Blog

  • Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Chợ Phong Thổ, Lai Châu

    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Làng nhà sàn
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Nhà nổi trên sông
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Nhà nổi

    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Tam quan chùa Láng, Hà Nội
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Chùa Láng, Hà Nội
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Kiểu tóc truyền thống
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Giếng, Sông Cầu
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Vườn trong hoàng cung Huế
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Triều phụcBộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt

    Bờ sông, Thủ Đức

    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Đường cái (?)
    Bộ bưu ảnh xưa rất lạ mắt
    Dệt lưới

    Nguồn: tranthanhnhan1963g

  • Người Việt xưa học toán, thi toán thế nào?

    Người Việt xưa học toán, thi toán thế nào?

    ” Người Việt Nam rất giỏi số học, hình học và thiên văn học” – lời nhận xét của một nhà du khảo Anh tên là Dampier trong bài “Một chuyến đi tới Bắc kỳ năm 1688” (Voyage au Tonkin en 1688) in trong cuốn Đánh giá Đông Dương – Revue Indochinoise 6.

    Điểm lại từ thời phong kiến Việt Nam. Từ năm 1077, đời Lý Nhân Tông đã tổ chức kỳ thi Toán đầu tiên, cùng với thi Thư (viết chữ) và Hình luật để chọn người làm việc lại (lại viên). Các kỳ thi này không tổ chức định kỳ, thường thì cứ 10 năm hoặc 15 năm sẽ có một kỳ thi chọn lại viên.

    Trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam thì người làm việc lại không được coi trọng. Họ làm các công việc như coi sổ sách, giấy má, tính sưu thuế, tính diện tích các đám ruộng, việc binh lương và các việc quốc dụng khác như tính thể tích con đê, thành, hào, tính số gạch, gỗ… Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong “Lịch triều hiến chương” rằng “Xét ra chức nha, lại cho là hèn thấp. Việc kiểm soát sổ sách không giao cho kẻ sĩ. Kẻ sĩ làm văn, cho việc lại là ti tiện nên không nhúng tay vào”.

    Năm 1261, đời Trần Thánh Tông, thi lại viên với 2 môn Thư và Toán, ai trúng được sung vào chức Nội lĩnh sử. Các kỳ thi chọn lại viên tiếp theo được tổ chức vào các năm 1363, đời vua Trần Dụ Tông; năm 1373, đời vua Trần Duệ Tông; năm 1404, khi Hồ Hán Thương lên ngôi, thi chọn lại viên có môn Toán. Thời này, nhà Hồ không những bắt buộc chương trình thi toán mà còn áp dụng rộng rãi toán học vào kinh tế, sản xuất: dùng Toán học đo lại tổng số ruộng đất toàn quốc, lập thành sổ sách điền địa từng lộ, phủ, châu, huyện. Năm 1437, đời vua Lê Thái Tông có thi Toán với 690 người trúng cử được bổ các chức ở các nha môn. Tiếp theo, vào các năm 1475, 1477, 1483, 1507, 1572, 1722 và 1762 là kỳ thi chọn lại viên cuối cùng có thi Toán. Đặc biệt kỳ thi năm 1507, đời vua Lê Uy Mục tổ chức thi Toán ở sân Điện Giảng Võ có hơn 3 vạn thí sinh, 1.519 người trúng tuyển.

    Lương Thế Vinh (1441 - ? ). Lương Thế Vinh là một thiên tài toán học là người soạn giáo trình Toán học đầu tiên ở Việt Nam, quyển "Ðại thành toán pháp", được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm.
    Lương Thế Vinh (1441 – ? ). Lương Thế Vinh là một thiên tài toán học là người soạn giáo trình Toán học đầu tiên ở Việt Nam, quyển “Ðại thành toán pháp”, được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm.

    Lịch sử lưu danh Trạng nguyên Mạc Hiển Tích với số âm trong trò chơi Ô ăn quan, Toán học âm dương, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với phép chia tạo nên thế gian hài hòa. Nhiều người đã phát triển và bổ sung những tư tưởng toán học này. Lịch sử tôn vinh Trạng Lường Lương Thế Vinh (1442-1496). Ông là người Vụ Bản, Nam Định, đỗ Trạng nguyên năm 1463, tác giả hai cuốn sách Đại thành Toán pháp và Khải minh Toán học. Đại thành Toán pháp được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Sách dạy bản cửu chương, phép bình phương, khai căn bậc hai, sai phân, phân số, cách đo bóng tính chiều cao của cây, hệ thống đo lường đương thời (tiền, vải, thóc, gạo…), toán đo đạc diện tích ruộng đất, từ hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, hình tròn, hình viên phân… Có một vấn đề chưa rõ là ngày xưa người ta tính diện tích các hình nói trên theo công thức nào, độ chính xác đến đâu, đã biết dùng số pi chưa…? Rất tiếc là không có một đề thi hình học nào để tham khảo. Điều đặc biệt là với mỗi phương pháp tính, ông lại làm một bài thơ Nôm tóm tắt một cách ngắn gọn dễ nhớ từng công thức toán học. Đây là một nét rất tiến bộ của ông vì thời đó các nhà Nho thường thích làm thơ chữ Hán hơn. Đầu đề các bài toán đưa ra cũng rất Việt Nam, rút ra từ thực tế cuộc sống. Đó là cuốn sách giáo khoa Toán học Việt Nam, có lẽ là xưa nhất còn lại đến nay. Ông cũng được xem là người chế ra bàn tính gẩy cho người Việt, lúc đầu làm bằng đất rồi bằng trúc, bằng gỗ, sơn màu khác nhau, rất đẹp, dễ tính và dễ nhớ. Lương Thế Vinh cũng được cho là từng nghiên cứu về bài toán Tháp Hà Nội. Đứng sau ông là Trạng nguyên Vũ Hữu, người cùng thời với ông, đã viết cuốn Lập thành toán pháp và đặt ra phép đo tính ruộng đất phổ biến trong cả nước.

    Trở lại với nhận định của Dampier ở trên. Do hạn chế nhất định, nhà nước phong kiến Việt Nam thời đó đã có những lúc nhìn nhận không đúng vai trò của Toán học. Kẻ học để đi thi khoa cử không thi để làm lại viên. Những người thông minh nhất được học hành để trở thành kẻ sĩ lại coi khinh Toán học. Thế thì lấy đâu ra những nhà toán học giỏi. Hơn nữa, các công trình, các sách toán không được in ấn hoặc có cũng không được lưu giữ cẩn thận, bài bản thì lấy đâu ra tài liệu mà học.

    Ngày nay, dựa vào tài liệu khảo cổ học, vào lịch sử ngôn ngữ, vào khảo sát cấu trúc các công trình kiến trúc cổ còn lại… ta thấy rõ người Việt Nam xưa ắt hẳn phải rất giỏi tính toán và Toán học đã được ứng dụng khá nhiều vào đời sống từ rất sớm. Số học là môn phát sinh trước và sớm nhất. Nếu đứng ở góc độ số học để khảo cứu những cánh sao, tia sáng mặt trời, đàn chim, chiếc thuyền… khắc vẽ trên mặt, trên thân các trống đồng, chúng ta sẽ tập hợp được nhiều sự kiện toán học nằm trong đó, cung cấp cho ta một bức tranh đẹp về trình độ nắm vững và sử dụng số học của tổ tiên ta thời cổ đại. Nghiên cứu các hoa văn trên đồ gốm tìm được ở Phùng Nguyên, Gò Bông, Xóm Rền… chúng ta thấy các dạng hoa văn rất phong phú: hình chữ S, có loại dài, loại vuông, loại nối ngang lưng nhau; hình chữ X, chữ A; hai đường song song uốn khúc đều đặn, liên tục; hình tam giác xếp ngược chiều nhau, hình tam giác cuộn. Qua đấy, không thể nghi ngờ gì được khi nói rằng người Việt Nam 3 – 4 nghìn năm trước đây đã có những nhận thức hình học và tư duy chính xác khá cao. Từ hình dáng, kích thước các trống đồng loại cổ nhất ở Việt Nam, chúng ta hiểu, để tạo được những mặt tròn đường kính to nhỏ khác nhau, những mặt phẳng, những góc độ chính xác ấy, các nhà chế tác trống đồng thuở đó phải sử dụng các con số, các loại thước chính xác.

    Thế còn về thiên văn học?

    Có ý kiến từng cho rằng một số hình ảnh trên trống đồng chính là bộ lịch âm sớm nhất của nhân loại, với chu kỳ 18 năm. Điều này mong sao sớm được các nhà khảo cổ, các nhà khoa học giải đáp thấu đáo.

    Trích từ tài liệu mẫu dùng để luyện thi Toán kỳ thi chọn lại viên, do Phan Huy Khuông, người làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội soạn thời Lê mạt:    Có 5.292 lạng bạc phát cho các viên thuộc ở bản dinh là 328 người. Chia làm ba hạng: hạng Giáp 8 người, mỗi người được 7 phần; hạng Ất 20 người, mỗi người 5 phần; hạng Bính 300 người, mỗi người được 2 phần.

    Hỏi như thế thì mỗi người được lĩnh bao nhiêu và tính góp lại mỗi hạng được lĩnh bao nhiêu?

