Category: Thuở ấy

  • Nguồn gốc Phở ở Sài Gòn

    Nguồn gốc Phở ở Sài Gòn

    Phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng Phở chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952, cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng.

    Phở gánh Hà Nội xưa
    Phở gánh Hà Nội xưa

    Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó. Kiếm được một quan viên biết cầm trống chầu không phải chuyện dễ. Cho nên họ chỉ cầm cự được một hai năm rồi dẹp tiệm, mặc dù họ đã biến nó thành một hình thức như ”kem sờ” ở Bờ Hồ (Hà nội) vào những năm 30 hoặc như ”bia ôm” của Saigon hôm nay. Và phở cũng chịu chung một số phận với nó. Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước… Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là ”Phở Tuyệc”, nằm trên đường Turc (nay thuộc khu vực Đồng Khởi) là kiên trì bám trụ.

    Phải đợi tới sau năm 1954, phở mới thực sự thực hiện một bước nhảy vọt từ Bắc vào Nam. Phở khởi đầu sự bành trướng của nó vào giữa thập niên 50 tới giữa thập niên 60. Có cả một dãy phố phở nằm trên hai con đường Pasteur và Hiền Vương.

    THƠ PHỞ…

    Những nhà hàng phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Trong cái ngõ cụt ấy, ê hề các hàng quà : phở, bún ốc, bún ốc sườn… Từ đầu ngõ, người ta đã chạm trán với khách ẩm thực, kẻ ra người vô tấp nập. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Nó không giống như kẹo kéo “ăn một lại muốn ăn hai, ăn ba ăn bốn lại nài ăn năm”. Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa ! Có một người nghiện phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Ông vừa ăn phở vừa theo dõi cuộc tình của Triệu Minh – Vô Kỵ, hoặc của Doanh Doanh – Lệnh Hồ Xung trên mặt báo. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ phở vì đọc lên nghe thấy… toàn mùi phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, người viết chỉ còn nhớ được có bốn câu :

    Nổi tiếng gần xa khắp thị thành
    Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
    Chủ đề : tái, chín, gầu, gân, sách
    Gia vị : hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

    Sau đó, ”mông xừ” Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.

    … VÀ CÂU ĐỐI PHỞ

    Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu, có món tái sách tương gừng và phở tái sách : tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Phú quí sinh… máu văn nghệ, ông bắt đầu giao du thân mật với cánh nhà văn, nhà báo.

    Sau cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, trong làng báo có hiện tượng “trăm hoa đua nở”, hễ có tiền là có quyền làm chủ một tờ báo. Thế là ông chủ tiệm phở Y bèn ra báo. Từ tái, chín, nạm, gầu, sụn, nhảy sang địa hạt chữ nghĩa, ông hoàn toàn bỡ ngỡ. Cho nên báo của ông chỉ có thể đến với độc giả bằng con đường ve chai. Dĩ nhiên nó phải chết. Và ít lâu sau ông cũng chết theo nó. Người vợ góa trẻ đẹp kế tục ”sự nghiệp” của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là… ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thức thiên hạ rằng : “Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng”

    “Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá ”

    Câu đối sặc sụa mùi phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ “tái giá”, nó vừa có nghĩa là ”đi bước nữa” lại vừa có nghĩa là “phở tái giá”. Cũng như “da trắng vỗ bì bạch” của bà Điểm đố Trạng Quỳnh vậy. Hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ có một vế.

    PHỞ GÀ TRỐNG THIẾN

    Ngay cả Hà Nội – quê hương của phở – từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở gà trống thiến, cho dù ở phố Huyền Trân Công Chúa, vào đầu những năm 50, đã có một hàng phở gà ngon nổi tiếng khắp Hà thành, đến nổi cụ Nguyễn Tuân khi theo đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, ăn xong đã phải khen rằng ”tuyệt phở !”. Người bán phở tên là Chí. Ông ta mới hồi cư, không có đủ tiền để mướn mặt bằng, phải làm phở gánh. Con đường mang tên vị công chúa nhà Trần bé bằng cái lỗ mũi, với cái vỉa hè rộng hơn một mét, khách ăn kẻ đứng, người ngồi, húp xì xụp.

    Phở Hà Nội xưa
    Phở Hà Nội xưa

    Phở gà trống thiến xuất hiện ở Saigon vào những năm 60, ở phía chợ Vườn Chuối – tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ : thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác : người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay ‘bông rua’ người nọ, tự nhiên như một cô đầm non.

    Đó là nữ ca sĩ Y.V, một giọng ca lả lướt của các phòng trà. Ban ngày, nàng giao thiệp với phao câu, đầu cánh, thịt đùi; ban đêm, chìm đắm trong ánh đèn màu. Thế rồi, không kèn không trống, nàng tuyệt tích giang hồ. Người ta bảo rằng nàng đi Tây. Đi Tây thật chứ không phải Tây Ninh. Tiệm phở vắng khách dần và ít lâu sau thì phải dẹp.

    PHỞ KHÔNG RAU KHÔNG GIÁ

    Phở Sài Gòn
    Phở Sài Gòn

    Tiệm này nằm trên đường Công Lý- cách ngã tư Công Lý – Yên Đỗ (nay là ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Lý Chính Thắng) khoảng 100m – trong một cái hẻm rộng. Người ta gọi là phở Bà Dậu. Nó có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào : không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó.

    Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu sau vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa. Có thêm một món mới : tái bắp, thịt mềm và nhai sần sật như sụn. Giá cả cũng tăng, từ 10đ/ bát trong những năm 60 đến 10.000đ/ bát, năm 1996. Nhưng khách ăn vẫn nườm nượp
    Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu sau vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa. Có thêm một món mới : tái bắp, thịt mềm và nhai sần sật như sụn. Giá cả cũng tăng, từ 10đ/ bát trong những năm 60 đến 10.000đ/ bát, năm 1996. Nhưng khách ăn vẫn nườm nượp

    TỪ PHỐ PHỞ ĐẾN… BẮC HUỲNH

    Hà Nội, quê hương của phở, và thời bao cấp đã sản sinh biết bao thứ phở : phở vịt, phở ngan, phở lợn (thậm chí có cả phở chó), vậy mà chưa có một phố nào chuyên bán phở, trong khi ấy Saigon lại có cả một dãy phố phở. Đó là khu Hiền Vương (Võ Thị Sáu – Pasteur). Hiền Vương chuyên bán phở gà, còn Pasteur, phở bò. Nhưng dù gà hay bò, các tiệm phở ở khu này chưa có một tiệm nào – nếu nói về phở bò – có thể so với phở Tàu Bay ở Lý Thái Tổ, còn nếu nói về phở gà, thì thua xa phở Vọng Các (đường Võ Văn Tần) và phở Bưu Điện hôm nay.

    Phở Tàu Bay
    Phở Tàu Bay
    Phở Tàu Bay
    Phở Tàu Bay

    Những tiệm phở bò nổi tiếng thời ấy còn có phở Tàu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật, phở Quyền và phở Bắc Huỳnh ở miệt Phú Nhuận. Sau khi ông Tàu Thủy qua đời, người con trai không có đủ khả năng kế nghiệp ông bố, bèn dẹp tiệm để chuyển sang nghề khác. Còn phở Bắc Huỳnh nguyên là phở Ga Đà Lạt một thời nổi tiếng; Sau 75 ông mò về Saigon, mở tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh góc Trương Tấn Bửu đối xéo góc với nhà thờ Nam. Chỉ mấy tháng sau, Bắc Huỳnh lại nổi tiếng như cồn. Hàng ngày, từ 6 giờ sáng khách mộ điệu phở đã nườm nượp nối đuối kéo vào. Và chỉ tới 10 giờ là bánh, thịt, nước phở đã láng cóong. Phải công nhận phở Bắc Huỳnh hết chỗ chê. Nuớc trong vắt thơm lừng; Miếng thịt chín mùi thơm như pa-tê, thái tay vừa đủ dầy để cắn ngập răng. Miếng gầu sữa trắng toát mịn như miếng thạch, vừa thơm vừa bùi lại ròn tan; Không một chút hoi. Đặc biệt tiệm BH không bán phở toàn tái. Thế mới là chính thống. Phở bò mà lại ăn phở tái thì đúng là nhà quéo.

    Đang phát đạt như thế, chẳng biết sao khoảng năm 1982 bỗng dưng ông dẹp tiệm. Dân ghiền phở cứ tiếc hùi hụi. Trong số này có ông cao thủ bóng lông Trần K., khi đó đang chủ trì sân quần vợt đuờng Lê Duẩn. Ông này ghiền phở BH không thua gì mấy anh ghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sau khi dợt cho đệ tử mà không được bồi dưỡng hai tô phở BH là ông ngáp lên ngáp xuống. Ông bèn gạ một người bạn ông để người bạn này yêu cầu cô con gái ông BH mượn nồi niêu soong chảo bát đũa của ông già ra sân quần vợt mở một tiệm phở xe. Dân ghiền phở lại kéo tới ăn đông như chẩy hội. Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tâm Vấn ở tít trong Chợ Lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt – không phải để đánh banh lông – mà là để đớp phở.

    Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đich cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông BH. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K. anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời.

    Phở chính thống là thế : bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái. Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này: Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vưỡn cứ trả tiền như thường. Ấy thế mà, chỉ được hơn năm, chả biết lý do gì, tiệm phở xe này cũng bỗng mất tích. It lâu sau thấy tiệm Bắc Huỳnh lại tái xuất giang hồ. Được ít năm rồi lại dẹp không kèn không trống. Ngày nay nghe đâu ông Bắc Huỳnh và cô con gái đẹp như mơ đã mở hai tiệm phở bên Calgary, Canada. Chả biết còn giữ tên Bắc Huỳnh nữa không.

    …PHỞ NGẦU PÍN

    Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư Hà Nội cũng không dám tới ăn.

    Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm khá gì hơn. Vẫn cái tiệm xập xệ tối thui, như ở phố Huế. Khách tới ăn toàn những ông râu ria xồm xoàm hoặc lún phún râu dê hoặc nhẵn nhụi bảnh bao chẳng có một sợi râu nào. Nhưng tuyệt nhiên không hề có bóng dáng đàn bà.

    PHỞ SAU 75 VÀ CƠN SỐT PHỞ BẮC HẢI

    Phở leo lên tới tột đỉnh vinh quang bắt đầu từ cuối thập niên 80. Phở tràn ngập thành phố, ngoại trừ khu vực Chợ Lớn, bởi nó không thể địch lại được với hủ tíu, hoành thánh, bánh bao, xíu mại. Nhưng đặc biệt nhất là cơn sốt phở Bắc Hải. Ở thành phố có chí ít vài ba chục tiệm mang cái tên ấy. Tại sao người ta lại không chọn một bảng hiệu khác ? Cũng có nguyên nhân đấy.

    Phở Bình Lý Chính Thắng
    Phở Bình Lý Chính Thắng

     

    Phở Hùng
    Phở Hùng
    Phở Hòa đường Pasteur
    Phở Hòa đường Pasteur

     

    Số là vào thời bao cấp, ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội có một tiệm phở chui mà ông chủ tên là Bắc Hải. Đó là bí danh, biệt hiệu hay tên thật của ông ? Chả có ai rỗi hơi tìm hiểu. Chỉ biết cứ thế mà gọi. Tiệm của ông dĩ nhiên là đông khách, nhưng toàn khách quen. Những cái mặt lạ hoắc đừng có hòng bước vào. Trong khi phở quốc doanh “chạy qua hàng thịt”, thì phở Bắc Hải cả bánh lẫn thịt đều có chất lượng. Ngoài ra lại còn cái thú uống rượu quốc lủi nhắm với món “bốc mả” (xíu quách). Thịt do dân”bờ lờ” (buôn lậu) từ Phú Xuyên, Thường Tín hoặc ngả Gia Lâm đi theo xe khách thành, đưa vào bán cho các mối. Còn quốc lủi do ngoại thành cung cấp.

