nay tiết thu đông giao tiếp, khí rét khó chịu, các hoàng tử tuổi còn thơ ấu, nếu cứ đi học thì chịu sao được. Song ý ấy không nên cho biết, hoặc đến nhu nhơ lười biếng. Ngươi nên theo ý ta khẽ bảo bọn phụ đạo rằng từ sau phàm khi rét buốt mưa nhiều, có thể sai tán thiện và bạn độc chia nhau đến phủ mà khai giảng. Các hoàng tử cũng phải xuống ngồi chiếu dưới nghe giảng, không được cho là ở nhà tư mà bỏ lễ.”

    Khi đến lớp học của các hoàng tử, khung cảnh sẽ như sau:

    “Chính giữa nhà đặt một án sách, đặt vị ngồi giảng ở phía tây, 2 viên phụ đạo cùng một chiếu, 2 viên tán thiện cùng một chiếu, 4 viên bạn độc cùng một chiếu, đều ngoảnh về hướng đông. Đặt vị ngồi nghe giảng ở phía đông, các hoàng tử mỗi người một chiếu, phía trước đặt một kỷ sách, đều ngoảnh về hướng tây, chiếu nhất ở dưới vị phụ đạo.

    Ngày thường, buổi sớm đồng hồ chuyển lần thứ 1, từ phụ đạo trở xuống đều đến ; chuyển lần thứ 2, các hoàng tử lần lượt đến, tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử ngồi yên, tán thiện và bạn độc lại ngồi. Các hoàng tử gấp sách đọc bài học hôm trước, xong thì phụ đạo khai giảng. Các tán thiện và bạn độc hiệp đồng dẫn bảo rõ ràng. Giờ tỵ giảng xong, các hoàng tử đứng dậy. Tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử vái chào phụ đạo, xin lui ; phụ đạo chắp tay đáp lễ. Các hoàng tử về phủ. Từ phụ đạo trở xuống đều lui. Giờ thân lại đều đến, hỏi các điều khó ; xong lại đều lui, tiết thứ tiến lui như trước.”

    Ai vắng mặt ngày nào đều bị ghi lại, mỗi tháng ngày 6, 16 và 26 các trưởng sử sẽ nộp sổ nhật kí cho Văn thư phòng để xét ai nghỉ nhiều. Tuy bị ghi tên như thế nhưng nhiều hoàng tử vẫn chán học ham chơi, để bị phạt nặng, như trong sử chép:

    “Nay sớ tâu những người từ trước đến nay chăm chỉ học tập, không hề gián đoạn, chỉ có một mình hoàng thân Miên Ký mà thôi; còn những người khác, từ tháng giêng khai giảng đến nay, hoặc được 40-50 ngày, hoặc được 20-30 ngày, thậm chí có người bỏ hết không đến học bưởi nào […] Về chăm học không bỏ như hoàng thân Miên Ký thưởng cho 1 đồng tiền song long hạng lớn để khuyến khích người khác. Học được 40-50 ngày và 20-30 ngày như […] đáng nên phân biệt xử phạt. Nhưng lần này hãy tạm cho truyền chỉ quở trách. Học được hơn 10 ngày như […] bốn người ấy đều phải phạt 3 tháng lương. Đi học chỉ được 4-5 ngày như […] đều phải phạt 6 tháng lương. Còn như không đi học buổi nào như […] đều phải phạt một năm lương. Lũ Trưởng sử quản gia ở các phủ đệ không biết lấy lời nói thẳng can ngăn, lại chẳng biết đem việc tố giác, thực là ngồi yên ăn không. Lũ ấy đều giao bộ Lễ xử trí. Còn các giảng quan, cũng nên bàn đến. Lần này tạm hãy cho miễn xét hỏi. Nếu lại nhận suông cho xong việc, phụ sự ủy thác của ta […]”

    Và cũng có lúc các hoàng tử đi học nhưng vui đùa quá trớn dẫn đến chuyện như sau:

    “Lần này Hải Ninh quận công Miên Tăng mới được tuyên phong, mở tiệc ngay ở Quảng Học đường. Lúc ấy nhiều người xem trò chơi, gạt đẩy cũng không giãn ra, Tòng Hóa quận công Miên Trữ chợt nói đùa một câu “Đóng cửa lại, bắt làm cỏ”. Vì thế mọi người đều chạy xô ra, có đứa trẻ con tên Thành ngã xuống bị người xéo què. Xét ra, Quảng Học đường là nơi đọc sách cho các hoàng thân, mà lại bày trò chơi khiến người đến xem tụ họp đông như thế đã là chẳng nên; huống chi Miên Trữ lại không biết cẩn thận, bày chuyện nói đùa, đến nỗi mọi người sợ hãi bỏ chạy, từ câu nói đùa thành chuyện uy hiếp. Vậy Miên Trữ phạt lương 1 năm, Miên Tăng phạt lương 6 tháng, lại phải giao 40 lạng bạc cho thân nhân tên Thành để tỏ rõ sự răn đe.”

