SAIGON 1965-67 – Tân Cảng Saigon khi bắt đầu xây dựng
Saigon 1966 – Rice Paddy Selected To Become the Site Of Newport Khu ruộng lúa cạnh sông SG được chọn để xây dựng Tân Cảng. January 1966
Tháng 2/1966: Tân Cảng trong giai đoạn đầu xây dựng. Khó thể tin được là mỗi ngày có tới 3.000 mét khối cát được ghe thuyền chở đến giao cho công trường san lấp mặt bằng
Saigon 1966 – Fill Operations of Phase I at Newport Công tác san lấp mặt bằng Giai đoạn I . April 1966
1966-67 U.S. Building of Newport Terminal on Saigon River Toàn bộ nền khu vực nhà kho được xây dựng trên cọc, nhờ vậy tại vị trí cầu cảng có được mớn nước sâu cho tàu tải trọng lớn.
Tân cảng Saigon, phía trên là cầu Saigon trên xa lộ SG-Biên Hòa (cầu SAIGON chiều dài 986,12 m, rộng 24 m, khởi công tháng 11-1958 và khánh thành 28-6-1961)
Tân Cảng Saigon – Saigon Newport 1965-1967khánh thành Tân cảng của Mỹ tại SGTân Cảng SG – Aerial of ships docked in Saigon NewportNewport Bridge – Highway 1A Photos from Bob Shanta – 551st Trans. Co. June 1968 – July 1969Arial View of Saigon 1966 – Khu vực cầu SG và Xa lộ Saigon – Biên Hòa đoạn đường lượn cong nay là Điện Biên Phủ, góc dưới bên trái là cầu SG và Tân cảng của Mỹ đang xây dựng – Source: Don’s Galleries
Tân Cảng Saigon
Aerial view of Saigon river near Newport. 8 May 1970
Không ảnh toàn bộ khu vực dự án xây dựng Tân Cảng của QĐ Mỹ
Nguyen Hue BlvdSAIGON 1965 – Nhà Văn HóaSAIGON 1965 – City HallSAIGON 1965 – Lam Son SquareSAIGON 1965 – Công viên Đống Đa trước Tòa Đô ChánhSAIGON 1965 – Những đứa trẻ đánh giày trên Công trường Mê LinhSAIGON 1965 – Bến Bạch ĐằngRạch Cầu Bông chụp từ Cầu Mới hướng về thượng lưuSAIGON 1965 – Vũng nước cạnh đường vào sân bay TSN: tắm người, tắm ngựa, cả tắm xe… Nay là Công viên Hoàng Văn ThụSAIGON 1965 – Giao lộ Nguyễn Cư Trinh-Trần Hưng Đạo – Rạp Lê NgọcSAIGON 1965 – Chùa Phước Viên, ngã tư Hàng XanhSAIGON 1965 – Xe đám maStation Hospital – Bệnh viện Hải Quân Mỹ trên đường Trần Hưng Đạo, đối diện KS MetropoleSAIGON 1965 – Đường Bạch Đằng
Đây là Công trường Hồng Bàng, tức khoảng không gian phía trước chợ Bà Chiểu, nơi hôi tụ của 4 con đường: Chi Lăng, Lê Quang Định, Bạch Đằng và Bùi Hữu Nghĩa (chứ không phải đường Hồng Bàng).
Công trường Hồng Bàng phía trước chợ Bà Chiểu
Đường Chi Lăng, cạnh ngã tư Phú Nhuận
SAIGON 1965 – Đường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu Đây là đoạn đường Chi Lăng khi chạy gần tới đường Ngô Tùng Châu ở xa phía trước thì cong sang phải. Xe vespa đang đi về phía Ngã tư Phú Nhuận.SAIGON 1965 – Nguyen Hue BlvdGóc Nguyễn Huệ-Nguyễn Văn ThinhGóc Nguyễn Huệ-Nguyễn Văn ThinhHang đá nhà thờ Thủ ĐứcSAIGON 1965 – Nhà thờ Thủ Đức
Quán Café Brodard góc Tự Do – Nguyễn Thiệp những năm 1963
” … Nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính Tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.
Ba nhà hàng ấy -Brodard, Givral, La Pagode- là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.
Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam… ”
Photo by Ken Hoggard:
Gene Long’s Vietnam Photos 1965 to 1966:
Saigon 1965-66 – Góc Tự Do-Nguyễn Thiệp nhìn từ Café BRODARD
LIFE IN VIETNAM – The Weekly News Magazine – May 14, 1966 Tuần báo tin tức ĐỜI SỐNG TẠI VN. Số 66 ra ngày 14/5/1966. Giá 15$ VN. Phía sau lưng cô gái là cổng Lăng Ông, có lẽ đây chỉ là một ảnh ghép.SAIGON 1965-67 – Góc Phan Thanh Giản và Đinh Tiên Hoàngngã tư Phan Thanh Giản -Đinh Tiên HoàngĐầu đường Phan Thanh Giản
HÌnh bên dưới chụp theo hướng ngược lại:
Saigon street 67-68 – Phan Thanh Giản Photo by Dave De MilnerSài gòn những năm 1965-1967SAIGON 1965-67 – Ngã tư Hàng XanhCầu Phan Thanh Giản nhìn về cầu Thị NghèKhông ảnh Saigon 1966 – Cầu Thị Nghè và cầu Phan Thanh Giản song song nhauXa lộ Biên Hòa, đoạn giữa cầu Phan Thanh Giản và Ngã tư Hàng Xanh, nay là đường Điện Biên PhủChợ Bà ChiềuGóc Lê Quang Định-Bạch Đằng, phía trước chợ Bà ChiểuGóc Lê Quang Định-Bạch Đằng, phía trước chợ Bà ChiểuSAIGON 1965-67 – Góc Lê Quang Định-Bạch Đằng, phía trước chợ Bà ChiểuĐường Đinh Tiên Hoàng, hình chụp tại ngã tư ĐTH-Tự Đức (nay là Nguyễn Văn Thủ) Phía sau cột đèn xanh đỏ trong hình là bảng hiệu của nhà hàng Pháp Restaurant Chez Albertnhà hàng Pháp bình dân “Chez Albert”Đúng hình trên cùng là đường Đinh Tiên Hoàng với nhà hàng Pháp bình dân “Chez Albert” có giàn cửa lưới, và bên trái nhà hàng là một tiệm uốn tócĐường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu) Trong hình là đoạn đường Chi Lăng chạy gần tới đường Ngô Tùng Châu rồi cong sang phải. Các xe vespa đang đi về phía Ngã tư Phú Nhuận.SAIGON 1965-67 – Phi trường Tân Sơn NhấtSAIGON 1965-67 – Phi trường Tân Sơn NhấtSAIGON 1965-67 – Phi trường Tân Sơn NhấtThần Phong 83 SOG. – Phi trường Tân Sơn NhấtThần Phong 83 SOG Phi trường Tân Sơn NhấtXa lộ Saigon-Biên Hòa . Nhà máy xi măng Hà Tiên sản xuất Portland cement cung cấp cho Miền Nam. HÌnh chụp từ phía Thủ Đức về Sài GònTân Cảng Saigon khi bắt đầu xây dựngSAIGON 1965-67SAIGON 1965-67 – Q. Thủ ĐứcSAIGON 1965-67 – Q. Thủ ĐứcSAIGON 1965-67 – Q. Thủ ĐứcPhía xa là Tòa hành Chánh Q. Thủ ĐứcTòa hành Chánh Q. Thủ ĐứcSAIGON 1965-67 – Q. Thủ Đức – Happy children Photo by Bill RussellSAIGON 1965-67 – Q. Thủ Đức – Gánh nước ở vòi nước công cộngBốn cô gái trong ban nhạc nữ The Blue StarsBốn cô gái trong ban nhạc nữ The Blue Stars
Khác với nét đài các của thiếu nữ Hà Nội hay vẻ thùy mị thướt tha của con gái Huế, những thiếu nữ Sài Gòn xưa gây ấn tượng bởi vẻ phóng khoáng, tươi trẻ và tự tin.