    Ông Bắc Hải đựng quốc lủi trong cái bong bóng trâu, giấu ở trước bụng, cái áo phủ bên ngoài. Khách nào muốn uống, giơ cái ly xây chừng ra, ông cởi khuy áo, tháo cái nút vòi bong bóng rồi xịt một phát vào ly. Rượu vừa đúng tới mép ly, không tràn ra một giọt nào. Ông bảo đó là cả một nghệ thuật, phải tập mất một tháng mới thực hiện thành công thao tác ấy. Nói cũng đáng tội, phở của ông cũng chả ngon lành gì. Chẳng qua là vì ”trong xứ mù thằng chột làm vua”. Vả lại, nó có đầy đủ chất béo, chất cay. Với một người ”thích đủ thứ”, như vậy là đúng tiêu chuẩn. Từ đó, anh hùng nhất khoảnh, phở Bắc Hải danh trấn giang hồ.

    Sau 75, một số đệ tử của ông Bắc Hải vào Nam. Họ kiếm một đầu hẻm, dựng một quán phở lộ thiên. Một trong những đệ tử nổi bật nhất của ”mông xừ” Bắc Hải là Ch. Râu. Gọi như thế là vì trên mặt anh có cả một rừng râu. Trẻ con trong khu phố, mỗi khi thấy anh xuất hiện lại chạy theo trêu chọc : ”Ơ cái râu lồm xồm, ơ cái râu loàm xoàm, cái râu mọc quanh cái mồm”.

    Lại vừa may mắn lại vừa có sẵn ít vốn, Ch. Râu kiếm được một mặt bằng ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Phở Bắc Hải của anh ra đời, trội hơn các tiệm Bắc Hải khác với món áp chảo nước, áp chảo khô, và đặc biệt là rượu rắn-bìm bịp, tráng dương bổ thận.

    Hiện nay, phở Bắc Hải không những bành trướng trong thành phố mà còn xuất hiện tại các vùng ngoại ô, nhất là khu Tân Sơn Nhất.

    Khoảng giữa thập niên 80, tại Bến Sỏi, mé trái cầu Điện Biên Phủ, có một tiệm phở đuôi bò và ngầu pín do một người đàn bà đứng bán. Quán hàng thiết lập trên một vùng đất lổn nhổn sỏi đá. Khách ăn, kẻ đứng người ngồi. Đôi khi cái ghế lùn tịt được dùng thay cho bàn. Và lần đầu tiên trong lịch sử của ỀpínỂ, ngầu pín được các bà các cô chiếu cố. Họ tỉnh queo cắn từng miếng một và nhai sần sật. Đuôi bò của Bến Sỏi cũng tuyệt trần. Mỗi miếng bằng cái nắm tay của trẻ con. Thịt được ninh nhừ nên khi ăn cũng không đến nỗi vất vả.

    Phở Bến Sỏi chỉ bán đến 9g30 sáng là hết. Nhưng thông thường, người ta đến sớm hơn. Để tránh cái nắng như đổ lửa xuống đầu. Trông các bà vừa ăn vừa thấm mồ hôi, phấn son nhòe nhẹt, thấy mà thương !

    Vài năm sau khấm khá, bà chủ tiệm tậu được một miếng đất rộng lớn ở phía xa lộ rồi chuyển cửa hàng ra đó. Bây giờ gọi là quán phở N., vừa bán phở vừa bán lẩu ngầu pín đuôi bò. Một cái lẩu 20.000đ hai người ăn căng bụng.

    PHỞ THẦY CÔ

    Bởi lương nhà giáo không đủ sống nên 5 cô và một thầy đã hùn nhau mở một tiệm phở ở vỉa hè đường X., phía sau cổng trường M.C.

    Phở thầy cô ra đời khoảng gần hai năm nay. Có một dạo nhà nước dẹp lòng lề đường, có lúc họ phải di chuyển vào mé sân sau trường. Tiệm này chuyên bán phở gà và chỉ bán vào buổi sáng. Dĩ nhiên phở của họ không thể nào ngon bằng các tiệm nhà nghề như phở gà Bưu Điện hoặc Vọng Các hay các tiệm ở đường Võ Thị Sáu, nhưng nó lại có một hương vị đặc biệt – hương vị gia đình. Khách ăn có cảm tưởng như người nhà mình nấu cho mình ăn vậy. Phở ở đây rất có ”chất lượng” và rẻ – rất rẻ là khác : 4.000đ/ tô đầy tú ụ cả thịt lẫn bánh.

    Phở Đô Thành
    Phở Đô Thành

    Giữa họ đã có sự phân công : mỗi người nấu phở rồi coi phở một ngày. Không có ai trong số họ có sẵn tay nghề. Thoạt đầu thì lúng túng như thợ vụng mất kim, ít lâu mới thành thạo. Nhưng dù sao đối với họ nghề phở cũng là một cái nghề bất đắc dĩ. Đứng trên bục giảng vẫn tốt hơn.

    Ở thành phố, ngoài nhóm thầy cô kể trên, còn có một cô giáo nữa cũng đang đứng bán phở, nhưng lại giã từ hẳn cái nghề kỹ sư tâm hồn. Cô nguyên là giảng nghiệm viên của Đại học khoa học, nhà lại sẵn có mặt bằng nằm trên một trục lộ đông đảo người qua lại, bèn quyết định từ bỏ ống nghiệm và các công thức hóa học để ”giao thiệp” với phở. Vốn là một nội trợ giỏi nên từ nấu thức ăn đến làm phở cũng không đến nỗi khó khăn. Cửa tiệm nằm ở phía chân cầu Bông, khách ăn sẽ dễ dàng nhận ra khi thấy trước cửa đậu một dãy xe gắn máy.

    Phở Cầu Bông ngoài các món thường lệ như tái, chín, nạm, còn có món đuôi bò. Phở rất ngon nhưng giá một tô có 5.000đ, chỉ bằng một nửa tiền nếu so với phở Hòa ở đường Pasteur, tục gọi là phở Việt kiều, với giá chém treo ngành 12.000đ/ tô. Sở dĩ gọi thế là vì khách ăn đa số là Việt kiều. Họ quen ăn phở với giá 8 đôla/ tô, chưa kể tiền ”bo” 10%, nên với họ, đó là một giá rẻ mạt.

    Phở Cầu Bông cũng không làm theo kiểu đại trà với thịt thái sẵn chất đầy một cái khay. Khách ăn tới đâu làm tới đó. Thịt thái mỏng bốc mùi thơm phức. Mỗi miếng thịt mang hình kỷ hà, màu nâu gụ của nó dính với màu mỡ gàu đặt trên nền trắng của bánh trông giống như một bức tranh tĩnh vật.

    Cô giáo của trường Khoa học đã đưa cả khoa học lẫn nghệ thuật vào phở.

    PHỞ T.D. Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

    Phở có bảng hiệu mang tên số nhà, nhưng người ta cứ quen miệng gọi là phở T. D., tên ông chủ, mặc dù anh không đứng bán. Căn nhà đó, xưa kia, anh mở tiệm cơm Tây với hai món đặc sản : chateaubriand và chân giò nấu đậu trắng. Các bằng hữu của anh đa số là những người làm văn nghệ. Anh cũng được liệt vào số đó, bởi giọng ca tuyệt diệu của anh. Nhưng mỗi năm anh chỉ hát có một lần và chỉ hát có một bài vào đêm Giáng sinh : “Đêm thánh vô cùng” (Silent Night). Một điệu nhạc tắt đèn. Trong lúc tiếng ca thánh thiện của anh vang lên, người ta ôm nhau đi một đường slow.

    Sau khi thưởng thức phở Quyền, phở Tàu Bay, phở bà Dậu, nếu muốn đổi hương vị, người ta có thể đến T.D để nếm món ”vú sữa”, tức là khoảng thịt bụng có những núm vú, ăn béo ngậy, thơm và sần sật, nhưng không giống như sụn hoặc nậm của thịt chó. Nhà hàng có mặt bằng rộng, quạt máy quay vù vù, khách ăn không phải chịu cái cảnh mồ hôi mẹ mồ hôi con cùng chảy.

    PHỞ CÔNG TỬ SÀI GÒN

    Đó là tiệm phở gà H. B. ở đường Võ Thị Sáu. Ông chủ tiệm tên là Q., một người thuộc giới giang hồ mà cả hai đạo hắc bạch đều biết… tiếng từ khi Q. ở địa vị một ông chủ.

    Nghề phở đến với anh một cách tình cờ. Trong một cuộc đọ tài cao thấp với một tay anh chị, anh bị hắn thưa về tội đả thương, và sau đó bị đưa đi cải tạo. Thời gian chém tre đẵn gỗ trên ngàn, anh thường hay giúp đỡ một anh bạn đồng cảnh ngộ. Thấy bạn bị bắt nạt là anh can thiệp ngay. Không phải bằng vũ lực, mà chỉ với một chiêu số thôi : bấm vào huyệt nội quan ở cổ tay và huyệt khúc trì ở khuỷu tay, là địch thủ phải thổi bài kèn ”ô rơ lui” ngay. Q. lại còn thường giúp anh ta trong các công tác lao động. Để đáp lại ân tình ấy, người bạn kia đã truyền cho anh nghề nấu phở. Anh ta dạy Q. từ cách lựa chọn gà – phải là gà được nuôi ở nông thôn – đến cách pha chế gia vị cho thùng nước lèo, và cách nấu nướng làm sao cho gà khỏi bị vỡ da.

    Sau thời gian cải tạo, Q. về đường Võ Thị Sáu mở tiệm phở H.B. – tiệm phở ngon nhất trong khu phố ấy. Chỉ trong vòng ba năm, anh đã phất lên như diều. Và bây giờ, với 8 năm trong nghề phở, anh chỉ giữ vai trò chuyên viên, và để cho một số đệ tử đứng bán. Còn một chàng nữa cũng phất lên như Q., nhờ phở. Đó là anh D., chủ một tiệm phở ở trong một con hẻm đường Nguyễn Thị Minh Khai, cách nhà thương Từ Dũ khoảng 500m. Từ Hà Nội vô thành phố Sài Gòn, anh chỉ có đủ tiền để làm một gánh phở ở đầu ngõ. Mới đầu, anh chả biết một tí gì về cái nghề này. Toàn đi học mót. Hỏi người này, học người kia, rồi tới ăn ở các tiệm phở danh tiếng để thử nghiệm. Phải mất gần một năm anh mới thành thạo.

    Phở D. hôm nay nổi tiếng ngang với phở Quyền ở Phú Nhuận. Tiệm của anh có một món đặc biệt : tái bắp. Muốn ăn món này phải đi sớm, bởi 8 giờ sáng là hết. Có một điều ly kỳ là phở D. ăn vào buổi chiều bao giờ cũng ngon hơn buổi sáng. Cả chủ lẫn khách đều công nhận chuyện đó. Hỏi nguyên nhân tại sao ? Anh lắc đầu vì không giải thích được. ”Sáng và chiều cùng một thùng nước lèo. Nửa thùng buổi sáng còn lại, buổi chiều chỉ việc đun sôi, không pha thêm một chút gia vị nào, thế mà nó lại ngon hơn buổi sáng”, anh mỉm cười nói.

    Bây giờ thì phở có bề thế lắm rồi. Anh mới tậu thêm một ngôi nhà ở đầu hẻm. Phở là một đặc sản của Việt Nam. Đó là điều ”quốc tế phải công nhận”. Nhưng ông Tây lại bảo nó là “soupe chinoise”, còn ông Tàu thì lại bảo nó là “ngầu phấn” chỉ là tiếng Quảng Đông, phiên âm ra tiếng Hán Việt là “ngưu” (bò hoặc trâu), ”phấn” (bột gạo). Một điều nữa, hỏi ông tổ của nghề phở là ai ? Các ông chủ tiệm phở đều lắc, mặc dù nhờ phở, họ đã có của ăn của để.

    Phan Nghị

  • Những di tích nổi tiếng ở Sài Gòn có nguy cơ biến mất!

    Những di tích nổi tiếng ở Sài Gòn có nguy cơ biến mất!

    Sài Gòn đã đi qua hơn nửa chặng đường của năm 2015, thành phố cũng đã hơn 300 tuổi. Có lẽ đã đến lúc để nâng cấp các công trình đã có tuổi ở Sài Gòn. Dưới đây là top 10 các di tích đã đang có nguy cơ sẽ biến mất khỏi Sài Gòn, khi thành phố thay áo mới.