    Khung cảnh lễ bế giảng và khai giảng thì như sau:

    “Hằng năm, cuối tháng chạp, đến ngày phong ấn thì nghỉ giảng. Sáng sớm hôm ấy, phụ đạo trở xuống mặc áo bổ phục (áo có bổ tử) ngồi ở bản vị phía tây. Các hoàng tử mặc áo bổ phục lần lượt đến. Phụ đạo vẫn cứ ngồi. Hai viên tán thiện ra đứng trên thềm phía tây, bốn viên bạn độc ra đứng dưới thềm phía tây, đều ngoảnh hướng đông. Các hoàng tử ở trên thềm gian chính giữa, hướng vào án lạy 2 lạy. Phụ đạo đứng lên nhận lễ, vẫn ở bản vị làm lễ đáp tạ 1 lạy, lễ xong đứng ngoảnh về phía đông. Các hoàng tử lui ra đứng trên thềm phía đông, hướng về phía tây. Tán thiện và bạn độc ở trên và ở dưới thềm phía tây bước xuống, hướng vào các hoàng tử làm lễ 1 vái. Các hoàng tử vái đáp. Lễ xong, vẫn đều chiếu bản vị ở đông tây mà ngồi, khoản tiếp một lần rồi lui. Sau ngày khai ấn sang năm, Khâm thiên giám chọn ngày tốt, tâu xin khai giảng. Ngày ấy gặp nhau, lễ tiết đều theo như trước.”

    Có một câu chuyện về ngày khai giảng của các hoàng tử rằng:

    “Đến ngày khai giảng vào bái, vua dụ các hoàng tử, hoàng đệ rằng : “Nay đã đặt chức sư bảo, các ngươi đều phải chăm chỉ học tập, ngày tháng tiến tới dần lên, cho thành đức nghiệp, nếu không được thế sẽ phải quở mắng”. Giảng quan, vốn là Cần Chính điện đại học sĩ Ngô Đình Giới nhân tâu rằng: “Thần bất tài mà được dự ngôi tây tịch(chỗ ngồi của thầy dạy các hoàng tử), xin ban giáo hình (thứ hình cụ của thày dạy học, tức là cái roi) cho thần”. Vua bèn trao cho cái roi.”

    Không chỉ học kinh thư, các hoàng tử còn phải học về việc của triều đình cũng như cưỡi ngựa, bắn cung. Hàng tháng vào ngày 17, các hoàng tử từ 14 tuổi trở lên phải vào hầu Thái hậu ở cung Từ Thọ. Ngày 1,11 và 21 thì buổi sáng vào chầu ở điện Cần Chính, xem vua và các quan đại thần bàn việc. Buổi chiều, các hoàng tử tập cưỡi ngựa dưới sự giám sát của các thị vệ viện Thượng Tứ. Tuy vậy, vẫn có hoàng tử ham chơi để rồi bị phạt nặng:

    “Hoàng tử Miên Phú cùng với lũ hạ nhân cưỡi ngựa diễn tập. Đến trước trại quân Thần cơ, ngựa tên Hoàng Văn Vân gặp người đàn bà già là Hà Thị Điểm, không kịp tránh xa, bị ngựa giày xéo mà chết. Ta xem sớ tâu, vô cùng buồn giận. […] Vậy cho lột bỏ mũ áo hoàng tử của Miên Phú, xóa bỏ lương bổng hàng năm, phải đóng cửa tự xét mình, không được ra ngoài một bước, không được dự vào hàng hoàng tử, chỉ gọi tên Phú mà thôi. […]”

    Mặc dù ca dao có câu “Con vua thì lại làm vua” nhưng thực ra việc được phong tước vị cao hay thấp cũng còn tùy thuộc vào sự phấn đấu của mỗi người, như vua Thiệu Trị từng dụ:

    “Năm nay gặp năm ta thọ 40 tuổi, nên đã sai các hoàng tử, hoàng đệ chưa được phong tước là 10 người đến trước sân hỏi, có 7 người ứng chế được. Vậy hoàng tử Hồng Y tấn phong làm Kiến Thụy công, Hồng Hưu làm Gia Hưng công, Hồng Phó làm Thái Quốc công, Miên Tẩu làm Phong Quốc công, Hồng Tố làm Hoằng Trị quận công, Miên Tăng làm Hải Ninh quận công, Miên Lâm làm Hoài Đức quận công. Miên Sạ, Miên Ngộ học thức không thông, thơ mất niêm luật, truyền chỉ thân sức, Miên Thái tuổi đã nhiều lại chẳng biết tu tính, chỉ quen chơi bời, chẳng tập lễ độ, chẳng thích thi thư, chữ viết không thành, văn lại phạm húy, phạt 2 năm lương. Các sư bảo Lê Đăng Doanh, Hồ Văn Nghĩa công tội bù trừ. Những tên tán thiện, bạn độc cho các hoàng tử ứng chế được, cùng những tên giảng tập cho các hoàng đệ đều thưởng mỗi người thêm một cấp. Những tên giảng tập cho Miên Thái, giáng hai cấp.”