Hình ảnh người đẹp Sài Gòn rất gắn bó với những chiếc xe “thời thượng”. Thời đó, những chiếc Vespa chạy trên đường đông như mắc cửi. Dù xe do người đàn ông cầm lái nhưng xe chỉ đẹp khi có các cô gái Sài Gòn trẻ trung, duyên dáng ngồi trên yên sau.
Hot Girl Sài Gòn đi xe Vespa
Phụ nữ Sài Gòn xưa thích trải nghiệm cái mới, chiếc xe Velo Solex, loại xe của Pháp có gắn động cơ phía trước cũng rất được chị em ưa chuộng. Ði Solex là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo vì phía đầu xe rất nặng. Ấy thế mà những cô gái Sài Gòn vẫn tha thướt trên chiếc Solex trước những cặp mắt mê mẩn của cánh đàn ông
Thích sống vui vẻ, ưa hưởng thụ
Phụ nữ Sài Gòn xưa rất thích làm ăn buôn bán kiếm tiền, nhưng tiêu tiền cũng rất “phóng tay”, ưa sống xa hoa, ít chịu tiết kiệm. Bởi thế sự phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn những năm 60 trong mắt nhiều người là “dân chơi thứ thiệt”, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu và dù sống trong khó khăn, nghèo khổ nhưng vẫn giữ cho mình những thú vui giải trí hưởng thụ.
Trên phố, những cô gái dù buổi sáng tất tả bên quầy bán nước giải khát, buổi chiều vẫn cuốn tóc mặc áo dài thoa môi đỏ đi dạo phố. Mẹ dắt bầy con, đứa chạy trước, đứa theo sau, kêu nhau inh ỏi. Họ rất thích mua sắm, trong những cửa hàng, những cô gái ăn mặc đàng hoàng chen lẫn với những người mặc đồ lao động không chút ái ngại, mà trên mặt ai cũng lộ ra vẻ hân hoan hớn hở.
Phụ nữ Sài Gòn xưa rất thích làm ăn buôn bán kiếm tiền, nhưng tiêu tiền cũng rất “phóng tay”
Những năm 60, ngoài những tầng lớp thượng lưu, con gái Sài Gòn thường làm một nghề rất đặc biệt là nghề gánh nước mướn, trở thành một trong số những nghề có chỗ đứng trong xã hội. Lý do vì Sài Gòn những năm 60 chưa có hệ thống nước kéo vào nhà, đồng hồ nước vào thời điểm đó là một trong số những thứ quá xa xỉ. Người dân muốn có nước thì ra các phông – tên đựng nước được lắp sẵn ở những nơi công cộng. Vậy là nảy sinh nhu cầu gánh nước về tận nhà của những gia đình giàu có.
Trong số những cô gái gánh nước mướn thời đó có hoa khôi chân đất Bùi Thị Ba. Tuy rất vất vả cực nhọc nhưng vẻ đẹp mỹ miều của cô đã lọt vào mắt xanh rất nhiều công tử con nhà giàu. Ngày ấy, ngắm nhìn nàng quẩy đôi gánh nước đi về mỗi ngày đã làm xốn xang trái tim chàng hắc công tử nổi tiếng miền Nam thời đó.
Mang nét tinh nghịch, đáng yêu
Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần, phụ nữ Sài Gòn nói chung và nữ sinh Sài Gòn nói riêng lại cùng nhau đi dạo bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Họ vừa đi, vừa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Vào dịp giáp tết, các trường hay tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ. Lúc đó, mỗi trường đều làm Nội san Xuân, xong đóng tập đem bán gây quỹ tặng các bạn nghèo. Những nữ sinh xinh xắn và có tài ăn nói được chọn để lập những nhóm đi bán nội san ở các trường khác. Khoảnh khắc đó thật đáng nhớ khi đang giữa mùa mát trời Sài Gòn, các cô gái bất ngờ vào lớp với tập báo trên tay và nụ cười rạng rỡ trên môi khiến các nam sinh đứng ngồi không yên.
Phong cách thời trang hiện đại
Khoảng giữa những năm 60, các mốt thời trang khác như jupe hay mini jupe và các thứ váy đầm cập nhật nhanh chóng. Nhiều người nước ngoài bước chân vào “hòn ngọc Viễn Đông” thời bấy giờ đã ngỡ ngàng khi thấy thời trang Sài Gòn theo sau phương Tây chỉ sau một vài tháng. Tuy cập nhật “mốt” rất nhanh, phụ nữ Sài Gòn xưa vẫn tự gạn lọc và tìm cách tạo nét riêng cho mình chứ không thích mặc giống nhau hay na ná nhau.
Phụ nữ Sài Gòn xưa với phong cách thời thượng
Áo dài thướt tha cũng là lựa chọn của nhiều phụ nữ Sài Gòn xưa. Theo những lời kể lại, thì dù có vận áo dài hay đồ tây, phụ nữ Sài Gòn cũng đi lại rất nhanh nhẹn, chân bước dài, tay vung nhẹ nhàng, vừa phải. Dáng đi rất nhanh nhưng vẫn giữ được sự thanh thoát, uyển chuyển.
Với áo dài, váy ngắn, tóc thời trang, các thiếu nữ Sài Gòn xưa quyến rũ, đài các ngay trong cuộc sống đời thường.
Thời trang của họ ảnh hưởng nhiều bởi thời trang Pháp thời bấy giờ. Vẻ đẹp tổng hòa và độc đáo, cởi mở nhưng không hề dễ chinh phục
Sài Gòn là mảnh đất phóng khoáng, cư tụ nhiều dân cư khắp nơi trên đất nước đổ về làm ăn, sinh sống. Bởi thế vẻ đẹp của các giai nhân trên đất Sài Gòn là vẻ đẹp tổng hợp từ nhiều vùng miền tạo thành, nhưng vẫn có nhiều nét riêng độc đáo.