    Các cửa hàng ở cửa Tây chợ Bến Thành

    Các cửa hàng ở cửa Tây chợ Bến Thành
    Các cửa hàng ở cửa Tây chợ Bến Thành

    Sài Gòn từng chịu ảnh hưởng rất lớn của kiến trúc châu Âu do lịch sử 61 năm bị thực dân đô hộ. Ngày nay, đa phần các công trình ấy đã bị phá hủy, thành phố chỉ còn sót lại một vài địa điểm mang dư âm Pháp và tập trung chủ yếu ở khu vực quận 1, quận5. Ẩn sau những tấm pano quảng cáo lớn, khu nhà cao 3 tầng nằm ngay góc đường Lê Lai – Phan Chu Trinh là một trong các công trình mang sự pha trộn giữa các kiểu nhà truyền thồng thống châu Á nhưng vẫn phảng phất chút nét Âu. Tuy nhiên, theo thời gian thì khu nhà này đã cũ và rất cần được nâng cấp. Trong vài năm tới đây, hi vọng cùng với sự hình thành của tuyến tàu điện ngầm thì các khu vực quanh chợ Bến Thành sẽ được nâng cấp và cùng với đó, cư dân Sài Thành sẽ được thấy góc đường quen khoác lên mình một màu sắc mới đẹp và hiện đại hơn.

    Các shop trên đường Nguyễn Huệ

    Các shop trên đường Nguyễn Huệ
    Các shop trên đường Nguyễn Huệ

    Dãy số 85 – 115 Nguyễn Huệ là các ví dụ tuyệt vời cho kiểu shop có 2 tầng có mái hiên đặc thù kiến trúc xưa được các nhà bảo tồn hi vọng có thể tân trang lại như một phần của dự án phố đi bộ Nguyễn Huệ. Đáng tiếc thay, 6 căn nhà từ số 89 – 99 đã bị đập bỏ để xây một khu mua sắm mới và những căn nhà còn lại được dự đoán cũng sẽ chịu “chung số phận”.

    Thương xá Tax

    SAIGON 1965 - Thương xá TAX
    SAIGON 1965 – Thương xá TAX

    Thương xá Tax từng là biểu tượng của Sài Gòn phồn hoa một thời. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, ít ai nghĩ rằng sẽ có ngày khu thương mại sầm uất ngày nào lại bị đóng cửa. Tháng 1 năm 2015, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố – đơn vị quản lý trực tiếp thương xá Tax – đã chấp nhận giữ lại phần bên ngoài của Grand Magasins Charner được xây dựng vào năm 1924 để làm mặt tiền của tòa nhà 43 tấng và quan trọng hơn hết là giữ lại được cầu thang khảm gốm moisaic để làm điểm nhấn trong sảnh của tòa nhà mới. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, cầu thang này sẽ được tháo rã ra và lắp lại sau khi công trình hoàn thành. Công việc tháo – lắp này cần được thực hiện bởi các chuyên gia bảo tồn giàu kinh nghiệm. Do đó, công ty SATRA đã tìm kiếm các chuyên gia trong lĩnh vực nhằm thực hiện công việc khó khăn và phức tạp này.

    136 Hàm Nghi

    136 Hàm Nghi
    136 Hàm Nghi

    Ít ai biết rằng tòa nhà trụ sở đường sắt Sài Gòn đã có mặt ở đất Gia Định xưa hơn 1 thế kỉ. Gần đây, tòa nhà đã đươc tân trang và sơn lại và được đưa vào dự án tái phát triển thành văn phòng và căn hộ cho thuê. Đây là một phần trong thỏa thuận hợp tác với Kinh Đô Land (theo bài báo “Thành lập Trung tâm ứng phó sự cố, thiên tai và cứu nạn Đường sắt”, được in trên báo GTVT ngày 20 tháng 7 năm 2012)

    606 Trần Hưng Đạo

    606 Trần Hưng Đạo
    606 Trần Hưng Đạo

    Được xây dựng vào năm 1932 bởi công ty nhượng quyền sổ số từ thiện tên là “Société pour l’amélioration morale, intellectuelle et physique des indigènes de Cochinchine (SAMIPIC). Sau năm 1954, lần lượt tòa biệt thự này đã trở thành trụ sở của quân đội Mỹ (MAAG, MACV) và lực lượng vũ trang Hàn Quốc. Theo một nguồn tin đáng tin cậy thì hiện nay, một trong các di sản lịch sử của Sài Gòn sẽ bị phá hủy và thay thế bởi một dãy văn phòng mới.

    26 Lý Tự Trọng

    26 Lý Tự Trọng
    26 Lý Tự Trọng

    Cũng như Bót Catinat, tòa chung cư có kiến trúc nghệ thuật vô cùng hoài cổ được biết đến với tên “tòa nhà Tự Do” nằm trên ngã ba “đất vàng” Đồng Khởi – Lý Tự Trọng này cũng đang trong tình trạng chờ bị phá dỡ dù những người dân sống ở khu chung cư này vẫn chưa được thông báo thời gian chính thức khi nào việc này sẽ diễn ra. Được xây dựng vào năm 1926 – 1927 để làm ……….. và được biết đến như khu chung cư có giá trong lĩnh vực bất động sản. Đồng thời, tòa nhà này cũng là trụ sở của nhiều công ty và văn phòng thường trực của các công ty nước ngoài, điển hình như Đại sứ quán Mỹ trong giai đoạn 1930 – 1940. Đại sứ quán Mỹ đã tồn tại cho đến ngày 23/11/1941, hiến binh của Nhật thực hiện một cuộc đánh bom liều chết bằng xe hơi nhằm vào người Mỹ ở Việt Nam. Vụ tấn công này đã gây thiệt hại nặng nề cho tòa nhà Tự Do. Và 2 tuần sau đó, Nhật tiến hành tấn công Trân Châu Cảng và trục xuất tất cả các nhà ngoại giao Mỹ ra khỏi Đông Dương.

    151 Đồng Khởi

    151 Đồng Khởi ( Grand Hôtel de France)
    151 Đồng Khởi ( Grand Hôtel de France)

    Đây là địa chỉ quen thuộc của nhiều người, không chỉ là công dân Việt mà cả khách du lịch và người nước ngoài sống ở Việt Nam bởi đây là nơi tọa lạc của cà phê Lu’sine nổi tiếng. Tuy nhiên, vào đầu năm nay thì địa chỉ này cũng chính thức góp mặt vào danh sách “chờ khai tử” ở Sài Gòn. Ngược dòng lịch sử về đầu thế kỉ 20, tòa nhà này được xây dựng lại dựa trên tiền thân của khách sạch “Grand Hôtel de France” (xây dựng năm 1870). Đến cuối thời kì thuộc địa, tầng trên của tòa nhà này được sử dụng làm căn hộ cho thuê còn tầng trệt dùng để mở cửa hàng kinh doanh. Điều đặc biệt của tòa nhà này chính là rạp chiếu phiếu Catinat-Cine được đưa vào sử dụng vào năm 1930. Ngày nay, vách tường khảm moisaic của rạp chiếu bóng xưa vẫn còn tồn tại trong Lu’sine café.

    59 – 61 Lý Tự Trọng

    59 – 61 Lý Tự Trọng
    59 – 61 Lý Tự Trọng

    Từng xuất hiện torng phim “Người Mỹ thầm lặng”, 59 – 61 Lý Tự Trọng, tòa nhà 120 năm tuổi này lại là một công trình chúng ta hi vọng sẽ được giữ lại. Năm trước, Ủy ban nhân dân Thành phố đã tổ chức một cuộc thi thiết kế lại trụ sở hành chính mới ngay phía sau trụ sở cũ như để đáp lại những lời chỉ trích cho việc tháo dỡ khu chung cư 213 Đồng Khởi. Cuộc thi này khuyến khích các thiết kế kết hợp hài hòa giữa phần được bảo tồn của văn phòng chính phủ Pháp cũ với mặt tiền của văn phòng mới và cả kiến trúc của các khu vực xung quanh. 6 tháng sau khi phát động cuộc thi, 11 bản thiết kế đã được trưng bày để mọi người có thể bình chọn và người chiến thắng vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 2/2/2015 với báo Sài Gòn Online, ông Nguyễn Thanh Toàn, phó giám đốc “Sở Quy hoạch và Kiến trúc TP.HCM” đã tiết lộ rằng Sở sẽ không trao giải nhất cho bất kì thiết kế nào bởi “Đa số các bài dự thi đều có chất lượng ngang nhau” và sau đó lại thông báo rằng kế hoạch số 107 là bài thi được đánh giá cao với bản dự kiến sẽ bảo tồn khu nhà 59 – 61 Lý Tự Trọng nhưng đồng thời sẽ di dời vị trí địa lý khoảng 500 mét, như thế sẽ thích hợp hơn với trục trung tâm của tòa nhà Ủy Ban Nhân Dân.

    Xưởng tàu Ba Son

    Xưởng tàu Ba Son
    Xưởng tàu Ba Son

    Chắc chắn chẳng có gì bất ngờ khi xưởng tàu Ba Son cũng nằm trong danh sách này. Đây là di sản hàng hải lâu đời và quan trong bậc nhất ở Sài Gòn đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia (Nghị định 1034-QĐ/BT) bởi bộ Văn hóa thông tin vào nằm 1993. Trong vài năm qua, một vài chuyên gia trong lĩnh vực du lịch đã đề nghị biến khu xưởng tàu này thành khu giải trí phức hợp như khu South Street Seaport của New York. Nhưng giờ đây, có vẻ khu Ba Son sẽ được bán cho một nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc để được tái quy hoạch thành các cao ốc văn phòng, khu căn hộ và trung tâm mua sắm.
    Nguồn: http://saigoneer.com/saigon-buildings/4733-saigon-s-endangered-heritage-buildings-the-top-10

  • Nguồn gốc và ý nghĩa của tên Sài Gòn

    Nguồn gốc và ý nghĩa của tên Sài Gòn

    Nguồn gốc  và ý nghĩa của tên Sài Gòn

    Trong “Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị” của ông Huỳnh Tịnh Của thì Sài tức là củi thổi, Gòn: tên loại cây cỏ bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm. Về địa danh Sàigòn thì Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: tên riêng của đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé.

    Ðịnh nghĩa Sàigòn của quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị cho ta thấy rằng tên Sàigòn trước đây dùng để chỉ vùng Chợ Lớn hiện nay, còn vùng mà ta gọi là Sàigòn hiện nay thì trước đây lại gọi là Bến Nghé. Ðiều này được xác nhận nhờ hai người Anh là Crawford và Finlayson đã đến vùng này năm 1922. Cứ theo lời những người này thuật lại thì Sàigòn và Bến Nghé (mà các tác giả trên đây viết là Bingeh hay Pingeh) là hai thành phố phân biệt nhau và cách xa nhau độ 1 hay 2 dặm, Bến Nghé là nơi đồn binh và đạt cơ quan chánh phủ, còn Sàigòn là trung tâm thương mãi và là nơi cư ngụ của người Hoa kiều và các thương gia (tài liệu của Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises tức là Tập san của Hội Cổ Học Ấn Hoa, năm 1942, tập số 2). Vậy, Sàigòn và Bến Nghé là hai thành phố phân biệt nhau và có hai tên khác nhau đàng hoàng, nhưng đến khi người Pháp chinh phục ba tỉnh phía đông Nam Kỳ năm 1861, họ dùng tên Sàigòn để chỉ đất Bến Nghé cũ, mà họ dùng làm trung tâm hành chánh, vì Bến Nghé là một tiếng khó cho người ngoại quốc phát âm hơn Sàigòn. Người Việt Nam bắt buộc phải theo họ mà gọi Bến Nghé là Sàigòn, còn vùng trước đó gọi là Sàigòn thì được gọi là Chợ Lớn theo một cái tên mà sử gia Phan Khoang trong bộ Việt Sử, Xứ Ðằng Trong, cho là dường như đã có từ đời vua Gia Long.