    Ngoại trừ những cơ hội đặc biệt như vậy, thì lệ thường phàm hoàng tử đến 15 tuổi thì bộ Lễ tâu xin phong tước, đợi vua thân xét hạch hoàng tử ấy nếu quả là ngày càng tôn kính đạo nghĩa thì lập tức cho làm lễ tấn phong tước công. Nếu hoàng tử ấy đức nghiệp chưa sáng tỏ nhưng mọi sự đều đúng khuôn phép thì hãy đình phong 1 lần, đợi 5 năm sau lại bộ Lễ lại làm sớ xin tâu.

    Sau khi được phong tước, các hoàng tử sẽ dọn ra ngoài Tử Cấm Thành, ở phủ đệ riêng. Tuy nhiên, không phải là ở phủ đệ thì các hoàng tử muốn làm gì thì làm:

    “Hoàng tử Miên Trữ mới ra ở riêng, có lấy thiếp mà không tâu lên vua, vốn là không hợp, vậy phạt lương 3 tháng để răn đe.”

    “Hôm qua nghe trong kinh thành có tiếng thanh la và tiếng trống, sai người xét hỏi, thì là phủ hoàng tử Miên Thẩm diễn tuồng. Trong số lính thuộc phủ Miên Thẩm thì ra có 17 tên hơi biết nghề múa hát, hôm ấy y sai diễn để làm vui. Các hoàng tử học tập có thừa thời gian nên lấy thơ văn làm vui, không được gần lũ tiểu nhân diễn tập âm nhạc. Vậy phạt Miên Thẩm hai năm lương, đình việc chầu hầu 3 tháng để tỏ sự răn đe.”

    “Hàm Thuận quận công Miên Thủ chứa nuôi phường tuồng. Thử nghĩ lời Thiếp Mông nói rằng: “Không được thường thường say rượu múa hát trong nhà”. Vậy lẽ ra nên lập tức theo lệ phạt Miên Thẩm nặng hơn. Nhưng nay Miên Thủ đã đem ngay lũ phạm tội giải đến tra xét, và tự nhận tội, vậy là còn biết hổ thẹn, xử nhẹ phạt một năm lương để tỏ răn sợ.”

    Sao, các bạn còn nghĩ làm hoàng tử là tiêu dao tự tại hay không? Hay là “trách nhiệm đi kèm với quyền lợi”?

    Theo Le Hoang Anh

  • Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975

    Những cuộc tình chớp nhoáng của lính Mỹ với gái điếm Việt (chúng tôi xin phép được tường lại theo đúng lời của họ) thường bắt đầu tại quán bar do quân đội bảo kê. Sau màn làm quen bằng bia rượu, họ sẽ đưa các cô gái về khách sạn hoặc về nhà trọ…
    Có vẻ họ rất thích kiểu phụ nữ đã đi qua nhiều đổ vỡ, điều đó càng thấy rõ khi được nghe về những hồi ức, những thú nhận về mẫu người đàn bà mà bản thân họ cảm thấy lôi cuốn đến phát sợ ở VietNam xưa.
    Kiểu đàn bà trầm tính, không theo một cách bẩm sinh, mà là một con người đã từng thất tình, hận tình, bạc tình rồi từ bỏ dần mà trở thành hai màu đen trắng mộc mạc. Đen trắng là cái màu ai cũng mặc được, bởi vì ở cái sắc đẹp nhất của hắc bạch, chúng chỉ giống với sự cô đọng, còn lại của một người đã có nhiều và cũng đã phải đi qua nhiều.
    Họ đi qua nhau không hẳn là người tình của nhau, sự ái ân-nhục dục nhất thời. Mà còn là sự đồng cảm, về những mất mát tình cảm phải trải qua trong buổi thời chiến hoạn ly.

    Trong cuộc chiến tranh Miền Nam Việt Nam,số liệu thống kê được gần chín mươi ngàn phụ nữ đã phục vụ cho các dịch vụ giải khuây của quân đội Mỹ.
    Đầu năm 1965, quân Mỹ có mặt ở miền Nam lên đến 167.000 người và viện trợ tròm trèm con số 200 triệu USD. Kinh tế dựa vào viện trợ chiến tranh trở nên phồn thịnh bất ngờ kéo theo hàng loạt hệ lụy. Đặc biệt phát triển và nhanh chóng trở thành phễu hút đô-la của lính Mỹ chính là các snackbar và nghề mại dâm Sài Gòn .
    Kính mời các bạn xem bộ ảnh về gái điếm xưa kia ở VietNam.