Phụ nữ Sài Gòn xưa giản dị nhưng rất thanh lịch, sang trọng. Vẻ đẹp tươi vui, hiện đại và phóng khoáng của Phụ nữ Sài Gòn xưa là vẻ đẹp hình thành từ cuộc sống nhộn nhịp của Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19, cuộc sống luôn bận rộn trên bến dưới thuỵền và nhiều cơ hội làm ăn. Cũng có thể do Sài Gòn không có một mùa lạnh để mà co ro, lặng lẽ hay trầm ngâm trên đuờng đi. Phụ nữ cũng không chịu nhiều lề thói phong kiến nghiêm khắc, cuộc sống bung ra đường cũng khiến họ thoải mái và tự nhiên
Phụ nữ Sài Gòn xưa không mang nét đẹp hoài cổ, đằm thắm, mà có hơi thở của sự tự tin, trẻ trung và thời thượng
Nhưng nếu nhìn vào vẻ bề ngoài cởi mở mà đánh giá tính cách phụ nữ Sài Gòn xưa thì rất sai lầm. Phụ nữ Sài Gòn ngày ấy có thể ngồi ăn hàng ngoài đường rất hồn nhiên nhưng cử chỉ không hề suồng sã. Họ cũng có thể ăn mặc thoáng mát với quần short, áo không tay hay váy ngắn nhưng không có nghĩa là chơi bời buông thả. Họ có thể không ngại chạy thử một lọai xe mới, đánh tennis, bơi thuyền thậm chí tham gia một trận đá bóng nhưng không hề cố tỏ mình là “có cá tính” như các “Hot Girl” bây giờ. Họ dễ bắt chuyện nhưng không dễ làm thân, rất cởi mở vui vẻ khi làm quen nhưng không dễ “cưa đổ” như nhiều chàng tưởng bở.
Nếu những giai nhân Hà thành mang vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, e lệ, đoan trang, với nét duyên thầm thì nhan sắc Sài Gòn đẹp rất đỗi tự nhiên pha chút hoang dại, vừa phóng khoáng lại vừa kiêu sa. Phụ nữ Sài Gòn xưa không mang nét đẹp hoài cổ, đằm thắm, mà có hơi thở của sự tự tin, trẻ trung và thời thượng.
Thời nay, phụ nữ Sài Gòn vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng, như chính đặc trưng của vùng đất ấm áp mến khách này, họ luôn đẹp một vẻ đẹp thông minh, cá tính và phóng khoáng. Tuy thế, ngắm lại những tà áo dài, những tấm lưng ong, những mái tóc bồng bềnh của một thời nhan sắc Sài Gòn đằm thắm ngày xưa, chúng ta cũng không khỏi một thoáng bồi hồi thương nhớ.
Đường phố Hà Nội thời Pháp thuộc – trước 1954:
1. Rue soeur Antoine – phố Hàng Bột
2. Rue d’Autigeon (Đặng Tất)
3. Avenue Beauchamp là tên cũ phố Nguyễn Chế Nghĩa, từ dưới dốc Hàng Đào đến nhà Khai Trí Tiến Đức.
4. Avenue Général Bichot, tên cũ phố Cửa Đông
5. Avenue Brière de I’Isle, tên cũ của đường Hùng Vương
6. Rue Antoine Bonnet nay là phố Nguyễn Gia Thiều
7. Bonifacy tên cũ phố Châu Long đoạn phía bắc
8. Boulevard Gia Long (Đại Lộ Gia Long) nay gọi là Phố Bà Triệu
_d Bobillot , tên cũ phố Lê Thánh Tông thời Pháp thuộc.
10. Boulevard Carnot nay là phố Phan Đình Phùng
11. Rue Boissière phố Nguyễn Xí bây giờ
12. Rue Barona tên cũ phố Liên Trì (đoạn phía bắc)
13. Rue Général Beylié là tên cũ phố Hàng Chuối
14. Rue Bourrin, tên cũ phố Yên Ninh
15. Rue Capitaine Bruisseau, tên cũ phố Tống Duy Tân
16. Boulevard Carreau nay là phố Lý Thường Kiệt
17. Rue Berthe de Vilers là tên cũ phố Đinh Công Tráng
18. Rue Borgnis Desbordes giờ là phố Tràng Thi
19. Rue Bourret, tên cũ phố Ngõ Trạm
20. Rue Bovet tên cũ phố Yết Kiêu bây giờ
21. Rue Bernard de Beau tên cũ phố Nguyễn Chế Nghĩa
22. Rue des Cantonnais giờ là Phố Hàng Ngang
23. Cité Bảo Hưng là tên cũ ngõ Lê Văn Hưu I
24. Rue Cambanère tên cũ phố Hàng Bút
25. Phố Duvigneau nay là Bùi Thị Xuân
26. Rue Docteur Calmette sau này là phố Yersin
27. Rue Graffeuil – Phố Bích Câu thuộc đất hai thôn cũ Yên Trạch và Cát Linh
28. Rue Londe – năm 1964 đổi tên là Ngõ Hàng Bông nay gọi là Phố Cấm Chỉ
29. Place Neyret (Quảng trường Neyret) nay gọi là Vườn hoa Cửa Nam trước kia còn gọi là Bách Việt
30. Paris – Tên vườn hoa cạnh Nhà Hát lớn đặt trong thời tạm chiếm 1947-1954
31. Rue Paul Bert nay là phố Tràng Tiền thời Pháp đi từ Quảng trường Nhà Hát Lớn đến hết phố Hàng Khay.
32. Ruelle Père Lecornu (Phố Đức Cha Lecornu): giờ gọi là Ấu Triệu
33. Rue Hillaret giờ gọi là Ngõ Nguyễn Hữu Huân
34. Rue Maréchal Pétain (Thống chế Petain của nền CH thứ 3) giờ là Phố Nguyễn Hữu Huân
35. Impasse Verdun nay là ngõ Phan Huy Chú.
36. Rond point Puginier (bùng binh Puginier) – nay là Quảng trường Ba Đình
37. Rue Résident Morel (khu Morel) năm 1946 gọi là phố Mạc Đĩnh Chi nay gọi là Bà Huyện Thanh Quan
38. Rue Paul Balny là tên cũ phố Trần Nguyên Hãn
39. Rue Pottier trước có tên là Báo Khánh ở phía tây Hồ Gươm
40. Square Gambetta (ngã tư Trần Thánh Tông và Trần Hưng Đạo).
41. Rue Julien Blanc: phố phủ Doãn ngày nay
42. Route Blockhaus Nord (đường Lô Cốt Bắc) phố Phó Đức Chính ngày nay
43. Rue Paul Bert – Vườn hoa và phố ( chưa biết là ở đâu ở HN???)
44. Rue du Pont en bois – Phố Cầu Gỗ
45. Rue Riquier tức Nguyễn Du bây giờ
Người Sài gòn khi dùng cụm từ ” Dân chơi Cầu Ba Cẳng ” là để ám chỉ một phần những người chơi không đàng hoàng đi kèm một sự quá đáng hay không xứng đáng ở phong cách thể hiện… môt sự hợm hỉnh ,không phù hợp và không đúng với xu hướng Thời trang , xuất phát từ đặc điểm lịch sử qua các thời kỳ…
Cũng được gọi là DÂN CHƠI nhưng không bao giờ “ Dân chơi Cầu Ba Cẳng ” được xếp vào hàng Đẳng cấp do không có tính ” Sành điệu…Phong độ và Oai hùng ” như Dân chơi Sài gòn thứ thiệt…cụm từ “ Dân chơi Cầu Ba Cẳng ” vẫn còn là một cách nói đặc trưng không thể trộn lẫn trong giao tiếp của người Sài Gòn xưa. và bây giờ….