    Cũng theo quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của ông Huỳnh Tịnh Của thì tên Sàigòn có nghĩa là củi gòn. Nhà học giả Trương Vĩnh Ký đã theo thuyết này mà ông cho biết là dựa vào bộ Gia Ðịnh Thông Chí của ông Trịnh Hoài Ðức. Trong tập Souvenirs historiques, ông Trương Vĩnh Ký lại kể lại rằng người Khmer xưa có trồng cây gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính ông còn thấy vài gốc cổ thụ này tại vùng ấy năm 1885.

    Sau ông Trương Vĩnh Ký, còn có ông đốc phủ Lê Văn Phát đi xa hơn trong thuyết kể trên đây. Theo ông Lê Văn Phát thì trước đây, vùng Sàigòn Chợ Lớn hãy còn bị rừng bao phủ và tên Sàigòn có lẽ phát xuất từ tên Khmer Prei Kor tức là Rừng Gòn (Forêt des Kapokiers). Prei Kor là tên mà người Khmer dùng để gọi một địa phương mà trọng tâm là Chùa Cây Mai ở Phú Lâm ngày nay. Mặt khác, ông Lê Văn Phát cũng cho biết rằng người Lào (mà ngôn ngữ gần như ngôn ngữ Thái) đã gọi vùng này là Cai Ngon, mà Cai Ngon theo tiếng Thái cũng có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn (Brousse des kapokiers).

    Thuyết về nguồn gốc tên Sàigòn của các học giả Việt Nam trên đây sau này đã bị một số học giả khác bác bỏ. ông Vương Hồng Sến trong bộ Sàigòn Năm Xưa cho biết rằng theo tiếng Khmer thì Kor có nghĩa là gòn mà cũng có thể có nghĩa là con bò, và Prei Kor có thể là Rừng Bò chứ chưa ắt hẳn là Rừng Gòn.

    Mặt khác, các nhà học giả Pháp nghiên cứu về nước Cam.Bu.Chia đã tìm được trong bộ sử chép tay của nước ấy một dữ kiện quan trọng về vùng này. Theo bộ sử ấy, năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đã đến Cam.Bu.Chia xin vua Cam.Bu.Chia cho đặt một số sở thuế ở vùng Prei Nokor va` Kas Krobey. Vua Cam.Bu.Chia lúc ấy có một hoàng hậu la` con gái chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Bởi đó, ông đã chấp nhận lời yêu cầu của chúa Nguyễn.

    Theo ông Etienne Aymonier thì Nokor là xứ, quốc gia và Prei Nokor là rừng của vua (forf royale). Nhưng linh mục Tandart lại bảo rằng tiếng Nokor do tiếng nam phạn Nagaram mà ra, và có nghĩa là Thành phố của rừng hay thành phố ở giữa rừng (ville de la forêt). Bởi vậy theo ông, Prei Nokor có nghĩa là thành phố.

    Nhà học giả Pháp Louis Malleret khi nêu ra tài liệu về Prei Nokor đã dựa vào ý nghĩa của tiếng Khmer này theo linh mục Tandart để bác bỏ thuyết của các học giả Việt Nam trước đó cho rằng Sàigòn có nghĩa là Củi Gòn. Ông đã theo ý kiến của một người Pháp khác là Maurice Verdeille theo đó tiếng Sàigo`n có lẽ phát xuất từ tiếng Tây ngòn có nghĩa là cống phẩm của phía tây (tribut de l’ouest). Tiếng Hán Việt có nghĩa là cống phẩm của phía tây nếu đọc theo V.N là Tây Cống và Tây Ngòn hẳn là Tây Cống, nhưng phát âm theo giọng Trung Hoa. Sở dĩ ông Malleret theo thuyết này là vì ông đã dựa vào một dữ kiện lịch sử do ông Trịnh Hoài Ðức chép lại, là khi Cam Bu Chia bị phân ra cho hai vua thì cả hai vua nầy đều nạp cống phẩm cho chúa Nguyễn ở Prei Nokor, vốn là thủ đô của vua thứ nhì từ năm 1674 (trong khi vua thứ nhứt đóng đô ở Oudong ở phía bắc Nam Vang).

    Một tác giả khác, ông Vương Hồng Sển, nhắc lại trong quyển Sàigòn Năm Xưa rằng người Hoa Kiều đã tập trung vào vùng Chợ Lớn ngày nay để mua bán năm 1778 sau khi Cù Lao Phố (gàn tỉnh lị Biên Hòa ngày nay) là nơi được thành lập để mua bán từ cuối thế kỷ thứ 17 đã bị Tây Sơn phá tan khi họ kéo vào đánh Miền Nam. Sau khi thành phố này đã vững, người Hoa Kiều đã đáp thêm bờ kinh Chợ Lớn, cẩn đá cho cao ráo kiên cố. Và có lẽ để ghi công việc này, họ đặt tên chỗ mới này là Ðề Ngạn, tức là bờ sông cao dốc trên có đe ngăn nước. Ðề Ngạn là tiếng Hán Việt, chớ người Trung Hoa phát âm theo giọng Quảng Ðông thì nói thành Tài Ngon hay Thầy Ngồnn. Ông Vương Hồng Sển cho rằng tiếng Sàigòn chính do Thầy Ngồnn mà ra.

    Về đất Bến Nghé thì người Trung Hoa gọi là Xi Cong. Ông Vương Hồng Sển cho rằng đó là họ đọc trại lại tiếng Sàigòn của ta và khi viết ra Hán văn thì họ dùng hai chữ mà ta đọc là Tây Cống.

     

    Vậy, có ba thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của tên Sàigòn:

    1. Thuyết của các ông Trương Vĩnh Ký và Lê Văn Phát: Sàigon do tiếng Khmer Prei Kor mà ra, và có nghĩa là củi gòn.
    2. Thuyết của ông Louis Malleret: Sàigòn do tiếng Tây Ngòn, tức là Tây Cống phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là cống phẩm của phía tây.
    3. Thuyết của ông Vương Hồng Sển: Sàigòn do tiếng Thầy Ngồnn tức là Ðề Ngạn phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là bờ sông cao dốc trên có đê ngăn nước. Còn về tiếng Tây Cống, ông Vương Hồng Sển lại cho rằng nó chỉ được người Trung Hoa dùng sau này để phiên âm lại tên Sàigòn sau khi tên này được dùng đẻ chỉ đất Bến Nghé cũ.

    Ba thuyết trên đây cái nào cũng có vẻ có lý phần nào nhưng thật sự, không cái nào có thể làm cho chúng ta hoàn toàn thỏa mãn. Như thế có lẽ vì những người nêu ra các thuyết ấy đã quên để ý đến cách ông bà chúng ta đặt các địa danh ở Nam Kỳ trước đây. Chúng ta có thể nhận thấy rằng trong việc đạt địa danh này, ông bà chúng ta đã theo một số nguyên tắc:

     

    1. Các cụ có thể phiên âm một địa danh Khmer đã có và bỏ dấu cho thành tiếng Việt Nam. Thí dụ như Psar Deck thiếng Khmer là Chợ Sắt đã được các cụ gọi lại là Sa Ðéc, hay Me So tiếng Khmer là Người Ðàn Bà Ðẹp hay nàng Tiên được các cụ gọi là Mỹ Tho. Trong một bài kỷ niệm ngày 30 tháng tư, đăng trong tờ Việt Báo, ông Phạm Nam Sách khi nói về tỉnh Ba Xuyên đã nhắc đến một địa danh mà ông nói là là Bảy Sào, Bải Sào, Bảy Sau hay Bải Sau chi đó. Thật sự đó là Bải Xào, một tiếng phát xuất từ tiếng Khmer Bai Xao có nghĩa là Cơm Sống. Ðịa danh này sở dĩ có là vì trong trận đánh nhau voói người Việt Nam, người Khmer đã thua chạy về đến đó và ngừng lại nấu cơm ăn, nhưng cơm chưa kịp chín thì quân Việt Nam lại kếo đến và người Khmer phải bỏ chạy. Ðể đánh dấu việc này, họ gọi đất đó là Cơm Sống, tiếng Khmer là Bai Xao và các cụ ta bỏ dấu thêm thành Bải Xào.

     

    1. Các cụ có thể dịch nghĩa một địa danh Khmer đã có. Thí dụ như tên Bến Nghé phát xuất từ tiếng Khmer Kompong Krabei có nghĩa la Vũng Trâu. Theo sử Khmer mà ông Malleret viện dẫn thì ngoài Prei Nokor, vua Cam.Bu.Chia còn cho chúa Nguyễn đạt sở thuế ở Kas Krobey. Chữ Krobey rất gần Krabei, và có thể Kas Krobey với Kompong Krobei cũng là một và có nghĩa là Vũng Trâu, Bến Trâu gì đó.

     

    1. Nhưng tên theo hai loại trên đây là do người Việt Nam bình dân đặt ra khi mới đến một địa phương, về sau, khi đã có nhiều người Việt Nam ở và triều đình Việt Nam đặt ra các đơn vị hành chánh, thì triều đình lại dùng tiếng Hán Việt như Trấn Biên, Phiên Trấn, Phước Long, Phước Tuy v.v… Mặt khác, khi viết sử hay viết sách địa lý mà gặp một tên nôm do người bình dân đã đặt, các cụ đã dịch phăng nó ra tiếng Hán Việt chớ ít khi chịu chép tên nôm. Như Ba Giỗng, các cụ dịch là Tam Phụ và Bến Nghé, các cụ dịch lại là Ngưu Chử khi chép vào sách chớ không chịu viết tên nôm là Ba Giồng, Bến Nghé.

     

     

    Nếu lấy các qui tắc đặt địa danh của các cụ ngày xưa làm tiêu chuẩn dể suy luận thì ta thấy ngay các thuyết trên đây về nguồn gốc và ý nghĩa của Sàigòn không ổn.

     

    1. Nếu các cụ ta ngày xua muốn dịch tiếng Khmer Prei Kor ra tiếng Việt thì các cụ đã dùng tên Củi Gòn, Cây Gòn hay Rừng Gòn để đạt cho địa phương này, chớ không ghép một tiếng Hán Việt là Sài với một tiếng nôm là Gòn để thành Sàigòn, cũng nhu khi dịch Kompong Krabei ra tiếng Việt, các cụ đã gọi là Bến Nghé chớ không nói Tân Nghé, Chử Nghế hay Ngạn Nghé (Tân, Chử và Ngạn là những tiếng Hán Việt có nghĩa là cái cồn nhỏ, bến sông, bờ sông). Nếu bảo rằng gòn là một loại cây không có tên Hán Việt và các cụ đã dùng tên ấy như tiếng Hán Việt thì các cụ đã theo văn phạm Hán Việt mà gọi Củi Gòn là Gòn Sài chớ không thể gọi là Sài Gòn
    2. Chữ Sài là tiếng Hán Việt có nghĩa là Củi, nhưng cũng chữ ấy mà dùng làm chữ nôm thì lại đọc là Thầy. Vậy, nếu đọc theo tiếng nôm hoàn toàn hai chữ mà ông bà chúng ta dùng để chỉ tên đất ta đang nghiên cứu thì ta có Thầy Gòn. Tên này rất gần với Tây Ngòn hay Thầy Ngồnn là những tiếng Hán Việt Tây Công hay Ðề Ngạn đọc theo giọng Trung Hoa. Nhưng các cụ ngày xua rất sính dùng tiếng Hán Việt. Ðến như tiếng nôm hoàn toàn là Ba Giồng, Bến Nghé mà các cụ còn nhứt định phải dịch ra là Tam Phụ, Ngưu Chử khi viết vào sách vở thì không lý do gì các cụ lại không dùng các tiếng Hán Việt đã sẵn có là Tây Cống hay Ðề Ngạn, mà lại dùng tiếng Thầy Gòn là tiếng phiên âm theo giọng của người Trung Hoa.

    Vậy, các thuyết kể trên đây đều không vững cả.