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975


    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975


    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Cô gái trong điệu múa sexy.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Thú vui tiêu khiển của binh lính Mỹ.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Nhát chổi cực mạnh của Ủy ban Quân quản sau ngày 30.4.1975 xem như chấm hết một thời văn hóa sex của miền Nam.
    Trong hình là những cô gái vấn tóc kĩ càng để chờ những vị khách phương Tây cuối ngày đến bar họ
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Vẻ đẹp của một cô gái Việt Nam
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Chiến tranh Việt Nam vẫn không làm thay đổi bản chất của quân đội Mỹ.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Hình ảnh về cuộc hẹn của một lính Mỹ trên bãi biển đẹp của Việt Nam.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một ban nhạc rock ở Biên Hoà thời tạm chiếm
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Lính Mỹ dễ dàng tìm được tình nhân là các cô gái Việt Nam có hoàn cảnh khó khăn, không có gia đình.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Hay nhẹ hơn một ít là kiểu mặc ngắn ngủn
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Họ ăn vận sexy,khiêu gợi để mua vui
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Những người phụ nữ trở thành đồ chơi của quân đội Mỹ.
    Năm 1974, khi Mỹ đã rút quân, một tạp chí khiêu dâm “made in Vietnam” ra đời. Hình sex được thu gom bởi một tay đầu nậu là L.T.H. – ông trùm ngành in ấn – được chế bản, in offset ở Chợ Lớn rồi đóng thùng chuyển đi… Hong Kong.
    Sau đó, qua kênh của một sĩ quan cấp tướng, tạp chí này lại được chuyển về Sài Gòn bằng đường hàng không.
    Lý do của việc chuyển ấn phẩm sex một cách lòng vòng như thế chỉ vì Hoàng Đức Nhã – ông trùm thông tin tuyên truyền ở chế độ Việt Nam Cộng hòa – không bằng lòng và tuyên bố không chấp nhận thứ đồi trụy đó lại có xuất xứ ở miền Nam.
    Tuy nhiên, những vũ nữ sexy nức tiếng Sài Gòn thuở ấy đều có mặt trong tạp chí với những album “trời đỡ” thì việc né tránh của tổng trưởng họ Hoàng xem như thừa
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Các cô chiêu đãi viên thi nhau đi chụp hình sex 100% để tiếp thị. Phong trào chụp hình sex theo kiểu dung tục và có tính thương mại xuất hiện ở miền Nam như thế.
    Thoạt đầu, dù nhân viên được gọi bằng cụm mỹ từ “chiêu đãi viên” là mũi tẹt, da vàng thuần túy, nhưng ảnh sexy tiếp thị vẫn xài hàng nhập bởi các cô người mẫu của Penthouse, Playboy, Lui
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Năm 1975, Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Nam Việt Nam trên những “chiếc trực thăng cuối cùng”. “Người Mỹ ra đi, nhưng đồng đô la ở lại”, truyền thông Pháp chiêm nghiệm. Ai đó vẫn tìm cách show hàng không vì nghệ thuật đâu, chủ yếu vì tiền xanh thôi.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Các tác giả phương Tây cho rằng dịch vụ thoát y là cung xuất hiện đáp ứng nhu cầu thanh toán được của các cụm quân viễn chinh. Vẫn theo Richard West, người Mỹ nhận thấy phụ nữ Việt “vụ lợi và có khuynh hướng thương mại (mercenary and commercially minded)”.
    Tác giả Paul Ham kể “một vũ nữ ‘hàng ngoại’ (exotic) đến ‘khoe hàng’ (strutted her stuff) trên sân khấu ở trại lính Úc (ở Việt Nam). Đột nhiên, cô gái Việt nhỏ nhắn này giật bỏ cái xu chiêng, cưỡi lên vai một cảnh sát chiến đấu to như bò mộng, ngả người ra đằng sau hắn, và bắt đầu làm tình giả vờ với cái cổ của tay MP này… Đám đông lính tráng sôi lên, chồm lên phía sàn diễn, để rồi bị cảnh sát chiến đấu và ‘các cha tuyên uý giận dữ’ chặn đứng”.