Đây là tấm hình hiếm hoi còn sót lại của cầu Ba Cẳng, một cây cầu chẳng có mấy quan trọng, nhưng nó đã trở thành một phần của lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn xưa, với cái tên nghe thật dân dã và cũng có lắm chuyện xưa liên quan đến nó, như chuyện “Dân chơi cầu Ba Cẳng” của nhà văn Trương Đạm Thủy: “Ở vùng Quận 6 Chợ lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt có hình dạng rất lạ có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận … nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng” – trích lời nhà văn Trương Đạm Thủy.
Cầu Ba Cẳng ở đâu?
Cầu Ba Cẳng ở quận 6 Chợ Lớn, bắc qua rạch Bãi Sậy, gần Chợ Bình Tây, và gần phía sau chợ Kim Biên (chợ Kim Biên chỉ mới có sau 1975, trước đó vị trí chợ là một công viên). Chân cầu bên phải là đường Gò Công ngày nay.
Phía sau chợ Kim Biên, nối 2 bờ rạch Hàng Bàng. Gần cầu Ba Cẳng, ở ngã ba rạch Bãi Sậy từ kênh Tàu Hủ và rạch chạy đến đường Kim Biên (tiếng Quảng Đông nghĩa là Cao Miên, vì trước đây gọi là đường Cao Miên hay rue de Cambodge) là đường Gò Công, đây là đường từ Chợ Lớn đi xuống Gò Công (cầu Ba Cẳng có bậc đi xuống đường Gò Công).
Trụ sở và xưởng sản xuất “xà bông Việt Nam” nổi tiếng của ông Trương Văn Bền trong những thập niên giữa thế kỷ 20 nằm ngay trên đường Kim Biên.
Cầu Ba cẳng nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hủ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành và chân kia ở bến Vạn Tượng. Đoạn cuối rạch này vẫn chưa lấp, và Cầu Ba Cẳng tồn tại đến năm 1990 thì bị sập không còn và rạch phía sau chợ Kim Biên đã bị lấp. Phía sau chợ Kim Biên vẫn còn một đoạn rạch rất ngắn khoảng 30m rộng 3m, trước đổ ra thẳng kênh Tàu Hủ.
Cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, rạch Bãi Sậy hay kênh Hàng Bàng ngày nay đã lấp đến 90% trở thành đường Bãi Sậy và đường Phạm Văn Khỏe, Quận 6, chạy từ rạch Lò Gốm (phía bên trái) ngang qua chợ Bình Tây, tới chỗ cầu Ba Cẳng rẽ phải một đoạn ngắn chảy ra rạch Tàu Hủ. Đây là con đường chính để đưa hàng hóa đến chợ và hàng hóa từ chợ sau đó lại tỏa đi khắp nơi khi vận tải đường bộ còn chưa phát triển trong nửa đầu thế kỷ 20.
Kênh Bonard, tức rạch Bãi Sậy, Chợ Lớn, cũng được gọi là kênh các lò gốm. Cái cẳng thứ 3 của Cầu 3 cẳng là hướng thẳng vào trục đường Trịnh Hoài Đức. Và đúng là rạch Lò Gốm và Bãi Sậy là 2 rạch khác nhau. Nhiều rạch xưa nay đã bị lấp, nên trên các bản đồ Sài Gòn mới sau này không còn tìm thấy chúng. Trong phần chú thích tiếng Pháp có ghi rõ: “Đường nhà buôn (tức là đường Nguyễn Văn Thành). Kênh Bonard, cũng được gọi là kinh các lò gốm, là một huyết mạch thương mại chính của Chợ Lớn”.
Đoạn cuối rạch Bãi Sậy gần Cầu Ba Cẳng, nhìn từ cầu Palikao. Cầu Palikao là cầu qua rạch Bãi Sậy trên đường Ngô Nhân Tịnh. Cầu Palikao được người Pháp đặt tên theo một câu gần Bắc Kinh, gọi là Bát lí kiều (cầu tám dặm), nơi liên quân Anh-Pháp vào năm 1860 đánh với quân nhà Thanh
Gần cầu Palikao và chợ Kim Biên hồi xưa có ngôi nhà lớn của một trong bốn người giàu nhất Sài Gòn, đó là ông Trần Hữu Định, cũng được gọi là Bá hộ Định, người được xếp thứ tư trong “Tứ đại Phú Gia Sài Gòn”: Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định.
Cầu Ba Cẳng nhìn từ đường Trịnh Hoài Đức (là con đường chạy thẳng ở cuối rạch Bãi Sậy). Đi về phía phải của Cầu Ba Cẳng trong hình này vài chục mét là tới chợ Kim Biên ngày nay, còn về phía trái khoảng 200m là tới Đại lộ Đông Tây và kênh Tàu Hủ. Hình này chụp khoảng đầu thập niên 1950, ngày nay cầu này không còn nữa. Cái cẳng trong hình này là cẳng đi xuống đường Yunnan, tức đường Vân Nam (sau 1955 là đường Vạn Tượng), còn hai cẳng kia thì bắc qua hai con đường hai bên rạch Bãi Sậy: bên trái xuống bến Bãi Sậy, bên phải xuống bến Nguyễn Văn Thành nơi đầu đường Cambodge (sau 1955 là đường Kim Biên).
Cầu có “3 cẳng” đều giống nhau nên khó phân biệt được cẳng nào với cẳng nào.
HinhanhVietNam.com sưu tầm và tổng hợp từ khoquatrai.blogspot.com
Đầu thế kỷ 20, Albert Kahn đã cử các nhiếp ảnh gia của mình tới hơn 50 quốc gia trên thế giới. Đội ngũ của ông đã thực hiện tổng cộng 72.000 bức ảnh, tạo thành bộ sưu tập lớn nhất từ trước tới nay trong giai đoạn “sơ sinh” của ảnh màu. Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam. Là con người mơ mộng và có tư tưởng quốc tế hóa, ông chủ ngân hàng người Pháp Albert Kahn (1860 – 1940) tin rằng mình có thể tăng cường sự giao thoa văn hóa và hòa bình giữa các dân tộc qua nghệ thuật nhiếp ảnh.
Năm 1909, Kahn bắt đầu thực hiện dự án “kho ảnh về cuộc sống của con người trên trái đất” để ghi lại những hình ảnh từ nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới bằng hệ thống chụp và xử lý ảnh bằng kính màu màu – phương pháp chụp ảnh màu đầu tiên trên thế giới.
Albert Kahn đã cử các nhiếp ảnh gia của mình tới hơn 50 quốc gia trên thế giới. Đội ngũ của ông đã thực hiện tổng cộng 72.000 bức ảnh, tạo thành bộ sưu tập lớn nhất từ trước tới nay trong giai đoạn “sơ sinh” của ảnh màu. Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam.
Năm 1929, sự sụp đổ của phố Wall buộc Kahn phải ngừng dự án. Mặc dù ngân hàng bị phá sản sau cuộc Đại suy thoái nhưng bộ sưu tập của ông vẫn “đứng vững”. Ông qua đời năm 1940 và để lại cho thế giới một bộ sưu tập ảnh màu vô cùng quan trọng, một cuốn lịch sử sống động nhất về cuộc sống con người đầu thế kỷ 20.
Sau đây là một số hình ảnh về Việt Nam trong các năm 1914 – 1916 trong bộ sưu tập của Albert Kahn, được giới thiệu trên trang BELLE INDOCHINE của Pháp.