  • Ảnh thật của các vị vua chúa Việt Nam thời nhà Nguyễn

    Bạn muốn biết diện mạo thực sự của các vua chúa Việt Nam  thời nhà Nguyễn ra làm sao không?

    Bộ sưu tập gồm các bức ảnh chụp, duy chỉ có chân dung của vua Gia Long và Hoàng tử Cảnh là tranh vẽ truyền thần.

    Vua Gia Long, người thành lập Triều đại nhà Nguyễn (1802-1820):

    Hoàng tử Cảnh (hình vẽ bên Pháp bởi họa sĩ Maupérin vào năm 1787)

    Vua Minh Mạng (1820-1840)

    Di ảnh vua Hàm Nghi

    Vua Đồng Khánh (1885-1889)

    Còn đây là một số hình ảnh sinh hoạt xã hội dưới các triều đại nhà Nguyễn…

     

    Ấn của vua Minh Mạng



    Lăng vua Minh Mạng ở Huế

    3.Vua Tự Ðức (1847-1883)

    Các bà vợ vua Tự Ðức sống đến đầu thế kỷ thứ 20 :

    4. Vua Hàm Nghi (1884-1885)

    Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)

    Dân chúng chờ đợi xe đám cưới

    Ngôi mộ của vua Hàm Nghi ở làng Thonac (France)

    5.Vua Ðồng Khánh (1885-1889)

    6. Vua Thành Thái (1889-1907)

    Từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm.
    Các em của Vua Thành Thái (1891)

    Hai người vợ của vua Thành Thái

    Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo)

    Vua Thành Thái trong triều phục

    Hình ảnh Việt Nam sưu tầm từ ddth.vn

  • Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    “Té ngửa” với tài “Thôi Miên Bằng Ngôn Từ” của các Nhà Quảng Cáo VIỆT NAM thời xưa!!

    Mẩu quảng cáo kem đánh răng Hynos với câu chào hàng “cười vỡ bụng”:

    Quảng cáo Hynos ngoài trời Ngoài các hình thức quảng cáo trên báo chí, quảng cáo ngoài trời, dùng loa phóng thanh hoặc dùng phim ảnh, Sài Gòn xưa còn có lối quảng cáo mà người ta gọi là “sơn đông mãi võ”. Họ là những nhóm người đi về những miền xa xôi để bán các loại “cao đơn, hoàn tán”… những lời quảng cáo thuốc được phụ họa bằng từng hồi trống và phèng la, để thu hút đám đông, họ luôn luôn có những màn trình diễn võ thuật, biểu diễn nội công xen kẽ giữa những màn quảng cáo bán thuốc. Con nít xem trầm trồ thán phục và người lớn bỏ tiền ra mua thuốc để phòng khi trái nắng trở trời. Đám “sơn đông mãi võ” di chuyển nhiều nơi và cuộc đời của họ phiêu linh khắp chốn cũng vì miếng cơm manh áo. Họ chính là những “quảng cáo viên” đích thực!
    Với Hynos phosphate, đánh răng sớm chiều, răng vững bền nhiều.”

     

    “Trồng lúa mới có gạo mà ăn…
    thế mà có người đã phải
    trồng răng mới có răng mà ăn!
    Vì không săn sóc răng một cách chu đáo, có người
    đã bị sâu răng và mất nhiều răng.

    Quảng cáo của Hynos trên báo Cái khéo của Hynos là thực hiện thêm nhiều biển quảng cáo ngoài trời tại những nơi có đông người qua lại nên đạt hiệu quả rất cao. Vào dịp Tết Nguyên Đán, tại chợ Bến Thành, lúc nào gian hàng Hynos cũng vang lên điệp khúc “Hynos cha cha cha, cha cha cha Hynos…” át hẳn gian hàng của khô nai Ban Mê Thuột, khô cá thiều Phú Quốc với lời phóng đại “nướng bên này đường, bên kia đường uống rượu cũng thấy ngon”!, hơn thế nữa, ông Nghĩa còn đi đầu trong việc làm phim quảng cáo kem đánh răng Hynos. Ông bỏ tiền làm một đoạn phim ngắn tại Hồng Kông, ký hợp đồng với tài tử ăn khách nhất Hồng Kông thời bấy giờ là Vương Vũ. Phim chỉ vài phút diễn cảnh các nhân vật đi “bảo tiêu” một thùng hàng, khi mở ra trong thùng chỉ chứa… toàn kem đánh răng Hynos với hình anh Bảy Chà cười toe toét! Phim được chiếu tại các rạp ciné trước khi vào xuất chính và khán giả thích thú dù biết đó là phim quảng cáo.

     

     

    Mẩu quảng cáo xà phòng “Con Dê Cũ” (ngày nay dân mình thường đọc trại là “Dê Cụ”) của hãng Tân Phúc Hoa, có vận dụng thêm chữ hoa-chữ thường và cỡ chữ để làm tăng hiệu quả thị giác của mẩu quảng cáo:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!TỐT và RẺ
    chỉ có sà phòng
    CON DÊ CŨ

     

    Biển quảng cáo hãng xăng dầu Shell:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!“Yêu xe là yêu Shell”

     

    Mẩu quảng cáo giày Bata:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!Người lịch-sự chỉ dùng giầy
    BATA
    Vừa đẹp vừa bền nhất
    Đại-lý khắp Đông-Dương

     

    Mẩu quảng cáo hết sức “bá đạo” của Tuần báo Đàn Bà (về sau này chúng ta ưa dùng từ “Phụ nữ” hơn là “Đàn bà”) :

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!Chồng tôi mê gái chỉ vì tôi không đọc tờ
    TUẦN BÁO ĐÀN BÀ
    nên…

     

    Một mẩu quảng cáo lớp học ngoại ngữ:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!“Những ai đã thất-vọng với các cách học khác, xin thử học 1 tháng
    sẽ được hoàn toàn vừa-ý.”

     

    Mẩu quảng cáo vẽ tay của một hiệu chụp ảnh trên đường Catinat (đường Đồng Khởi, TPHCM ngày nay):

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    Mẩu quảng cáo vẽ tay khác về sản phẩm xe ô-tô thuộc một cửa hàng xe hơi trên đường Filipini (đường Nguyễn Trung Trực, TPHCM ngày nay):

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    Biển quảng cáo kem đánh răng Dạ Lan vừa có hình ảnh minh họa, vừa có lời chào hàng và địa chỉ:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!Hãy đến với Dạ Lan
    Sản phẩm của mọi gia đình

     

    Thương hiệu xà-bông Cô Ba huyền thoại vẫn còn đến ngày nay:

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    Xem thêm vài  sản phẩm nổi tiếng được quảng cáo rộng khắp Sài Gòn xưa: https://hinhanhvietnam.com/nhung-tam-pano-quang-cao-sai-gon-xua/

    Và cuối cùng là một mẩu quảng cáo vừa thuộc hàng đỉnh cao của nghệ thuật sử dụng ngôn từ, vừa bảo đảm khiến bạn “té ngửa”: quảng cáo sản phẩm… quan tài (hòm) :

    Nghệ thuật viết quảng cáo của ông bà thời xưa!

    “Ta về ta tắm áo ta,
    dẫu là đục ao nhà cũng hơn
    Hòm TOBIA
    SỐNG MỘT CÁI NHÀ, THÁC MỘT CÁI HÒM”

  • Loạt ảnh hiếm: Đám cưới bên “bờ” vĩ tuyến 17 năm 1969

    Loạt ảnh hiếm: Đám cưới bên “bờ” vĩ tuyến 17 năm 1969

    Trang web Vietvet.com của các cựu chiến binh Mỹ đã đăng tải một bài viết có tiêu đề Đám cưới truyền thống của những người theo Phật giáo Việt Nam (Traditional Vietnamese Buddhist Wedding) kèm theo loạt ảnh độc đáo về một đám cưới ở tỉnh Quảng Trị, phía Nam vĩ tuyến 17 vào năm 1969. Tác giả của bài viết là Jim Ritter, một sĩ quan thuỷ quân lục chiến Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam vào các năm 1968 – 1969. Dưới đây là nội dung bài viết:

    Trong tháng 6/1969, tôi được chỉ định làm người tham dự đám cưới một trong những thông dịch viên của Tiểu đoàn. Theo đề xuất của cô dâu và chú rể, quà cưới sẽ là một thùng Coca.

    Đám cưới được tổ chức ở gia trang của cha mẹ cô dâu chú rể. Nơi này nằm ở phía Tây  của một căn cứ quân sự tại Quảng Trị. Buổi lễ bắt đầu đám rước của gia đình nhà chú rể đến nhà cô dâu. Tại đây, họ sẽ làm lễ trước bàn thờ gia tiên. Sau đó là đám rước của gia đình cô dâu đến nhà của chú rể.

    Tôi đến nhà chú rể trước khi gia đình của cô dâu đến. Trong những bức ảnh đầu tiên, người đứng đầu của gia đình cô dâu là cụ già cầm chiếc ô lớn màu đen. Tiếp theo đám rước là những phụ nữ mặc áo dài rất đẹp. Cô dâu đi phía cuối đám rước.

    Sau nghi lễ trước bàn thờ tổ tiên, mọi người bắt đầu ăn cỗ. Đây là một bữa tiệc có nhiều món ăn kỳ lạ. Tôi chỉ nhận ra được cơm và tiết canh bò, những món khác thì chịu.