    Mới biết một tập thể, từng được dạy dỗ cả về tình dục học và kỹ năng sống, vẫn phải được canh giữ về phần xác, bởi cảnh sát vũ trang, và phần hồn, bởi các linh mục khổ hạnh. Nhưng đám đông lính tráng vẫn “nóng máy”, đến mức súng đạn đã nhiều lần nổ trong các sô diễn này. Truyền thông phương Tây cho hay diễn viên Cathy Wayne đã thiệt mạng trong một vụ như vậy ngay trên sàn diễn.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Bên bờ sông, rạp Majestic và khách sạn Continental, công trình rập khuôn theo thềm lục địa (Continental Shelf), vẫn còn khét mùi của mốt “nhái” theo Pháp (faux – French) đã suy tàn. Chúng là sân chơi của trác táng thâu đêm, với vài xen có thể mua nổi cả một bạn nhảy tango. Tình dục, á phiện, cờ bạc, nhảy đầm và rock’n roll được xài dữ, theo phong cách Hoàng đế Xê za. ‘Tiệc tùng, yến ẩm, hội hè liên miên’, một nữ y tá người Úc thốt lên, ‘cả Sài Gòn như đều ngấu nghiến những thời khắc mông muội giát vàng của cái thành phố hoang dâm vô độ này, dù vẫn cảm nhận được rằng ngày tận diệt (apocalypse) đã cận kề’.
    Được bộ máy chiến tranh của Mỹ tài trợ, mọi thứ thú vui đã xả láng đến mức khản giọng. Nam Việt Nam đã có một quá khứ đủ hùng hậu để làm hài lòng ông chủ Mỹ theo cung cách chợ đen, với hối lộ, đút lót là luật chơi phổ biến
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Dịch vụ giải trí, theo các tác gia phương tây, là điểm nhấn của hoạt động kinh doanh ở miền Nam thời tạm chiếm. Nhưng nó còn là sự vỡ oà về nếm trải lạc thú theo kiểu yến tiệc trong nguy nan của cả một số người Việt, như chiêm nghiệm cảm giác mạnh một cách “sành điệu”.
    Cuốn “Cuộc chiến của Australia ở Việt Nam” (Vietnam The Australian war, NXB Happer Collins, 815 trang), tác giả Paul Ham đã dành cả một chương mang tên “R&R” (rest and relaxation) để nói về nghỉ ngơi – giải trí của quân đội viễn chinh phe Mỹ tại Nam Việt Nam. Sách có đoạn viết về Sài Gòn những năm cuối thập kỷ 60: “Bên những đại lộ lớn, rợp bóng những hàng cây, cánh nhà giàu Việt Nam mở những tiệc tùng phô phang, đàng điếm, với sò huyết, rượu Pháp, gan ngỗng (foie gras), và trứng cá ngập bàn, trong khi dân đen chui rúc trong những ổ chuột dựng từ vỏ hộp Coke đập bẹt, trệu trạo nắm cơm chim
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Nhưng tìm gạch nối cho hai phong cách ăn chơi Pháp và Mỹ đâu có thiếu. Chẳng hạn, các quán ba có nhảy go – go khá phổ biến ở miền Nam Việt Nam. Đây là điệu nhảy à gogo tiếng Pháp, có nghĩa là (chơi) hết mình, thoải mái (abudance, galore). Vũ nữ có khi mặc hai mảnh, thậm chí một mảnh (topless).
    Theo báo Tiền tuyến, Sài Gòn 11/12/1969 nửa triệu lính Mỹ, như trên trời rớt xuống, tiêu tới 30 triệu USD/tháng (tính trượt giá – khảng hơn 200 triệu USD hôm nay). Đây là hiện tượng được các cơ cấu đánh giá thời cuộc của chính quyền Sài Gòn cho là đã làm “thay đổi bộ mặt xã hội miền Nam”, khi một bộ phận dân cư làm “dịch vụ” tại những nơi quân đội nước ngoài trú đóng kiếm tiền “dễ dàng” hơn .
    Trong những thay đổi lớn nhất chắc phải kể đến nhân sinh quan. Từ nay, sắc đẹp, kể cả nhờ đồng tiền (mỹ viện), là “tư bản”, xác thịt là hàng hoá. Khoe xác thịt là quảng cáo, là show hàng. Rải rác trong lưu trữ của Mỹ là các tin, ảnh về “thoát y phục vụ binh lính Mỹ” thời tạm chiếm.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Sau sự kiện này, diễn viên điện ảnh Kiều Chinh (được thể hiện mặc áo dài dân tộc trên Playboy) nói rằng cô ta đã giận dữ khi thấy ảnh mình xuất hiện cùng trang với các phụ nữ (nước khác) không mặc quần áo. Cùng kỳ với hàng ngàn phụ nữ Việt làm gái mại dâm cho lính Mỹ, Playboy đã không thể thuyết phục được một diễn viên, một người mẫu, hoặc một nữ thư ký người Việt nào thoát y. Người Việt bảo thủ về trang phục đến mức đề xuất làm trễ cổ áo dài xuống một inch sẽ làm nổ ra một cuộc tranh luận tương đương với tranh cãi ở phương Tây về áo tắm không có nửa trên (topless swim – suit)… Các tranh luận vẫn tiếp tục, nhưng (tới năm 1974), vẫn chưa hề có đề xuất rằng người Việt sẽ chuyển sang mặc các trang phục phương tây”.
    Tuy nhiên, chỉ thế hệ tới lúc đó đã trưởng thành có cơ đứng vững. Từ năm 1965 chính quyền VNCH cho phép các giải trí trường kinh doanh nghề mại dâm. Nghề tú bà, ma cô từng hình thành từ thời quân đội viễn chinh Pháp, nay công khai phát triển.