Phố Tràng Tiền ở Hà Nội vào năm 1914 – 1915Các vị quan trong phẩm phục nghi lễ ở ngoại vi Hà Nội, 1915.Quan Thống sứ Bắc kỳ bên người vợ và 4 đứa con, 1915.Phố Hàng Thiếc ở Hà Nội năm 1915.Cầu Paul Dummer (Long Biên), Hà Nội, 1915.Thuyền trên vịnh Hạ Long, 1916.Hòn Gai năm 1915.Sông Tam Bạc, Hải Phòng, 1915Thuyền bè trên sông Hồng, gần cầu Paul Doumer (Long Biên), Hà Nội năm 1915.Gánh hàng chuối bên bến sông Hồng, Hà Nội 1915Phố Hàng Gai, Hà Nội 1915.Hai người đàn ông hút thuốc phiện, 1915.Một con thuyền của người Hoa kiều, 1915.Cô gái người Hoa hút thuốc phiện, 1915.Vịnh Hạ Long, 1915.Một bà đồng, 1915Một ông đồ bán chữ ở Hà Nội, 1915.Những người bán gạo, 1914 – 1915.Những con thuyền gần một mỏ đồng, 1915.Chợ Bắc Lệ, Lạng Sơn, 1915.Làng Nà Chạm ở Yên Bái, gần biên giới với Trung Quốc.Một ngôi chùa trên đường đến Tam Đảo, 4/1916.Các hương chức gần Hà Nội.Mỏ than Hòn Gai, 1915.
Ngày 26/2/1962 ,Phi công Nguyễn văn Cử lái máy bay khu trục AD-6 ( Skyraider ) ném bom sập cánh phải của Dinh ( Gia dình Ông Ngô Đình Nhu có một cô con gái tử nạn trong vụ này ). Sau đó Dinh bị phá bỏ hoàn toàn để xây mới thành Dinh Độc Lập – nay là Hội Trường Thống Nhất .
Đây là bức ảnh xưa nhất của dinh Norodom. dinh Toàn quyền vừa mới xây dựng xong, khoảng 1875 Palais du Gouverneur Général à Saïgon, Vietnam, circa 1875. Photo by Emile GsellDinh Toàn quyền Norodom (1866)
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. The Cathedral of Saigon 1888Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. The Cathedral of Saigon 1882CHOLON 1888 – The Chinese district of Saigon Chợ Lớn – rạch Bến NghéShips on the port of Saigon 1888 tàu trên sông SG
CHOLON 1888 – A bridge in the Chinese district of Saigon – Cầu Bình Tây phía trước chợ Bình Tây đầu tiên trong CholonThe Saigon River in Vietnam ca 1870Một chiếc thuyền ba lá đang neo đậu trên con lạch. A stream with a sampan 1888A quay with vessels moored in Saigon, Vietnam – 1893 Cột cờ Thủ NgữMột tàu khách nổi tiếng của Pháp tại bến cảng. The French passenger ship S.S. Sydney of Messageries Maritimes Co. in Saigon, Vietnam – 1893La Sainte Enfance par Emile Gsell (ca.1866) Từ năm 1924 tên gọi “Sainte Enfance” của tu viện này đã được đổi thành “Saint Paul”. Tu viện Sainte Enfance của các soeurs dòng thánh Phao Lô (St Paul de Chartres) là tu viện nữ tu đầu tiên ở Việt Nam. Hai nữ tu đầu tiên đến Saigon năm 1860, và tòa nhà được xây dựng xong vào năm 1864 theo thiết kế của Nguyễn Trường Tộ. Hình trên của Émile Gsell chụp năm 1866 tức hai năm sau khi xây xong. Tòa nhà này sau đó vào cuối thế kỷ 19 được thay thế xây lại như còn lại hiện nay (tháp chuông không còn)Tu viện Sainte Enfance do nhà nhiếp ảnh tiên phong của Trung Hoa là Pun Ky ( Tân KỲ ) chụp khoảng năm 1860Cochinchine: Pagode Barbé, maintenant Ecole normale annamite (Environs de Saigon) – Chùa Khải Tường xưaĐây là bức ảnh duy nhất còn lưu giữ được của chùa Khải Tường xưa. Bức ảnh do Emile Gsell chụp trong khỏang từ năm 1871-1874. Những người tìm hiểu lịch sử TP Saigon thời Pháp bắt đầu đánh chiếm rất quan tâm đến ngôi chùa này, là một trong bốn ngôi chùa Pháp chiếm để lập thành “chiến tuyến các ngôi chùa” để tấn công đồn Kỳ Hòa của Nguyễn Tri Phương. Vị trí của nó ngày xưa ở khoảng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, ngày nay không còn lại một dấu vết nào ngoài tấm ảnh này của Gsell.
Tombeau de l’Evêque d’Adran (1866) Lăng mộ Cha Cả. Photo by Emile GsellCảng Nhà Rồng – Saigon 1866 – Vue de l’Etablissement des Messageries Impériales Photo by Emile GsellVue de Saïgon en 1866 – cột cờ Thủ ngữ Cảng Saigon với cột cờ Thủ Ngữ, lúc này chưa có ngôi nhà lớn của ông Vương Thái (sau này xây ở cạnh tòa nhà giữa hình). Bên trái là rạch Bến Nghé.
Cùng góc chụp, khi đã có khách sạn của ông Wang Tai (các hình dưới chụp năm 1867):
Saigon, Cochin China – Photograph by John Thomson, 1867. – Bức ảnh rất lớn cho thấy rõ nhiều chi tiết Gần nơi bìa phải ảnh nhìn thấy tháp nhà thờ dòng nữ tu Thánh Hài Đồng (sau này là Dòng Thánh Phaolô) do Nguyễn Trường Tộ thiết kế và trông coi việc xây dựng. Tháp màu trắng ở gần bờ sông phía bên phải ảnh là ở đầu đường Catinat, phía trước khách sạn Majestic sau này, đó là đài kỷ niệm nhà thám hiểm Pháp Doudart de Lagrée. Khi chỗ đó được chọn làm bến tàu đường sông thì tháp được dời qua chỗ công trường Mê Linh, ở đầu đường Phan Văn ĐạtCảng Sài Gòn xưa
ảnh toàn cảnh Sài Gòn xưa. Hình chụp khi chưa có Maison Wang-tai (tòa nhà sau này là trụ sở Quan Thuế)Bản đồ Saigon 1867, cùng khoảng thời gian với những bức hình của Emile Gsell (1866).. Plan de la ville de Saigon. Cochinchine 1867 Publisher: Imprimerie impériale. Dressée par le service des Ponts et Chaussées, octobre 1867
Chợ Lớn Sài Gòn – Thành Phố người Hoa
Saigon, Cochinchine 1866 Chợ lớn xưaSaigon, Cochinchine 1866 Chợ lớn xưaVị trí cây cầu này nay ở trên ĐL Đông Tây. Saigon, Cochinchine 1866 Chợ lớn xưaSaigon, Cochinchine 1866 Chợ lớn xưaSaigon, Cochinchine 1866 Chợ lớn xưa1866 Chinese village panorama – Toàn cảnh đoạn kinh Tàu Hủ chảy qua khu vực phía sau Chợ cũ của Chợ Lớn Hình ghép 5 tấm ảnh của Emile Gsell chụp cảnh kênh Tàu Hủ đoạn chảy qua phía sau Chợ cũ của Chợ Lớn năm 1866, cách nay gần 150 năm. Con kinh bên dưới cây cầu ở giữa ảnh ngày nay đã lấp đi thành đường Vạn Kiếp. Nơi cây cầu trong ảnh ngày nay là đầu cầu Chà Và qua kinh Tàu Hủ. Photo by Emile GsellCảnh Thành phố của người Hoa (Chợ Lớn). Hình do nhà nhiếp ảnh Pháp Emile Gsell chụp năm 1866.Chợ Sài Gòn xưa. Chợ Lớn. SAIGON – TRAMWAY de la ROUTE BASSE DE CHOLON ET MARCHE DE SAIGONSaigon 1866 – Photo by John Thomson (BIG PHOTO) – Dãy nhà trên Bến Bạch Đằng ngày nay, phía bên trái là bờ sông Saigon Chưa nhận ra đường nào, nhưng có thể là đường Nguyễn Huệ sau này. Vào thời gian này toàn bộ thành phố đều chưa có điện nên phải thắp sáng buổi tối bằng đèn dầu hỏa. Ngày nay chúng ta khó thể hình dung ra cảnh tối tăm đó như thế nào…Saïgon Circa 1890 – Bức ảnh góc phố Chợ cũ, Rue d’Adran, cách nay hơn 120 năm Góc phố Blvd de la Somme và Rue d’Adran. Nay là góc Hàm Nghi – Hồ Tùng Mậu. Tòa nhà giữa ảnh nay là tiệm Như Lan.Saigon, Cochin China – Gần nơi bìa phải ảnh nhìn thấy tháp nhà thờ dòng nữ tu Thánh Hài Đồng (sau này là Dòng Thánh Phaolô) do Nguyễn Trường Tộ thiết kế và trông coi việc xây dựng. Tháp màu trắng ở gần bờ sông phía bên phải ảnh là ở đầu đường Catinat, phía trước khách sạn Majestic sau này, đó là đài kỷ niệm nhà thám hiểm Pháp Doudart de Lagrée. Khi chỗ đó được chọn làm bến tàu đường sông thì tháp được dời qua chỗ công trường Mê Linh, ở đầu đường Phan Văn ĐạtSaigon – Cochin China -1867
Cochin China là gì?