    Mọi người rót cho tôi một chất lỏng từ chai Pepsi cũ. Nó khiến tôi cháy cổ họng sau khi uống một ngụm. Điệu bộ của tôi có lẽ giống như một thằng hề, và người Việt Nam đổ lại thứ chất lỏng gắt như axit này vào chai.

    Sau đó họ pha chúng với Pepsi và lại mời tôi uống. Nhưng phản ứng của tôi cũng không khá hơn lần trước.

    Dưới đây là những bức ảnh tôi còn giữ từ buổi đám cưới đáng nhớ ấy. Mỗi khi xem lại, tôi luôn tự hỏi điều gì sẽ xảy đến với những con người trong ảnh khoảng thời gian sau đó, khi cuộc chiến khốc liệt sẽ còn kéo dài thêm 5 năm…

    Đám rước của gia đình cô dâu đã tới.
    Đám rước của gia đình cô dâu đã tới.
    Ông cụ cầm chiếc ô lớn màu đen là người đứng đầu nhà cô dâu. Phía sau là những người đàn ông lớn tuổi trong họ.
    Ông cụ cầm chiếc ô lớn màu đen là người đứng đầu nhà cô dâu. Phía sau là những người đàn ông lớn tuổi trong họ.
    Kế đến là các cô phù dâu mặc những chiếc áo dài rất đẹp.
    Kế đến là các cô phù dâu mặc những chiếc áo dài rất đẹp.
    Cô dâu là người mặc áo hồng, đi giữa hai phụ nữ mặc áo dài tím.
    Cô dâu là người mặc áo hồng, đi giữa hai phụ nữ mặc áo dài tím.
    Các cụ bà bên nhà cô dâu.
    Các cụ bà bên nhà cô dâu.
    Tất cả phụ nữ mặc áo dài, và dường như là không có chiếc nào giống chiếc nào.
    Tất cả phụ nữ mặc áo dài, và dường như là không có chiếc nào giống chiếc nào.
    Những trẻ em hiếu kì đi theo đám rước.
    Những trẻ em hiếu kì đi theo đám rước.
    Tiếc cưới rất ngon miệng, dù nhiều món tôi không biết phải gọi là gì.
    Tiếc cưới rất ngon miệng, dù nhiều món tôi không biết phải gọi là gì.
    Cô dâu và chú rể ngượng nghịu chụp ảnh kỷ niệm. Sau lưng họ là những bao cát quân sự.
    Cô dâu và chú rể ngượng nghịu chụp ảnh kỷ niệm. Sau lưng họ là những bao cát quân sự.
    Cha mẹ của chú rể.
    Cha mẹ của chú rể.
    Chị của chú rể và cậu con trai.
    Chị của chú rể và cậu con trai.
    Chú rể là thông dịch viên trong tiểu đoàn trinh sát của chúng tôi.
    Chú rể là thông dịch viên trong tiểu đoàn trinh sát của chúng tôi.
    Em trai chú rể, có biệt danh là Joe, một đứa trẻ lanh lợi.
    Em trai chú rể, có biệt danh là Joe, một đứa trẻ lanh lợi.
    Hai đứa trẻ bên nhà cô dâu.
    Hai đứa trẻ bên nhà cô dâu.
    Mẹ chú rể bên các cô phù dâu.
    Mẹ chú rể bên các cô phù dâu.
    Bố của chú rể, một quý ông đẹp lão.
    Bố của chú rể, một quý ông đẹp lão.
    Cô dâu và các cô phù dâu đứng tán gẫu.
    Cô dâu và các cô phù dâu đứng tán gẫu.
    Joe và tôi - một người đi dự đám cưới với đầy đủ súng đạn trên người.
    Joe và tôi – một người đi dự đám cưới với đầy đủ súng đạn trên người.
    Joe và các đứa em họ chờ đợi được ăn cỗ.
    Joe và các đứa em họ chờ đợi được ăn cỗ.
    Đoàn của nhà cô dâu rời khỏi nhà chú rể sau đám cưới.
    Đoàn của nhà cô dâu rời khỏi nhà chú rể sau đám cưới.

    theo Đất Việt

  • Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Hà Nội cách đây hơn 50 năm khác rất nhiều so với Hà Nội của hiện tại. Dù có là người con sinh ra, lớn lên ở Hà Nội, bạn cũng khó có thể nhận ra những con đường, tuyến phố, khu chợ xuất hiện trong ảnh.
    Bộ ảnh ghi lại nhịp sống ở Hà Nội năm 1959, do nhiếp ảnh gia Rév Miklós thực hiện.

    Rév Miklós (1905-1998) là một nhiếp ảnh gia, ông được xem như “bậc thầy” của trường phái nhiếp ảnh báo chí Hungary. Miklós từng theo học trường Cao đẳng nghệ thuật chuyên nghành thiết kế nội thất, nhưng sau đó ông quyết định theo đuổi đam mê nhiếp ảnh, trở thành phóng viên ảnh tự do.

     

    Nếu bạn cho rằng thật để tưởng tượng cuộc sống ở Hà Nội không có xe máy sẽ ra sao, như thế nào, thì đây, cùng “du lịch về quá khứ” qua bộ ảnh chụp Hà Nội năm 1959 của tác giả Miklós.

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959
    Ành: Rév Miklós

     

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Trong chuyến đi tới Hà Nội năm 1959, Miklós đã dành khá nhiều thời gian lang thang, khám phá phố phường, cảm nhận cuộc sống của người dân và ghi lại khoảnh khắc đẹp. Bằng mắt quan sát tinh tế, “bậc thầy” của nhiếp ảnh báo chí đã thu vào ống kính những góc rất đời.

    Bộ ảnh gồm cả ảnh màu và ảnh đen trắng, cho độc giả thấy phần nào đặc trưng về văn hóa, kiến trúc, sinh hoạt thường ngày của người Hà Nội thời bấy giờ. Bộ ảnh là tư liệu quý, giúp thế hệ sau được nhìn lại những gì đã qua trong quá khứ.

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959Loạt ảnh Hà Nội năm 1959

    Theo Phương Lâm/ Đời sống & Pháp lý

  • Hai chữ Lạc Hồng bắt nguồn từ đâu?

    Hai chữ Lạc Hồng bắt nguồn từ đâu?


    Dù ai đi ngược về xuôi
    Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba.

    Hai chữ Lạc Hồng bắt nguồn từ đâu?

    Với môn lịch sử đa số chúng ta là người ngoại ngạch. Nhung dù sao vẫn là con dân Việt.

    Theo truyền thuyết, Đế Minh- một vị vua đất Bắc khi tuần du phương Nam đã mang một phụ nữ đẹp về làm vợ sinh ra Lộc Tục. Ông cho con lớn Đế Nghi làm vua đất Bắc và để chàng con thứ Lộc Tục thông minh hơn cai trị phương Nam hiệu là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương kết hôn với Long Nữ sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Nghi là Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, dòng giống Việt ra đời. Con của Âu Cơ gọi là Hùng. Hùng trưởng hay con cả của Mẹ Âu Cơ lên làm vua, đó là Hùng Vương đời thứ nhất. Vua đặt tên nước là Văn Lang; quan văn gọi là Lạc hầu; quan võ gọi là Lạc tướng còn dân tình gọi là Lạc dân. Ấy là truyền thuyết. Và cũng mãi sau này đọc thêm mới biết vậy. Trước đây mình đâu có để tâm môn lịch sử cho lắm, học đối phó là chính.

    Cách nay ít năm, trong lần về Phú Thọ, tôi đã ghé thăm bảo tàng Hùng Vương. Dịp đó mới ngắm kỹ các họa tiết trống đồng: cảnh sinh hoạt; con thuyền; chim Lạc; cách ăn mặc… Cảm giác lúc ấy rất hồ nghi, cứ như đang xem bức phù điêu mô tả về người da đỏ Bắc Mỹ vậy.

     Bản đồ Bách Việt

    Bản đồ Bách Việt

    Với hai chữ Lạc Hồng, có mấy chủ thuyết sau.

    Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh – trong các cuốn Lịch sử Việt Nam cổ đại và Nguồn gốc Dân tộc Việt Nam đã cho rằng nguồn gốc người Việt cổ bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ Vân Nam mà sử Tàu xưa gọi là Bách Việt, trong quá trình Nam tiến đã hợp huyết với người bản địa; sinh ra người Việt Mường cổ. Những cái thuyền trên trống đồng là thuyền người Giang Nam di cư về phương Nam. Còn những con chim đó là chim Lạc – vật tổ của người Việt- loài chim có nguồn gốc từ vùng Giang Nam di cư theo người Việt dọc theo miền duyên hải. Sách Lĩnh Nam Chích Quái có đề cập đến họ Hồng Bàng. Và chữ Hồng hay Hùng chỉ rằng dân Việt có nguồn gốc từ họ Hồng Bàng. Một người bạn đã từng theo học nhiều Gs sử học nổi tiếng Trần Quốc Vượng; Phan Huy Lê; Hà Văn Tấn thì cho biết rằng chữ Hùng trong chữ vua Hùng bắt nguồn từ tiếng Mường cổ để gọi người đứng đầu.