    Cùng với sự xuất hiện của đồng đô la, lan tràn các quán rượu kiểu Mỹ, hộp đêm, nhà chứa, phòng tắm hơi… Tại đây công khai trao đổi xác thịt, kể cả kiểu đồng tính, mãi xoá đi những điệu vũ thướt tha và chuyện tình “dị chủng” vụng trộm, hoa lá cành kiểu Pháp, tự truyện Continenetal Saigon (xuất bản 1976) của chủ cũ của Hôtel Cotinental đổi phận thành nhà văn Phillippe Franchini, than thở.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    [1 ẢNH PROMOTION TRONG CHIẾN DỊCH QUẢNG CÁO BÁN HOA NĂM XƯA]
    Thách thức đầu tiên về một hình tượng “nuy”, nhưng kiểu Tây, có thể là Đấu xảo (Triển lãm thuộc địa) năm 1902. Theo tác giả Jean Ajalbert trong Những định mệnh của Đông Dương (Les destinées de l’Indochine, xuất bản 1911), trong gian Mỹ thuật nước Pháp, đã có cả đám người đứng ngẩn ra, hoặc ngượng ngùng che miệng cười trước tấm hình khoả thân, “Người Annam xem ra còn chưa biết tất cả những gì là cơ thể phụ nữ…”. Thời đó, phụ nữ Việt mặc áo cài tới tận cổ và gấu quần phải chấm mắt cá chân.
    Trong tiến trình “Mỹ hoá” ở miền Nam Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương lần thứ II, các tác giả phương Tây vẫn muốn chỉ rõ sự khác biệt giữa “gái ba” ở các đô thị, và phụ nữ Việt Nam.
    Tác giả Richard West trong Thắng lợi ở Việt Nam (Victory in Vietnam) viết rằng không mấy phụ nữ Việt nam, kể cả những ai học tiếng Anh, chấp nhận “lối sống Mỹ”.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Chân dung tác giả Laurie Smith khi ở Vũng Tàu.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    “Sương muốn vào một nhà hàng Hàn Quốc nhưng nhân viên ở đây kiên quyết không cho cô vào…”.”Anh ta bình tĩnh lại khi tôi chìa ra mấy tờ Đô-la Mỹ. Sau đó, anh cúi đầu chào và đưa chúng tôi vào bàn của mình…”. “Sương và tôi đã ăn và nói chuyện giống như bất kỳ cặp vợ chồng khác trong một cuộc hẹn. Một ngọn nến lung linh trên bàn của chúng tôi trong nền nhạc du dương…”.
    “Chúng tôi đi bộ về nhà và tôi đã đi chậm lại để chụp bức ảnh này. Tôi nghĩ rằng cô ấy đã khiến cho khung cảnh trở nên tươi vui hơn. Chúng tôi đã mua một số trái cây để ăn sau đó…”.
    “Bức ảnh này mang lại những cảm xúc mà tôi nghĩ rằng đã bị chôn vùi…”. “Bạn có thể tin hay không, cô ấy đã rất ngượng ngùng khi tôi thuyết phục cô chụp kiểu ảnh quấn khăn tắm này…”.
    “Một vài tuần sau khi tôi chụp bức ảnh này Sương ngừng làm việc tại quầy bar và tôi không bao giờ nhìn thấy cô ấy một lần nữa. Tôi không ngạc nhiên nhưng tôi cảm thấy bị mất mát. Tôi không thiếu một bạn tình, họ có thể được tìm thấy trong bất kỳ quán bar nào. Tôi đã mất một người thực sự có ý nghĩa nào đó với cuộc sống của tôi. Nhìn lại một năm qua, chúng tôi đã có những kỷ niệm đẹp long lanh. Tôi sẵn lòng lột bỏ lớp vỏ của mình để nói rằng Sương đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của tôi…”.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    “Tôi đã mua cho mình một bộ máy ảnh Yashica Electro 35 cùng ống kính khi đến Vũng Tàu. Nó chụp khá ổn dù tôi không nghĩ rằng mình đã tận dụng hết khả năng nó có. Tất cả những hình ảnh ở đây được chụp với nó và tôi chỉ rửa ảnh một lần. Những bức ảnh đã tồn tại sau 42 năm và vẫn đang trong tình trạng khá tốt”.
    “Tôi nhìn những bức ảnh này với một niềm xao xuyến. Nó như vẳng lại một thời kỳ trong cuộc sống của tôi với đầy đủ các cuộc phiêu lưu và trải nghiệm mới, đất nước mới, bạn bè mới, tình yêu mới? Tôi có thể nghe một số người nhạo báng mình khi tìm thấy tình yêu với một gái điếm. Một phụ nữ bị bỏ rơi, một con điếm nhưng không hẳn là như vậy. Cô ấy bán cơ thể của mình để kiếm sống, và ít nhất là cô ấy trung thực”.
    “Chúng tôi đã có một bức hình chung được chụp bởi một cô gái khác bằng máy ảnh Polaroid và Sương giữ nó. Cô dán tấm ảnh vào bức tường phía trên giường, bên cạnh một bức tượng Phật nhỏ”.
    “Đêm nay, một đồng đội của tôi trở về doanh trại và nói với tôi rằng:
    – Tao nghĩ rằng có ai đó thích mày
    – Ai? tại sao?