    Cuối cùng, chỉ còn một dấu vết nhỏ trong các tài liệu nói về ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giúp ta một lối thoát: đó là việc ông Lê Văn Phát cho biết rằng người Lào đã gọi vùng Chợ Lớn ngày nay là Cai ngon, mà Cai ngon theo tiếng Thái có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn. Chúng tôi không biết tiếng Lào hay tiếng Thái nên không thể xác nhận được ý nghĩa của Cai Ngon theo tiếng Thái, nhưng nếu quả đúng như ông Lê Văn Phát nói thì tên Sàigòn do ông bà ta phiên âm từ tiếng Thái Cai Ngon và bỏ dấu theo giọng Việt Nam như thông lệ.

    Xét về mặt nguyên tắc đạt địa danh của ông bà chúng ta ngày xưa, thì vấn đề này có thể kể là tạm giải quyết. Nhưng nghi vấn còn lại là tại sao lại có tiếng Lào hay tiếng Thái lọt vào đây? Hiện nay, không có nhiều tài liệu lịch sử giúp chúng ta có một sự hiểu biết rộng rãi và chánh xác về thời kỳ người Việt Nam mới vào ở đất Nam Kỳ. Chúng ta chỉ có thể dựa vào một số dữ kiện sau đây để suy luận:

    1. Vào đầu thế kỷ 17, nước Cam Bu Chia đã bị người Xiêm (Thái Lan hiện nay) uy hiếp nặng nề, và chính vì muốn dựa vào người Việt Nam để chống lại Xiêm mà vua Chey Chetta II đã đi cưới công chúa Ngọc Vạn (là con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) về làm hoàng hậu năm 1620, rồi đén năm 1623 lại đẻ cho chúa Nguyễn đạt những cơ sở thâu thuế ở vùng Sàigòn, Chợ Lớn ngày nay.
    2. Vùng Chợ Lớn chỉ trở thành một vùng thương mãi thạnh vượng từ năm 1788 với khối người Hoa Kiều tụ tập về đó sau khi Cù Lao Phố bị Tây Sơn phá hủy. Vậy, lúc chúa Nguyễn mới đạt cơ sở thuế hơn 150 năm về trước vùng này chưa có mua bán gì nhiều.
    3. Người Việt Nam chỉ vào ở Nam Kỳ nhiều từ khi có lực lượng của ông Trần Thượng Xuyên đóng thường trực để bảo vệ cho họ từ năm 1680. Vậy, lúc chúa Nguyễn đạt sở thuế ở vùng Chợ Lớn ngày nay, hơn 50 năm trước đó, chưa có đông người Việt Nam và chưa có sản xuất nhiều lúa gạo để bán.
    4. Như thế, cơ sở thuế của chúa Nguyễn chắc chỉ đánh vào một vài sự buôn bán nhỏ, không quan trọng lắm, và do đó mà vua Cam Bu Chia đã dễ dàng cho chúa Nguyễn thâu lấy nguồn lợi này, chớ nếu có sự mua bán quan trọng và quyền lợi thuế vụ lớn thì vua Cam Bu Chia lúc đó vốn còn hoàn toàn độc lập với chúa Nguyễn, chắc không phải chấp nhận dễ dàng lời yêu cầu của chúa Nguyễn. Vậy, sự mua bán đó dựa vào móng hàng gì? Có thể một trong những món hàng được buôn bán thời đó là gòn, vì vùng này có nhiều cây gòn, có lẽ không nhiều đến thành rừng, nhưng cũng đạt mức quan trọng để có thể gọi là rừng chổi được. Người Xiêm có thể đã đến đó mua gòn để đem về nước dồn gối, dồn nệm. Một ít thương gia Xiêm có thể đã có mặt ở vùng này trước khi chúa Nguyễn đạt sở thuế tại đó, và vì thấy vùng này có nhiều cây gòn, họ gọi nó là Cai Ngon tức là Rừng Chổi Cây Gòn, rồi các viên chức Việt Nam liên lạc với họ để đánh thuế lúc mới đến đã theo họ mà gọi đất này là Sàigòn, thay vì phiên âm hay dịch nghĩa tên Khmer của địa phương này.
    5. Về cái tên Khmer này, các học giả đã không đồng ý kiến với nhau, người thì nói là Prei Kor, người thì nói là Prei Nokor. Ông Malleret đã dựa vào sử Khmer mà bảo đó là Prei Nokor và theo linh mục Tandart để dịch Prie Nokor là thành phố của rừng. Vì không biết tiếng Khmer và văn phạm Khmer, chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này, nhưng vẫn thấy có những chỗ không ổn.
      1. Nếu Prei Kor có nghĩa là Rùng Gòn hay Rừng Bò thì văn phạm Khmer cũng như văn phạm Việt Nam đạt tiếng rừng lên trên, tiếng phụ nghĩa cho rừng ở dưới. Như vậy Prei Nokor dịch ra là rừng của vua như Aymonier thì vẫn hợp với văn phạm đó, còn dịch ra như linh mục Tandart là thành phố giữa rừng thì lại đi ngược với văn phạm đó rồi. Hiểu theo văn phạm như nói trên đây thì Prei Nokor là rừng của thành phố mới phải, nhưng tên Rừng của Thành Phố thì cố nhiên là không có ý nghĩa gì.
      2. Mặt khác, nếu Prei Nokor là thành phố giữa rừng hay rừng của vua thì nó chỉ có thể có từ năm 1674 là năm mà vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia chua chúa Nguyễn đến đặt sở thuế tại đó thì đất này hãy còn là một thị xã nhỏ, không có vua ở nên không thể mang tên Prei Nokor là thành giữa rừng hay rừng của vua được.

    Do các nghi vấn trên đây, chúng ta thấy rằng thuyết của ông Malleret không vững. Và chúng ta có thể đua ra giả thuyết khác: địa điểm mà vua Cam-Bu-Chia cho chúa Nguyễn đạt sở thuế vẫn tên là Prei Kor vì nơi đó có nhiều gòn và là nơi mua bán gòn, nhưng sau đó, khi vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia đến đóng đô tại đó, nó có tên mới là Prei Nokor (hiểu theo nghĩa là rừng của vua hay thành phố giữa rừng đều được cả). Các sử gia Cam-Bu-Chia sau này chép lại việc cho chúa Nguyễn đến địa phương này đặt sở thuế đã chép lại tên Prei Nokor mà họ được biết nhiều hơn mà bỏ tên Prei Kor đi. Với giả thuyết này thì ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giải quyết được: đó là một tên phiên âm từ tiếng Xiêm Cai Ngon có nghĩa là Rừng Chổi Cây Gòn, và phù hợp vớ tên Khmer nguyên thủy Prei Kor cũng có ý nghĩa tương tự.

    Vì không biết ngôn ngữ và văn phạm Khmer và Thái (Xiêm) nên chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này và chỉ xin nêu ra những nhận xét trên đây. Chúng tôi mong ước rằng có vị nào thông thạo tiếng Khmer hay tiếng Thái lưu tâm đến vấn đề này để làm sáng thêm ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn yêu dấu của chúng ta.

    (Viết vào thập niên 80).

     

    © http://vietsciences.free.frhttp://vietsciences.net Nguyễn Ngọc Huy

    Vài hình ảnh Sài Gòn xưa:

     

  • Sài Gòn, trong thanh âm vô lượng

    Sài Gòn, trong thanh âm vô lượng

    Mỗi người dân Sài Gòn nhập cư đều có một cố hương để hoài nhớ. Thành phố này ôm trong lòng nó đủ hạng người với nhiều cung bậc cách biệt, nhưng không biệt xứ. Có cõi quê trở về cho tròn lời hứa Xuân này con trở về, rồi lại khắc khoải nỗi tha hương Lạy mẹ con đi. Đi để về và đi là về.

    Xe Hủ Tíu đặc trưng của người Hoa
    Xe Hủ Tíu đặc trưng của người Hoa

    Vài mươi năm trước, tôi vẫn bị hấp dẫn bởi những tiếng gõ nhịp của xe mì đêm. Những chủ xe mì đẩy dọc vỉa hè ban đêm luôn có một, hai tùy tùng lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm để rao mì bằng tiếng gõ độc đáo.

    Đó là những nhịp điệu không quá chói tai để tránh làm phiền người ngủ sớm.

    Có lần được nói chuyện với A Hoành, một ông già Trung Hoa đầy kiến thức dân gian, ông nói việc gõ mì cũng báo hiệu bang hội và đẳng cấp. Để phát ra tiếng kêu thanh và chắc đó, người bán mì sử dụng hai miếng gỗ dài, mặt hơi cong để tạo âm vang, và sau này thường là hai miếng tre. Hình thức này rất giống với người mõ làng ngày xưa vẫn đi tuần trong thôn xóm, gõ báo sang canh cũng như phòng trộm cắp. Nhưng gõ mì thì nhịp điệu thôi thúc và nhiều nhạc tính hơn.

    A Hoành nói ngày xưa người bán mì rong vỉa hè cũng có bang hội. Người vào nghề bán mì nếu là hạng thứ, chỉ được gõ chứ không được đứng bán. Học gõ rao mì không dễ, có người phải tập một, hai tuần mới được. Người Hoa từ xưa đã mang nghề bán mì đi khắp thế giới để kiếm sống, nên người đến trước có quyền hạn như đại ca. Tiếng rao mì của vùng do đại ca quản lý, tiếng gõ có những âm thanh khác biệt mà dân trong nghề nghe phải biết và tránh lấn vào vùng làm ăn của đại ca như một cách bày tỏ sự tôn trọng.

    Những ngày tháng xã hội biến động, không chỉ ở Trung Hoa hay Việt Nam, những xe mì tham gia hội kín cũng hay dùng tiếng gõ mì như một loại truyền tin mà chính quyền nào cũng bó tay, không tài nào hiểu được.

    Khi thêm hiểu biết, tôi thú vị vì giá trị của tiếng gõ mì như một loại truyền thông tiếp thị đường phố – street marketing, loại quảng bá kinh doanh quan trọng được đưa vào sách giáo khoa của các đại học lớn trên thế giới sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, vậy mà ông cha sử dụng tự nhiên từ một cảm giác trời ban, không cần loằng ngoằng lý luận.

    Năm 1995, khi ông vua nhạc pop Michael Jackson phát hành album History, tôi từng sửng sốt khi nghe nhịp điệu của bài They don’t care about us: nó không khác gì nhịp điệu của mì gõ Sài Gòn, được thêm thắt bằng những âm thanh hiện đại. Nhịp điệu thôi thúc và hấp dẫn này lọt vào top 10 của hầu hết các quốc gia châu Âu. Còn tiếng gõ mì, nếu được bình chọn, tôi tin rằng nó sẽ lọt vào top 10 của những âm thanh làm nên một Sài Gòn hoa lệ và bao dung, che chở và nuôi nấng hàng triệu người nhập cư.

    Đã nói đến bình chọn thì không thể không nhắc đến tiếng trống – phèng rao bán đầu lân ông địa mùa Trung thu. Cùng với tiết tấu của hip hop, điệu trống bán đầu lân luôn khiến đám nhỏ nhảy múa quanh chiếc xe. Đứa nào được gia đình cho tiền mua một cái thì như lên tiên, cứ tung tăng không ngừng nghỉ bên nhịp điệu “tùng cheng”. Điệu trống làm trẻ nhỏ nôn nao đó là cột mốc thời gian, báo hiệu một thời khắc của mùa, của đời đang đến.

    Sài Gòn đã nhận vào lòng mình muôn muôn tiếng động, như nhịp đập của trái tim của vùng đất, như hơi thở của thị dân linh hoạt và tự do thiên định trong dòng máu của mình. Vô cùng sáng tạo, người ta có thể nhớ nhiều đến tiếng răng rắc rao đấm bóp đêm, tiếng leng keng của xe bán kem, tiếng kèn bóp hơi của người mua bán ve chai, tiếng mu rùa lốc cốc của người coi bói dạo… kể cả tiếng kèn tây đám ma tiễn đưa người chết.

    Nhưng cũng như tuổi thanh xuân đẹp nhất của mỗi người đã đi qua và không bao giờ trở lại, cô gái Sài Gòn nhiều tuổi hơn và cũng mất mát những điều diễm lệ đời thường đã từng có. Những thanh âm độc đáo đó cũng mất dần. Những tiếng rao hàng cũng xa xôi. Sài Gòn giờ rực rỡ hơn, ồn ào hơn… Nhưng cũng chừng như ít nhiều vô vị.