    Có nhà sử học cho rằng Gs Đào Duy Anh đã viện dẫn cổ sử để sáng tác.ra câu chuyện về nguồn gốc người Việt cổ và chữ Lạc chả liên quan gì tới hình con chim trên trống đồng Ngọc Lũ. Nhưng các nhà lịch sử sau này đều dẫn theo Đào Duy Anh cho rằng Lạc là tên loài chim đã di cư theo người Việt xuống phía Nam -totem của người Việt. Còn một nhà sử học khác lại trích dẫn nhiều thư tịch cổ; ví dụ một đoạn trong sách Tàu cổ Giao châu Ngoại vực ký ghi “Ở đất Giao chỉ có Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng … Họ sử dụng hoa lợi từ Lạc điền” và nhiều cổ thư Tàu khác để chứng minh rằng lập luận của cụ Đào Duy Anh là chưa đủ cơ sở. Ông cho rằng Lạc Việt là cách người Tàu gọi đất nước của người Việt xưa kéo dài từ vùng Vân Nam Quý Châu đến mạn Quảng Bình sau này.

    Ở Trung quốc; dân tộc Choang phân bố chủ yếu ở Quảng Tây. Họ có tiếng nói và chữ viết riêng, có nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Trong từ vựng của người Choang, Lạc = hiểu biết, minh triết. Người Choang biết đúc trống đồng và cũng có truyền thuyết đẻ trăm trứng. Vậy chữ Lạc là tiếng Choang?

    Đa số học giả Việt, Pháp và Thái lan cho rằng Lạc Việt là cái tên người Tàu gọi một tộc người sống ở vùng Bách Viêt – Giang Nam Phúc Kiến ngày nay. Người Lạc Việt được cho là thủy tổ của người Kinh; người Mường và người Choang và người Bố Y. Số khác cho rằng Lạc Việt là cách người Tàu gọi đất nước của người Việt (Yue) cổ.

    Vậy ngày giỗ Tổ có rừ khi nào? Và đó là ngày giỗ vị vua nào ? Sách sử chép lại rằng trong 18 đời vua Hùng đã có tới 108 vị vua từng trị vì chứ không phải 18 vị như nhiều người vẫn nghĩ. Có suy luận răng đó là ngày giỗ Lạc Long Quân- người sáng lập triều đại Hùng Vương nhưng ý kiến này không có cơ sở. Sau khi con trưởng lên ngôi vua thì ngài cũng không ở lại và không biết ngài đi đâu. Ghi chép xưa nhất còn lại là sắc chỉ của vua Minh Mạng năm 1917 sức cho tỉnh Phú Thọ lo việc cúng tế các vua Hùng vào ngày 10 tháng Ba âm lịch. Tất nhiên, việc cúng tế này đã được duy trì từ rất lâu trước đó.

    Lịch sử thường được viết lại theo hướng tự tôn dân tộc. Đâu phải nhà sử học nào cũng làm được như dòng họ nhà Tư Mã Thiên!

    Cá nhân tôi nghĩ rằng cho dù các từ Lạc Hồng có gốc gác từ tiếng Hán; tiếng Việt hay tiếng Choang cổ thì “con Lạc cháu Hồng” vẫn đang là niềm tự hào của con dân đất Việt!
    Blog Phạm Văn Quang

  • Một số từ hay bị dùng sai trong Tiếng Việt

    Một số từ hay bị dùng sai trong Tiếng Việt

    Một góc Phố cổ Hà Nội xưa
    Một góc Phố cổ Hà Nội xưa
    *Book Hunter:  Trong ngôn ngữ giao tiếp và hành chính của người Việt chúng ta hiện nay, nhiều từ đã bị sử dụng không chính xác, bị biến nghĩa hoặc ghép từ một cách kệch cỡm. Điều này thể hiện tư duy tạm bợ và tinh thần thiếu trách nhiệm trong sử dụng ngôn từ. Việc đưa ra những khái niệm không chính xác này tạo thành một thói quen chấp nhận sự mù mờ trong định nghĩa từ, dễ gây hiểu lầm và tranh cãi, khiến cho văn bản kém tính chính xác. Đây là một bài chúng tôi sưu tầm, liệt kê các trường hợp sử dụng từ sai trong tiếng Việt hiện nay.
    1.- Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt.
    CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt ví tính từ đứng trước danh từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ chung Hán việt không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy chung cư 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn.
    KHẢ NĂNG. “Khả năng” 可 能 là năng lực của con người, có thể làm được việc gì đó. Thế mà người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục và đáng xấu hổ. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng 可 能 (capacité, capable) với khả dĩ 可 以 (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là có thể, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực mà con người mà thôi.
    QUÁ TRÌNH. Quá 過 là đã qua, trình 程 là đoạn đường. Quá trình là đọan đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: “Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo câu đại loại thế nầy: “Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi”.Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai.
    HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học tiếng Hán, mà lại thích dùng tiếng Hán để tỏ ra “ta đây” nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói “huyền thoại Pelé” “huyền thoại Maradona”.. Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền 玄 là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại 話 là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 càu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chũ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: “Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có trong huyền thoại”. Ông bà mình thường nói: “Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?”
    HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ (lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu 昬夫,昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy.
    2.- Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt
    ĐỘC LẬP Độc 獨 là riêng một mình, Lập 立 là đứng. Vậy theo nghĩa gốc Hán Việt, độc lập là đứng riêng rẻ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ tự chủ để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ.
    PHONG KIẾN.封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa.
    TIÊU CỰC, TÍCH CỰC 消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc Hán Việt thì sự gán ép như thế là sai. Tich cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu.
    3.- Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm).
    QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: “Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ”. Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giỗ mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu, Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật 忌日.Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.
    GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.
    ĐỆ NHẬT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có` tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố 瀑 布, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.
    4.- Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm.
    X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng “Phòng X quang” Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi vể kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang 光 có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0,1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chăn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông “đại giáo sư tiến sĩ” nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ “TIA X” như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ “X QUANG” để chứng tỏ ta đây biết “nói chữ” hay sao?
    BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phu, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đà được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu.
    Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chi, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như : nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam!
    NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ” Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao?
    TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên song.. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều 強 潮 gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường 潮 強 thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nói con nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng.
    HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch 核 là cái hạt, tâm 心 là cái lõi hay cái nhân bên trong . Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là “nhân của hạt” hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi “vỏ hạt” chứ không thể gọi là “hạt vỏ” được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạt mới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm.
    TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc 賊có nghĩa là ăn cướp, đạo 盜 mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê. . . Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt 釘 nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là “bọn rải đinh” thì hơn.
    Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như:
    Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp,
    Nhóm trưởng, phải sửa lại trưởng nhóm
    Siêu rẻ, phải sửa lại rất rẻ
    Siêu bền, phải sửa lại rất bên
    Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn
    Vân vân…
    5.- Dùng từ vô nghĩa
    Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là “nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu”. Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hán Hoa liễu 花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép “bịnh hoa liễu” để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu 柳 thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu !!!
    ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: “Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy”. Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn.
    SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự 故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.
    HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: “Cô ây sống hoàn cảnh lắm”. Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói “Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm”!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế đó không ?
    ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chức không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được.
    XÂY DỰNG. “Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới dó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi.
    6.- Dùng sai nghĩa từ thuần Việt.
    NGƯỠNG. Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1% thì đường thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mổi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 đô đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên.
    KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó :”Thằng A hay kiêu ngạo người khác.” Tôi không giải thích được vì không rõ câu nầy có nghĩa: “thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác”, hay là “thằng A thường chế nhạo người khác”. Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được.
    TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: “Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chử tịch”
    7.- Dùng từ thiếu chính xác
    CHẤT LƯỢNG. Chất 質là cái khối chứa bên trong một vật (matière) lượng 量là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được (masse). Thí dụ: “khối lượng hay chất lượng của một vất là 1 kilo gramme”. Thế mà ngày nay người ta dung từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: “Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má cò có hại cho sức khỏe nữa”.
    CẢM GIÁC. 感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: “Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm”. Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từ cảm nghĩ. Thí dụ: ‘Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?”. Thực là sai một cách trầm trọng.
    THỐNG NHẤT. Thống nhất 統一 là làm biến mất tình trạng chia rẻ bắng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: “Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch”. Nói như vậy là sai.
    GIẢI PHÓNG . Giải phóng 解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chi công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng.
    ĐĂNG KÝ. Đăng ký 登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày, người ta nói: “Tôi đã đăng ký đi nước ngoài” Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói: ghi danh hay ghi tên mới đúng.
    8.- Từ vựng lộn xộn.
    LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà.” Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch.
    YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: “Tôi yêu cầu anh đi ngay”. Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ.
    NGHIÊN CỨU SINH. Sinh 生 là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như “Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc” Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ!
    ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng 印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn thượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như “cảnh đó rất ấn tượng”, và cả động từ nữa, như “tôi rất ấn tượng cảnh đó”. Hết sức bậy bạ
    THẦN TƯỢNG. 神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như “người đó rất thần tượng”, rồi cả động từ nữa “anh có thần tượng đồng chí đó không?”
    TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: “Cần phải báo cáo cho trên rõ” hay “trên bảo, dưới không nghe”.
    LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vi nói làm giỏi, học giỏi.
    LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay 领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: “Lãnh đạo đã chỉ thị như thế”
    Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó.
    9.- Cóp tiếng Tàu đang dùng.
    LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban 班 là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp, rất hay vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được.
    TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: “trong chuyến đi tham vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít” Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu.
    Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là đều điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ,大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt.
    10.- Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa.
    ĐIỂM YẾU Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là cái điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng.
    THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là “ở phía bên trên”. Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thi thấp có nghĩa là ẩm ướt.. Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: “giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm” hay “dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm”
    11.- Đảo tư kép bừa bãi và không cần thiết.
    XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: “…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ….”. Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được.
    Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái …..
    Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được.
    Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay.
    Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: “Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt”!!!
    12.- Ghép từ bừa bãi.
    KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ “kich thích nhu cầu tiêu thụ” được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép “kích cầu”, tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiên ở dưới sông. Cách ghép nấy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay.
    GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phái một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn đò cẩn thận: “Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé”. Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không
    13.- Dùng từ dao to búa lớn
    CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: “nội chiến ở bán đảo Ibérique”. Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa, Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay.
    CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: “Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái”. Nghe thực đáng sợ.
    NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng “ngài”. Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi.
    THAM QUAN. 參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu. Gọi thế mới hách chứ.
    NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu.
    14.- Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục.
    KHẨN TRƯƠNG Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Uc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.
    BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: “Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà nội”. Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường.
    15.- Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý.
    MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao.
    LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình.
    16.- Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỷ thuật hiện đại.
    COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỷ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác.
    INFORMATION TECHNOLOGIE dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, tecgnologie là một kỷ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép “tin học” thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt. *ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuật và ngôn ngữ.
    (trich TrieuThanh Magazine)
  • Chuyện ăn uống của các vua Nguyễn