    – Sương, ở quán Bar Texas. Tao đưa cô ta về nhà và cùng nhau cởi quần áo. Tao leo lên giường và khi chuẩn bị bắt đầu thì nhìn thấy hình ảnh của mày và cô ta trên tường. Và tao buột miệng: ‘Này, đó chính là Laurie’. Cô ta nói: ‘Anh biết Laurie sao? Anh hãy ra khỏi đây đi, tiền của anh đây. Tôi sẽ không đi với bất cứ ai quen với anh ấy’. Sau đó, cô ta đã đẩy tao ra khỏi giường và nhét tiền vào túi áo sơ mi của tao”.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    “Khi tôi ngồi xuống bên cạnh cô ấy trong quầy, tôi cảm thấy một điều gì đó thật khác lạ. Không phải kiểu gái điếm muốn kiếm tiền nhanh chóng, cô ấy có sự chín chắn nhất định cùng khiếu hài hước. Chúng tôi nói chuyện, cười đùa và tôi đã gọi trà Sài Gòn để có thể ngồi nhâm nhi cùng cô. Tôi được biết rằng cô đã 28 tuổi, một góa phụ với hai đứa con của người chồng đầu tiên và một đứa con với một lính Mỹ, người dành phần lớn thời gian tham gia chiến tranh Việt Nam để sống với cô ở Vũng Tàu. Giờ anh ta đã về nước và cô cần phải kiếm sống. Cô đã đưa tôi đến nhà mình, một căn phòng trong một ngôi nhà nhỏ cách năm phút đi bằng taxi Lambro…”.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    “Bức ảnh này chụp các cô gái làm ở quán bar Texas. Bây giờ, tôi sẽ để cho bạn đoán xem ai trong số đó là người phụ nữ đã khiến thời gian còn lại của tôi ở Việt Nam trở thành một niềm vui. Không chỉ có nhục dục, đó còn là một người bạn gái và bạn đồng hành. Cô ấy rất dịu dàng, vui vẻ, thân thiện và tôi dám nói rằng mình đã yêu cô ấy một chút. Điều này có vẻ kỳ lạ khi người ta có thể thuê một người khác đề làm bạn bè, bạn đường và cả bạn tình. Tuy nhiên, đây là một mối quan hệ hoàn toàn chân thành. Cả hai chúng tôi đều hiểu rõ về địa vị của mình, ngay từ đầu…”.
    “Tôi chỉ biết tên cô ấy là Sương”. “Sương là người phụ nữ trong tà áo dài, đứng ở cửa, bên cạnh cô gái tạo đang dáng với những ngón tay quắp lại”
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Câu chuyện qua ảnh cảm động về mối tình lính Úc và nàng điếm Vũng Tàu 1970
    “Tôi có thể nghe một số người nhạo báng mình khi tìm thấy tình yêu với một gái điếm. Một phụ nữ bị bỏ rơi, một con điếm nhưng không hẳn là như vậy. Cô ấy bán cơ thể của mình để kiếm sống, và ít nhất là cô ấy trung thực…”.
    Hình ảnh cùng các chia sẻ trích từ bài viết có tiêu đề “Người đàn bà đẹp” (Pretty woman) đăng tải trên blog của một cựu binh Australia tên Laurie Smith, từng đóng quân ở Vũng Tàu năm 1970. Thời điểm đó, tác giả Laurie đang ở độ thuổi 20.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Bên cạnh gái bar, gái nhảy tại các các hộp đêm, vũ trường ở miền Nam trước 1975 cũng là đối tượng sẵn sàng chiều lính Mỹ tới bến.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Lính Mỹ cặp kè với gái nhảy trong một hộp đêm ở Sài Gòn, tháng 3/1968. Ảnh: Warin Vietnam Tumblr.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Lính Mỹ đùa giỡn với gái điếm trong một tòa nhà đổ nát ở ngoại ô Sài Gòn. Ảnh: Nik Wheeler.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Chân dung một gái bán hoa ở miền Nam Việt Nam năm 1970. Ảnh: Philip Jones Griffiths.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một cô gái điếm chờ khách tại nhà thổ gần sân bay Tân Sơn Nhất, điểm đến quen thuộc của lính Mỹ, 1973. Ảnh: René Burri
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Gái làng chơi phía ngoài một quán bar ở Cần Thơ, 1970. Ảnh: Philip Jones Griffiths.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Lính Mỹ mây mưa với gái nhảy sau một buổi diễn phục vụ quân Mỹ ở Nhà Bè, ngoại ô Sài Gòn 1970. Ảnh: Philip Jones Griffiths
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Bên ngoài quán bar Mai Kim ở Cần Thơ, 1970. Phía sau các quán bar phục vụ lính Mỹ là sự bảo kê từ giới chức quân đội Sài Gòn. Ảnh: Philip Jones Griffiths
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Những cô gái bán dâm phục vụ lính Mỹ không hành nghề tự do mà thường là nhân viên của các quán bar. Cô gái này làm việc ở quán bar Venus, Cần Thơ năm 1970. Ảnh: Philip Jones Griffiths