CochinChina hoặc CochinChine, là tên mà người Phương Tây gọi Nam Kỳ ( lúc đó là 20 tỉnh ). Xem nguồn gốc tên gọi Cochin China.
Lăng Cha Cả
Cha Cả tức Giám mục Bá Đa Lộc (Mgr. Pigneau de Béhaine). Mộ ngài trên vùng đất trường ngoại ngữ Dương Minh bây giờ (?)
SAIGON 1867 – Đường đến Lăng Cha cả với hai hàng cây xoài
SAIGON 1867 – Lăng Cha Cả Cây lớn trong hình là cây xoài, có vẻ cũng phải được mấy chục năm rồi…SAIGON 1867 – Mộ Cha Cả
Bộ sưu tập những tấm bản đồ Sài Gòn xưa từ thời Pháp thuộc thế kỷ 19 tới nửa cuối thế kỷ 20.
Bạn đọc có những tấm bản đồ Việt Nam cổ xưa xin vui lòng gửi cho Hinhanhvietnam.com biên tập và chia sẻ ra cộng đồng.
SAIGON CITY MAP – Scale 1:12,500 (First Printing 4-63)BẢN ĐỒ SAIGON 1963. Ấn hành lần thứ nhất tháng 8/63. Royal Australian Survey Corps (RA Svy) in năm 1964.Bản Đồ SAIGON 1963 – INDEX TO STREETS – Bảng chỉ dẫn đường phốBản Đồ SAIGON 1963 – Index to Numbered Buildings – Bảng chỉ dẫn các kiến trúcPLAN DE SAIGON-CHOLON – BẢN ĐỒ SAIGON-CHOLON (1952-1955) Bản đồ này không ghi năm xuất bản, nhưng căn cứ vào tên con đường MARÉCHAL DE LATTRE DE TASSIGNY trên bản đồ thì suy ra bản đồ xuất bản trong khoảng 1952 đến 1955, vì trước 1952 đường Maréchal de Lattre de Tassigny còn là đường Général de Gaulle và trước 1945 là đường MAC MAHON; và sau 1955 thì được đổi tên thành đường CÔNG LÝ (hiện nay là đường NKKN, đoạn từ XVNT đến bến Chương Dương). Hai thành phố Saigon và Cholon khi này đã nhập chung lại và được gọi tên là thành phố Saigon-Cholon, được chia ra thành 6 quận tô các màu khác nhau trên bản đồ. Bản đồ có kích thước 35.6 x 58.5 cm.BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955 (Mặt sau)CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955SAIGON 1952-1955 – Bản đồ phóng lớn, bề ngang trên 2mQuảng cáo mặt sau BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955Quảng cáo mặt sau BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955Quảng cáo mặt sau BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955Quảng cáo mặt sau BẢN ĐỒ SAIGON 1952-1955Saigon khi này được chia làm 3 quận, tô 3 màu khác nhau trên bản đồCác chú thích của bản đồ được in ở mặt sau. Bản đồ được in tại Miến Điện năm 1946 bởi Đoàn Thám sát không ảnh thuộc Bộ tư lệnh Quân đội Anh tại Miến Điện. Bản đồ này được vẽ căn cứ theo bản đồ của Pháp in tháng 11/1942 và được hiệu chỉnh bằng các không ảnh chụp từ tháng 9 đến tháng 12/1945.
Based on French map dated November 1942. Corrected by No. 2 Ind.Fd.Svy.Coy.R.I.R. from air photographs taken in Sep. to Dec. 1945 Scale [ca. 1:10 560]. 6 in. = 1 mile (E 106?40’/N 10?45′) Size: 44 x 52 cm. Printed by 61 Rep. Group, March 1946 Survey H.Q. Burma Command
On verso: Sketch map of Saigon town and aerodrome. Scale 1:42 inches = 1 mile. Includes indexes of streets and buildings. Prime meridian: Greenwich.