    Những thanh âm được sáng tạo của người xưa giờ được thay bằng những chiếc loa sắt và các phần ghi âm sẵn. Nền công nghiệp bèo nhèo của hệ thống tiếp thị kinh doanh đường phố đã giết chết những điều rất “người” và kỳ thú còn sót lại của thành phố.

    Tiếng nhạc kẹo kéo giữa những đêm bên các tụ điểm sôi động của Sài Gòn với dòng ca sĩ bắt kịp thời sự của Mỹ, là một dấu ấn khác. Những Michael Jackkeo, những Lady Keokeo…

    Có lẽ rất nhiều người vẫn thầm nghĩ tiếng loa rao bán keo bẫy chuột hay tò te tí vô hồn của xe kem cây đời mới, không bao giờ so được với tiếng rao của con người, dù yếu ớt giữa muôn vàn tiếng động đô thị. Nhưng những đổi thay buồn chán đó vẫn được ôm trọn trong lòng Sài Gòn bằng sự bao dung rộng lớn, vì đó cũng là những cách để mưu sinh.

    Trong những điều rất mới của âm thanh Sài Gòn, có những chiếc xe ba gác chở đầy đĩa nhạc, xập xình những bài hát được yêu chuộng. Nhưng âm thanh được phát ra trên những chuyến xe đó, vang vọng lời ca một thời của Thanh Tuyền, Duy Khánh, Sĩ Phú… cũng là những điều xưa cũ, hoặc làm người ta nhớ đến những điều rất xưa cũ.

    Sài Gòn là vậy đó. Sài Gòn bao dung ôm trong lòng mình tương lai nhưng không bao giờ phản bội quá khứ.

    Tuấn Khanh
    (12/2013)
    Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2014/04/02/saigon-trong-thanh-am-vo-luong/

  • Hình ảnh xưa ở miền Bắc thời Pháp thuộc

    Hình ảnh xưa ở miền Bắc thời Pháp thuộc

    Ðường qua ải Nam Quan
    Ðường qua ải Nam Quan
    Các vị sư
    Các vị sư
    Một ngôi chùa ở Hải Phòng
    Một ngôi chùa ở Hải Phòng
    Một ngôi chùa ở Hưng Yên
    Một ngôi chùa ở Hưng Yên
    Một ngôi chùa ở Hải Phòng
    Một ngôi chùa ở Hải Phòng
    Vịnh Hạ Long thời xưa
    Vịnh Hạ Long
    Mũi Ðồ Sơn
    Mũi Ðồ Sơn
    Hòn Gai
    Hòn Gai
    Miền quê Nam Ðịnh
    Miền quê Nam Ðịnh
    Ải Nam Quan
    Ải Nam Quan
    Ruộng lúa
    Ruộng lúa
    Sơn Tây
    Sơn Tây
    Thái Hà
    Thái Hà
    Một làng bị ngập
    Một làng bị ngập
    Hải Phòng ngày xưa
    Hải Phòng ngày xưa
    Bức tượng Jules Ferry (1904)
    Bức tượng Jules Ferry (1904)
    Bức tượng Jules Ferry
    Bức tượng Jules Ferry
    Ðại lộ Paul-Bert
    Ðại lộ Paul-Bert
    miền quê Hải Phòng
    miền quê Hải Phòng
    Ðiệu múa dân tộc
    Ðiệu múa dân tộc
    Một bến tàu
    Một bến tàu
    Phố người Tàu ở Hải Phòng
    Phố người Tàu ở Hải Phòng
    Thành Phố Hải Phòng thời Pháp
    Thành Phố Hải Phòng thời Pháp
    Trường đua ngựa tại Hải Phòng
    Trường đua ngựa tại Hải Phòng
    Thành Phố Cảng Hải Phòng
    Thành Phố Cảng Hải Phòng
    Đua tàu tại Hải Phòng
    Đua tàu tại Hải Phòng
    Thành Hà nội xưa
    Thành Hà nội xưa
    Bưu điện Hà Nội
    Bưu điện Hà Nội
    Trường đua ngựa Hà Nội
    Trường đua ngựa Hà Nội
    Triển lãm Hà Nội (1902)
    Triển lãm Hà Nội (1902)
    Triển lãm Hà Nội (1902)
    Triển lãm Hà Nội (1902)
    Nhà Ga Hà Nội
    Nhà Ga Hà Nội
    Ga Hà Nội
    Ga Hà Nội
    Chợ Đồng Xuân
    Chợ Đồng Xuân
    Thảo cầm viên Hà Nội
    Thảo cầm viên Hà Nội
    Thảo cầm viên ngày xưa
    Thảo cầm viên ngày xưa
    Phố Huế ở Hà Nội thời xưa
    Phố Huế ở Hà Nội
    Hồ Gươm
    Hồ Gươm
    Tượng "La France" tại Hà Nội
    Tượng “La France” tại Hà Nội
    Văn miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội thời xưa
    Văn miếu Quốc Tử Giám
    Nhà sàn nổi trên sông tại Hà Nội xưa
    Nhà sàn nổi trên sông tại Hà Nội xưa
    Phố hàng nón
    Phố hàng nón
    Cầu Long Biên thời Pháp
    Cầu Long Biên thời Pháp
    Một khu phố tại Hà Nội
    Một khu phố tại Hà Nội
    Một-khu-phố-Hà-Nội-thời-Pháp
    Một-khu-phố-Hà-Nội-thời-Pháp
    Nhà hát lớn Hà Nội
    Nhà hát lớn Hà Nội
    Ðường Paul Bert
    Ðường Paul Bert
    Xe điện tại Việt Nam thời Pháp thuộc 1901
    Xe điện tại Việt Nam thời Pháp thuộc 1901
    Tháp Hòa Phong, di tích còn lại của chùa Báo Ân
    Tháp Hòa Phong, di tích còn lại của chùa Báo Ân
    Nhà hát xưa
    Nhà hát xưa
    Phố cờ đen
    Phố cờ đen
    Phố hàng quạt
    Phố hàng quạt
    Rước kiệu quan lớn
    Rước kiệu quan lớn
    Cảnh ngoài đền Ngọc Sơn
    Cảnh ngoài đền Ngọc Sơn
  • Bến – thuyền Sài Gòn xưa

    Bến – thuyền Sài Gòn xưa

    Sài Gòn xưa – Người và Cảnh: Trên bến dưới thuyền

    Cầu Ba Cẳng ở Chợ Lớn
    Cầu Ba Cẳng ở Chợ Lớn, gần phía sau chợ Kim Biên nay không còn nữa. Cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, nay lấp thành đường Bãi Sậy và Phạm Văn Khoẻ quận 6. Cầu Ba cẳng nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hủ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành và chân kia ở bến Vạn Tượng. Đoạn cuối rạch này vẫn chưa lấp, và cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập.
    Buôn bán gạo trên sông Chợ Lớn xưa
    Buôn bán gạo trên sông Chợ Lớn xưa

     

    Xe xích lô máy Sài Gòn
    Xe xích lô máy Sài Gòn
    Cầu Ba Cẳng bắc qua rạch Bãi Sậy, gần Chợ Bình Tây, và gần phía sau chợ Kim Biên (chợ Kim Biên chỉ mới có sau 1975, trước đó vị trí chợ là một công viên). Chân cầu bên phải là đường Gò Công ngày nay.
    Cầu Ba Cẳng bắc qua rạch Bãi Sậy, gần Chợ Bình Tây, và gần phía sau chợ Kim Biên (chợ Kim Biên chỉ mới có sau 1975, trước đó vị trí chợ là một công viên). Chân cầu bên phải là đường Gò Công ngày nay.
    Bến cảng Sài Gòn
    Bến cảng Sài Gòn
    Bến cảng Sài Gòn 2
    Bến cảng Sài Gòn 2
    Góc cảng Sài Gòn xưa
    Góc cảng Sài Gòn xưa
    bánh mì mới ra lò nóng hổi vừa thổi vừa an đêêêy…
    bánh mì mới ra lò nóng hổi vừa thổi vừa an đêêêy…
    Bến đò Thủ Thiêm xưa
    Bến đò Thủ Thiêm xưa
    Bến Bình Đông ngày xưa
    Bến Bình Đông ngày xưa
    Cuộc sống sông nước người Sài Gòn xưa
    Cuộc sống sông nước người Sài Gòn xưa
    Bữa cơm đạm bạc
    Bữa cơm đạm bạc
    Đời sông nước
    Đời sông nước
    Sơ chế ngao
    Sơ chế ngao
    bến Bạch Đằng
    bến Bạch Đằng
    Bến đò ở Sài Gòn những năm 1960
    Bến đò ở Sài Gòn những năm 1960
    CHỢ LỚN – KÊNH BONNARND
    CHỢ LỚN – KÊNH BONNARND
    Chợ Lớn cũ
    Chợ Lớn cũ
    Bến đò Thủ Thiêm - Bến Nhà Rồng
    Bến đò Thủ Thiêm – Bến Nhà Rồng
    BOULEVARND DE LA SOME – ĐẠI LỘ HÀM NGHI
    BOULEVARND DE LA SOME – ĐẠI LỘ HÀM NGHI

    Theo Huỳnh Minh Tú 

  • Bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975

    Bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975

    Tìm thấy một Sài Gòn hoa lệ qua những bức ảnh màu cực đẹp hết sức quý giá.

    Những bức ảnh màu mộc mạc gợi nhớ về một đô thị hoa lệ từng đứng bậc nhất Đông Nam Á. Hình ảnh Việt Nam xin giới thiệu bộ ảnh đẹp về Sài Gòn xưa, trước năm 1975.