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Khi rảnh rỗi, lính Mỹ đóng tại các đô thị miền Nam trước 1975 thường tìm kiếm lạc thú trong các tụ điểm mại dâm núp bóng quán bar, khách sạn. Hình ảnh này chụp tại Cần Thơ năm 1970. Ảnh: Philip Jones Griffiths.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Cuộc trao đổi kín đáo giữa người lính Mỹ và hai cô gái “bán hoa”. Ảnh: Mondatori
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    “Tú bà” mỉm cười nhìn một nhân viên trong giàn “gái dịch vụ” của mình, tháng 1/1970. Ảnh: LIFE.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Người lính Mỹ cùng bạn gái của mình ở Vũng Tàu, tháng 4/1969. Lính Mỹ đóng quân tại các đô thị ở miền Nam Việt Nam thường tìm kiếm nhân tình tại các quán bar. Các mối quan hệ kiểu này được duy trì bằng tiền và mang tính công khai. Ảnh: Ullstein Bild.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một cô gái bán hoa với mái tóc dài, Sài Gòn 1968. Ảnh: Mondatori.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Cô gái này chuẩn bị “tiếp khách” trên chiếc giường trong một căn phòng tồi tàn, Sài Gòn tháng 1/1968. Ảnh: Getty Images. Ảnh: Mondatori.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một cô gái bán dâm cùng đứa con tại địa điểm hành nghề là một khu nhà lỗ chỗ vết thủng do bom đạn, Sài Gòn tháng 1/1968. Ảnh: Mondatori.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Những cuộc tình chớp nhoáng của lính Mỹ thường bắt đầu tại các quán bar. Sau màn “làm quen” bằng bia rượu, họ sẽ đưa các cô gái Việt về khách sạn hoặc về nhà trọ… Ảnh: Gilles Caron.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Khuôn mặt được trang điểm khá cẩn thận của một gái làng chơi. Ảnh chụp trong quán bar, Sài Gòn tháng 9/1967. Ảnh: Gilles Caron
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Trong góc của quán bar, một lính Mỹ da trắng đang ôm eo cô gái Việt. Ảnh: Gilles Caron.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Cảnh tình tứ giữa người lính Mỹ da đen và nhân tình trong một quán bar ở Sài Gòn, tháng 9/1967. Ảnh: Gilles Caron.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Chân dung một cô gái gọi bán dâm thời chiến tranh Việt Nam, Sài Gòn tháng 9/1967. Ảnh: Gilles Caron.
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Loạt ảnh do các phóng viên quốc tế thực hiện ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một cô gái điếm khoe thân mời chào khách trong quán bar ở Vũng Tàu năm 1970. Ảnh: Laurie Smith

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975

    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Các ả đào đang đợi khách (đa phần là lính Tây) đã hẹn lịch
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Trên 1 con phố Sài Gòn có các quán bar trứ danh
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Có thể nói, với lối sống phóng khoáng. Việc làm gái bán hoa thời điểm bấy giờ không bị kỳ thị nhiều
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    1 cô gái nhận tiền tip từ khách
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Và họ xem đó như một chuyện bình thường
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Công việc nhảy múa thường đêm của họ,dường như đã là 1 phần cuộc sống
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Trước 1 quán bar Sài Gòn, các ả đang chờ mối khách đã hẹn của mình
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Lực lượng lính Mỹ vô cùng đông đảo vào thời điểm bấy giờ,nên đồng nghĩa nhu cầu đời sống tình dục cũng gia tăng
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Họ sở hữu những thân hình vô cùng nóng bỏng và ấn tượng
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    đời sống về đêm vô cùng sôi động
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Tại một quán Bar
    Chùm ảnh: Gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước 1975
    Một anh lính Mỹ cùng người tình chớp nhoáng Sài Thành 1970s

     

    Nguồn: THE RÉTRO STUDIO