    Chuyện ăn uống của các vua Nguyễn

    Tiếp theo bài viết đặc sản tiến Vua của người Việt xưa. Hình ảnh Việt Nam xin giới thiệu một bài viết rất hay trình bày những vấn đề về cung cách ăn uống của vua triều Nguyễn.

    Ông cố và ông nội tôi (cụ Nguyễn Đắc Tiêu) suốt đời ở trong ban Nhạc chánh của Nam triều. Đời bác tôi (ông Ngũ Vọng) , lại làm Thị vệ cho vua Khải Định và ông vua cuối cùng Bảo Đại. Lúc nhỏ tôi được gần ông nội tôi và bác tôi. Để giải buồn, ông tôi và bác tôi hay kể chuyện trong Nội cho tôi nghe. Những chuyện đó cứ được kể đi kể lại đã làm cho nhiều người khó chịu và chúng cũng đã hằn sâu trong tâm trí tôi. Không ngờ, nững nếp hằn đó đã trở thành những cơ sở đầu tiên cho cuộc đời nghiên cứu Huế của tôi sau này.

    Ẩm thực cung đình Huế
    Ẩm thực cung đình Huế

    Nhân nói chuyện ăn Tết năm nay, tôi xin trình bày đôi nét về chuyện ăn uống của các vua Nguyễn.

    Trong cung Nguyễn có hai bộ phận lo chuyện bếp núc.

    Bộ phận Lý Thiện : Người phục vụ trong bộ phận này phần lớn là dân làng Phước An (Thừa Thiên-Huế) phụ trách nấu nướng cỗ bàn cho những yến tiệc, kỵ giỗ của triều đình. Đầu đường Lê Huân phía cột cờ có một con đường nhỏ mang tên Lý Thiện. Đó là nơi ăn ở và làm việc của bộ phận Lý Thiện ngày xưa.

    Bộ phận Lý Thiện : Ở ngay trong Đại Nội (phía phải của Nhà hát cung đình Duyệt Thị Đường). Thượng Thiện hằng ngày đi chợ mua thực phẩm cho vua và gia đình nhà vua. Bộ phận này là bếp chính của vua.

    Mẹ tôi đã từng được bác Ngũ Vọng đưa vào xem bếp Thượng Thiện và được nghe lính Thượng Thiện giải thích cặn kẽ chuyện bếp núc của nhà vua.

    Bếp Thượng Thiện lo nấu nướng cho vua ăn có đến mấy chục người. Mỗi người phụ trách một việc như : vót đũa, vót tăm, quết thịt nạc, làm nem, làm chả, làm tré, người đi chợ, người nấu các món ăn (mỗi người chỉ nấu được một vài món / 35 món).

    Nấu cơm và thức ăn cho vua đều dùng nồi trách bằng đất nung sản xuất ở làng “Đột Đột” huyện Phong Điền. Đồ đất mới đưa vào Nội liền được thả vào một chảo nước chè xanh đậm đặc đang sôi sùng sục, ninh đến khi nào các đồ đất mới ấy được mạ một lớp men xanh mới vớt ra và cất vào kho để dùng dần. Mỗi bữa ăn dùng một cái om nấu cơm, vua ăn xong đập bể, bữa sau lại dùng cái khác.

    Đũa vua dùng vót từ một loại tre già, vót sao cho chiếc đũa có một đầu to, một đầu nhỏ. Vót xong dùng dăm tre chuốt cho thật bóng láng và bỏ vào nồi hấp rồi phơi khô trước khi nhập kho. Tăm vua dùng gọi là “tăm bông” cũng vót từ một thứ tre già. Chiếc tăm dài bằng cây bút bi. Đầu nhỏ giống đầu tăm thường dùng xỉa răng. Đầu lớn bằng mút đũa được người vót dùng sống rựa đập nhè nhẹ cho tuơ ra, cái xơ tre thật mịn mới được dùng. Cái đầu xơ loe ra giống như một cái bông vạn thọ, nhà Nguyễn kiêng chữ “hoa” nên gọi là “tăm bông”. Các cụ nhuộm răng đen, sau khi ăn cơm xong, xỉa răng uống nước cho sạch miệng rồi dùng đầu tăm bông chà sạch răng. Cuối cùng chấm đầu bông ấy vào thuốc rỏi (đen như mực) để rỏi lại hàm răng, giữ cho hàm răng luôn luôn bóng đẹp, nhất là phái nữ.

    Vua ăn cơm gọi là hoàng đế “ngự thiện” hoặc “Ngài ngự thiện”. Trừ vua Duy Tân và vua Bảo Đại “ngự thiện” với vợ con, các ông vua khác thường ngồi ăn cơm một mình. Khi cần có người nói chuyện cho vui trong khi ăn, vua cho hai trực thần (quan văn từ tứ phẩm, quan võ từ tam phẩm trở lên) vào ngồi gần hầu chuyện, gọi là “chầu thiện”. Vua ” ngự thiện” trên bàn hoặc trên sập, hai quan “chầu thiện” ngồi chênh chếch đối diện với một khoảng cách có thể đối thoại với nhau bằng giọng bình thường. Nếu có những vị quan nào được vua quý trọng, vua sẽ “ban thiện” bằng cách sai thị vệ dọn thêm một mâm riêng và mâm cơm được đặt ở một khoảnh cách nhất định để vị quan đó vừa ăn cơm vừa hầu chuyện.

    Trong lúc vua ăn, ban nhạc cung đình ngồi ở xa xa hòa nhạc giúp cho không khí bữa ăn bớt phần tẻ nhạt.

    Mỗi bữa “ngự thiện” có 35 món. Các món chính đựng trong vịm bịt giấy và buộc lạt cẩn thận. Tên thức ăn được viết trên một cái nhãn dán bên ngoài vịm. Vua thích món ăn nào thì bảo thị vệ mở món đó. Trước khi ăn, nhà vua thường ban bớt thức ăn cho các bà phi được nhà vua sủng ái nhất.

    Trong 35 món ngự thiện không phải món nào cũng thuộc loại cao lương mỹ vị mà thực ra có nhiều món rất bình dân như : dưa môn kho, ruốc sả, dưa cải, rau muống chấm nước tôm kho … Vua Duy Tân lúc nhỏ rất thích ăn cơm với cá bống kho khô, khi lên làm vua, bữa “ngự thiện” nào cũng có món ăn dân tộc ấy. Cơm “ngự thiện” đầy đủ như thế, nhưng nhiều khi nhà vua không thích ăn mà chỉ húp một chén cháo trắng rồi đứng dậy.

    Vua ăn xong, thị vệ bèn bưng vào một khay thức ăn tráng miệng gồm có các loại chè, bánh, kẹo, mứt, trái cây. Những món này được những bàn tay “cực kỳ tinh tế ” của các bà trong cung Nguyễn tự làm hay gửi mua. Bởi thế, dù không muốn ăn nhà vua cũng cố gắng nhón tay lấy một vài món bỏ vào miệng ăn để vừa lòng các bà. Các bà có món ăn được vua chọn lấy làm hãnh diện. Những món nhà vua không dùng hết, vua để riêng ban cho các quan. Vua cho ai món gì thì giao cho thị vệ sai lính thượng thiện bỏ vào quả sơn đỏ để vào siểng phủ khăn điều và che lọng xanh rước đến tận nhà người đó. Tại đây, chủ nhà phải có mặt để đón “ân vua, lộc nước”.

    Việc nấu nướng ăn uống của vua lâu ngày ảnh hưởng đến các quan và dần dần ảnh hưởng đến dân gian. Đến nay, triều Nguyễn đã chấm dứt gần nửa thế kỷ mà cái ảnh hưởng đó vẫn còn. Và nó đã được xem là di sản văn hóa vật chất của trung tâm văn hóa Huế.