    Bán cơm trưa cạnh dãy kiosque trên Đại Lộ Nguyễn Huệ 1966
    Bán cơm trưa cạnh dãy kiosque trên Đại Lộ Nguyễn Huệ 1966
    Bùng binh chợ Bến Thành
    Bùng binh chợ Bến Thành
    Các bác tài xế xích lô máy
    Các bác tài xế xích lô máy
    Các em bé Sài Gòn thật hồn nhiên và dễ thương trong cuộc sống tạm bợ, vất vả giữa cuộc chiến.
    Các em bé Sài Gòn thật hồn nhiên và dễ thương trong cuộc sống tạm bợ, vất vả giữa cuộc chiến.
    Cảng Sài Gòn 1965
    Cảng Sài Gòn 1965
    Trang phục Cảnh Sát Giao Thông ngày xưa
    Trang phục Cảnh Sát Giao Thông ngày xưa
    Chợ Cũ trên Đại lộ Hàm Nghi
    Chợ Cũ trên Đại lộ Hàm Nghi
    Chợ Lớn 1965 – góc Đồng Khánh – Phù Đổng Thiên Vương
    Chợ Lớn 1965 – góc Đồng Khánh – Phù Đổng Thiên Vương
    Chợ trời - nơi buôn bán những hàng hóa cũ
    Chợ trời – nơi buôn bán những hàng hóa cũ
    City Hall – Tòa Đô Chánh 1968
    City Hall – Tòa Đô Chánh 1968
    Công Trường Lam Sơn
    Công Trường Lam Sơn
    Đường Đinh Tiên Hoàng, bên trái là ĐH Canh Nông, bên phải là Đài Truyền Hình
    Đường Đinh Tiên Hoàng, bên trái là ĐH Canh Nông, bên phải là Đài Truyền Hình
    Đường Hai Bà Trưng 1968-1969
    Đường Hai Bà Trưng 1968-1969
    Đường lên sân bay Tân Sơn Nhất, nay là đường Trường Sơn
    Đường lên sân bay Tân Sơn Nhất, nay là đường Trường Sơn
    Đường Nguyễn Văn Thinh 1967, nay là Mạc Thị Bưởi.
    Đường Nguyễn Văn Thinh 1967, nay là Mạc Thị Bưởi.
    Đường Phan Châu Trinh, phía bên trái chợ Bến Thành
    Đường Phan Châu Trinh, phía bên trái chợ Bến Thành
    Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ
    Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ
    Góc đường Tự Do – Thái Lập Thành (nay là Đồng Khởi – Đông Du) – 1974
    Góc đường Tự Do – Thái Lập Thành (nay là Đồng Khởi – Đông Du) – 1974
    Góc Hai Bà Trưng – Hiền Vương (Võ Thị Sáu) – 1968
    Góc Hai Bà Trưng – Hiền Vương (Võ Thị Sáu) – 1968
    Góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão
    Góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão
    Kênh Nhiêu Lộc – trên cầu Công Lý nhìn về phía cầu Trương Minh Giảng, toà nhà cao là ĐH Vạn Hạnh
    Kênh Nhiêu Lộc – trên cầu Công Lý nhìn về phía cầu Trương Minh Giảng, toà nhà cao là ĐH Vạn Hạnh
    Khu vực bùng binh gần Thương xá Tax
    Khu vực bùng binh gần Thương xá Tax
    Kiến trúc bên hông chợ Bình Tây
    Kiến trúc bên hông chợ Bình Tây
    Món ăn “chơi” thịnh hành của dân SG từ xưa đến nay: Bò bía
    Món ăn “chơi” thịnh hành của dân SG từ xưa đến nay: Bò bía
    Một bãi giữ xe chật kín chỗ tại khu vực trung tâm thành phố
    Một bãi giữ xe chật kín chỗ tại khu vực trung tâm thành phố
    Mưa Sài Gòn trên đường Tư do (Đồng Khởi) nhìn từ góc khách sạn Continental ngày nay
    Mưa Sài Gòn trên đường Tư do (Đồng Khởi) nhìn từ góc khách sạn Continental ngày nay
    Ngã 7 Lý Thái Tổ
    Ngã 7 Lý Thái Tổ
    Ngã tư Hồng Thập Tự (1966 - 1972) - Pasteur
    Ngã tư Hồng Thập Tự (1966 – 1972) – Pasteur
    Ngã tư Trần Hưng Đạo – Phát Diệm, nay là Trần Đình Xu
    Ngã tư Trần Hưng Đạo – Phát Diệm, nay là Trần Đình Xu
    Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
    Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
    Nhà hàng nổi tiếng Maxim, đường Tự Do
    Nhà hàng nổi tiếng Maxim, đường Tự Do
    Nữ sinh SG thời xưa trong đồng phục áo dài trắng truyền thống
    Nữ sinh SG thời xưa trong đồng phục áo dài trắng truyền thống
    Phương tiện đi lại thịnh hành là xe vespa
    Phương tiện đi lại thịnh hành là xe vespa
    Quán bar khá nổi thời SG xưa_ Nữu Ước, nằm trên đường Hai Bà Trưng
    Quán bar khá nổi thời SG xưa_ Nữu Ước, nằm trên đường Hai Bà Trưng
    Quang cảnh SG nhìn từ khách sạn Metropole
    Quang cảnh SG nhìn từ khách sạn Metropole
    Rạp Casino Dakao, Đinh Tiên Hoàng 1967-1968
    Rạp Casino Dakao, Đinh Tiên Hoàng 1967-1968
    Rạp chiếu phim Rex
    Rạp chiếu phim Rex
    Rạp hát Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương
    Rạp hát Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương
    Sài Gòn đã lên đèn
    Sài Gòn đã lên đèn
    Sân Phan Đình Phùng, hình chụp góc Công Lý – Trần Quý Cáp
    Sân Phan Đình Phùng, hình chụp góc Công Lý – Trần Quý Cáp
    Sạp báo với chủ nhân nằm dài đánh một giấc ngủ trư
    Sạp báo với chủ nhân nằm dài đánh một giấc ngủ trưa
    Sài Gòn về đêm
    Sài Gòn về đêm
    Tòa nhà Quốc Tế, đường Nguyễn Huệ 1969
    Tòa nhà Quốc Tế, đường Nguyễn Huệ 1969
    Trên đường Tự Do, gần góc đường Gia Long. Nhà tường vàng là bộ kinh tế VNCH
    Trên đường Tự Do, gần góc đường Gia Long. Nhà tường vàng là bộ kinh tế VNCH
    Xe lam chạy lên Chợ Lớn
    Xe lam chạy lên Chợ Lớn
    Xe lam Sài Gòn xưa
    Xe lam Sài Gòn xưa
    Xe Velo Solex được sử dụng rộng rãi
    Xe Velo Solex được sử dụng rộng rãi

    Xem thêm: Người đẹp Sài Gòn xưa: Chiếc Solex và tà áo dài 

    Xe xích lô có mặt khắp nơi
    Xe xích lô có mặt khắp nơi

     

  • Ảnh màu cực đẹp về miền Bắc Việt Nam trước 1975

    Ảnh màu cực đẹp về miền Bắc Việt Nam trước 1975

    Những bức ảnh màu vô giá về miền Bắc Việt Nam trước 1975 hết sức chân thực do Thomas Billhardt – phóng viên chiến trường nổi tiếng của CHDC Đức thực hiện vào thời kỳ chiến tranh chống Mỹ sẽ khiến nhiều người xúc động mạnh…

    Xem thêm hình ảnh Miền Bắc thời Pháp thuộc

    Mối tình thời chiến., anh mau Viet Nam xua nguoi linh cong san
    Mối tình thời chiến.
    Một cầu tạm đang được dựng cạnh một cây cầu bị bom Mỹ đánh sập
    Một cầu tạm đang được dựng cạnh một cây cầu bị bom Mỹ đánh sập
    Một thanh niên xung phong châm thuốc cho một người lớn tuổi trên nghĩa địa. Cả hai đều mất một chân.
    Một thanh niên xung phong châm thuốc cho một người lớn tuổi trên nghĩa địa. Cả hai đều mất một chân.
    Tại nhà xác, một người bà đau đớn trước thi thể đứa cháu bị chết vì bom đạn Mỹ.
    Tại nhà xác, một người bà đau đớn trước thi thể đứa cháu bị chết vì bom đạn Mỹ.
    Cảnh tan hoang sau các trận oanh tạc của máy bay Mỹ.
    Cảnh tan hoang sau các trận oanh tạc của máy bay Mỹ.
    Người dân tìm kiếm tài sản còn sót lại trong đống đổ nát của ngôi nhà mình.
    Người dân tìm kiếm tài sản còn sót lại trong đống đổ nát của ngôi nhà mình.
    Các nạn nhân của bom đạn Mỹ trong một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất.
    Các nạn nhân của bom đạn Mỹ trong một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất.
    Một số người đã vĩnh viễn mất đi một phần thân thể.
    Một số người đã vĩnh viễn mất đi một phần thân thể.
    Khuôn mặt thẫn thờ của một người phụ nữ bị thương nhẹ.
    Khuôn mặt thẫn thờ của một người phụ nữ bị thương nhẹ.
    Các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân dưới ánh sáng của đèn dầu.
    Các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân dưới ánh sáng của đèn dầu.
    Một thi thể không toàn vẹn được đưa ra từ ngôi nhà đổ nát.
    Một thi thể không toàn vẹn được đưa ra từ ngôi nhà đổ nát.
    Cuộc mít-tinh lớn được tổ chức ở quảng trường Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội
    Cuộc mít-tinh lớn được tổ chức ở quảng trường Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội
    Các nữ quân nhân tham gia cuộc mít-tinh.
    Các nữ quân nhân tham gia cuộc mít-tinh.
    Tập quân sự ngay trên đường phố
    Tập quân sự ngay trên đường phố
    Người dân di chuyển bằng đò trên suối Yến, khu vực chùa Hương.
    Người dân di chuyển bằng đò trên suối Yến, khu vực chùa Hương.
    Những quả mìn được đào lên bên một con đường đất
    Những quả mìn được đào lên bên một con đường đất
    Người dân nghỉ ngơi ven đường trên hành trình sơ tán.
    Người dân nghỉ ngơi ven đường trên hành trình sơ tán.
    Canh giữ một gián điệp thâm nhập vào miền Bắc
    Canh giữ một gián điệp thâm nhập vào miền Bắc
    Trên một xe chở thương binh.
    Trên một xe chở thương binh.
    Hai chị em chăn trâu.
    Hai chị em chăn trâu.
    Cậu bé biến mình trâu thành bảng đen để học làm toán.
    Cậu bé biến mình trâu thành bảng đen để học làm toán.
    Một thương binh bên cạnh đồng đội.
    Một thương binh bên cạnh đồng đội.
    Hai em bé được mẹ chở bằng xe đạp trên phố
    Hai em bé được mẹ chở bằng xe đạp trên phố
    Giúp bố thồ gỗ.
    Giúp bố thồ gỗ.
    Bé gái ngồi bên miệng hầm trú ẩn.
    Bé gái ngồi bên miệng hầm trú ẩn.
    Hai chị em.
    Hai chị em.
    Hờn dỗi khi bị bạn bè trêu chọc.
    Hờn dỗi khi bị bạn bè trêu chọc.
    Nữ dân quân nựng yêu con nhỏ
    Nữ dân quân nựng yêu con nhỏ
    Em bé cưỡi trâu chạy trốn cơn mưa
    Em bé cưỡi trâu chạy trốn cơn mưa
    Một họa sĩ sáng tác trên công trường xây dựng
    Một họa sĩ sáng tác trên công trường xây dựng
    Phút đăm chiêu của em bé dân tộc miền núi.
    Phút đăm chiêu của em bé dân tộc miền núi.
    Các chiến sĩ bên bệ phóng tên lửa phòng không
    Các chiến sĩ bên bệ phóng tên lửa phòng không
    Em bé ngồi trong hầm tránh bom.
    Em bé ngồi trong hầm tránh bom.
    Một khu phố bị bom Mỹ tàn phá
    Một khu phố bị bom Mỹ tàn phá
    Một "giặc lái" Mỹ bị bắt sống sau khi bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc
    Một “giặc lái” Mỹ bị bắt sống sau khi bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc
    Nữ dân quân áp giải anh chàng "giặc lái".
    Nữ dân quân áp giải anh chàng “giặc lái”.
    Tù binh Mỹ lau nước mắt khi đọc thư nhà tại mội trại giam.
    Tù binh Mỹ lau nước mắt khi đọc thư nhà tại mội trại giam.
    Em bé thổi sáo trên lưng trâu
    Em bé thổi sáo trên lưng trâu
    Trong vòng tay của bố
    Trong vòng tay của bố

    Hình Ảnh Việt Nam sưu tầm

  • Những bức hình hiếm về miền trung năm 1970

    Những bức hình hiếm về miền trung năm 1970

    Những hình ảnh hiếm hoi ở Việt Nam ghi lại cuộc sống của những người dân Huế và Đà Nẵng khoảng thời gian 1970. Chúng là ảnh màu và được đăng tải trên trang Swan Point Studio.

    Những bức hình hiếm về Miền Trung những năm 1970

    Một người đàn ông đạp xích lô kế bên là người người lính chế độ cũ đi xe máy
    Một người đàn ông đạp xích lô kế bên là người người lính chế độ cũ đi xe máy
    Hai cô gái tươi cười bên hoàng thành Huế
    Hai cô gái tươi cười bên hoàng thành Huế
    Các cô gái đang ngồi ôn bài
    Các cô gái đang ngồi ôn bài
    Các thiếu nữ giặt rũ bên sông Hương
    Các thiếu nữ giặt rũ bên sông Hương
    Dân chài đang tụ tập
    Dân chài đang tụ tập
    Hai chiếc thuyền đánh cá trên sông
    Hai chiếc thuyền đánh cá trên sông
    Ngôi chùa xứ Huế
    Ngôi chùa xứ Huế
    Một hiệu cắt tóc ở nông thôn
    Một hiệu cắt tóc ở nông thôn
    Các quán bar ở Đà nẵng
    Các quán bar ở Đà nẵng
    Tàu tuần tra được đưa đi sửa ở Đà Nẵng
    Tàu tuần tra được đưa đi sửa ở Đà Nẵng
    Một khách sạn bị tấn công trong những năm 1968.
    Một khách sạn bị tấn công trong những năm 1968.
    Thành phố Huế dịp tết
    Thành phố Huế dịp tết
    Hai nữ sinh trên chiếc Honda
    Hai nữ sinh trên chiếc Honda
    Bến thuyền
    Bến thuyền
    Xóm chài Huế
    Xóm chài Huế
    Những khu nhà ổ chuột
    Những khu nhà ổ chuột
    Một trang trại
    Một trang trại
    Làng quê nghèo
    Làng quê nghèo
    Nấu ăn trưa
    Nấu ăn trưa
    Cảnh làng quê
    Cảnh làng quê
    Ngư dân chuẩn bị đi biển
    Ngư dân chuẩn bị đi biển
    Thả bò ven biển
    Thả bò ven biển
    Tuần tuần tra Mỹ ở Miền Trung
    Tuần tuần tra Mỹ ở Miền Trung
  • Phú Yên 1970-1971 qua góc ảnh của Steve

    Ảnh về thành phố Tuy Hòa- Phú Yên được chụp bởi Steve (MACV Advisory Team 280) trong chuyến hành trình khám chữa bệnh những năm 1970-1971.