Bản đồ SAIGON 1946 (Mặt sau) . Kết thúc Đệ nhị thế chiến, quân đội Anh thuộc phe đồng minh được giao nhiệm vụ đến VN giải giáp quân Nhật từ Vĩ tuyến 16 trở xuống phía Nam, trong đó có TP Saigon. Có lẽ bản đồ này đã được Bộ chỉ huy quân đội Anh tại Miến Điện in ra nhằm phục vụ nhiệm vụ này.Bản đồ thật đẹp ở trên được in trong sách hướng dẫn du lịch của tác giả Madrolle xuất bản năm 1926 tại Paris
CHÚ THÍCH TRÊN BẢN ĐỒ SAIGON 1926 của MADROLLE:
1. Nhà đoan (quan thuế) – B3 2. Bưu điện và điện tín – C2 3. Nhà Thờ Lớn – C2 4. Viện Bảo Tàng – C2 5. Nhà hát – B2 6. Thư viện – B2 7. Vườn Bách Thảo – D3 8. Công viên Maurice Long (Vườn Tao Đàn) – B1 10. Dinh Toàn quyền – B1 11. Dinh Thống đốc Nam Kỳ – B2 12. Tòa Thị chính – B2 13. Dinh Đại tướng (chỉ huy quân đội) – C2 14. Dinh Thủy sư chỉ huy Hải quân – C3 15. Tòa Giám mục – C1 16. Tòa án (pháp đình) – B2 17. Chợ Trung tâm – B2 23. Bệnh viện nhà binh – C2 24. Trại lính – D2 25. Sở Chỉ huy Pháo binh – C3 26. Xưởng công binh (Ba Son) – D3
Bản đồ Sàigòn thời Pháp thuộc Saigon Map during French colonial timeSaigon Map – 1947 . SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯAChú thích vị trí các tòa nhà trên bản đồ Sài Gòn 1947Map of Saigon 1961 (sheet 2)Map of Saigon 1961 (sheet 1) source: library.ttu.edu Texas Tech University LibrariesChú thích tên đường và các công trình kiến trúc của Bản đồ SAIGON 1962 nằm ở mặt sau của Bản đồ này.Chú thích tên đường và các công trình kiến trúc Bản Đồ SAIGON 1962Bản đồ SAIGON 1968 Giúp định vị địa điểm những kiến trúc xưaChú Thích Bản Đồ SAIGON 1968Plan Cadastral de la Ville de Saigon – 1896SAIGON MAP 1920. vị trí mấy công trình tại Saigon khoảng thập niên 1920
Chú thích từ tấm bản đồ Sài Gòn xuaw ( 1920)
1.Quảng trường Nhà thờ lớn – Tượng Giám mục Adran 2.Bưu điện và Điện tín 3.Thuế đặc biệt 4.Trụ sở cảnh sát 5.Kho bạc 6.Thư viện 7.Hiến binh quốc gia 8.Xưởng thuốc súng 9.Dinh Thống đốc Nam Kỳ 10.Tòa thị chính 11.Tổng Chưởng lý (Kiểm sát trưởng) 12.Nha nội vụ (Dinh Thượng thơ nội vụ) 13.Dinh Chỉ huy lữ đoàn 14.Khách sạn Continental 15.Khách sạn Nations 16.Tượng Francis Garnier 17.Nhà hát TP 18.Dinh chỉ huy trưởng Hải quân 19.Khách sạn Pháp quốc 20.Courtinat (cửa hàng đồ nội thất) góc Tự Do-Thái Lập Thành (nay là góc Đồng Khởi-Đông Du)
21.Khách sạn Victoria
22.Khách sạn Univers 23.Tòa lãnh sự Nga 24.Tòa hòa giải 25.Tòa lãnh sự Bỉ 26.Đền Ấn giáo (Bà-la-môn – brahmanism) 27.Chợ trung tâm cũ – Tượng Gambetta 28.Sở di trú 29.Ngân hàng Đông Dươg 30.Ngân hàng Hồng Kông- Thượng Hải 31.Tòa lãnh sự Nhật 32. Sở quan thuế 33.Hãng tàu đường sông
Cochinchine française. Plan cadastral de la ville de Saigon 18821963 SAIGON MAP – PRESS PHOTOBản đồ Saigon 1923 với các thông tin phân tích Tháng 2/1944 Xem bản đồ này thấy một chi tiết rất thú vị; tuyến đường sắt bắc nam cũ là đường Trần Quang Diệu với Trần Huy Liệu.Plan de la ville de Saigon 1896 – Bản đồ rất lớn cho thấy vị trí các công trình của Sài Gòn xưa
Chú Thích BẢN ĐỒ TP SAIGON 1896 Tỷ lệ 1/14.000
1. Palais du Gouvernement Général (Dinh Toàn quyền) 2. Chateau d’eau et puits hydrostatique (Tháp nước và giếng thủy tĩnh) 3. Evêché (Tòa Giám mục) 4. Collège Indigène (Trung học bản xứ) 5. Cathédrale (Nhà thờ) 6. Mess des Officiers (Nhà ăn của Sĩ quan) 7. Imprimerie Nationale (Nhà in của chánh phủ) 8. Trésor (Kho bạc) 9. Recette spéciale (Thu thuế đặc biệt) 10. Enregistrement et Domaines (Sở Trước bạ và Nhà đất) 11. Cadastre (Sở Địa chánh) 12. Gendarmerie (Sở Hiến binh) 13. Prison Centrale (Nhà tù Trung tâm) 14. Palais du Lieutenant Gouverneur (Dinh Phó Toàn quyền/Phó soái) 15. Hôtel du Procureur Général (Dinh Tổng biện lý/Tổng kiểm sát trưởng) 16. Service des Travaux publics (Sở Công chánh) 17. Télégraphe et Postes (Sở Điện tín và Bưu điện) 18. Hôtel du Sécretaire général (Dinh Tổng thư ký Tòa Thị sảnh) 19. Direction de l’Intérieur (Dinh Đổng lý Nội vụ) 20. Institution municipale de filles (Trường nữ sinh TP ?) 21. Magasins et Ateliers des Travaux publics (Kho và Xưởng Công chánh) 22. – id — du Service local (Kho và Xưởng địa phương) 23. – id — à pétrole (Kho và Xưởng dầu hỏa) 24. Poste de Police (Đồn cảnh sát) 25. Direction du Port de Commerce (Nha Giám đốc Thương cảng) 26. Immigration (Sở Di trú) 27. Mairie (Tòa Thị chính) 28. Postes de Police (Đồn cảnh sát) 29. Douane (Sở Thuế quan) 30. Palais de Justice (Tòa án) 31. Hôtel du commandant supérieur des troops (Dinh chỉ huy trưởng quân đội) 32. Justice de Paix (Tòa Hòa giải) 33. Gare du chemin de fer (Ga đường sắt) 34. Manufacture d’opium (Xưởng sản xuất thuốc phiện) 35. Hangars de vérification (Douane) Kho kiểm hàng hóa (Sở Quan thuế) 36. Mât de signaux (Cột tín hiệu) 37. Cure de la Cathédrale (Cha xứ nhà thờ) 38. Hôtel Ollivier 39. Banque de l’Indo-Chine (Ngân hàng Đông Dương) 40. Commissaire Central de Police (Cảnh sát trưởng)
……………………………………………………………………………. Trên một số con đường trong bản đồ này có vẽ những dấu chấm, trông khá lạ và không thấy có chú thích gì, nhưng có thể đoán đó là vị trí của các cây trồng trên đường phố để lấy bóng mát.