    Nguyễn Đắc Xuân
    1994
  • Những khu chợ độc đáo ở Việt Nam

    Những khu chợ độc đáo ở Việt Nam

    Bên cạnh những nghề độc đáo, thì ở Việt Nam có những khu chợ cũng hết sức kì dị:  Chợ bán đá quý Lục Yên (Yên Bái), chợ côn trùng Tịnh An (An Giang) hay chợ bán gà chọi (Hà Nội)… được xem là những khu chợ độc đáo, kỳ dị chỉ có ở Việt Nam.

    Từ khá lâu, Tịnh Biên - An Giang đã trở thành một trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông quan trọng của vùng biên giới tây nam với nhiều mặt hàng đặc biệt. Những người ở xung quanh khu vực thường gọi chợ này là chợ Côn trùng vì ở đây chuyên bán “hàng độc” như mối chúa, rết, bò cạp, ve sữa, tắc kè, bửa củi…
    Từ khá lâu, Tịnh Biên – An Giang đã trở thành một trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông quan trọng của vùng biên giới tây nam với nhiều mặt hàng đặc biệt. Những người ở xung quanh khu vực thường gọi chợ này là chợ Côn trùng vì ở đây chuyên bán “hàng độc” như mối chúa, rết, bò cạp, ve sữa, tắc kè, bửa củi…
    Chị Lê Thị Hiếu, có 5 năm thu mua bò cạp về bán tại chợ Tịnh Biên, cho biết, bình quân vào tháng cao điểm (từ tháng giêng đến tháng 5), lượng khách đi viếng chùa Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc) về chợ biên giới rất đông, nên cũng là lúc dân bán côn trùng tập trung về đây để phục vụ du khách. Chỉ tính riêng bò cạp, mỗi hàng có thể bán ra từ 500 – 600 con/ngày. Bò cạp ở đây được bán với giá 4.000-5.000 đồng/con tùy kích cỡ.
    Chị Lê Thị Hiếu, có 5 năm thu mua bò cạp về bán tại chợ Tịnh Biên, cho biết, bình quân vào tháng cao điểm (từ tháng giêng đến tháng 5), lượng khách đi viếng chùa Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc) về chợ biên giới rất đông, nên cũng là lúc dân bán côn trùng tập trung về đây để phục vụ du khách. Chỉ tính riêng bò cạp, mỗi hàng có thể bán ra từ 500 – 600 con/ngày. Bò cạp ở đây được bán với giá 4.000-5.000 đồng/con tùy kích cỡ.
    Những loại côn trùng này mang nét đặc trưng ở vùng Bảy Núi. Một số trẻ em và người dân kỳ công lùng sục vào những đám rừng rậm bắt côn trùng rồi bán cho nhiều người mang về nhậu hoặc ngâm rượu uống.
    Những loại côn trùng này mang nét đặc trưng ở vùng Bảy Núi. Một số trẻ em và người dân kỳ công lùng sục vào những đám rừng rậm bắt côn trùng rồi bán cho nhiều người mang về nhậu hoặc ngâm rượu uống.
    Chợ chuột Phù Dật ở xã Bình Long, huyện Châu Phú (An Giang) được xem là chợ chuột lớn nhất miền Tây. Hàng ngày chợ hoạt động sôi nổi nhất từ 5 - 9 giờ sáng. Mỗi ngày có từ 3 - 5 tấn chuột được “xuất xưởng” từ đây.
    Chợ chuột Phù Dật ở xã Bình Long, huyện Châu Phú (An Giang) được xem là chợ chuột lớn nhất miền Tây. Hàng ngày chợ hoạt động sôi nổi nhất từ 5 – 9 giờ sáng. Mỗi ngày có từ 3 – 5 tấn chuột được “xuất xưởng” từ đây.
    Nhiều hộ mua bán chuột ở đây cho biết, tuỳ theo mùa (chuột nhiều và ngon nhất trong khoảng từ tháng 3 - 10 âm lịch), 1kg chuột hơi có giá dao động từ 20.000 - 30.000 đồng. Sau khi được giết mổ, làm sạch sẽ được bán với giá 35.000 - 60.000 đồng/kg.
    Nhiều hộ mua bán chuột ở đây cho biết, tuỳ theo mùa (chuột nhiều và ngon nhất trong khoảng từ tháng 3 – 10 âm lịch), 1kg chuột hơi có giá dao động từ 20.000 – 30.000 đồng. Sau khi được giết mổ, làm sạch sẽ được bán với giá 35.000 – 60.000 đồng/kg.
    Chính quyền địa phương cho biết, chợ chuột Phù Dật nằm gọn trên ấp Bình Chiến, trong ấp có khoảng 600 hộ thì có tới trên 200 hộ sống bằng nghề săn bắt, làm thuê và kinh doanh chuột. Nhờ cái chợ này mà hàng trăm lao động có công ăn việc làm, thu nhập ổn định. Do công việc nhẹ nhàng nên thu hút các chị em phụ nữ và thậm chí cả trẻ em, người già tham gia "dây chuyền" giết mổ, mỗi ngày thu nhập trung bình từ 70.000 - 100.000 đồng/người.
    Chính quyền địa phương cho biết, chợ chuột Phù Dật nằm gọn trên ấp Bình Chiến, trong ấp có khoảng 600 hộ thì có tới trên 200 hộ sống bằng nghề săn bắt, làm thuê và kinh doanh chuột. Nhờ cái chợ này mà hàng trăm lao động có công ăn việc làm, thu nhập ổn định. Do công việc nhẹ nhàng nên thu hút các chị em phụ nữ và thậm chí cả trẻ em, người già tham gia “dây chuyền” giết mổ, mỗi ngày thu nhập trung bình từ 70.000 – 100.000 đồng/người.
    Giữa Thủ đô Hà Nội, có một khu chợ khá độc đáo nằm ngay trên phố Hoàng Hoa Thám sầm uất: Đó là chợ sâu bọ. Chợ kéo dài khoảng 1 km, bán đủ các loại côn trùng như: sâu rồng, sâu quy… đến các loại cào cào, châu chấu, dế mèn… với giá chung là 250 nghìn đồng/1kg.
    Giữa Thủ đô Hà Nội, có một khu chợ khá độc đáo nằm ngay trên phố Hoàng Hoa Thám sầm uất: Đó là chợ sâu bọ. Chợ kéo dài khoảng 1 km, bán đủ các loại côn trùng như: sâu rồng, sâu quy… đến các loại cào cào, châu chấu, dế mèn… với giá chung là 250 nghìn đồng/1kg.
    Ngày nào cũng vậy, chợ bắt đầu họp từ lúc 8h sáng đến 19h mỗi ngày nhưng đông nhất là vào thứ 7 và chủ nhật.
    Ngày nào cũng vậy, chợ bắt đầu họp từ lúc 8h sáng đến 19h mỗi ngày nhưng đông nhất là vào thứ 7 và chủ nhật.
    Ngoài các loại côn trùng như sâu, cào cào, châu chấu… , vào thứ 7 hoặc chủ nhật chợ còn bán thêm các con vật như: rết, sâu chít, tắc kè… cho khách có nhu cầu. Cũng vì những món hàng “độc”, “lạ” được bày bán ở đây mà nhiều người ví ngôi chợ này là ngôi chợ “có một không hai” ở Hà Nội.
    Ngoài các loại côn trùng như sâu, cào cào, châu chấu… , vào thứ 7 hoặc chủ nhật chợ còn bán thêm các con vật như: rết, sâu chít, tắc kè… cho khách có nhu cầu. Cũng vì những món hàng “độc”, “lạ” được bày bán ở đây mà nhiều người ví ngôi chợ này là ngôi chợ “có một không hai” ở Hà Nội.
    Chợ đá Lục Yên (Yên Bái) họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày.
    Chợ đá Lục Yên (Yên Bái) họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày.
    Theo lời dân địa phương, chợ này phát triển nhất vào những năm 1991, 1992 là những năm đầu người ta phát hiện ra ở Lục Yên có mỏ đá quý. Dân các nơi đổ đến đào đãi đá, người dân địa phương cũng bỏ nghề làm ruộng, đi rừng để tìm đá. Ai đi đào đãi được chút ít lại mang về chợ bán.
    Theo lời dân địa phương, chợ này phát triển nhất vào những năm 1991, 1992 là những năm đầu người ta phát hiện ra ở Lục Yên có mỏ đá quý. Dân các nơi đổ đến đào đãi đá, người dân địa phương cũng bỏ nghề làm ruộng, đi rừng để tìm đá. Ai đi đào đãi được chút ít lại mang về chợ bán.
    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc.
    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc.