    PHÚ YÊN 1970-71. Một con đường lớn ở Tuy Hoa
    PHÚ YÊN 1970-71. Một con đường lớn ở Tuy Hoa
    PHÚ YÊN 1970-71 - Waiting to cross bridge
    PHÚ YÊN 1970-71 – Waiting to cross bridge
    Cầu Ông Chừ, đầu QL25
    Cầu Ông Chừ, đầu QL25
    Một khung cảnh bình dị tại làng quê Phú Yên
    Một khung cảnh bình dị tại làng quê Phú Yên
    PHÚ YÊN 1970-71 - ARVN's at MEDCAP
    PHÚ YÊN 1970-71 – ARVN’s at MEDCAP
    Xe lam -  "xe buýt" của thời  xưa
    Xe lam – “xe buýt” của thời xưa
    PHÚ YÊN 1970-71 - MEDCAP
    PHÚ YÊN 1970-71 – MEDCAP
    Bờ biển gần vịnh Vũng Rô
    Bờ biển gần vịnh Vũng Rô
    Một cầu tàu ở Vũng Rô
    Một cầu tàu ở Vũng Rô
    Tàu đánh cá ở Vũng Rô
    Tàu đánh cá ở Vũng Rô
    Trẻ em câu cá tại Vũng Rô
    Trẻ em câu cá tại Vũng Rô
    Bãi biển Vũng Rô
    Bãi biển Vũng Rô
    Con đường dọc bờ biển VŨng Rô
    Con đường dọc bờ biển VŨng Rô

    Sông Cầu là thị xã nằm ở ven biển địa đầu của tỉnh Phú Yên. Đồi núi chiếm đa số, xen kẽ là một số cánh đồng lúa nhỏ.

    Thị xã Sông Cầu 1970
    Thị xã Sông Cầu 1970
    Huyện Đồng Xuân, Phú Yên
    Huyện Đồng Xuân, Phú Yên
    Huyện Sơn Hòa, Phú Yên
    Huyện Sơn Hòa, Phú Yên
    Một khung cảnh làng quê Sơn Hòa
    Một khung cảnh làng quê Sơn Hòa
  • Sài Gòn xưa: Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam!

    Sài Gòn xưa: Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam!

    Tự hào với siêu thị đầu tiên của Việt Nam ở Sài Gòn !

    Siêu thị Nguyễn Du, khu siêu thị đầu tiên ở Sài Gòn và có thể nói là toàn cõi VN mở cửa năm 1967, mang đến cho nhiều gia đình công tư chức ở Sài Gòn những tiện lợi trong chuyện mua sắm mà trước đó không hề có.

    Diễn viên điện ảnh Kiều Chinh đến mua hàng tại siêu thị Nguyễn Du trước 1975
    Diễn viên điện ảnh Kiều Chinh đến mua hàng tại siêu thị Nguyễn Du trước 1975
    Một dịp sát tết, tôi được đến siêu thị với anh trai, thấy nó giống một cửa hàng cực lớn, máy lạnh mát rượi và đầy những thứ lạ lẫm. Khách mua hàng toàn những người lớn ăn bận lịch sự, nam với áo chemise bỏ vào quần, những người lính và nhiều phụ nữ bận áo dài. Do xe đẩy không có nhiều như bây giờ, khách mua hàng toát mồ hôi sắp hàng tính tiền, tay lủ khủ hàng hóa trong những cái túi lưới.
    Siêu thị Nguyễn Du được thiết lập ở góc đường Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh, Sài Gòn (hai con đường này nay thuộc quận 1, tên đường không thay đổi cho đến nay) do Tổng cuộc Tiếp tế thành lập. Theo một số tài liệu, năm 1966, ông Trần Đỗ Cung, đứng đầu cơ quan trên được giao nhiệm vụ quân bình thị trường. Ngoài việc cấp bách như giải quyết những việc cần thiết cho đời sống người dân như nhập xe gắn máy, điều hòa việc phân phối thịt heo, gạo, ông dự tính thiết lập tại VN các trung tâm bán lẻ để phục vụ đại chúng, nhất là những người có đồng lương ổn định.
    Đầu tháng 2.1967, một phái đoàn do ông Cung cử ra đã đến thăm chợ Mỹ (Commissary) ở đường Hùng Vương, Chợ Lớn để quan sát hoạt động cùng cách tổ chức của cơ sở này. Sau đó một tuần, ông Trần Đỗ Cung cùng một chuyên viên tài chính lên đường đi Philippines theo lời mời của Tập đoàn siêu thị Makati ở thủ đô Manila để nghiên cứu về quản lý, kiểm soát, tổ chức và sản xuất thực phẩm. Họ còn tiếp tục đến Hồng Kông, Singapore để tham quan các siêu thị. Sau đó, tổ chức đào tạo về cách vận hành siêu thị cho nhân viên và tổ chức một khu chợ tết vào tháng 1.1967, vừa để phục vụ việc mua sắm tết vừa tổ chức buôn bán theo hình thức mới để huấn luyện nhân viên của mình.
    Theo hồi ký của ông Trần Đỗ Cung xuất bản tại Mỹ năm 2011, một kiến trúc sư người Đức tên Meier đã được thuê vẽ họa đồ xây cất siêu thị, phối hợp với Công ty NCR về trang bị, thiết bị bên trong. Ngày 16.10.1967, siêu thị đầu tiên ở VN chính thức ra đời, mở đầu một kỷ nguyên mới cho ngành bán lẻ. Từ cửa vào, khách đi tay không vô siêu thị bằng một cửa quay, tự lấy một giỏ xách hay xe đẩy và đi lựa chọn hàng đã ghi sẵn giá trên kệ. Chọn xong, họ tính tiền ở các quầy thu ngân có máy tính tự động. Siêu thị này có 6 quầy thu ngân ở cửa ra, trong đó có một “quầy hỏa tốc” dành cho những người mua ít hàng. Còn có một lối ra cho người không mua hàng. Cách thức không khác gì siêu thị ngày nay, nhưng khi nó được áp dụng cách nay gần 50 năm thì là một sự ngạc nhiên và kỳ thú đối với khách mua hàng Sài Gòn. Trong hồi ký, tác giả tả không khí lúc đó: “Siêu thị đã hoàn tất trên đường Nguyễn Du, có bãi đậu xe rộng rãi. Ngày khai trương cả đoàn xe Honda, Mobylette và Vespa rầm rập kéo đến chở vợ con hí hửng bước vào ngôi chợ tối tân mới mở cửa, phục dịch khách mua hàng một cách niềm nở và lịch sự”.
    Sau khi khai trương hơn một tháng, siêu thị Nguyễn Du tổ chức một sự kiện đánh dấu sự thành công của mình. Khi người khách thứ 100.000 đến đây và đặt tay vào cửa quay, loa phóng thanh phát to: “Hoan nghênh công dân siêu thị thứ 100.000, là anh Lê Văn Sâm…”. Anh được choàng băng kỷ niệm và được ông quản đốc trao tặng giải thưởng trị giá 10.000 đồng.
    Siêu thị Nguyễn Du nằm trên diện tích 30.000 m2, ở một khu phố còn vắng vẻ không phù hợp cho việc buôn bán lắm nhưng khi siêu thị được lập ra, số khách hàng lui tới được đánh giá là “ngoài mức tưởng tượng”. Trung bình mỗi ngày có khoảng 2.500 người đến mua sắm và doanh thu mỗi ngày tối đa là 1,5 triệu đồng thời đó.
    Trước khi siêu thị được thành lập, trong giới doanh thương Sài Gòn, tuy rất nhanh nhạy với cái mới đã có nhiều ý kiến cho rằng đây là việc làm “không tưởng”. Tuy nhiên, Tổng cuộc Tiếp tế với ý định sẽ thiết lập các chuỗi dây chuyền siêu thị tư nhân đã không chùn bước. Sau khi siêu thị này hình thành ít lâu, họ nhận được nhiều thư tán thưởng và nhiều tư nhân tấp nập gửi đơn đến đề nghị cộng tác thiết lập siêu thị tư nhân dưới hình thức này hay hình thức khác. Đến tháng 12, đã có hai siêu thị tư nhân cỡ nhỏ là An Đông và Đoàn Thị Điểm mở ra. Cái thứ ba ở Biên Hòa được trang bị để mở vào Tết Mậu Thân năm 1968.
    Siêu thị này và những siêu thị nhỏ khác ở Sài Gòn và các vùng lân cận hoạt động đến 1975 thì chấm dứt. Sau đó là khoảng thời gian vắng bóng siêu thị cho đến gần 20 năm sau mới xuất hiện trở lại (khoảng 1993). Đến nay nhiều người vẫn cho rằng, siêu thị ở VN bắt đầu quá muộn mà không biết nó đã hình thành từ gần nửa thế kỷ nay và đã được tổ chức hoạt động rất tốt không khác gì các siêu thị bây giờ.
    Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Siêu thị đầu tiên ở Việt Nam - Sài Gòn xưa 1967Những hình ảnh tư liệu về siêu thị Nguyễn Du - siêu thị đầu tiên ở Việt Nam

    Đi trước cả Bangkok

    Sau khi siêu thị Nguyễn Du được thành lập không lâu, ông Cung được SMI (Viện Siêu thị – Super Marketing Institute) mời qua Bangkok (Thái Lan) gặp các nhà buôn Thái để trình bày kinh nghiệm khi hình thành siêu thị đầu tiên này. Như vậy, dù đang trong hoàn cảnh chiến tranh, Sài Gòn đã đi trước Bangkok, một thành phố lớn sống trong hòa bình về việc buôn bán lẻ qua hệ thống siêu thị.

    (Trích từ Sài Gòn – Chuyện đời của phố phần 2 do NXB Văn hóa – Văn nghệ TP.HCM và Phương Nam Book ấn hành)

    Theo vivusaigo

  • Trụ sở của hãng xăng dầu Shell năm 1965

    Trụ sở của hãng xăng dầu Shell năm 1965

    Trụ sở của hãng xăng dầu Shell năm 1965. Shell chiếm hơn 60% thị phần xăng dầu miền Nam trong thập niên 1960s. Hiện nay tòa nhà này thuộc về Petrolimex.  Ít ai biết năm 1952-1953, tại số 7 đại lộ Thống Nhứt (Lê Duẩn) cũng là nơi ở của nhân viên hãng Shell. Sau 1954 thì trở thành Phủ Thủ Tướng (VNCH) đến tận 1975 và bây giờ là Văn Phòng Chính Phủ tại TP.HCM.  Ảnh: Charles F. Rauch, Jr. Collection
    Trụ sở của hãng xăng dầu Shell năm 1965. Shell chiếm hơn 60% thị phần xăng dầu miền Nam trong thập niên 1960s. Hiện nay tòa nhà này thuộc về Petrolimex.
    Ít ai biết năm 1952-1953, tại số 7 đại lộ Thống Nhứt (Lê Duẩn) cũng là nơi ở của nhân viên hãng Shell. Sau 1954 thì trở thành Phủ Thủ Tướng (VNCH) đến tận 1975 và bây giờ là Văn Phòng Chính Phủ tại TP.HCM.
    Ảnh: Charles F. Rauch, Jr. Collection