National Geographic Map of Saigon, 1965 bản đồ Sài Gòn 1965 trên tạp chí National GeographicBan do sài gòn 1928. plan de saigon 1928
CHÚ THÍCH: 1. Nhà đoan (quan thuế) – B3 2. Bưu điện và điện tín – C2 3. Nhà Thờ Lớn – C2 4. Viện Bảo Tàng – C2 5. Nhà hát – B2 6. Thư viện – B2 7. Vườn Bách Thảo – D3 8. Công viên Maurice Long (Vườn Tao Đàn) – B1 10. Dinh Toàn quyền – B1 11. Dinh Thống đốc Nam Kỳ – B2 12. Tòa Thị chính – B2 13. Dinh Đại tướng (Quan sáu) – C2 14. Dinh Thủy sư Chỉ huy Hải quân – C3 15. Tòa Giám mục – C1 16. Tòa án (pháp đình) – B2 17. Chợ Trung tâm – B2 23. Bệnh viện nhà binh – C2 24. Trại lính – D2 25. Sở Chỉ huy Pháo binh – C3 26. Xưởng công binh (Ba Son) – D3
Map of Saigon in 1963, with useful addresses, offered by Hotel CaravelleBản đồ Sài Gòn 1795 Giải thích các địa danh trên Bản đồ Bản đồ thành phố Sài Gòn, được bố phòng vào năm 1790 bởi Đại tá Victor Olivier. Theo bản đồ lớn do kỹ sư hoàng gia Brun vẽ năm 1795 theo lệnh nhà vua, nay thu nhỏ lại bởi J.M. Dayot, 1799
Bản đồ Sài Gòn 1795
Giải thích các địa danh trên Bản đồ
Bản đồ thành phố Sài Gòn, được bố phòng vào năm 1790 bởi Đại tá Victor Olivier. Theo bản đồ lớn do kỹ sư hoàng gia Brun vẽ năm 1795 theo lệnh nhà vua, nay thu nhỏ lại bởi J.M. Dayot, 1799
A. Palais du Roi = Hoàng cung. B. Palais de la Reine = Mẫu hậu cung. C. Palais des Princes = Cung các hoàng tử. D. Hôpital = Bệnh viện. E. Magasin des Troupes = Kho quân đội. F. Arsenal et Forges = Kho võ khí và lò rèn. G. Charonnerie = Nhà xe. H. Magasin à Poudre = Kho thuốc súng. I. Corps de Caserne = Trại lính. K. Place d’Arme = Võ sảnh. L. Remises pour les pièces de Campagne = Trại tân tạo võ khí hành quân. M. Mât de Pavillon = Cột cờ. N. Maison de l’Evêque = Dinh Tân xá dành cho Bá Đa Lộc (Pierre Foseph Georges Pigneau de Béhaine – Giám mục người Pháp). O. La Monnoye = Trường đúc tiền. P. Magasin aux Vivres = Kho lương thực (Kho Quản Thảo). Q. Bazard = Phố chợ (Đa Kao). R. Chantiers de Construction = Xưởng Chu sư. S. Bassin = Bể sửa chữa tàu thuyền. T. Briqueterie = Lò gạch ngói. U. Pagode = Chùa (Cây Mai). V. Bazard chinois = Chợ người Hoa (Chợ Lớn).
Bản đồ này do Le Brun, một sĩ quan người Pháp của Nguyễn Ánh vẽ năm 1795. Theo bản đồ này ta thấy một hệ thống đường bộ có hình bàn cờ và nhiều cơ sở hành chính, sản xuất, tín ngưỡng nằm bao quanh thành Bát Quái. Đó là kho hàng thực phẩm (P), xưởng gạch (T), xưởng đúc tiền (O), xưởng đóng thuyền (R), chùa Cây Mai (U), Chợ Lớn (V). Ngoài khu dân cư ở Sài Gòn còn có khu dân cư khá quan trọng ở Chợ Lớn hiện nay. Quận 4 đông đúc hiện nay vẫn còn là vùng đất hoang sơ, có một đoạn đường đất nối rạch Bến Nghé đến đồn Vàm Cỏ.
Ngôi thành Bát Quái được xây dựng năm 1790, bản đồ Le Brun cho thấy một con kênh khá dài nối liền thành Gia Định với sông Sài Gòn, tạo sự thuận lợi cho giao thông và vận tải bằng đường thủy vào trong thành
Saigon Map_1928 – (hướng Bắc vẽ về phía bên phải)1968 Map of Saigon’s Tan Son Nhut AirportSaigon1966 – Map showing location of 3rd Field HospitalMap of Saigon and Ky Hoa – Plan de Saigon avant la conquête Chiến tuyến Chí Hòa của Nguyễn Tri Phương (màu cam) và chiến tuyến các ngôi chùa của quân Pháp (màu vàng)Bản đồ địa chánh Qui hoạch SAIGON năm 1882 Plan cadastral de la ville de Saigon 1882 – CEFURDS Map CollectionPlan de Saigon en 1867Bản đồ SG 9 năm sau ngày bị Pháp chiếm (1858), vẫn còn thành Phụng (do Vua Minh Mạng cho xây dựng năm 1936). Nhiều con đường trong khu vực trung tâm vẫn còn là những con kinh được người Pháp đào để lấy đất tôn cao nền thành phố và để thoát nước. Trục đường hơi nằm ngang xuyên qua giữa Thành Phụng là Route Stratégique, sau này là Hồng Thập Tự, nay là Nguyễn Thị Minh Khai. Trục đường xuyên qua giữa thành Phụng theo chiều đứng là Boulevard de la Citadelle, sau này là Cường Để, nay là Tôn Đức Thắng. Vào năm này Dinh Toàn quyền chưa xây, còn dùng nhà gỗ trong khu vực trường Taberd. Bản đồ 1867 này có ghi vị trí chùa Barbé, nơi trước kia là chùa Khải Tường, bị quân Pháp chiếm làm đồn lính trong trận tấn công đồn Kỳ Hòa năm 1861. Đại úy Barbé là trưởng đồn này, đã bị nghĩa quân VN phục kích giết nên Pháp lấy tên ông để gọi chùa này. Tại khoảng vị trí ngôi chùa này ngày nay là Nhà bảo tàng Chứng tích chiến tranh, góc Lê Quí Đôn- Võ Văn Tần. Trong thời Pháp đường Lê Quí Đôn cũng được đặt tên là rue Barbé. (Chú thích: một số tài liệu, hay bản đồ cũng viết là Barbet, thay vì Barbé, vì phát âm giống nhau).Bản đồ Saigon một năm sau ngày Pháp chiếm SGBản đồ Sài Gòn – Gia Định do Trần Văn Học vẽ năm 1815Bản-đồ-Sài-gòn-xưaSaigon Map – 1950Saigon Map 1960Ghép chung hai bản đồ SAIGON – BIÊN HÒA (Tỷ lệ 1/50.000)Bản đồ SAIGON (HCMC) 1984 Tỷ lệ 1/50.0001864 Ville et Port de Saigon – Thành phố và Cảng SAIGON, 5 năm sau ngày quân Pháp đánh chiếm SGBản đồ một phần trung tâm SAIGON 1947Bản đồ Saigon 1896 tô thêm màuBản đồ Saigon 1883 với “chiến tuyến các ngôi chùa” (lignes des pagodes) của Pháp năm 1861
Màu hồng là thành Phụng, xây 1836 bị Pháp phá 1858. Màu xanh là mộ Giám mục Adran (GM Pigneau de Béhaine), tức lăng Cha Cả. Màu tím là đồng Mồ mả chạy dài suốt từ SG vào Cholon.
Màu vàng là 4 ngôi chùa bị Pháp chiếm làm đồn lính (sau khi thành Gia Định mất vào tay quân Pháp vào tháng 2-1859), nhằm tạo thành “chiến tuyến các ngôi chùa” (lignes des pagodes) để chuẩn bị tấn công đồn Kỳ Hòa của Nguyễn Tri Phương năm 1861.
Plan de Saigon 1953. Ngày xưa nhiều bản đồ vẽ hướng Bắc nằm về bên phải, không hướng lên trên theo như quy ước ngày nay. Ai chưa quen sẽ thấy khó chịu vì phải ngảnh cổ để xem cho dễ, nhưng xem nhiều bản đồ như vậy rồi dần sẽ quen thuộc…