     

    Chợ giời hay còn gọi chợ Hòa Bình là chợ đồ cũ nổi tiếng ở Hà Nội được hình thành vào khoảng những năm 1954 - 1955. Chợ giời bao gồm đoạn cuối của phố Huế và một phần các phố Đồng Nhân, Trần Cao Vân, Chùa Vua, Thịnh Yên, Yên Bái 2, liên thông cả sang (một phần) khu chung cư Nguyễn Công Trứ và một số ngõ nhỏ hình thành nên. Các sạp hàng bày san sát từ trong chợ ra đến tận ngoài chợ và người mua có thể đi xe máy đến tận từng sạp hàng để mua bán.
    Chợ giời hay còn gọi chợ Hòa Bình là chợ đồ cũ nổi tiếng ở Hà Nội được hình thành vào khoảng những năm 1954 – 1955. Chợ giời bao gồm đoạn cuối của phố Huế và một phần các phố Đồng Nhân, Trần Cao Vân, Chùa Vua, Thịnh Yên, Yên Bái 2, liên thông cả sang (một phần) khu chung cư Nguyễn Công Trứ và một số ngõ nhỏ hình thành nên. Các sạp hàng bày san sát từ trong chợ ra đến tận ngoài chợ và người mua có thể đi xe máy đến tận từng sạp hàng để mua bán.
    Có những đồ giá chỉ 5.000 - 10.000 đồng, có những đồ tiền triệu, nhưng đều rẻ hơn đồ mới rất nhiều lần. Khách mua hàng cứ thoải mái trả giá, có khi được chủ cửa hàng đồng ý bán với giá chỉ bằng 1/3 giá ban đầu.
    Có những đồ giá chỉ 5.000 – 10.000 đồng, có những đồ tiền triệu, nhưng đều rẻ hơn đồ mới rất nhiều lần. Khách mua hàng cứ thoải mái trả giá, có khi được chủ cửa hàng đồng ý bán với giá chỉ bằng 1/3 giá ban đầu.
    Chợ gà chọi là một mảng buôn bán trong phiên chợ cổ Hà Đông, họp vào các ngày 5, 10, 15, 20, 25, 30 Âm lịch hàng tháng. Chợ bán chủ yếu các loại gia súc gia cầm, cây cảnh, trong đó khu bán gà chọi đông nhất.
    Chợ gà chọi là một mảng buôn bán trong phiên chợ cổ Hà Đông, họp vào các ngày 5, 10, 15, 20, 25, 30 Âm lịch hàng tháng. Chợ bán chủ yếu các loại gia súc gia cầm, cây cảnh, trong đó khu bán gà chọi đông nhất.
    Thường những con gà bán tại đây được khoảng 8 tháng tuổi, là thời điểm thích hợp để gà sau khi về tay chủ mới sẽ được tiếp tục huấn luyện trở thành gà chiến.
    Thường những con gà bán tại đây được khoảng 8 tháng tuổi, là thời điểm thích hợp để gà sau khi về tay chủ mới sẽ được tiếp tục huấn luyện trở thành gà chiến.
    Chợ trâu “Cán Cấu” thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai họp vào thứ bảy hàng tuần. Không chỉ thu hút những người mua bán, trao đổi trâu, bò, ngựa,… chợ Cán Cấu còn là một địa điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch của tỉnh Lào Cai.
    Chợ trâu “Cán Cấu” thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai họp vào thứ bảy hàng tuần. Không chỉ thu hút những người mua bán, trao đổi trâu, bò, ngựa,… chợ Cán Cấu còn là một địa điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch của tỉnh Lào Cai.
    Chợ được họp trên những triền đồi thoai thoải, các chú trâu được chủ dắt lùa về họp chợ từ sáng sớm. Các cuộc thương lượng về giá cả diễn ra sôi nổi, giá mỗi chú trâu đen dao động từ 6 – 10 triệu/con; trâu trắng từ 18 – 20 triệu/con. Những người tham gia phiên chợ đủ mọi thành phần, lứa tuổi…
    Chợ được họp trên những triền đồi thoai thoải, các chú trâu được chủ dắt lùa về họp chợ từ sáng sớm. Các cuộc thương lượng về giá cả diễn ra sôi nổi, giá mỗi chú trâu đen dao động từ 6 – 10 triệu/con; trâu trắng từ 18 – 20 triệu/con. Những người tham gia phiên chợ đủ mọi thành phần, lứa tuổi…

    Theo Dân Trí

  • Đặc sản tiến Vua của người Việt xưa

    Đặc sản tiến Vua của người Việt xưa

    Bạn có muốn biết Vua ăn gì không?

    Nền ẩm thực phong phú của Việt Nam từ thời xa xưa đã sản sinh ra hàng trăm, hàng ngàn món ăn đặc sắc. Một phần nhỏ trong số những món ăn đó hưởng vị trí trang trọng đặc biệt khi được đưa vào cung đình để cung tiến các bậc vua chúa. Tiêu chí lựa chọn là: có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy.

    Dưới đây là một số đặc sản tiến vua nổi tiếng ở Việt Nam:

     Sá sùng

    Ít ai biết rằng, từ thời xưa, sá sùng được khai thác để làm cống vật cho vua, quan hay chỉ có những người giàu có mới đủ điều kiện sử dụng bởi công dụng đặc biệt trong việc tăng cường sinh lực.
    Tuy nhiên, loài vật thân mềm này chỉ sống tại những bãi cát ven biển trên đảo Quan Lạn và Minh Châu (Quảng Ninh) và chỉ được khai thác vào tháng 3 đến tháng 7.

    Khi còn tươi, sá sùng có độ dài khoảng 5 – 10cm. Cá biệt có con dài đến 15 – 40cm, nặng từ 1- 3kg. Khi bị bắt lên khỏi mặt biển, chúng thu mình lại, tròn như một quả bóng, cái miệng bé như lỗ van bơm hơi. Lớp da sá sùng thay đổi màu sắc tùy theo môi trường ở, nếu dùng tay sờ vào thấy mềm và mát.


    Sá sùng có hình dạng na ná như một con giun khổng lồ, sống trong những hang đá, khe cát. 

    Ngoài công dụng chữa bệnh, sá sùng còn được dùng để chế biến thuốc hay nấu nước phở cho ngọt, nấu nước dùng ngon cho nhiều món trong dịp Tết.
    Tuy nhiên, việc khai thác sá sùng không phải đơn giản, bởi chỉ những người phụ nữ mới có thể khai thác được thứ của hiếm này – chứ nam giới bắt sá sùng tự nhiên mất hút.
    Bên cạnh đó, cư dân biển chỉ có thể dùng mai để đào, chứ không dùng được các loại máy móc hỗ trợ nào. Có lẽ chính bởi nguồn khai thác không lớn và thủ công nên giá của một kg sá sùng dao động khoảng 3,5 – 4 triệu đồng/kg.

    Bánh Phu thê

    Là nơi phát tích của vương triều nhà Lý, Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) thường được gọi là đất vua. Đây cũng vùng đất của một đặc sản nổi tiếng, đã được đưa vào tận kinh đô Huế để tiến vua, đó là bánh phu thê. Đúng như tên gọi của mình (phu thê nghĩa là vợ chồng), món bánh này không lẻ chiếc mà đi theo cặp. Phía sau những lớp là chuối, chiếc bánh hiện ra với lớp vỏ làm bằng bột nếp óng ánh màu vàng tươi. Nhân bánh là đỗ xanh giã nhuyễn, nhào đường, có thể cho thêm dừa. Hương vị của bánh ngọt ngào như duyện vợ chồng.

    Sâm cầm hồ Tây

    Sâm cầm hồ Tây là món ăn nổi tiếng, đã đi vào câu ca dao “Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây” của đất Thăng Long. Quan niệm dân gian cho rằng loài chim này di trú từ phương Bắc về phương Nam, chúng đào ăn nhân sâm trên đỉnh các núi cao ở Trung Quốc, Hàn Quốc nên được gọi là sâm cầm. Đó là lý do thịt Sâm cầm được cho là một món ăn đại bổ. Đây cũng là một món ăn khoái khẩu của vua Tự Đức. Tương truyền, làng Nghi Tàm bên hồ Tây được lệnh mỗi năm phải tiến vua 40-50 con chim Sâm cầm, nếu thiếu sẽ bị phạt nặng.

    Cá Anh vũ

     

    Nếu Sâm cầm là niềm tự hào của hồ Tây thì cá Anh vũ là thương hiệu bất hủ của ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Với những thớ thịt trắng, quánh và đặc biệt là khối sụn môi giòn sần sật, cá anh vũ được người sành ẩm thực cho là ngon hơn bất kỳ loài cá nào của sông nước. Vì vậy, từ xa xưa, cá anh vũ đã được dùng làm thức tiến ăn tiến vua, được các bộ chính sử ghi lại. Cũng giống như sâm cầm hồ Tây, ngày nay cá Anh vũ đã gần như biến mất tại nơi vùng nước gắn với danh tiếng của mình.

    Chè long nhãn hạt sen phố Hiến

    Sau mỗi bữa ăn đầy sơn hào hải vị, vua chúa ngày xưa tráng miệng bằng gì? Một trong những câu trả lời là chè long nhãn hạt sen phố Hiến (Hưng Yên). Nguyên liệu chính của món chè tiến vua này là những quả nhãn lồng phố Hiến, loại nhãn có hương vị thơm quý phái, cùi dầy, ăn giòn, ngọt hơn bất cứ các loại nhãn nào khác.

    Gà Đông Tảo

    Bên cạnh nhãn lồng, đất Hưng Yên còn có một đặc sản tiến vua đặc sắc khác là gà Đông Tảo. Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào. Gà Đông Tảo có thể được nấu thành nhiều món, nhưng độc đáo nhất là món “vảy rồng hầm thuốc bắc” làm từ đôi chân to quá khổ của chúng.

    Chuối Ngự

    Tương truyền, vào thời Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần. Cảm kích trước tài năng và đức độ của các bậc trị nước, dân thành Nam đã trồng một sản vật quý để dâng vua, đó chính là chuối ngự. Vẫn còn được trồng chọ đến ngày nay, chuối Ngự cho quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh tao đầy quyến rũ…

    Cốm làng Vòng

    Cốm làng Vòng, sản vật đặc trưng của đất Thăng Long đã nổi tiếng từ cách đây 1.000 năm, khi được đưa vào cung tiến vua các triều Lý. Ngày nay, cứ mỗi mùa thu món ăn chơi làm từ lúa non này lại theo các gánh hàng rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội. Cốm Vòng thường được mua về ăn với chuối chín hoặc nấu chè cốm. Đây cũng là nguyên liệu chính của bánh cốm Hàng Than, một món ăn cũng rất đậm chất Hà Nội.

    Mắm tép Hà Yên

    Mắm tép Hà Yên (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, thời xưa thường được dùng để tiến vua. Để làm loại mắm này, các chức sắc địa phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Đam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, là tép riu nhỏ, có mầu trong xanh. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Khi hoàn thành mắm có ánh vàng, sóng sánh như mật ong.

    Rau muống Linh Chiểu

    Trắng nõn và mềm giòn như giá đỗ, hương vị hài hòa, rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thời xưa rất được các bậc vua chúa ưa thích. Bởi vậy, giống rau này còn có tên gọi khác là rau muống tiến vua. Để bảo đảm chất lượng, việc chăm sóc rau rất kỳ công và vất vả, đất trồng rau phải nằm sát sông, được hưởng mạch nước sủi trong vắt và phù sa sông Hồng bồi đắp. Do việc chăm sóc phức tạp, hiệu quả kinh tế không cao, ngày nay giống rau đặc sản này đang dần bị mai một.

    Tổ chim yến

    Được làm từ nước dãi của những con chim yến, yến sào (tổ chim yến) là một đặc sản có hương vị rất hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao. Từ thời xưa, yến sào đã được khai thác tại các đảo Yến ở ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa để cung tiến các vua chúa. Ngày nay, cơ hội thưởng thức sản vật này vẫn nằm ngoài khả năng của đa số người dân Việt Nam bởi giá thành của chúng rất cao, từ 50-60 triệu đồng/kg. Phần lớn yến sào khai thác được xuất khẩu để thu ngoại tệ.

    Nem Ninh Hòa Khánh Hòa

    Nem nướng Ninh Hòa được làm từ nguyên liệu thịt đùi heo còn nóng hôi hổi khi vừa xẻ thịt xong. Thịt được giã nhuyễn bằng máy và giã sơ lại bằng chày tay rồi ướp gia vị. Hỗn hợp thịt này được quấn quanh chiếc đũa nướng trên than hồng. Mùi thơm lừng tỏa ra nhờ các gia vị và hương liệu. Khi nem chín vàng, đầu bếp cắt thành nhiều miếng nhỏ và dài cho dễ gói.
    Nem nướng Ninh Hòa được làm từ nguyên liệu thịt đùi heo còn nóng hôi hổi khi vừa xẻ thịt xong. Ảnh: amthuckhanhhoa.vn.

    Nem nướng ăn kèm thường là bánh hỏi và bún. Cùng vài miếng bánh tráng cuốn tròn chiên giòn rụm. Rau ăn với nem nướng không thể thiếu xà lách, rau húng, chuối chát, hẹ lá và nhiều loại rau rừng chỉ có ở miền Trung.

    Đây là món ăn dân dã nhưng cũng không kém phần sang trọng. Vì thế, khiăn, người ta lấy mỗi thứ rau một vài lá rồi cuốn với bánh tráng và bánh hỏi, bánh tráng chiên giòn kẹp với một miếng nem nướng chấm với nước chấm. Nước chấm được chế biến rất đặc biệt gồm nước mắm nhỉ được pha loãng nêm gia vị và tỏi, ớt, đậu phộng rang giã nhuyễn, có vị hơi ngọt và sền sệt. Rau có đủ vị chua, chát, cay, đắng, thơm,… hòa với nước chấm hương vị là lạ, thơm và béo.

    Nem Ninh Hòa là đặc sản của tỉnh Khánh Hòa rất phổ biến ở vùng này. Nhiều người phải nếm thử nem nướng khi đặt chân đến Ninh Hòa hay Nha Trang.

    Nước mắm Nam Ô

    Làng Nam Ô (Liên Chiểu – Đà Nẵng) xưa nay đã lừng danh với thương hiệu nước mắm tiến vua. Loại nước mắm này được chế biến bằng một thứ nguyên liệu rất độc đáo – con cá cơm than, do đó hương vị mắm Nam Ô không thể lẫn lộn với các loại nước mắm khác. Nước mắm Nam Ô có màu vàng nâu trong suốt, vị mặn vừa phải, mùi không quá gắt, thích hợp làm sản phẩm tiến vua từ rất xa xưa.

    Nhãn lồng Hưng Yên

    Nhãn lồng Hưng Yên là loại nhãn nổi tiếng bậc nhất nước ta. Loại quả này có vỏ dày màu vàng sậm, nổi gai. Cùi nhãn lồng rất dày, thơm, ngọt sắc như đường phèn và hạt nhãn thì rất nhỏ. Nhãn lồng được trồng ở nhiều nơi trong tỉnh Hưng Yên, nhưng ngon nhất là nhãn trồng trong ĐÌnh Hiến.

    Vải thiều Thanh Hà

    Miền Bắc Việt Nam trồng nhiều vải, nhưng trong đó vải thiều Thanh Hà tỉnh Hải dương là nổi tiếng hơn cả với vị ngọt thơm, cùi dày, hạt rất nhỏ. Khi chín, cả cây vải chuyển màu đỏ tươi như đĩa xôi gấc đơm đầy nhìn rất đẹp mắt. Không chỉ là sản vật tiến vua nhiều đời, vải thiều Thanh Hà còn là sản vật cống tiến nước ngoài, tương truyền nàng Dương Quý Phi rất thích ăn loại vải thiều này.

    Hình Ảnh Việt Nam tổng hợp

  • Danh xưng thời quân chủ trong tiếng Anh và tiếng Việt

    Danh xưng thời quân chủ trong tiếng Anh và tiếng Việt

    Cùng tham khảo các danh xưng thời quân chủ trong tiếng Anh và tiếng Việt

    Chế độ quân chủ hoặc quân chủ chế hay còn gọi là Chế độ quân quyền, là một thể chế hình thức chính quyền mà trong đó người đứng đầu nhà nước là nhà vua hoặc nữ hoàng. Xem bài viết: Việt Nam  xưa ở thể chế quân chủ hay phong kiến?
    Tổ chức của chế độ Quân Chủ
    Tổ chức của chế độ Quân Chủ

     

    ĐẾ QUỐC / EMPIRE
    Hoàng đế: Emperor
    Nữ hoàng (đế): Empress Regnant
    Hoàng hậu: Empress Consort
    Hoàng Thái Hậu: Empress Dowager (mẹ hoàng đế)
    Thái Hoàng Hậu: Grand Empress Dowager (bà hoàng đế)
    (Phương Tây theo Công giáo, trọng đạo một vợ một chồng nên không có các danh xưng cho vợ lẽ của hoàng đế như phương Đông. Tuy vậy, “hoàng phi” có thể được dịch là imperial consort. Hoàng phi có thể chỉ chung tất cả các vị phi của hoàng đế.)

    Nếu cha của hoàng đế còn sống sẽ được gọi là:

    Thái thượng Hoàng đế: Grand Emperor / Grand Imperial Sire
    Thái thượng Hoàng hậu: Grand Empress Consort
    (sau khi Thái Thượng Hoàng Đế mất thì Thái Thượng Hoàng Hậu sẽ trở thành Hoàng Thái Hậu)

    Lễ lên ngôi Hoàng thái tử cuối cùng của Việt Nam
    Bảo Long -Hoàng thái tử cuối cùng của Việt Nam

    Con cái:

    Hoàng thái tử: Imperial Crown Prince
    Hoàng tử/Vương gia: Imperial Prince
    Hoàng nữ/Công chúa: Imperial Princess
    VƯƠNG QUỐC / KINGDOM
    Quốc vương: King
    Nữ (Quốc) vương: Queen Regnant
    Vương hậu: Queen Consort
    Vương Thái hậu: Queen Dowager
    (Phương Tây theo Công giáo, trọng đạo một vợ một chồng nên không có các danh xưng cho vợ lẽ của quốc vương như phương Đông. Tuy vậy, “vương phi” có thể được dịch là Royal Consort. Vương phi có thể chỉ chung tất cả các vị phi của quốc vương).
    Thái thượng Vương: Grand King
    Thái thượng Vương hậu: Grand Queen Consort
    Vương thế tử: Crown Prince
    Vương tử/Công tước: Prince/Duke
    Vương nữ/Quận chúa: Princess
    Thái giám: Eunuch
    (Tại những “đế quốc” khi tước vương được dùng để phong cho hoàng tử hoặc người có công thì vợ cả của vương tước cũng chỉ được gọi là vương phi, không thể gọi là vương hậu).

    Hình Ảnh Việt Nam tham khảo từ: Đại Việt Cổ Phong, Viet Garden, Wikipedia